Xuanphong Phong Lan Rừng Việt / 2023 / Top 13 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Phong Lan Hồ Điệp Rừng Việt Nam / 2023

Hồ điệp là lan đơn thân, thân ngắn, lá dày, mọc sát vào nhau. Phát hoa mọc từ nách lá, dài, đơn hay phân nhánh. Lá đài và cánh hoa phẳng, trải rộng, thường thì lá đài giống và gần bằng cánh hoa. Môi hoa cong dẹp có hai râu dài.

Tên gọi

Lan Hồ điệp có tên khoa học Phalaenopsis Blullle, 1825. Họ phụ Vandoideae. Tông Vandeae.

Tên gọi Phalaenopsis có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp, Grec Phalaina có nghĩa là “con bướm” và Opsis có nghĩa là “giống như”.

Phaenopsis mannii – Phong lan Hồ Điệp rừng tự nhiên Việt Nam

Giới thiệu về lan hồ điệp:

Ở nước ta, Lan Hồ điệp không trồng được tại các vùng lạnh như Đà Lạt song với đặc tính vừa chịu khí hậu nóng ẩm lại vừa chịu khí hậu mát nên điều kiện tự nhiên của Di Linh được xem là địa điểm lí tưởng để nuôi trồng lan Hồ điệp. Tại đây toàn bộ Lan Hồ điệp đều nuôi trồng trong nhà kín bằng nguồn giống cấy mô và được trang bị lưới che, hệ thống quạt gió… để chủ động điều chỉnh lượng ánh sáng và nhiệt độ thích hợp trong từng giai đoạn tăng trưởng, phát triển cụ thể của cây

Đặc điểm lan hồ điệp:

Hồ điệp là lan đơn thân, thân ngắn, lá dày, mọc sát vào nhau. Phát hoa mọc từ nách lá, dài, đơn hay phân nhánh. Lá đài và cánh hoa phẳng, trải rộng, thường thì lá đài giống và gần bằng cánh hoa. Môi hoa cong dẹp có hai râu dài. Trụ hình bán nguyệt, thẳng hay hơi cong. Hoa có màu sắc phong phú từ trắng, hồng, đỏ, vàng, tím và có loài có sự phối màu tự nhiên như có đốm hay sọc… Thời kỳ nở hoa thay đổi theo loài, hoa lâu tàn khoảng 2-4 tuần.

Giống Hồ điệp có khoảng trên 60 loài và ngày càng được lai tạo ra rất nhiều cây lai hoa rất đẹp và quý phái. Các loài thuộc giống này có nguồn gốc xuất xứ ở các nước Đông Nam Á như: Malaysia, Việt Nam, bán đảo Đông Dương; Ấn độ và Châu Úc.

Đây là loại lan có biên độ ánh sáng biến thiên khá rộng khoảng 5.000-15.000 lm/m2, ánh sáng hữu hiệu khoảng 30%; Nhiệt độ thích hợp cho việc nuôi trồng là từ 20°C- 27°C; Độ ẩm lý tưởng: 60-70%; Sự thông gió rất cần thiết và chậu trồng phải thật thoáng.

Hồ điệp rừng tự nhiên Việt Nam có 6 loài được biết là:

1. Phaenopsis mannii Rchob. f 2. Phalaeopsis gibbosa Sweet 3. Phalaenopsis lobbii Rchob. f 4. Phalaenopsis fuscata Rchob. f 5. Phalaenopsis cornu-cervi. 6. Phalaenopsis braceana (Hook. f), Christenson

Các loài này đều có hoa nhỏ nhưng màu sắc đẹp, cấu trúc kỳ diệu, rất dễ thương và có hương thơm nên hấp dẫn đối với giới sưu tầm lan rừng nguyên thủy. Đây cũng là nguồn gen quý để phát triển công nghệ lai tạo hoa lan Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay các loài này không thấy trồng phổ biến và tên Việt cũng không được quan tâm, chỉ biết cây Phaenopsis mannii Rchob. f gọi là Hồ Điệp Hổ Vằn. Đã đến lúc cũng cần phải sưu tập lại để bảo tồn nguồn gen cũng như tính đa dạng sinh học cho thế giới lan rừng.

Phalaeopsis gibbosa Sweet Phalaenopsis lobbii Rchob. f

Các Loài Hoa Phong Lan Rừng Đơn Thân Của Việt Nam / 2023

Các loài hoa phong lan rừng đơn thân của Việt Nam

Tuy không rực rỡ sắc màu như các giống lan lai ngoại nhập nhưng lan rừng có vẻ đẹp tự nhiên, thanh thoát và phần lớn có hương thơm nên hấp dẫn giới hâm mộ. Lan rừng Việt Nam có khoảng trên dưới 800 loài.

 Mỗi loài hoa đều có vẻ đẹp riêng. Hoa lan chiếm lĩnh thế giới thực vật bởi sự kỳ diệu, phong phú và tính đa dạng của chúng.

Tuy không rực rỡ sắc màu như các giống lan lai ngoại nhập nhưng lan rừng có vẻ đẹp tự nhiên, thanh thoát và phần lớn có hương thơm nên hấp dẫn giới hâm mộ. Lan rừng Việt Nam có khoảng trên dưới 800 loài.

Dựa vào hình thái, cấu trúc thân cây, hoa lan phân thành 2 nhóm (theo Pfitzer): – Nhóm đa thân (Symbodial) – Nhóm đơn thân (monopodial)

Ngoài ra còn có một nhóm trung gian giữa 2 nhóm trên nhưng gồm rất ít giống.

Nhóm lan đơn thân gồm những cây lan tăng trưởng theo chiều cao và thân ngày càng dài ra, có thể phân nhánh trên thân, thường có nhiều rễ gió mọc dọc theo thân. Lan đơn thân rừng thường được nhân giống bằng cách tách nhánh, một số loài hiện đã được nhân giống bằng phương pháp cấy mô. Kiểu trồng tốt nhất là nên trồng ghép trên khúc gỗ, thân cây sống hoặc chết, trong giỏ gỗ với giá thể thông thoáng, thoát nước tốt.

1- CÂY LAN HỎA HOÀNG

Tên khác: Hoàng Yến (không phổ biến) – Tên khoa học: Ascocentrum miniatum Lindley 1913

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học: Cây thân nhỏ, lá dày, mọc hai dãy đều nhau, dày cứng màu xanh bóng. Phát hoa đứng thẳng, mọc ra từ nách lá, chùm hoa mang nhiều hoa nhỏ xếp dày đặc; đài và cánh hoa giống nhau, nở xòe rộng màu vàng cam rất đẹp. Môi gắn chặt vào gốc trụ, phân ba thùy, thùy bên nhỏ, đứng, thùy giữa to dạng cái lưỡi, có túi cựa. Nở hoa vào khoảng tháng 3-4, đặc biệt rất lâu tàn (1-2 tuần).

b- Yêu cầu về điều kiện sinh thái: – Nhiệt độ: 20-25°C – Ánh sáng: 70-80%. – Ẩm độ: 40-70%.

c- Một số cây lan rừng tự nhiên Việt Nam khác thuộc chi Ascocentrum: – Ascocentrum christentionianum (Tử hoàng): Hoa màu tím. – Ascocentrum pusillum Averyanov

Cây Tử Hoàng (Ascocentrum christensonianum Haager 1993):

Lá hình dãi, màu đỏ xanh. Hoa màu tím, phát hoa dài 10-15 cm, mọc thẳng đứng từ nách lá, hoa nở vào mùa xuân.

(Photo courtesy of Jay Pfahl)

2- CÂY LAN CÙ LAO MINH

– Tên Khác: Uyên ương (không phổ biến và có lẽ không phù hợp). – Tên khoa học: Christensionia vietnamica

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học: Cây đơn thân, lá màu xanh lục trãi ra, chốp lá phân thùy. Có 2 dạng cây: cây lá ngắn và cây lá dài, đều cho hoa giống nhau. Hoa lớn, phát hoa thường mang 4 hoa màu xanh lá cây sáng, môi có họng cùng màu cánh hoa, bờ môi có màu trắng. Hoa nở vào khoảng tháng 6-7, hoa lâu tàn.

b- Đặc điểm sinh thái học: – Phân bổ sinh thái tự nhiên: Đây là giống lan đặc hữu của Việt Nam. Trong tự nhiên, mọc dọc theo suối Ea Dong tỉnh Khánh Hòa và các khe suối ở đèo Mang Yang tỉnh Gia Lai.

– Một số yêu cầu về điều kiện sinh thái: Nhiệt độ: 20-25°C, ánh sáng: 50%, ẩm độ: 40-70%.

Cây lá ngắn

Cây lá dài

3- CÂY LAN NGỌC ĐIỂM

Tên khác: Nghinh Xuân, Tai Trâu, Đai Châu, Lan Me. – Tên khoa học: Rhynchostylis gigantea

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học: Cây thuộc nhóm đơn thân, tăng trưởng theo chiều thẳng đứng, có rất nhiều rễ gió mọc thẳng từ thân. Lá dày, hẹp, tận cùng có hai thùy, có nhiều sọc nhạt màu chạy dọc theo chiều dài của lá. Phát hoa thòng hay cong, dài khoảng bằng chiều dài của lá, mang nhiều hoa màu trắng có điểm tím, môi có 3 thùy.

Hoa có mùi thơm dễ chịu. nở hoa vào khoảng tháng 12 đến tháng 1-2, trùng vào dịp tết Nguyên Đán nên rất được ưa chuộng.

(Theo dõi cho thấy: có hai dạng cây, cây có lá màu xanh hơi vàng, sọc trên lá rất rõ, dạng này trên cánh hoa có nhiều điểm tím hồng rất đẹp; dạng lá màu xanh lục, sọc trên lá rất nhạt hay không có sọc, dạng này trên cánh hoa có những vệt tím ít hơn, màu trắng nhiều hơn, không đẹp bằng dạng lá sọc?)

b- Yêu cầu về điều kiện sinh thái: – Nhiệt độ: 25-30°C. – Ánh sáng: 60%. – Ẩm độ: 40-70%.

c- Một số cây Ngọc Điểm lai nhập từ Thái lan:

4- CÂY LAN HẢI YẾN

– Tên khác: Ngọc Bích, Hải Âu. – Tên khoa học: Rhynchostylis coelestis

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học: Cũng giống như Ngọc Điểm nhưng thân lá nhỏ hơn, màu xanh mướt, lá xếp theo rãnh, giữa cong quằn xuống, hai thùy lá không đều nhau. Phát hoa đứng thẳng, hoa màu trắng , ở phần chót có màu xanh lam, môi màu xanh hoa cà. Hương thơm đài các. Cây nở hoa vào khoảng tháng 3 – tháng 5.

b- Yêu cầu về điều kiện sinh thái: – Nhiệt độ: 20-25°C. – Ánh sáng: 60%.

– Ẩm độ: 40-70%.

(Ảnh: trên mạng Dalatrose.com)

5-CÂY LAN BẠCH VĨ HỒ

– Tên khác: Đuôi chồn, Đuôi sóc, Sóc lào. Ở miền Nam gọi là Đuôi chồn nhưng thường không phổ biến vì rất hiếm, miền Bắc gọi là Đuôi sóc, Sóc lào. Tên Bạch vĩ hồ có người cho rằng dùng để gọi cây Rhynchostylis retusa var alba màu trắng (xem ảnh dưới). – Tên khoa học: Rhynchostylis retusa

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học: Lá dài, hơi mỏng và cong quặn, chốp lá phân thùy. Phát hoa dài, rũ thòng, mang nhiều hoa màu trắng hồng điểm tím, hoa có mùi thơm khá gắt, nở vào khoảng tháng 5-7.

b- Yêu cầu về điều kiện sinh thái: – Nhiệt độ: 20-25°C. -Ánh sáng: 60%. -Ẩm độ: 40-70%.

* Cây Bạch vĩ hồ đột biến màu trắng:

6- CÂY LAN HỒNG NGỌC

– Tên khác: Đuôi Cáo, Giáng Hương Nhiều Hoa

. Ở miền Nam thường gọi là Đuôi cáo và gần như trở thành tên gọi dân gian phổ biến. 

-Tên khoa học Aerides multiflora

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học: Cây thân thẳng đứng. Lá dày, xếp thành hai dãy đối xứng, màu xanh hơi vàng và hơi nhăn nheo, có hai thùy không đều nhau. Phát hoa cong hay thòng, hoa màu trắng hồng với nhiều đốm đỏ hồng hay tím hồng,môi hầu như không có cựa, có ba thùy, thùy giữa hình tam giác màu tím đậm, hoa thơm, lâu tàn, nở vào mùa hè đến đầu mùa thu.

(www.pbase.com/schnitz/orchid)

b- Yêu cầu về điều kiện sinh thái: – Nhiệt độ: 20-25°C. – Ánh sáng: 50 %. – Ẩm độ: 40-70%.

7- CÂY LAN BÒ CẠP TÍA

Tên khác: Lan nhện – Tên khoa học: Arachnis annamensis (Rolfe.) J. J. Smith

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học: Thân khá dài, leo bò và phân nhánh. Lá tròn, dài, đầu lá có 2 thùy, mọc cách. Phát hoa dài, đứng. Hoa to màu khảm, có nhiều vết rằn ri màu nâu tía. Lá đài và cánh hoa bằng nhau, hẹp dài, trãi ra, hơi rộng ở đỉnh, đỉnh lệch cong về phía bên dưới. Hai lá đài bên cong như hai càng của con bò cạp nên được gọi là lan Bò Cạp. Môi gắn vào trụ thành một khối rất ngắn, mập, có cựa rất ngắn, môi phân làm 3 thùy, thùy giữa dài và nhọn. Ra hoa vào mùa hè, khoảng tháng 3-5, hoa lâu tàn, có mùi thơm.

(Hình: www.pbase.com/glazemaker/orchid)

b- Đặc điểm sinh thái học: – Lan Bò cạp rất dễ trống, trồng ghép với gốc cây hoặc trồng như lan cắt cành, có nơi trồng làm hàng rào. Loài này cần nhiều ánh sáng, có thể trồng ngoài nắng trực tiếp. – Một số yêu cầu về điều kiện sinh thái: Nhiệt độ: 25-30°C; Ánh sáng: 70-100 %; Ẩm độ: 40-70%.

(Hình: chúng tôi & chúng tôi (Visited 250 times, 35 visits today)

Nguồn: runglan.com

Top 5 Phong Lan Rừng Việt Nam Được Ưa Chuộng Nhất Năm 2022 / 2023

Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa là một trong những yếu tố tác động đến sự phát triển mạnh mẽ, phong phú về chủng loại của các loài phong lan rừng Việt Nam. Theo thống kê của báo giới, Việt Nam tìm thấy khoảng 800 loài phong lan với màu sắc, mùi hương, nét đẹp và đặc điểm nhận biết khác nhau. Trong 800 loài này, những loại phong lan như: lan phi điệp, lan ngọc điểm, Quế lan hương, lan cẩm báo, lan kiếm,…. Là một trong top 5 loài lan được xướng danh nhiều nhất.

Cái tên hot nhất của họ nhà lan năm 2019 này không thể không nhắc đến Lan Phi Điệp. Những giao dịch được cho là ở trên mây đã được biến thành sự thật bởi những đại gia chơi lan. Trong số đó phải kể đến những giao dịch với bông phi điệp Bảo Duy ở mức 1 tỷ/kei 2cm hay Tiên Sa 6,8 tỷ. Điều gì đã là nên độ hot này?

Thứ nhất phải kể đến đây là dòng lan rừng xuất phát từ Rừng Việt Nam đã được dân chơi sưu tầm từ nhiều năm trước.

Thứ hai: Loài lan này có hoa dày tạo thành một dải buông xuống trông rất đẹp mắt.

Thứ ba: Có đa dạng các mặt bông, mỗi mặt bông lại có những vẻ đẹp khác nhau.

Thứ tư: Việc chăm sóc, nhân giống dòng lan phi điệp này khá dễ dàng có thể phù hợp với tất cả các vùng miền, trồng được cả thành thị lẫn nông thôn. Từ chung cư tầng 19, 20 lẫn nhà mặt đất.

2. Lan ngọc điểm (Hay còn gọi là Rhynchostylis gigantea)

Lan ngọc điểm có tên khoa học là Rhynchostylis gigantea, đây là loài lan rừng Việt Nam có khác nhiêu tên. Ở miền trung gọi là lan nghinh xuân miền bắc gọi là Đai Châu hay Tai Trâu. Chúng thường ra hoa vào tháng vào tết âm và có mùi hương đặc trưng khuyến rũ. Bởi đặc tính nở vào tết nên chúng có rất nhiều hàng công nghiệp (cấy mô, lai tạo) nên có nhiều màu sắc hoa khác nhau như hồng chấm tím, trắng tuyền, đỏ thẫm, đỏ khoang trắng. Tuy nhiên, nếu là hàng rừng nguyên thủy thì chỉ có 2 màu là trắng chấm hồng và trắng tuyền

Lan ngọc điểm cũng là loài lan thuộc dòng lan giáng hương nên chúng là loài đơn thân khó nhân giống phổ biến bằng phương pháp tự nhiên.

3. Quế lan hương

Quế lan hương thuộc dòng dáng hương, cũng như lan đai châu Quế Lan Hương là loài đơn thân, hoa vàng hoặc trắng kết lại tạo thành một chuỗi giống chuỗi ngọc. Đây là một trong những loại lan có hương thơm độc đáo nhất không thể pha lẫn với các loài lan khác bởi mùi quế đặc trưng. Chúng thường nở hoa vào tháng 8 – 10 dương lịch hàng năm

Cũng giống như những loài thuộc dòng giáng hương khác. Quế lan hương rất khó nhân giống, hoặc nhân giống rất chậm. Đây cũng là một trong những lý do làm cho loài phong lan này không hấp dẫn với các nhà đầu tư.

4. Lan cẩm báo

Loài lan này được tìm thấy ở nhiều nơi trong nước, đặc biệt là các tỉnh thành thuộc khu vực miền trung và miền nam Việt Nam. Loại lan rừng việt nam này là loại sống phụ sinh, thân ngắn, nhiều rễ cũng thuộc dòng giáng hương. Chúng cho số lượng hoa không nhiều nhưng kích thước hoa lớn, cánh hoa dày, thường nở hoa vào mùa thu và rất lâu tàn; hoa có màu xanh xen với đốm vệt đỏ nâu như da của loài báo chính vì thế chúng được gọi là lan cẩm báo hay nhiều nơi gọi là lan da báo.

5. Lan kiếm

Lan Kiếm thường phân bố ở những nơi dưới 1000m. Chúng có lá dày, màu xanh, hình giải thẳng, lá dài, đỉnh chia thành 2 thùy tròn không đều nhau. Cọng phát hoa mọc từ đáy giả hành, phát hoa dài, buông thõng xuống, mang từ 5 – 20 hoa, kích thước hoa trung bình từ 3 – 5 cm. Cánh hoa và lá đài thon nhọn, màu nâu đỏ, ra hoa khi cây đủ lực

Tìm hiểu chi tiết về xuất xứ, cách trồng và chăm sóc lan kiếm

Phùng Văn Đạt

Lan Rừng Miền Nam Việt Nam / 2023

Theo Helmut Bechtel (1982), hiện nay trên thế giới có hơn 700 giống lan rừng gồm 25.000 loài được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ lan lai không thể thống kê chính xác số lượng.

Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 5 khu vực:

– Châu Á nhiệt đới gồm các giông Bulbophylium, Calanthe, Coelogyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Vanda, Phalaenopsis.

– Châu Mỹ nhiệt đới gồm các giống Brassavola, brassia, Catasetụm. Cattleya, Cynoches, Pleurothailiis, Stanhopea, Zygopetalum.

– Châu Phi gồm các giống Lissochius, Polystachiya, Ansellia, Disa

– Châu Úc gồm các giống Bulbophyllum, Calanthe, Cymbidium, Dendrobium, Eria, Phaius, Pholidota, Sarchochiius, Spatìioglottis. Riêng Tân Ghi nê trên 2.500 loài trong đó phần nhiều là Dendrobium và Bubophyllum.

– Vùng ôn đới của châu âu, Bắc Mỹ và Đống Bắc á châu gồm các giống Cypripedium. Orchis, Spiranthes.

Việt Nam là một nước Đông Nam Á nằm trong khu vực cháu Á nhiệt đới, là một trong hai khu vực tập trung nhiều lan đẹp nhất trên thế giới: châu Á và Nam Mỹ

Theo Phạm Hoàng Hộ (1993) lan rừng Việt Nam được biết gồm hơn 750 loài khác nhau, phần giới thiệu sau đây chỉ tập trung vào một số loài lan có hoa đẹp, trữ lượng nhiều, có triển vọng kinh doanh trong lĩnh vực thương mại trong tương lai.

Mỗi loài lan rừng đều yêu cầu một điều kiện sinh thái nhất định, ngoại trừ một vài loài lan có khá năng thích nghi biên độ khí hậu rộng. Thường mỗi loài dều cự ngụ tại nguyên quán thích hợp. Các nhà săn lan nhận thây rằng các vùng ven suối vùng trũng, trong rừng sâu mật độ lan cao hơn và mất hẳn khi gần trảng trống, Tuy nhiên, ơ mức độ giới hạn nào đó, càng vào sâu trong rừng mật dộ lan sẽ giảm dần, cũng phải kể một trường hợp cá biệt khác là loài Hạc đỉnh chỉ mọc trên các trảng trống trong rừng, xen kẽ vổi các loài cỏ dại.

Rừng Việt Nam có nhiều loài lan quý nhưng chưa được quản lý và khai thác một cách hợp lý. Điển hình nhất là loài lan hài Hồng Paphiopedilum Delenatii. Trước đây nhiều nước yêu cầu Việt Nam xuất khẩu sang cho họ loài lan này, nhưng giờ không tìm ra. Đến năm 1993 khi phát hiện loài lan này thì thương nhân Đài Loan đã mang về nước họ gần 3 tấn (khoáng 100.000 cây) làm Việt Nam mất hàng triệu Đôla. Đây là loài lan quí, nhưng vì chưa có chính sách quản lý nên nhiều người xuất lậu dưới dạng bán kg. Một sự thất thoát tài nguyên vô lý ! Tháng 2/1995 nhiều chủng loại lan rừng Việt Nam được trưng bày tại TOKYO (Nhật Bản) và dã gây được sự chú ý của giới lan chuyên nghiệp trên thế giới, Đầu năm 1997 Canada cũng mời Việt Nam trưng bày, và giới thiệu một số mẫu lan rừng nhưng chúng ta không tham gia được.

Với sộ lượng 500 loài của riêng các tỉnh miền Nam, chưa kể một số loài do điều kiện chiến tranh chúng ta chưa tìm kiếm được. Việt Nam cũng thuộc là một trong những nước có lan nhiều trên thế giới.

Về màu sắc, lan Việt Nam có nhiều màu từ nhạt sang dậm, màu trắng tuyền như’ loài Thạch hộc (Dendrobium crumenatum), Tuyết Ngọc (Coelogyne mooreana) Màu vàng như các loài Kim Điệp (Dendrobium capillipes). Màu cam như Ascocentrum miniatum. Màu đổ như Huyết nhung (Renanthera coccinea). Màu hồng như Hồng lan (Cymbidium insigne). Màu trắng xanh như Mỹ dung dạ hương (Vanda denisoniana). Màu cà phê sữa như Hạc đỉnh (Phaius Tankervilliae) Màu nâu như Đoản kiếm (Cymbidium aloifolium) màu tím hoa cà như Giả hạc (Dendrobium anosmum) (Chỉ riêng màụ đen không xuất hiện trên bất kỳ một loài lan nào, ở Việt Nam hay trên thế giới?). Với một số lượng màu đa dạng như vậy, nếu được lai tạo lan Việt Nam sẽ có một tổ hợp về màu sắc rất phong phú. Chưa kể một số loài lan khảm có sẳn trong thiên nhiên như loài Đuôi cáo (Aerides multiflora) Ngọc điểm (Rhynchostylis gigantea), cểm báo (Hygrochilus parishii), Bò cạp (Arachnis annamensis), Long nhãn kim điệp (Pendrobium fimbriatum) Thái bình (Dendrobium pulchellum).

Về độ bền của lan, Việt Nam có nhiều giống lan rừng nở trên 2 tháng như Mỹ dung dạ hương, Huyết nhung, Hoàng lan, Hồng lan… Có loại trung bình 1- 2 tuần như Long tu (Dendrobium primulinum), Kim điệp, Đuôi cáo, Ngọc điểm… Thậm chí có loài chỉ nở một ngày như loài Thạch hộc.

Về kích thước, lan rừng Việt Nam có nhiều loài hoa bé như các loài của giống Eria. Các loài khác có kích thước trung bình. Một vải loài có kích thước lớn hơn 10cm như Hạc đỉnh, Huyết nhung, Mỹ dung dạ hương.

Về hương thơm, đây là ưu điểm chính của các loài lan Việt Nam. So với các loài lan lai, lan rừng Việt Nam có kích thước bé hơn nhưng nhờ đa sô’ có mùl thơm nên vẫn hấp dễn các người ái mộ như Mỹ dung dạ hương, Hạc đỉnh, Đuôi cáo, Ngọc điểm. Thạch hộc, Thanh ngọc, Nhất điểm hồng, Giả hạc…

Lan Việt Nam là lạn của vùng nhiệt đới chịu ảnh hưởng bởi 2 mùa nắng mưa rõ rệt, vì thế đa số các loài lan mỗi năm chỉ cho một kỳ hoa, trừ loài Thạch hộc có thể nở bất kỳ trong năm. Mùa nở hoa tập trung vào 2 thời kỳ vào khoảng tháng 2 (tức tết âm lịch) và tháng 4 trong mùa nắng do sự thọ hàn và quang kỳ tính và tháng 7 tháng 8 do sự khô hạn.

Với các đặc điểm trên, lan Việt Nam là nguồn thuận lợi để lai giống lan, nếu chúng dược khai thác đúng mức trên khía cạnh di truyền học.

Có thể tạm chia lan rừng của các tỉnh miền Nam làm 4 khu vực khác nhau : 1. VÙNG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

Đây là vùng rừng khô đã bị khai thác nhiều lần, tầng trên còn ít gỗ quí, tầng dưới là các loại gỗ tạp mới tái sinh, trải dài từ biên giới Cambodia đến biển Đông như các vùng : Xuyên Mộc, Bình Giả, Mã Đà, Lộc Ninh…

Ớ đây lan mọc nhiều nhất trên các cây Vừng (Careya arborea) Cây Râm (Anogeissus acuminata). Rải rác lan cũng mọc trên vỏ cây các loài khác như Sến mủ (Shorea roxburghii). Sao (Hopea odorata), Thành ngạnh (Cratoxylon sp.) Bằng lăng (Lagerstroemia sp), Dầu con rái (Dipterocapus alatus).

Vùng này tập trung các loài có hoa đẹp như :

– Đuôi cáo (Aerides miltiflora) – Ngọc điếm (Rhynchostylis gigantea) – Giáng Hương (Aerides fcdcata). – Đuôi chồn (Rhynchostylis retusa). – Hỏa hoàng (Ascocentrum miniatum)

Vùng này còn có một loài lan đất là lan Bầu rượu (Calanthe cardioglossa) có nhiều ở trên các sườn núi đá ớ Vũng Tàu, Bà Rịa, Long Khánh.

Ngoài ra ở đây còn có một sô loài khác, không có giá trị về phương diện thẩm mỹ như:

– Tổ Yến (Acriopsis indica): Xuân Lộc. – Chân rết (Appendicula cornuta): gần suối. – Sậy lau (Arundina graminifolia): gần suối. – Thanh hoàng (Calanthe graminifolia): Vũng Tàu. – Lọng lan (Bulbophylỉum eberhardtii): gần suối. – Hoàng yến (Coelogyne massengeana): Định Quán. – Thanh đạm xanh (Coelogyne brachyptera): gần suối. – Đoản kiếm (Cymbidium aloifolium): khắp nơi. – Thanh ngọc (Cymbidium ensifolum): suối. – Bạch câu (Dendrobium crumenatum): khắp nơi. – Nhất điểm hồng (Dendrobium draconis): khắp nơi. – Tép dẹp (Dendrobium flabellum): gần suối. – Ý thảo (Dendrobium gratiosissimum): khắp nơi. – Vảy rùa (Dendrobium nathanìelis): Long Khánh – Báo hỉ (Dendrobium secundum): khắp nơi. – Nỉ lan (Eria globilifera): khắp nơi. – Cành giao (Luisia psyche): Đồng Nai – Da beo (Staurochilus fasciatus): Gần suối – Bắp ngô (Acampe rigida): khắp nơi.

2. VÙNG TRUNG NGUYÊN

Đây là vùng có cao độ trung bình 700 – 1.000 m . Nhờ nhiệt độ thấp, khí hậu ẩm mát, địa hình nhiều đồi núi. Rừng bị khai thác nhiều lần, nếu rừng nguyên thủy bị xâm chiếm bởi các rừng tre, lồ ô, thông 2 lá, ở đây còn có rừng hỗn giao giữa rừng thông 2 lá và dầu trà beng. Điều lưu ý là lan không bao giờ mọc ở rừng tre và hiếm khi mọc ở rừng thông. Nhiều nhât ở rừng diệp loại và rải rác ở rừng hỗn giao, nhưng cây chủ vấn là cầy diệp loại.

Ớ vùng này, đa số các loài lan mọc trên các loại cây chủ yếu sau đây : như Cà chắc (Shorea obtusa), cẩm liên (Swrea siamensis) Cà gần (Terminalia tomentosa) Chò xót (Schima crenata Korth) Các loại Dẻ sồi (Quercus, lithocarpus…), Sao (Hopea odorat), Sến (Shorea roxburghii) Vừng ( Carey a aborea) các loài trâm, các loài Bằng lăng, Thành ngạnh vì có vỏ láng và thay vỏ hàng năm nên các loài lan chỉ mọc được trong các bọng cây. Một số loài phong lan và địa lan lại mọc trên đá, ven suối. Vùng này có các loài địa lan mọc trên các vùng đầm lầy, trong các thung lũng giữa các dãy núi.

Đây là vùng tập trung nhiều giống Dendrobium có hoa đẹp nhất Việt Nam. Một tập đoàn Dendrobium gồm các loài: Lụa vàng (D.heterocarpum), Hoàng phi hạc (D. signatum) Thủy tiên các loại (D.densiflorum, D.haveynum, D. farmeri, D. thyrsiflorum), Long tu (D.primulinum), Kim điệp (D.capillipes) mọc xen kẽ nhau trên cóc cây dẻ, sồi trâm trong các quần thể rừng diệp loại, dọc theo triền núi, khe suối. Loài

Nhất điểm hồng (D.draconis) trên các cây Dầu trà beng hoặc Dầu đồng, Dẻ trong các rừng hỗn giao. Loài Giả hạc (D.anosmum) nhiều nhất trên cây cà chí, đôi khi trên các cây giẻ sồi, một số ít mọc trên đá, nhiều nhất ở vùng Tam Bố (Lâm Đồng) trải dài theo hướng Tây qua biên giới tỉnh Đắc Lắc rải rác loài này cũng mọc dọc đèo Ngoạn Mục, Đơn Dương, nhưng loại ở đây trổ hoa chậm sau tết 15 ngày. Loài Long nhãn kim điệp (Dendrobium fimbriatum) hầu như chỉ mọc trên đá dọc suôi ở Di Linh, loài Ý thảo (D.gratiosissimum) mọc trêncác cây Dẻ về phía Đông hướng về Phan Rang, Phan Thiết. Loài Đại ý thảo (D.aphyllum) chưa bao giờ được tìm thấy trên độ cao khỏi đèo Bảo Lộc. Loài Vảy cá (D.lindleyi) có ở Liên Khàng và Phi vàng. Loại Thạch hoa (D.linguella) hiếm gặp, loài Huyết nhung (Renanthera imschootiaha) mọc trên các cây Dẻ sồi, gần bờ suối, hoặc trên vách đá lưng chừng xuống chân núi. Loài Bò cạp (Arachnis annamensis) mọc trên các dông núi vùng rừng rậm có nhiều ở núi vôi, loài Mỹ dung dạ hương (Vanda denisoniana) chỉ mọc từ Di Linh đến Đơn Dương, Ca-đô có nhiều, loài này mọc nhiều trên cây Keo dậu, ở các đồn điền như Phi Vàng. Loài Đuôi cáo mọc nhiều trên các cây rừng thưa từ đèo Phú Hiệp đến thác Pông-gơ. Loài Hạc đỉnh (Phaius tankervilliae) mọc ở trảng trống trong rừng vùng đầm lầy hay vùng trũng thường mọc chung với loại lan khác là Ngãi Bưởi (Dipodium paludosum) rất thơm và loài Cau diệp ngà (Spathoglottis eburhea), có nhiều từ Di Linh đến Lang Hanh, vùng Tàu, có một đồng băng dài 10 – 50 km trước đây có rất nhiều hạc đỉnh.

Hiện nay khu rừng này đã bị phá và làm lúa. Loài Vân hài (Paphiopedilum cailosum) mọc trên đất dựa suôi hoặc ven các dầm lầy với các loài Hạc đỉnh và Ngài bưởi. Loại kim hài (Paphiopedilum Villosun) mọc nhiều thành từng dám trên thân cây Dẻ, Loại Xích thử mọc trên cây li hi, từ đèo Ông Cố đến Lang Hanh. Loài Bầu rượu cò nhiều ở Phương Lâm và núi Chứa Chan. Một loài đặc biệt chỉ mọc trên cây thông là loài Bạch Hỏa hoàng (Dendrobium bellatulum)

3. VÙNG CAO NGUYÊN

Đâylà vùng có cao độ trên l.000m, nhờ khí hậu lạnh ẩm, điều hòa, địa hình đồi núi, đây là nơi ưu thế ciia rừng thông 3 lá. Tuy nhiên các loài lan chỉ xuất hiện ở các thung lũng hoặc trên sườn núi có nhiều cáy diệp loại như sồi, dẻ.

Vùng này có các loài lan được biết đến là :

Hồng lan (Cymbidium insigne) mọc trên đất thường chung với cỏ tranh trên các dòng núi. Loài Hoàng lan (Cymbidium iridioides) mọc trên các bọng cây hoặc các cồy bạch tùng (Podocarpus imbricatus) có nhiều rêu vùng rừng rậm. Loại Hổng hoàng (C.insigne x.c.iridioides) một cây lan lai tự nhiên giữa Hoàng lan và Hồng lan thường mọc trên các cây bạch tùng. Loài Bạc lan (Cymbidium erythrostylum) loài Tử cán (Cymbidium dayanum) loài Thanh lan (CymbidiUììì cyperifolium) hiếm hơn được trồng có hoa rất thơm từ Đà Lạt. Loài Tuyết ngọc (Coelogyae mooreana) và nhiều loài Coelogyne khác có nhiều ờ núi Bà Laubiang và các thác, thung lũng ẩm. Loại Nhất điểm hoàng (Dendrobium flavum) có trên các cây Sồi Dẻ ở đèo Pren và Đà Lạt.

4. VÙNG NAM VÀ TRUNG TRUNG BỘ

Đây là vùng tập trung nhiều loài lan qúy và đặc hữu của Việt Nam. Nếu đi từ Ninh Thuận, Khánh Hòa về phía cao nguyên Buôn Mê Thuột thì sự xuât hiện của các loài lan gần giống vùng Bảo Lộc – Di Linh với các loài Thủy Tiên, Nhât điểm hồng; Loài Ngọc Bích (Rhynchostylis coelestis) chỉ mọc trong các kiểu rừng bán thay lá từ Bình Thuận đến Khánh Hòa – Loài Ngọc điểm từ Bình Tuy kéo dài đến Nha Trang ra tận nhừng đáo xa, ngược lêu sông Krõng Bách ân giáp qua Tô hợp, Ngọc Điểm ơ đày có trữ lượng rất lớn khoảng vài chục vạn cây và có cả loài Ngọc điểm trắng. Vùng này bị ảnh hướng của gió biển nhiều nên lan mọc rất thấp dưới 5m dễ lấy và thường mọc trên gộp đá có rêu. Vùng đèo Đại Lảnh, từ cầu sắt đến Đồ Sơn cạnh hồ sen có một loài Hài màu trắng chưa định danh khá đẹp.

Ở Dục Mỹ, vùng Hòn tre, Hòn ngang có loài Giá Hạc. Nếu qua khỏi đèo Phượng Hoàng, vùng Khánh Dương có các loài Thúy tiên tím (Dendrobium amabile), Hoàng Thao Xoán (Dendrobium tortile) Tím Huế (Dendrobium hercoglossum). Tại vùng giáp ranh giữa Ninh Thuận – Khánh Hòa và Đaklak còn có các loài lan đăc hừu và quý hiếm như :

Hài Hồng (Paphiopedilum delenatii). Huyết Nhung giún (Renanthera coccinea) Huyết Nhung trơn (Renanthera imshootiana) Thái Bình (Dendrobium pulchellum) Đơn Cam (Dendrobium unicum)

Trong vùng này còn có hai loài lan mới vừa được công bố trên thế giới năm 1993 bởi Tiến sĩ Haager (Viện Hàm Lâm Khoa Học Tiệp Khắc)

Loài thứ nhất là Ascocentum christensonianum (Tứ Hoàng) mọc trong rừng bán thay lá gió mùa, Phan Rang ở dộ cao 100 – 150m, ở dây chúng mọc chung vối loại Ngọc điểm (Rhynchostyiis gigantea), Điểu lan (Dendrobium delacourii),… loài này còn gặp ở Buôn Ya Vầm (Đaklak).

Loài thứ hai là Christensonia vietnamien (Uyên Ương) mọc trong rừng ẩm cao độ l00m, dọc theo suối Ea Dong gần làng Ninh Tây (Khánh Hòa). Loài này còn gặp ở cấc khé suôi dọc theo dèo Mang Yang (Gia Lai). Đây là một giống lan mới cho thế giới được đặt tên cho Tiến sĩ Eric A. Ghristenson, một chuyên gia lan nổi tiếng của thế giới về tông Aeridinae. Hiện loài này đã được lai tạo thành công ở Việt Nam.

Thực ra, từ năm 1984 loài này đã được chúng tôi mang về trồng tại thành phố Hồ Chí Minh từ nhà một người bạn ở Phan Rang. Và vì lần đầu tiên ra hoa tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ có hai hoa nên chúng tôi đặt tên là “Uyên Ương” vả tặng cho nghệ nhân

Nguyễn Văn Để một trong nhiều cây đem về. Năm 1990, một trong những cây đó đã đoạt giải nhất hội thi lan rừng nhân kỷ niệm 19/5 – 100 năm ngày sinh Hồ Chủ Tịch vì vậy nó có tên là “Cù lao Minh” quê hương của nghệ nhân Nguyễn Văn Để, hiện là phó chủ tịch Hội hoa lan cây cảnh thành phố Hồ Chí Minh.