Xu Hướng 2/2023 # Trồng Và Chăm Sóc Bầu Bí ” Nông Dân Giỏi # Top 3 View | Duhocaustralia.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Trồng Và Chăm Sóc Bầu Bí ” Nông Dân Giỏi # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Trồng Và Chăm Sóc Bầu Bí ” Nông Dân Giỏi được cập nhật mới nhất trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cây bầu có tên khoa học là Lagernaria siceraria (Molina) Standl, thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae), có kỹ thuật trồng cây khá đơn giản. Cây bầu có nguồn gốc Châu Phi và Ấn Độ, ngày nay được trồng rộng rãi ở các nước vùng nhiệt đới và á nhiệt đới trên toàn thế giới.

Hiện nay, có nhiều giống bầu nhưng chủ yếu có 4 loại: bầu thước, bầu sao, bầu trắng và bầu thúng. Tuy nhiên, ở phía Bắc, người dân nên trồng bầu sao bởi loại này cho năng suất cao và thu nhập ổn định.

Bầu trồng được quanh năm, mùa nắng cho trái nhiều hơn mùa mưa. Bầu phát triển thuận lợi khi gieo trồng từ tháng 11 đến tháng 1 dương lịch. Hạt bầu cần nhiệt độ cao và ẩm độ đầy đủ để nẩy mầm.

Người trồng nên ngâm hạt từ 10 – 12 giờ, sau đó gói ủ hạt trong tro hay cát nóng từ 4 – 5 ngày cho nẩy mầm. Bà con gieo hạt nẩy mầm vào bầu đất chăm sóc cho đến khi cây có 2 lá thật mới đem trồng.

Ngoài ra, người dân cũng có thể gieo thẳng hạt ngoài đồng, mỗi lỗ từ 3 – 4 hạt, đào hốc có kích thước 50 x 50 x 30 cm, hốc cách nhau 1m, bón nhiều phân chuồng hay phân cỏ hoai mục và khoảng 100 g phân hỗn hợp NPK cho mỗi hốc trước khi trồng.

Bầu cần nhiều nước, do đó người chăm sóc phải tưới thường xuyên 1 – 2 lần/ngày cho cây đủ ẩm. Lượng nước tưới cần gia tăng khi bầu mang trái.

Giai đoạn tăng trưởng kéo dài kể từ khi trồng đến khi bầu lên giàn (60 ngày sau khi trồng), người dân cần bón thúc thường xuyên mỗi tuần một lần để chuẩn bị cơ sở vật chất cho cây ra hoa kết trái.

Giai đoạn ra hoa, đậu trái, cây cần được bón thúc nuôi trái 7-10 ngày một lần với lượng phân gia tăng dần để trái to và nhiều trái.

Trong suốt thời gian canh tác (130 – 140 ngày) mỗi hốc nên được bón từ 1 – 1,5 kg phân hỗn hợp NPK.

Khi bầu mọc dài được 1m, bà con bắt đầu khoanh dây vòng gốc, lấy đất chặn lên ngay đốt, cách 1 – 2 đốt lại chặn đất để tranh thủ cho bầu ra rễ bất định, tăng khả năng thu hút dinh dưỡng nuôi trái sau này.

Trồng được 2 tháng người dân mới nên nương dây cho bầu leo giàn, cần để dây ở thế tự nhiên, không lật úp hay xoắn dây. Nên làm giàn bằng để bầu đủ diện tích bò, bầu vừa lên giàn là có thể trổ hoa đậu trái. Từ 75 – 90 ngày sau khi trồng, bầu bắt đầu cho thu hoạch.

Bầu ra nhiều dây nhánh và mang trái ở dây nhánh. Các dây nhánh ở đoạn thân từ gốc lên đến giàn nên tỉa bỏ để gốc được thoáng. Khi bầu lên giàn, người trồng không nên tỉa để dây nhánh cho trái.

Khi đã lấy được trái trên nhánh, người dân nên bấm ngọn để trái phát triển lớn và bầu tiếp tục cho trái ở dây nhánh khác.

Trái bầu phát triển 10 – 12 ngày sau khi trổ hoa là bà con có thể thu hoạch để ăn. Người trồng nên cắt trái khi vỏ còn mềm, trái thon dài, hạt bên trong vừa tượng là ngon. Người dân không nên để trái già, vỏ hạt bên trong đã cứng, ăn kém ngon và cây mau tàn. Nếu chăm sóc tốt, giàn bầu 100 gốc sẽ cho thu trái 2 – 3 ngày/lần; mỗi gốc trung bình cho từ 10 – 15 trái.

Công dụng của quả bầu

Tỷ lệ chất dinh dưỡng ở bầu kém hơn các cây khác trong họ nhưng thịt quả non ngọt, có tác dụng giải nhiệt, trừ độc, có thể chữa bệnh đái tháo đường và mụn lở. Hoa và hạt bầu cũng được sử dụng làm thuốc trong Đông y. Vỏ quả già rất cứng dùng làm chai, lọ hay chế tạo đồ gia dụng.

NHỮNG SÂU BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN RAU HỌ BẦU BÍ

1) Ruồi đục lá (Liriomyza sativae) Sâu non nằm giữa 2 lớp biểu bì ăn phần diệp lục để lại đường đục ngoằn nghèo trên lá. Thường có mật độ cao ở thời kỳ cây ra hoa rộ-quả, vào tháng 3-5 và 9-11 trong năm.

3) Rệp Aphis craccivora Koch: Chúng thường xuất hiện trong điều kiện thời tiết khô hanh, hạn hán. Mật độ thường tăng rất nhanh do chúng đẻ ra con, trong năm thường gây hại nặng vào các tháng 3-5 và 9-11 trong năm.

4) Bọ trĩ (Thrip spp.) Bọ trĩ chích hút dịch ở lá, ngọn, thân non làm lá bị xoăn, cứng và giòn. Trong năm chúng thường có mật độ cao vào các tháng 3-5 (vụ xuân hè) và tháng 9-11 (vụ thu đông)

5) Bọ dưa hại lá

Phòng trừ sâu hại: Áp dụng các biện pháp canh tác, thủ công, sinh học.

Theo dõi phát hiện sớm, khi cần phun các loại thuốc: Elincol 12 ME, Vertimex 1.8EC; Sherpa 25EC, Trebon 30EC (trừ sâu ăn lá), Confidor 100SL, Oshin 20WP, Elsin 10EC (trừ các loại chích hút), …

Bệnh héo xanh vi khuẩn Pseudomonas solanacearum Smith: Gây hại ở tất cả các thời kỳ của cây nhưng nghiêm trọng nhất là thời kỳ hoa – quả và bệnh phát triển thuận lợi ở nhiệt độ 25-30 độ C. Bó mạch thâm nâu, cây không hút được nước, héo và chết.

Bệnh giả sương mai: Pseudoperonospora cubensis: Bệnh phát sinh nặng trong điều kiện nhiệt độ dưới 20độ C ẩm độ không khí cao. Gây hại cả thân, lá và thường gây hại nặng trên dưa chuột vụ thu đông và xuân hè sớm.

Bệnh phấn trắng ( Erysiphe sp):Bệnh phấn trắng gây hại cả 2 mặt lá, nhưng thường phát sinh gây hại mạnh ở mặt trên. Nấm bệnh tồn tại trong hạt giống tàn dư cây bệnh và lan truyền theo gió.

Bệnh khảm lá (Cucumber mosais virus): do virut gây hại, nếu bị bệnh từ khi cây còn nhỏ, cây còi cọc lá xoăn nhỏ và thường không ra quả. Bệnh do côn trùng chích hút truyền bệnh chủ yếu là rệp, bọ trĩ, lây từ cây bệnh sang cây khoẻ. Phải trừ môi giới truyền bệnh.

Phòng trừ bệnh hại: Xử lý hạt giống, chọn giống kháng, dọn sạch tàn dư cây bệnh tiêu hủy. Khi cần thiết phải phun thuốc:- Phòng trừ bệnh héo xanh: Phun hoặc tưới gốc định kỳ bằng thuốc Funguran-OH 50WP, hoặc các thuốc gốc đồng để ngừa bệnh, Exin 4.5 HP (Phytoxin VS), Bactocide,…

– Các thuốc trừ bệnh sương mai, phấn trắng: Juliet 80 WP, Vicarben-S 70 BTN, Daconil 500SC, Đồng oxyclorua (Vidoc) 80 BTN, Aliette 80WP, Ridomil Gold 68WP, Tilt Super 300EC, Bellkute 40WP. Ensino 40 SC, Binhnomyl 50WP, Manage 5WP,…

Kỹ Thuật Trồng Lan Vũ Nữ (Oncidium) ” Nông Dân Giỏi

1. Nhiệt độ Nhiệt độ cho nhóm lan Oncidium thích hợp khoảng 20-25 0C.

Lan Oncidium là giống lan cần ẩm độ cao, đặc biệt trong thời kỳ tăng trường. Tuy nhiên, ẩm độ quá cao sẽ không có lợi cho cây lan vì dễ gây úng thối cây. Lan cần ẩm độ trung bình 50 – 70%. Cường độ ánh sáng khoảng 50%. Ánh sáng yếu hơn cây vẫn phát triển tốt như thân, lá xanh đẹp, tuy nhiên cho hoa kém do lan Vũ Nữ là loài lan bị ảnh hưởng bời ánh sáng đến khả năng ra hoa.4. Dinh dưỡng Vì cây có giả hành lớn, mập, có khả năng dự trữ dinh dưỡng để nuôi cây. Có thể bón phân mỗi tuần 2 lần, cần tăng cường phân Kali. Phân bón cho lan phải chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa, trung và vi lượng với thành phần và tỉ lệ phù hợp với từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây. Nguyên tắc chung là lan trong thời kỳ sinh trưởng thân, lá mạnh nên cần hàm lượng đạm cao; hạm lượng lân và kali thấp. Trước khi cây ra hoa cần hạm lượng lân và kali cao, đạm thấp; trong khi cây nở hoa cần Kali cao, đạm và lân thấp. Phân vô cơ thường được dùng với tỷ lệ NPK có công thức 30-10-10 với nồng độ một muỗng cà phê /4lít nước trong suốt mùa sinh trưởng, nếu cây có nụ hoa ta thay phân 30-10-10 bằng 20-20-20 để đảm bảo cành hoa dài với số lượng hoa nhiều. một tháng trước khi vào mùa nghỉ có thể bón phân 6-30-30, 15-30-15, 10-20-20 để nâng cao sức chịu đựng của cây Chất trồng để trồng lan Oncidium cần ẩm nhưng thoát nước tốt như than hoặc xơ dừa.6. Phòng trừ sâu bệnh hại Sâu bệnh hại chủ yếu trên nhóm lan vũ nữ : – Ốc: Phòng trừ bằng cách sử dụng Deadline 40 (nồng độ theo khuyến cáo), Dioto. – Bệnh thối mềm vi khuẩn: do vi khuẩn Pseudomonas gladioli gây ra. Vết bệnh có hình dạng bất định, ủng nước, màu trắng đục, thường lan rộng theo chiều rộng của lá. Gặp thời tiết ẩm ướt mô bệnh bị thối úng, thời tiết khô hanh mô bệnh khô tóp có màu trắng xám, sử dụng 1 trong 3 hỗn hợp: Saipan + chúng tôi Saipan + Alpine, chúng tôi + Alpine.7. Kỹ thuật trồng7.1. Trồng cây lan từ chai mô – Cũng giống như phương pháp trồng từ chai mô của lan Mokara và Vanda. Khi trồng cây con (cây cấy mô) phải rửa sạch môi trường nuôi cấy dính trên thân, lá, rễ cây bằng nước sạch 3 lần, tránh bị côn trùng cắn phá và nhiễm bệnh. – Có thể trồng 1 trong 2 cách như sau: * Trồng bằng lưới: – Thiết kế lưới trồng (sử dụng lưới lợp mái che vườn lan). + Chiều cao của trụ để găng lưới so với mặt đất 1,2 m. + Chiều rộng của lưới làm liếp 1,4 – 1,6 m. + Chiều dài tuỳ theo kích thước vườn. – Khử trùng lưới trước khi ghim cây. – Ghim cây lan với khoảng cách cây – cây: 5 – 7 cm, đảm bảo bộ rễ nằm mặt dưới lưới. * Trồng trong khay nhựa bằng cách bó một ít xơ dừa quanh rễ. – Thiết kế các kệ cách nhau 1m. – Dùng sắt hoặc kẽm đan lỗ với kích thước 5 cm x 5 cm (có thể lớn hơn để vừa kích cỡ của chậu). – Đặt chậu cho vừa kích thước ấy.7.2. Trồng cây trưởng thành Có thể trồng 1 trong 2 cách sau: * Trồng trong chậu (giống như trồng lan Dendrobium) nhưng cần giá thể ít hơn. * Trồng trên khúc cây (giống như trồng lan Cattleya) – Sử dụng thân cây còn sống, cây lan được trồng ghép phải nhận được ánh sáng ban mai. – Sử dụng thân cây đã chết (cây vú sữa, bóc vỏ), cắt thành các khúc ngắn để treo hay thành những đoạn dài để đứng, có giàn che cây lan. – Buộc một miếng xơ dừa vào thân cây rồi buộc chồng lên đó gốc lan muốn trồng để giữ độ ẩm cây. Vào mùa mưa hay những nơi thời tiết quá ẩm không cần dùng xơ dừa. Khi buộc phải để gốc lan nằm lộ ra ngoài không khí, rễ lan ló ra.

Kỹ Thuật Trồng Bưởi Xen Ổi Phần 2 ” Nông Dân Giỏi

Trong sản xuất cây có múi nói chung và cây bưởi nói riêng, bệnh vàng lá Greening được xem là một trong những dịch hại gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất. Qua nghiên cứu của các nhà khoa học ở Viện nghiên cứu cây ăn quả miền nam, trồng cây có múi xen ổi có khả năng ngăn ngừa được rầy chổng cánh đến, mà rầy chổng cánh là tác nhân lây truyền của bệnh vàng lá Greening, do đó khi trồng bưởi xen ổi sẽ ngăn ngừa được bệnh này, giúp cho vườn cây phát triển bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế. Mặt khác ổi trồng xen cũng góp phần lấy ngắn nuôi dài, làm tăng thêm hiệu quả kinh tế.

I. THỜI KỲ CÂY CHƯA CHO TRÁI (1 – 3 năm tuổi): 1. Tưới nước, tủ gốc giữ ẩm:

– Vào mùa nắng, cần tưới nước thường xuyên, đủ ẩm để cho cây phát triển. Có thể tủ gốc để giữ ẩm bằng rơm rạ khô và cách gốc khoảng 20 cm. Biện pháp này tránh được cỏ dại phát triển đồng thời khi rơm rạ bị phân hủy sẽ cung cấp cho đất một lượng dinh dưỡng đáng kể.

– Khi cây bắt đầu vào thời kỳ cho trái, nên giữ cỏ trong vườn nhằm giữ ẩm cho đất trong mùa nắng và chống xói mòn đất trong mùa mưa. Tuy nhiên, khi cỏ phát triển mạnh sẽ cạnh tranh dinh dưỡng, vì vậy cần phải cắt bớt còn lại khoảng 10 – 20 cm.

2. Bón phân:

a. Lượng phân bón/gốc/cây/ năm

Có thể chia lượng phân trên ra làm 3 – 6 đợt bón/gốc/năm. Bón bằng cách pha với nước tưới hoặc rải trước khi cây ra đọt non. Khi cây có tán, nên cuốc rảnh rồi mới bón phân, lấp đất lại và tưới nước.

Trong 6 tháng đầu sau khi trồng, có thể dùng 40 gUrea pha với 8 lít nước, tưới vào gốc mỗi tháng một lần. Riêng phân hữu cơ có thể bón 1 lần/ năm.

c. Tạo tán:

Sau khi trồng, cần cắt tỉa cành tạo tán cho cây. Tốt nhất nên để 3 cành khung từ thân chính hướng đều về 3 phía. Việc tạo tán phải được thực hiện thường xuyên bắt đầu từ khi cây còn nhỏ.

* GIAI ĐOẠN SAU THU HOẠCH TRÁI:

1.Tỉa cành:

Công việc này cần được thực hiện thường xuyên, trong đó quan trọng nhất là phải được thực hiện vào giai đoạn sau khi thu hoạch trái. Cần phải loại bỏ những đoạn cành đã mang trái (khoảng 10-15 cm), cành bị sâu bệnh, cành già yếu, cành nằm bên trong tán không có khả năng mang trái, các cành đan chéo nhau; đồng thời cũng cần loại bỏ những cành vượt trong thời gian cây đang mang trái.

: phải khử trùng dụng cụ bằng nước Javel hoặc cồn 90 o trước khi tỉa cành từ cây này sang cây kia hay sau khi cắt tỉa cành có triệu chứng bệnh vàng lá gân xanh (vàng bạc).

2.Bón phân: Tỉ lệ N:P:K = 2:1:0 hoặc 2:1:1

a.Liều lượng phân bón (gr/gốc):

b. Cách bón:

Ðào rãnh xung quanh gốc theo chiều rộng của tán cây, rãnh sâu 10-15 cm, rộng 10- 20 cm cho phân vào, lấp đất và tưới nước.

Khi cây giao tán không cần đào rãnh mà có thể dùng cuốc răng sới nhẹ lớp đất chung quanh tán cây, bón phân và lấp đất, tưới nước đủ ẩm.

2.Tưới nước:

Nếu sau thu hoạch là mùa nắng thì nên tưới nước thường xuyên để đất đủ ẩm cho cây phát triển cành lá mới. Vào mùa mưa, nên xẽ rảnh trên liếp để thoát nước tốt, tránh đọng nước, ngập úng kéo dài gây chết cây.

3. Vét bùn bồi liếp:

Có thể vét bùn vào tháng 2- 3 dương lịch hoặc sau mùa mưa, lớp bùn dày khoảng 2 – 3 cm là tốt, thường vét 2 năm/lần.

4. Chú ý phòng trừ rầy chổng cánh, rầy mềm và nhện gây hại…

Giai đoạn sau thu hoạch, cây thường ra đọt non do đó rầy chổng cánh, rầy mềm và nhện gây hại có thể xuất hiện tấn công gây hại.

* GIAI ĐOẠN TRƯỚC KHI RA BÔNG:

a.Liều lượng phân bón (gr/gốc):

b. Cách bón: Bón giống như giai đoạn sau thu hoạch.

2. Xử lý ra hoa:

Bưởi cần thời gian khô hạn để phân hoá mầm hoa. Thời gian tạo khô hạn kéo dài 20- 30 ngày. Nếu vào mùa nắng có thể rút cạn nước trong mương ra và ngưng tưới nước. Trong mùa mưa, dùng vải nylon phủ chung quanh gốc cũng có thể tạo sự khô hạn để xử lý ra hoa.

Sau khi tạo sự khô hạn, cho nước vào mương và tiến hành tưới đẩm nước liên tục 2 – 3 ngày sau đó tưới nước lại bình thường (đủ ẩm).

Nếu xử lý vào tháng 12 và tháng 01 năm sau, sẽ thu hoạch trái vào Tết Trung Thu (vụ thuận khoảng tháng 7-8 dương lịch)

Nếu xử lý tháng 4-6 dương lịch sẽ thu hoạch trái vào tết Nguyên Ðán (vụ nghịch khoảng tháng 12 và tháng 01 năm sau).

* GIAI ĐOẠN SAU KHI ĐẬU TRÁI VÀ PHÁT TRIỂN TRÁI:

a.Liều lượng phân bón (gr/gốc):

b.Cách bón: Bón giống như giai đoạn sau thu hoạch.

2.Tỉa trái: Khi trái có đường kính 4 – 5 cm tiến hành tỉa trái. Một chùm chỉ nên để từ 1 – 2 trái (loại bỏ những trái sâu bệnh, trái đeo, trái èo uộc).

3.Phun phân bón lá: Phân bón lá có thể phun 4 -5 lần/vụ, ở giai đoạn sau khi đậu trái và giai đoạn trái bắt đầu phát triển nhanh, mỗi lần phun cách nhau 15 ngày.

4.Tưới nước: Đây là giai đoạn cây mang trái do đó cần tưới nước thường xuyên để đủ nước cho trái phát triển.

5.Chú ý phòng trừ sâu đục vỏ trái và nhện gây hại:

Khi cánh hoa vừa rụng và đậu trái thì sâu đục vỏ trái và nhện gây hại có thể đến tấn công gây hại.

* GIAI ĐOẠN MỘT THÁNG TRƯỚC KHI THU HOẠCH:

1.Giai đoạn này cần bổ sung thêm Kali để tăng thêm độ ngọt cũng như chất lượng trái.

a. Liều lượng phân bón (gr/gốc):

Cách bón: Rãi phân đều trên mặt liếp xung quanh tán cây sau đó tưới nước.

* GIAI ĐOẠN THU HOẠCH:

Sau khi bưởi nở hoa, đậu trái 6,5 – 7 tháng thì bắt đầu cho thu hoạch. Bà con nên ngưng tưới nước trong giai đoạn này để tăng độ ngọt của trái.

Nếu đến thời điểm thu hoạch, bà con chưa muốn thu hoạch vẫn có thể neo trái được trên cây từ 15-30 ngày, bằng cách dùng các loại phân bón lá trong thành phần có các kích thích tố thuộc nhóm Auxin, Gibberellin phun thẳng lên trái trước khi trái ngã sang màu vàng. Có thể sử dụng: Retain, ProGibbe…

1.Phân bón:

A.CÂY ỔI:

Do cây ổi cho nhiều trái nhiều tháng trong năm và bấm đọt của cành đều đều nên cần chú trọng bón phân đạm và kali cho cân đối.

– Năm 1: Nên bón 4 lần, mỗi lần 200g 16 – 16 – 8 và 50g KCL. Lúc nhỏ hòa phân tưới, khi cây lớn phải rải phân rồi tưới.

– Năm 2: Bón 4 lần, mỗi lần rải khoảng 400g (16-16-8) bổ sung thêm 100g urea và 100g KCL/ cây.

– Năm thứ 3 trở đi:

Sau thu hoạch, tỉa sửa nhánh, xới đất bón thúc cho cây nhảy tược non 300g 16-16-8 + 100g urea + 100g KCL + 20 kg phân chuồng. Vùng bị phèn nên bón thêm vôi và tro.Thúc bông và nuôi trái cứ 2 tuần lễ bón 1 lần, mỗi lần: 100g (16-16-8) + 50g urea + 60g KCL. Bón 10 lần.

Tổng cộng lượng phân bón từ năm 3 trở đi mỗi gốc nhận được 484g N, 208g P 2O 5, 524g K 2 O / năm chưa kể phân chuồng, vôi và tro.

2.Tạo hình, đốn tỉa:

– Năm 1: Khoảng 4 – 6 tháng tuổi người ta cắt bỏ những cành mọc xà và những cành mọc vượt cao, giữ cho tán hình vòm.

– Năm 2: Sau khi thu hoạch vụ đầu vào khoảng tháng 2,3 dương lịch cưa nhánh, cắt ngọn ở độ cao 1 m, xới đất quanh gốc, xới sâu 5 cm, bề kính theo tán cây sau đó bón thúc phân, độ một tháng sau tược ra nhiều tiến hành lựa các tược tốt, bỏ các tược xấu.

Hàng tuần theo dõi bấm tược, mỗi tược giữ lại 3 – 4 cặp lá, tỉa bỏ nhánh mọc rậm. Việc bấm ngọn được làm hàng tuần và kéo dài đến tháng 9 – 10 dương lịch. Các tược sau khi bấm sẽ ra 2 tược 2 bên ở cặp lá trên cùng, ở cặp lá dưới thường cho bông.

Khoảng 5 – 6 tháng ra bông, thu hoạch từ tháng 9,10 trở đi, tới tháng 2 -3 năm sau lại cưa đốn tạo hình, lần này vị trí cao hơn lần trước 50 cm.

3.Sâu bệnh hại chính:

– Rầy mềm, rệp dính, rệp sáp, ruồi trái cây. Kiểm soát bằng Trebon, Applaud, Mip…. theo hướng dẫn của bao bì.

– Ruồi đục trái: cần vệ sinh đồng ruộng, đặt bẩy, bao quả lại bằng bao nylon… khi trái 1,5 có đường kính từ 2,5 đến 3,8 cm người ta dùng bao nylon bọc quả lại, bao phải cắt góc dưới để tránh úng nước và bí hơi, bao màu trắng đục để tránh cháy nắng. Bao quả còn tránh được ruồi đục quả và làm quả đẹp mã hơn.

– Bệnh tháng thư: biểu hiện các đốm tròn đen lõm sâu, sau đó các đốm liên kết với nhau tạo thành các đốm lớn trên cành làm chết khô, lá vặn vẹo, ngọn cành bị cháy. Kiểm soát bằng Bordeaux 1%, Copper Zinc, Benomyl, Mancozeb chúng tôi hướng dẫn của bao bì.

4.Thu hoạch:

Khoảng 3 tháng sau khi trổ bông thì có thể thu hoạch được, 3-4 ngày thu hoạch 1 lần. Ổi cho trái thường tập trung vào tháng 10 tới tháng 2, có thể cho trái quanh năm bằng cách tưới nước và cắt tỉa.

Kỹ Thuật Sản Xuất Cây Giống Cà Chua Ghép ” Nông Dân Giỏi

Gốc ghép cho cà chua là các gốc cà tím EG203 có khả năng chống bệnh, đang được sử dụng phổ biến.

Lựa chọn giống cà chua làm ngọn ghép

Các giống cà chua làm ngọn ghép phải là những giống chịu nhiệt, có một số đặc điểm sau:

– Cây sinh trưởng khỏe, là màu xanh đậm, bản lá dày, bộ lá xum xuê, phân nhánh vừa phải, sinh trưởng bán hữu hạn hoặc vô hạn.

– Quả cứng, vỏ quả dày, không bị nứt khi có mưa to hoặc bị cháy nắng.

– Quả chín đều, toàn bộ quả có màu đỏ tươi đặc trưng.

– Chống chịu một số bệnh như: bệnh thán thư, thối thân pythium, sương mai hoặc các bệnh đốm lá nâu hoặc xám.

Hạt giống làm gốc ghép và ngọn ghép đạt độ sạch 99%, độ ẩm nhỏ hơn 13%, tỷ lệ nảy mầm trên 85%, sức nảy mầm sau gieo 4 ngày phải đạt 85%.

Lượng hạt giống cần trồng cho 1 ha là 80 – 100 g giống gốc và 65 – 70 g giống ngọn.

Để sản xuất 100.000 cây giống cần: 1,2 tấn than bùn; 0,6 tấn phân hữu cơ; 7,5 kg vôi bột; 2,5 kg NPK 16-16-8; 5 kg super lân. Trộn đều hỗn hợp trên, ủ 30 – 60 ngày, sau đó xay nhỏ rồi loại bỏ vật thể cứng. Dùng vỉ xốp loại 50-84 lỗ/vỉ cho đầy giá thể và nén nhẹ bằng tay hoặc máy dập để khi nhổ cây giống từ vỉ đi trồng không bị vỡ.

Chuẩn bị nhà phục hồi cây sau ghép

Nhà để cây sau ghép được đặt gần vườn ươm cây con để thuận lợi cho việc di chuyển cây trong quá trình ghép. Trong điều kiện hộ gia đình chúng tôi giới thiệu 2 dạng nhà để cây ghép:

* Dạng nhà để cây ghép cố định:

Nhà có hình bán nguyệt, rộng 2,5m, dài 4m. Diện tích khoảng 10m2.

– Sử dụng ống nhựa tiền phong hoặc thép đường kính 3cm, dài 6 – 8m để làm khung nhà, mỗi khung cắm cách nhau 0,8 – 1m, dùng các thanh ngang hoặc kèo để cố định nhà tránh gió, bão.

– Toàn bộ khung nhà được che kín bằng nilon trắng loại 0,2 – 0,3mm sao cho phía trong nhà kín hoàn toàn. Phía trước nhà có lối đi rộng 0,6 x 0,8m, được bịt kín bằng một loại cửa 2 cánh. Bên trên lớp nilon là 2-3 lớp lưới đen (giảm ánh sáng).

– Phía dưới được san thành luống hoặc để phẳng trải nilon sau đó bơm nước vào, giữ mực nước vừa phải, dùng các giá đỡ hoặc gạch kê các khay đựng cây sao cho không bị ngập khay để cây cà chua sau ghép.

* Dạng nhà ghép tạm thời:

Có thể tháo ra, lắp lại dễ dàng giúp nông dân tiết kiệm diện tích và có thể cất giữ sau mỗi vụ ghép.

– Nguyên liệu là những thanh tre dài khoảng 3m (tùy thuộc độ rộng của nhà để cây), được cắm thành hình vòng cung cách nhau 50 – 60 cm trên một khu đất. Dùng dây cố định các thanh tre lại với nhau, sau đó dùng nilon trắng phủ kín, phía trên che phủ thêm 2 – 3 lớp lưới đen để giảm tối đa ánh sáng mặt trời. Xung quanh nhà đắp đất kín để tránh thoát hơi nước và chuột. Phía dưới cùng (mặt đất) trải nilon để giữ nước.

Dụng cụ gồm: dao lam tiệt trùng, ống cao su ghép, chiều dài 14 – 15mm, đường kính 2 – 3 mm, độ dày thành ống 0,3 – 0,5mm, găng tay cao su.

Tùy tình hình thời tiết, hạt cà tím được gieo trước hạt cà chua 5 – 30 ngày sao cho khi ghép đường kính cây gốc ghép và ngọn ghép tương tự nhau. Nếu nhiệt độ 28 – 320C hạt cà tím sẽ nảy mầm sau gieo 4 – 5 ngày, nếu nhiệt độ 21 – 24 0 C thời gian nảy mầm là 7 – 9 ngày. Hạt cà chua sẽ nảy mầm sau gieo 2 – 3 ngày.

Hạt cà tím trước khi gieo phải ngâm nước ấm 45 – 50 0 C trong 3 – 4 giờ, gieo 2 – 3 hạt/hốc, sau đó phủ rơm hoặc trấu lên trên rồi tưới ẩm thường xuyên trong 1 tuần. Sau khi gieo 10 ngày phải dặm lại những hốc không có cây. Khi cây mọc 1 – 2 lá thật, tỉa bỏ những cây xấu, cây biến dạng, sâu bệnh, chỉ để 1 cây/hốc.

Hạt cà chua có thể gieo vào khay hoặc gieo ra đất gần nơi gieo hạt cà tím để thuận tiện cho công việc ghép sau này.

Sau gieo 15 – 16 ngày đối với cây dùng làm ngọn ghép và 19 – 20 ngày đối với cây dùng làm gốc ghép phải hạn chế tưới nước để cây đanh cứng. Sau khi gieo hạt cây làm gốc ghép 25 – 26 ngày cần phân loại cây và đưa vào ghép.

Trong vườn ươm cần chú ý phòng trừ bệnh lở cổ rễ cho cây cà tím bằng cloruoxit đồng 0,1 – 0,2%, sâu vẽ bùa và bộ phấn bằng regent 0,01%, dầu khoáng SK99 1%.

Tiêu chuẩn cây làm gốc ghép và ngọn ghép:

– Cây dùng làm gốc ghép: cao 18 – 20cm, có từ 5 – 6 lá, đường kính thân cây 0, 2 – 0,3 cm, cây đanh cứng, không sâu bệnh.

– Cây làm ngọn ghép: cao 15 – 18 cm, có 4 – 5 lá, đường kính thân cây 0,2 – 0,3 cm, cây đanh cứng không sâu bệnh.

Trước khi đưa vào phòng ghép cần phải tưới nước đủ ẩm, phun thuốc phòng trừ sâu bệnh trước 5 – 7 ngày.

Dùng dao mỏng cắt vát 300 thân cây tím và thân cây cà chua phía trên 2 lá mầm và phía dưới 2 lá thật.

Dùng ống cao su có đường kính 2 – 3mm để giữ ngọn ghép và gốc ghép. Đưa ngọn ghép và gốc ghép vào ống cao su sao cho 2 mặt vát của ngọn ghép và gốc ghép áp vào nhau. Sau khi ghép dùng bình xịt nước phun ướt đều cây trước khi đưa vào nhà phục hồi cây sau ghép.

Ngày đầu sau ghép thường xuyên phun nước (dạng sương) để cây luôn tươi. Từ ngày thứ 2 – 3 trở đi, tưới nước cho cây bằng bình bơm có vòi phun nước mịn, che nắng 100%. Ba ngày sau ghép cho cây tiếp xúc ánh sáng nhẹ. Từ ngày thứ 4 trở đi tăng dần ánh sáng bằng cách không che bóng lúc sáng sớm và chiều mát. Ngày thứ 7 trở đi cho cây sống điều kiện đủ sáng. Khoảng 15 – 17 ngày sau khi ghép có thể đem trồng.

Trong nhà phục hồi cây ghép nên tiến hành phun thuốc phòng bệnh cho cây bằng thuốc vibenC hoặc cloruaoxit đồng nồng độ phun 0,2 – 0,3%. Khi đưa cây ra khỏi nhà ghép phun kết hợp thêm thuốc trừ sâu như regent hoặc seleczon (0,1 – 0,3%).

Tất cả các cây được để trên giàn ươm hoặc nền đất cứng để tránh cây đâm rễ xuống đất. Tiêu chuẩn cây cà chua ghép trước khi trồng: thời gian từ gieo hạt đến khi xuất vườn của cây cà chua ghép trên gốc cà tím từ 45 – 50 ngày, cây xanh tươi, cao 10 – 12cm, vết ghép đã liền hoàn toàn, cây con không bị sâu bệnh

Cập nhật thông tin chi tiết về Trồng Và Chăm Sóc Bầu Bí ” Nông Dân Giỏi trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!