Xu Hướng 2/2023 # Vai Trò Của Phân Hữu Cơ Vi Sinh Trong Cải Thiện Năng Suất Và Chất Lượng Nông Sản # Top 4 View | Duhocaustralia.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Vai Trò Của Phân Hữu Cơ Vi Sinh Trong Cải Thiện Năng Suất Và Chất Lượng Nông Sản # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Vai Trò Của Phân Hữu Cơ Vi Sinh Trong Cải Thiện Năng Suất Và Chất Lượng Nông Sản được cập nhật mới nhất trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nông nghiệp sạch (hay còn gọi là nông nghiệp hữu cơ) là một hệ thống quản lý sản xuất nông nghiệp tránh sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tổng hợp, giảm tối đa ô nhiễm không khí, đất và nước, tối ưu về sức khoẻ con người và vật nuôi.  Trước nhu cầu đảm bảo an ninh lương thực, việc lạm dụng phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật nhằm nâng cao năng suất cây trồng đang trở thành vấn đề cần được quan tâm cải thiện. Bện cạnh việc bảo đảm mục tiêu anh ninh lương thực, cần chú ý phát triển nền nông nghiệp sạch nhằm đóng góp vào việc cung cấp các sản phẩm an toàn phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Việc canh tác nông nghiệp sạch không những giúp nông dân tiết kiệm chi phí thuốc trừ sâu và phân hoá học đồng thời có thể đa dạng hoá mùa vụ và canh tác theo hướng bền vững. Hơn nữa, nếu nông sản được chứng nhận là sản phẩm hữu cơ còn có thể xuất khẩu với giá cao hơn.  Theo Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), nền nông nghiệp hữu cơ có khả năng đảm bảo đủ nguồn cung cấp lương thực nuôi sống dân số trên thế giới hiện nay song song với việc giảm thiểu những tác động có hại cho môi trường.  Các nguyên tắc cơ bản của canh tác hữu cơ do IFOAM (International Federation of Organic Agriculture Movements) trình bày năm 1992 như sau:  -     Sản xuất thực phẩm có chất lượng dinh dưỡng cao, đủ số lượng;  -     Khuyến khích và thúc đẩy chu trình sinh học trong hệ thống canh tác, bao gồm vi sinh vật, quần thể động thực vật trong đất, cây trồng và vật nuôi;  -     Duy trì và tăng độ phì nhiêu của đất trồng về mặt dài hạn;  -     Sử dụng càng nhiều càng tốt các nguồn tái sinh trong hệ thống nông nghiệp có tổ chức tại đại phương;  -     Giảm đến mức tối thiểu các loại ô nhiễm do kết quả của sản xuất nông nghiệp gây ra;  -     Duy trì đa dạng hóa gen trong hệ thống nông nghiệp hữu cơ và khu vực quanh nó, bao gồm cả việc bảo vệ thực vật và nơi cư ngụ của cuộc sống thiên nhiên hoang dã.  * Phân hữu cơ vi sinh và vấn đề lưu tồn nitrate (NO3-) trong nông sản  Kết quả trình bày ở bảng 1 cho thấy, hàm lượng nitrate trong trái dưa leo tươi khác biệt có ý nghĩa giữa bón phân vô cơ theo nông dân và các nghiệm thức bón phân hữu cơ vi sinh BBM-Trico. Tuy nhiên hàm lượng nitrate trong trái dưa leo tươi của hai nghiệm thức này thấp hơn ngưỡng cho phép của WHO/FAO là 150 mg/kg sản phẩm dưa leo tươi. Với kết quả này cho thấy khi tăng cường sử dụng phân BBM-Trico rất cần phải giảm lượng phân đạm vô cơ bón kết hợp nhằm vừa nâng cao năng suất và vừa giảm thấp hàm lượng NO3- trong rau trái tươi. Kết quả này phù hợp với kết luận đưa ra bởi Vogtmann et al (1993), và Poudel et al (2002) cho rằng nitrate cao nhất do bón phân hoá học, có thể là thuộc tính của những phân khoáng dễ hoà tan và đạm ngay lập tức sớm hữu dụng cho cây trồng hấp thụ sau khi bón. Mặt khác N của phân bón hữu cơ phóng thích dinh dưỡng chậm hơn. Với kết quả thí nghiệm của các nhà nghiên cứu cho chúng ta khẳng định việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh có kiểm soát chất lượng đầu vào, chắc chắn làm gia tăng năng suất và phẩm chất nông sản phù hợp với xu hướng sản xuất nông nghiệp sạch hiện nay trên thế giới  2. Phân hữu cơ vi sinh trong đặc tính sinh học đất  Phân bón hữu cơ có bổ sung vi sinh vật có lợi là sản phẩm được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống được tuyển chọn với mật độ đạt tiêu chuẩn qui định, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Phân hữu cơ vi sinh vật không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản. Bên cạnh việc cải thiện năng suất cây trồng cũng như phẩm chất nông sản (mà biểu hiện rõ nhất thông qua chỉ số dư tồn nitrate trong sản phẩm), hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh còn thể hiện qua việc cải thiện tính chất đất bao gồm đặc tính vật lý, hoá học và sinh học đất.  Chất hữu cơ còn là nguồn thức ăn cho các loài sinh vật sống trong đất. Phần lớn vi sinh vật trong đất thuộc nhóm hoại sinh. Nguồn thức ăn chủ yếu của nhóm này là dư thừa và thải thực vật. Cung cấp chất hữu cơ giúp duy trì nguồn thức ăn, tạo điều kiện phát triển sinh khối, đa dạng chủng loại và kiềm hãm sự gia tăng của các loài vi sinh vật có hại.  Duy trì thế cân bằng vi sinh vật có lợi trong đất chủ yếu là bảo vệ và cân bằng vi sinh vật có ích, cũng như các loài thiên địch có lợi trên đồng ruộng. Do đó, thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho đất cũng như các nguồn vi sinh vật có lợi để tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển hạn chế mầm bệnh. Việc bón phân hữu cơ có bổ sung nguồn vi sinh vật đất như nấm Trichoderma sẽ làm giảm tác nhân gây bệnh thối rễ trên cà chua và ớt, bổ sung các nguồn vi sinh vật cố định đạm và hoà tan lân, tăng cường nguồn phân đạm cố định được và các hợp chất lân kém hoà tan trong đất trở thành những dạng hữu dụng, dễ tiêu cho cây trồng.  Kết quả trình bày ở Bảng 2 cho thấy hiệu quả kiểm soát bệnh của phân hữu cơ BBM-Trico trong đất giúp giảm đáng kể bệnh héo dây trên dưa leo (Cucumis sativus). Kết quả cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức có sử dụng phân hữu cơ vi sinh BBM-Trico so với các nghiệm thức chỉ sử dụng phân hóa học trong việc giảm tỉ lệ dây dưa leo bị bệnh ở các giai đoạn 40, 45 và 50 ngày sao khi gieo. Mật số Trichoderma trong đất sau thí nghiệm tại các nghiệm thức có sử dụng phân hữu cơ vi sinh BBM-Trico cũng cao hơn, khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức không sử dụng phân hữu cơ vi sinh. Bệnh héo rũ trên dưa leo do Pythium sp. là bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng trong nông nghiệp. Việc bổ sung nấm Trichoderma vào phân hữu cơ vi sinh giúp hỗ trợ bộ rễ trong cơ chế chống lại tác nhân gây bệnh cho dưa leo. Điều này cho thấy rằng, việt kết hợp nấm Trichoderma trong phân hữu cơ vi sinh giúp tăng hiệu quả phòng bệnh cho cây trồng, góp phần giảm sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật và tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân. Canh tác nông nghiệp sạch chú trọng việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh hạn chế hoá chất bảo vệ thực vật và phân bón hoá học góp phần cải thiện chất lượng nông sản, độ phì nhiêu của đất, đảm bảo nhu cầu phát triển bền vững trong khi vẫn đảm bảo khả năng duy trì năng suất cây trồng. Việc kết hợp nấm Trichoderma trong phân hữu cơ vi sinh giúp hỗ trợ cây trồng trong việc phòng trừ bệnh như bệnh héo rũ trên dây dưa leo. Ngoài ra, các chủng vi sinh vật có ích khác khi được bổ sung vào phân hữu cơ sinh học còn giúp cải thiện độ phì tự nhiên của đất, giảm chi phí do phân bón vô cơ. Hàm lượng carbon cao và có chất lượng trong phân hữu cơ sinh học còn giúp cải thiện tính bền vật lý đất và hấp phụ một số nguyên tố gây bất lợi cho cây trồng. Vì thế nông dân cần chịu khó tự ủ phân hữu cơ kết hợp thêm các dòng vi khuẩn, nấm có lợi để bón vào đất trong canh tác.  Hiệu quả lâu dài của phân hữu cơ sinh học sẽ được tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng nhằm hướng tới một nền nông nghiệp, bền vững đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và an toàn cho con người.  Nguồn: từ internet

Vai Trò Của Phân Hữu Cơ Trong Nuôi Trồng Thủy Sản

Ý nghĩa đầu tiên trong việc bón phân cho ao nuôi thủy sản là tạo nguồn thức ăn tự nhiên, phong phú trong ao nuôi thủy sản.Thông thường, trước khi thả nuôi các lòai thủy sản, người nuôi tiến hành công đọan gây màu nước trước đó một đến hai tuần. Công đọan này được thực hiện sau khi đã hoàn tất việc cải tạo và xử lí ao, phơi nắng ao nuôi. Phân bón dùng trong giai đọan gây màu nước gồm phân hữu cơ như phân heo, gà, cút…tốt nhất các phân này đã qua công đọan ủ hoai kỹ trước khi dùng. Lượng dùng đối với phân hữu cơ từ 25-30 kg/100 mét vuông ao.

Ngòai ra, sử dụng các lọai phân vô cơ được khuyến cáo sử dụng nhiều hơn vì tính an tòan, và khả năng hạn chế được mầm bệnh thâm nhập vào ao nuôi tốt hơn so với việc phân hữu cơ. Các lọai phân vô cơ dùng phổ biến hiện nay như DAP, NPK, Urê được bón với liều lượng trung bình 300-500g/100 mét vuông. Trong qúa trình nuôi, các lọai phân trên được dùng bổ sung định kỳ với liều lượng như trên, nhằm duy trì, ổn định màu nước. Sau khi bón, phân hòa tan vào nước, kích thích tảo và các sinh vật phù du trong ao phát triển.

Các lòai như Rotifer (luân trùng), Dapnhia, Moina (bobo); các lòai Cyclop (giáp xác chân chèo), tảo Chlorella (tảo lục), tảo Sketonema (tảo khuê), tảo Spirulina (tảo lam), ấu trùng muỗi lắc, giun nhiều tơ… sinh sôi mạnh, gia tăng số lượng, chủng lọai, thế hệ. Đây là những lọai thức ăn quan trọng đối với cá tôm, đặc biệt là giai đọan ấu trùng, cá bột, vì phù hợp với kích thước miệng cá tôm, và chứa đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Quan tâm và thực hiện nghiêm túc việc gây và duy trì màu nước trong suốt qúa trình nuôi, có tác động tích cực trong việc nâng cao tỉ lệ sống và phát triển bền vững cá tôm nuôi trong ao. Thức ăn tự nhiên phong phú, góp phần giảm thiểu chi phí đầu tư ban đầu, giảm giá thành sản xuất, hạn chế hiện tượng còi cọc, phân đàn, dịch bệnh.

Ý nghĩa thứ 2 đó là, khi bón phân cho ao nuôi tôm cá, đặc biệt ở những vùng nuôi chịu nhiều ảnh hưởng, tác động từ các yếu tố môi trường như: hàm lượng oxy, pH (độ phèn)… luôn biến động, hàm lượng các chất độc hại luôn tăng cao như: NH3, H2S, NO3đây là sản phẩm được sinh ra từ các phản ứng phân hủy các chất hữu cơ luôn có sẵn trong ao như: thức ăn dư thừa, phân xác tôm cá chết, sản phẩm bài tiết từ tôm – cá nuôi. Khi bón phân, sẽ kích thích các vi sinh vật hữu ích phát triển mạnh về quầng đàn, với số lượng đông đúc, chủ động trực tiếp tham gia vào các cơ chế phân giải, phân hủy, hấp thụ, chuyển hóa, hoặc giảm thiểu các chất độc hại kể trên, thành những chất ít, không độc hại hoặc triệt tiêu chúng…

Mặt khác, khi bón phân, các loài tảo hữu ích được sinh ra và tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào chu trình quang hợp, thông qua việc các loài tảo sử dụng ánh sáng mặt trời, sử dụng khí carbonic (CO2), để chuyển hóa thành khí oxy, góp phần duy trì và cải thiện hàm lượng oxy đạt mức tối ưu, bền vững. Các vi sinh vật hữu ích được sinh ra thông qua việc bón phân, sẽ tham gia tích cực trong việc xây dựng và củng cố hệ đệm Bicarbonac ở đáy ao theo hướng bền vững, trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần ổn định độ cứng, độ kiềm và pH nước ao nuôi. Sử dụng phân bón lót đáy ao trước khi lấy nước vào ao còn có tác dụng “ém, giữ” khống chế tối đa hiện tượng xì phèn, trở phèn lại ao nuôi trong quá trình nuôi.

Như vậy, trong các mô hình nuôi thủy sản, để đảm bảo tính an toàn, bền vững và có hiệu qủa, cần thiết phải “nuôi nước”, thông qua việc thực hiện đầy đủ các công đoạn bón phân chính cũng như bón phân định kỳ (căn cứ vào màu nước, bón định kỳ tháng 1-2 lần). Góp phần giàu hóa nguồn thức ăn tự nhiên, gây nuôi các loài tảo hữu ích, ổn định và duy trì màu nước; góp phần giảm thiểu, hạn chế tối đa tác động xấu từ các tác nhân môi trường, dịch bệnh.

Tags: vai tro cua phan huu co, ao nuoi tom, tao oxy cho ao nuoi, nuoi trong thuy san

Vai Trò Của Phân Bón Vi Sinh Vật Trong Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững

HGĐT- Phân bón vi sinh vật (phân vi sinh vật hay chế phẩm vi sinh vật) là sản phẩm chứa vi sinh vật (VSV) sống bao gồm: Vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn được sử dụng để làm phân bón.

Trong số đó quan trọng là các nhóm vi sinh vật cố định đạm, hoà tan lân, phân giải chất hữu cơ, kích thích sinh trưởng cây trồng, v.v…, đã được tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống của chúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng được (N,P,K,S,Fe…), hay các hoạt chất sinh học, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Phân bón vi sinh vật phải bảo đảm không gây ảnh hưởng xấu đến người, động, thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản.

Hiệu quả của vi sinh vật trong việc làm tăng khả năng sinh trưởng phát triển cây trồng, tiết kiệm phân bón hoá học cũng như tăng năng suất, chất lượng nông sản, đã được khẳng định trong nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới. Các sản phẩm vi sinh như phân bón vi sinh vật cố định nitơ, phân giải photphat khó tan, chế phẩm vi sinh vật kích thích sinh trưởng thực vật, chế phẩm vi sinh vật phòng trừ bệnh cây trồng đã được nghiên cứu từ nhiều năm nay có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Vi sinh vật tác động đến cây trồng trực tiếp hoặc gián tiếp. Sự tác động trực tiếp của vi sinh vật, đến cây trồng thể hiện qua sự tổng hợp, khoáng hoá hoặc chuyển hoá các chất dinh dưỡng xảy ra trong quá trình chuyển hoá vật chất của vi sinh vật như quá trình cố định nitơ, phân giải lân, sinh tổng hợp auxin, giberellin, etylen .v.v. Những vi khuẩn này có khả năng giúp cây trồng tăng khả năng huy động và dễ dàng sử dụng các nguồn dinh dưỡng từ môi trường. Tác độnggián tiếp đến sinh trưởng của cây trồng xảy ra khi các chủng vi sinh vật có khả năng làm giảm bớt hoặc ngăn chặn các ảnh hưởng có hại từ môi trường hoặc từ các vi sinh vật bất lợi đối với thực vật, trong đó vi sinh vật có thể cạnh tranh dinh dưỡng với vi sinh vật bất lợi, hoặc sinh tổng hợp các chất có tác dụng trung hoà, phân huỷ, chuyển hoá các tác nhân có hại hoặc tiêu diệt, ức chế các vi sinh vật bất lợi. Mỗi loại vi sinh vật trong tự nhiên có thể có 1 hoặc cả 2 tác động nêu trên đối với cây trồng.

Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là tạo ra các sản phẩm phân hữu cơ giàu dinh dưỡng có bổ sung vi sinh vật hữu ích. Để góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, nhiều quốc gia trên thế giới đã khuyến khích người dân sử dụng phân bón sinh học bằng cách trợ giúp giá bán cho nông dân, đồng thời phát triển mạng lưới khuyến nông, trong đó đặc biệt chú trọng công tác xây dựng các mô hình trình diễn trên đồng ruộng về việc sử dụng hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh.

Mặt khác, việc sử dụng phân hoá học, thuốc hóa học bảo vệ thực vật quá nhiều dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, tạo cho đất không còn độ xốp, hấp thụ và giữ nước kém. Các nhà khoa học đã kết luận: sử dụng phân hữu cơ vi sinh làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng sản phẩm tốt hơn, giảm ô nhiễm của NO3. Điều này cũng có nghĩa phân hữu cơ vi sinh đã góp phần quan trọng trong việc cải tạo đất, đáp ứng cho một nền nông nghiệp hữu cơbền vững, xanh sạch và an toàn.

Vai Trò Các Chất Trung Vi Lượng Có Trong Phân Đầu Trâu (Bài 2)

Vai trò các chất trung vi lượng có trong phân Đầu Trâu (Bài 2)

4) Phân vi lượng Bo: a. Bo trong đất: – Hàm lượng Bo tổng số trong đất có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng đất. Nghèo Bo nhất là các loại đất chua phát triển trên đá phún xuất và đất có kết cấu thô hàm lượng hữu cơ thấp. Các loại đất phát triển trên đá phiến sét và đất kiềm có Bo tổng số cao. – Bo là nguyên tố dễ bị rửa trôi, chính vì thế ở các vùng đất có khí hậu ẩm ướt, nóng ẩm mưa nhiều hàm lượng Bo thấp hơn so với vùng đất khô hạn và bán khô hạn. Những vùng đất bị ảnh hưởng mặn của nước biển có thể có hàm lượng Bo cao. – Bo tan trong nước được xem như là Bo hữu hiệu với cây trồng. Cấu trúc đất, loại khoáng sét, pH và chất hữu cơ trong đất là những yếu tố ảnh hưởng đến Bo hữu hiệu trong đất. – Ở những vùng khô hạn, đất mặn lượng Bo trong đất thường khá cao nên có thể gây độc cho cây trồng. Nước tưới cũng chứa một lượng Bo khác nhau tuỳ theo nguồn. Nước thải thường có nhiều Bo và có thể làm cho cây bị ngộ độc. b. Bo trong cây: – Hàm lượng Bo rất khác biệt giữa các loại cây. Hàm lượng Bo trong các cây một lá mầm thường thấp hơn các cây hai lá mầm. Trong cây, hàm lượng Bo trong lá thường cao hơn thân. Bo trong cây giảm dần theo thời gian sinh trưởng. Triệu chứng thiếu Bo ở cây trồng: – Thiếu Bo ở cây lúa làm giảm chiều cao cây, đầu lá dần bạc trắng và cuộn lại, có thể làm chết các đỉnh sinh trưởng, làm giảm số gié và số hạt trên bông. Đối với ngô, thiếu Bo làm cây thấp, khả năng trỗ cờ kém, bắp và hạt nhỏ, lõi lớn. Ở cây bông, nụ hoa rụng nhiều, xuất hiện các vết nứt gãy và mất màu trên nụ, quả chín không hoàn toàn (chỉ nở nửa quả). Thiếu Bo ở các cây có củ xuất hiện bệnh “Ruột nâu”, đặc trưng bởi những đốm thẫm màu hoặc nứt nẻ trên phần dày nhất của rễ. Ở cây su lơ, ban đầu bị thối từ cuống hoa sau lan dần ra cả hoa. Ở cây có múi, quả có nhiều đốm nâu, bị lệch tâm, có vết đen quanh lõi, nước chua. Đối với cây nho, thiếu Bo làm quả bị nhỏ, số quả ít. Đối với đu đủ, thiếu Bo làm quả sần sùi. Sử dụng phân Bo: Hiện tượng thiếu hụt Bo được khắc phục bằng cách bón phân Bo vào đất hoặc phun qua lá. – Bón vào đất: Phân Bo có thể bón lót bằng cách rải đều, bón theo hàng theo hốc. Bón thúc một vài lần cũng cho kết quả rất tốt. Lượng dùng cho bón gốc từ 1,2-3,2 kg Bo/ha cho những cây có nhu cầu Bo cao (cây họ đậu và một số cây có củ) và 0,6-1,2 kg Bo/ha cho những cây có nhu cầu Bo thấp. Chú ý: Ngưỡng giới hạn mức Bo tối ưu và mức độ đôc của Bo rất hẹp, do vậy bón phân Bo cần phải thận trọng tránh ngộ độc. Bón một lần có thể đem lại hiệu lực nhất là trong đất có thành phần cơ giới nặng. Đối với những cây có đòi hỏi lượng Bo thấp và nguồn Bo chậm tan thì hiệu lực của phân Bo có thể kéo dài. – Bón qua lá: Phương pháp phun phân Bo qua lá rất hiệu quả với cây ăn quả. Sau khi phun lần đầu và Bo đã được hấp thụ vào cây cần phun lần tiếp theo để hoàn toàn khắc phục sự thiếu hụt Bo của cây. Với cây ăn quả lâu năm, phun phân Bo thực hiện vào các thời điểm: chồi đang ngủ, bắt đầu nảy chồi mới và khi lá đã phát triển đầy đủ. Các loại phân NPK cao cấp và phân chuyên dùng hiệu Đầu Trâu như NPK 20-20-15TE hay NPK 13-13-13 TE, Đầu Trâu 997, 998, 999; Đầu Trâu AT1, AT2, AT3… Ngoài các chất vi lượng khác đều có chứa một lượng Bo rất đáng kể. Vì vậy khi bón các loại phân này, cây trồng được cung cấp đồng thời dinh dưỡng Bo với các chất trung vi lượng khác nên không xảy ra tình trạng thiếu Bo và đem lại hiệu quả cao.

Cập nhật thông tin chi tiết về Vai Trò Của Phân Hữu Cơ Vi Sinh Trong Cải Thiện Năng Suất Và Chất Lượng Nông Sản trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!