Vuon Lan Ngoc Diem Binh Duong / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Giam Ngheo Thong Tin Ninh Binh

MENU

THỜI TIẾT NINH BÌNH

Nhiệt độ trung bình: 31°C

Cao nhất: 32°C

Thấp nhất: 26°C

Độ ẩm: 70 %

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Số người truy cập:

839133

Số người trực tuyến:

1

KHUYẾN LÂM

Kỹ thuật trồng cây Cẩm lai Bà Rịa

Mô tả:

 Cây gỗ to, có tán hình ô, thường xanh, cao đến 20-25cm, chiều cao dưới cành 5-10m, đường kính thân 0,5 – 0,6m.Vỏ màu xám, điểm đốm trắng hay vàng, không nứt nẻ; thịt vỏ có mùi sắn dây, lá kép lông chim một lần, dài 15-18cm; có 11-13 lá chét, hinh mac thuôn, tù ở 2 đầu, nhẵn. dài 3-5cm;  rộng 1,5-2,5cm. Cụm hoa chùy ở nách lá và đầu cành, không lông. Hoa nhỏ, màu lam nhạt, quả đậu dẹt, dài 12cm hay hơn, rộng 2,5cm, hơi thắt eo ở chỗ có hạt. Hạt 1, ít khi2 , hình thận, dẹt, dài 9mm, rộng 6mm, màu đen nhạt

               Đậc điểm sinh vật học: Mùa hoa tháng 12 – 1, mùa quả chín tháng 2 – 4. Cây sinh trưởng rất chậm đến trung bình. Tái sinh rải rác do hạt, khó nảy mầm.

     Đặc điểm sinh thái: Mọc rải rác hoặc thành từng đám 5 – 10 cây trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh hay rừng nửa rụng lá mưa mùa với các loài cây như Bằng lăng (Lagerstroenia sp.) chiếm ưu thế. Ở độ cao dưới 800m – 900m. Thương mọc chỗ ẩm, ven sông, suối đất bằng hoặc có độ đốc nhỏ, cùng với Sao đen (Hopea odorata),Vên vên (Anisoptera cochinchinensis), Chiêu liêu (Teraminalia sp), Dầu đồng (Dipterccapus tuberculatus),…Cây ưa đất feralit nâu đỏ hay nâu vàng phát triển trên đá bazan và feralit xám trên cát kết hay phù sa cổ có tầng dày, thoát nước.

      Phân bố: Loài đặc hữu của Đông Dương. Việt Nam : Gặp ở nhiều tỉnh thành phía Nam như : Kon Tum (Sa Thầy), Gia Lai, Đắk Lắk (Ea Súp, Lắk), Dawsk Nông (Gia Nghĩa, Đắk Mil), Khánh Hòa (Ninh Hòa), Lâm Đồng (Bảo Lộc),Ninh Thuận (Ninh Sơn), Bà Rịa – Vũng Tàu (Xuyên Mộc), Đông Nai (Thống Nhất; Trảng Bom; Tân Phú; Vĩnh An; Vĩnh Cửu), Sông Bé (Phước Long, Đức Phong), Tây Ninh (Tân Biên).

     Thế giới: Lào, Campuchia

      Giá trị: Gỗ rất quý, cứng, thớ mịn, khá giòn, dễ gia công, mặt cắt nhẵn, dễ đánh bóng, ăn venci, được dùng để đóng đồ đạc cao cấp như giường, tủ, bàn ghế, đồ làm mĩ nghệ, trang trí và đồ tiện khảm.

      Tình trạng: Cây gỗ quý, ngoại hạng, nên Cẩm lai bà rịa đang bị khai thác kiệt và môi trường sống cũng bị thu hẹp nhanh chóng. Ngày nay, ngay ở các vùng trước đây có nhiều như Đồng Nai, Đắk Lắk… Cũng khó tìm được cây có đường kính trên 30cm. Mức độ đe dọa: Bậc V. Đề nghị biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt tại các vườn quốc gia ở Cát Tiên (Đồng Nai), Chư Đôn (Ea Súp – Đắk Lắk), Mom Rây (Sa Thầy – Kon Tum) và gây trồng.

     Kỹ thuật nhân giống

    *Nguồn hạt giống: Cẩm lai có thể được thu hái từ các cây phân tán ở rừng tự nhiên. Việc đầu tiên trong kỹ thuật thu hái hạt giống là phải chọn cây giống phù hợp, đảm bảo các chỉ tiêu: là cây sinh trưởng phát triển tốt, cây có nguồn hạt phong phú, cây có phẩm chất tốt, tuổi cây mẹ từ 10 tuổi trở lên và đã ra quả ít nhất là 3 vụ.

     – Nhận biết quả chín: Loài Cẩm lai ra hoa vào đầu tháng 12 đến cuối tháng 1, chín vào khoảng tháng 3 đến tháng 4 dương lịch. Khi chín quả chuyển từ màu xanh sẫm sang màu nâu hay đen. Vì vậy cần theo dõi để thu hái kịp thời và đúng lúc để dảm bảo chất lượng hạt giống được tốt hơn.

     – Thu hái hạt giống: Việc hái quả giống cần đảm bảo những yêu cầu:

    + Cần phải thu hái hết những quả giống tốt ở những cây mẹ đủ tiêu chuẩn để đảm bảo số lượng hạt.

    + Khi thu hái không được làm tổn thương cây mẹ

    +Việc thu hái có thể thu hái ở trên cây, cũng có thể thu hái bằng cách quét dọn dưới tán cây thật sạch để thu nhặt quả rơi rụng, nhưng chủ yếu thu hái quả trên cây. Do số lượng cây giống còn hạn chế nên có thể thu hái nhiều lần để tận dụng tối đa nguồn hạt giống.

    *Sơ chế hạt giống: Quả sau khi thu hái xong, tiến hành phơi trong bóng đến khô, loại bỏ cành khô, tạp vật sau đó tiến hành bảo quản.

    *Bảo quản hạt giống: là nhằm mục đích duy trì khả năng nảy mầm của hạt càng lâu càng tốt. Trong điều kiện chúng ta chưa thể cung cấp được hạt giống mới thu hái, hoặc nơi thu hái cách xa nơi trồng rừng, hoặc đã có hạt giống nhưng phải chờ đến thời vụ thích hợp mới gieo ươm. Bảo quản hạt giống nhằm biết được thời gian hạt có thể nảy mầm kể từ ngày thu hái quả giống. Riêng đối với hạt Cẩm lai nếu sau khi thu hái không xử lí ngay rất dễ dẫn đến mất sức nảy mầm, hỏng hạt. Việc bảo quản cần tiến hành khẩn trương tránh trường hợp để hạt bị nấm mốc xâm nhập. Quả/ hạt khi đã phơi đủ khô tiến hành cất trữ kín. Có thể dùng chum, lọ có nắp kín, đáy rải một lớp tro nguội, sau đó dùng bông không thấm nước lót một lớp dày khoảng 3-5 cm, dùng báo hút ẩm trải ở lớp trên, cho quả vào, ở trên mặt cũng bố trí tương tự rồi đậy kín nắp.

    *Phương pháp xử lí hạt giống: Đối với hạt Cẩm laido cấu tạo vỏ hạt mỏng dễ thấm nước chọn phương pháp xử lí hạt bằng nước ấm. Phương pháp xử lý hạt bằng nước ấm (2 sôi: 3 nguội) là phương pháp cơ bản và dễ tiến hành nhất. Ủ hạt trong túi vải, giữ ẩm thường xuyên. Sau khi nứt nanh, chuyển vào túi bầu hoặc gieo lên luống.

    *Tạo luống cát để gieo hạt: Tạo luống rộng 80-120cm, nền cao khoảng 10 – 15cm, dài tùy kích thước vườn. Tạo gờ cao 10 – 15cm, sau đó dùng cát sạch đã khử trùng vào bên trong luống, tạo mặt bằng cho luống. Trước khi gieo hạt cần tưới nước cho ướt đẫm cát trong luống trước khoảng 30 phút. Sau đó tạo từng rãnh nhỏ sâu khoảng 2cm, rộng 1,5cm, khoảng cách giữa các rãnh là khoảng 3cm. Rồi tiến hành gieo hạt đã xử lí xuống rãnh, xong phủ kín bằng hạt cát.

    Sau khi gieo hạt lên luống cát thì ta dùng các loại thuốc diệt côn trùng chống kiến, mối… để phun lên luống, rồi che bóng và giữ ẩm cho luống. Khi hạt nảy mầm lên khỏi mặt đất và có 1 – 2 lá kép thì bứng để cấy vào bầu, không nên để muộn hơn vì rễ mầm ra dài khi cấy đễ bị tổn thương, làm chột cây ươm.

    Hạt giống sau khi xử lý, đem ủ, hàng ngày mang ra rửa chua và chọn những hạt đã nảy mầm đem gieo trực tiếp vào bầu hoặc gieo trên luống. Việc làm này sẽ tránh tổn thương so với việc gieo trên cát nên tỉ lệ sống cũng cao hơn.

    Kỹ thuật trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng

   * Kỹ thuật trồng:

   + Phương thức trồng: Cẩm lai có đặc tính chịu bóng nhẹ trong thời kì đầu nên hạn chế đưa Cẩm lai ra trồng thuần loài ngoài đồi trọc. Phương thức trồng tốt nhất là hỗn giao theo hàng hay theo băng hẹp. Nông lâm kết hợp cũng là một lựa chọn tốt đối với trồng rừng Cẩm lai. Trồng phân tán nhằm tận dụng đất đai ven đường, cổng nhà, góc vườn, bờ ao, cũng rất thích hợp với cây Cẩm lai và hiệu quả cũng thường rất cao.

    + Xử lý thực bì: Theo băng, áp dụng đối với trồng Cẩm lai ở rừng hay các khu vực có thảm thực bì nhiều. Trong băng trồng tiến hành phát sát gốc, để một thời gian cho khô rồi đốt hay dọn sạch để thuận tiện cho việc đào hố và chăm sóc rừng sau này.

    + Mật độ trồng: Trong điều kiện hiện nay nguồn giống khá khan hiếm và đắt, nên trồng xen dưới tán với mật độ thấp. Trên cơ sở sự phân hóa về hình thái tỉa thưa cây để tạo ra các cá thể phẩm chất tốt để giữ lại.

    + Kích cỡ hố: Kích cỡ hố trồng cây phụ thuộc vào kích cỡ bầu, và kích cỡ bầu lại phụ thuộc quy cách cây mang đi trồng, cây càng lớn thì bầu càng to. Cây có chiều cao từ 20cm đến 50cm thì dùng bầu có kích thước 15 x 8 cm. Cây có kích thước vượt quá kích thước trên thì người ta tiến hành đảo bầu. Thông thường trồng cây có kích thước 20-30cm. Khi đó kích thước hố được đào là 30x30x30cm. Khi trồng cây có chiều cao khoảng 50cm trở lên thì kích thước hố khoảng 50x50x50 cm.

    + Bón lót: Phân bón trong kỹ thuật trồng cây là một phần quan trọng, phân bón cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây, bổ sung một lượng khoáng chất mà môi trường cung cấp không đủ, với mục đích để cho cây phát triển tốt hơn bình thường. Trong kĩ thuật bón phân thì không nên bón nhiều quá vì có thể gây lãng phí hay gây chết cây,  nhất là đối với phân hóa học. Có thể sử dụng các loại phân sau: phân chuồng, phân vi sinh, phân hóa học. Thông thường mỗi hố bón khoảng 1 kg phân chuồng, 0,1-0,2 kg phân NPK. Cũng có thể dùng duy nhất một loại phân vi sinh, phân chuồng hay vi sinh. Ở những nơi đất chua nên kết hợp bón thêm vôi khoảng 0,1-0,3kg/ hố.

    + Quy cách cây trồng: Cây mang đi trồng phải đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật nhất định. Đối với cây trồng thành rừng thì cây phải cao tối thiểu 30cm, đường kính cổ rễ từ 3mm trở lên, do cây trồng ở rừng thì thảm thực bì dày, nhanh phát triển lại thêm điều kiện vệ sinh rừng thường xuyên không có. Nhưng nếu cây trồng ở vườn nhà, điều kiện chăm sóc tốt thì cây cao khoảng 20cm là có thể trồng được.

    + Thời vụ trồng: Trong trường hợp nắng nóng thì khi mới trồng và sau khi trồng khoảng 1 tuần thì phải tưới nước. Đối với trồng thành rừng đại trà, trồng trên đồi cao thì thời gian trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa.

    * Kỹ thuật chăm sóc:

     Cây sau khi trồng nếu trời nắng liên tiếp dài ngày thì nên tưới nước cho cây. Trong 2 năm đầu ta phải phát dọn thực bì, cỏ dại. Khoảng 3 lần/năm.Kết hợp với việc này là bón phân nếu có thể.

     Bón phân cho cây sau khi trồng có thể dùng các loại phân khác nhau, nhưng cần bón phân đủ cho cây. Trong thực tế, người dân thường đào xung quanh gốc cây theo hình chiếu vuông góc của tán cây để bón phân xuống, hoặc theo cách nhanh hơn là người ta dùng xà beng chọc các lỗ xung quanh gốc cây để bón phân, xong lấp đất lại.

    *Kỹ thuật nuôi dưỡng rừng:

    Sau khi rừng đã khép tán, nếu muốn cây phát triển thêm chiều cao dưới cành với hình thân thẳng thì vẫn tiếp tục dựng cọc làm điểm tựa cho thân cây đến chiều cao mong muốn (khoảng 4 – 6m) và tiả cành tạo tán cho cây.

    Hiện nay, người dân địa phương ở một số tỉnh đang tiến hành trồng Tiêu và sử dụng trụ sống là cây Cẩm lai đã cho thấy một số hiệu quả rõ rệt so với các mô hình sử dụng trụ Tiêu cao và khả năng sinh trưởng của cây Cẩm lai rất tốt.

Nguồn: XBN Nông nghiệp

                     

 CÁC TIN KHÁC

Người dân vùng biên Quan San giảm nghèo nhờ trồng cây luồng Hướng đi đúng của HTX sản xuất và tiêu thụ dược liệu Yên Sơn Kỹ thuật trồng khoai tây năng suất Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây xà cừ Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cẩm lai

Người Cựu Chiến Binh Làm Giàu Từ Mô Hình Trồng Hoa Hồng Trong Nhà Kính

Đi qua chiến tranh, bom đạn trong thời chiến hay được rèn luyện ở môi trường quân đội trong thời bình đã tôi luyện ý chí, nghị lực của những cựu chiến binh ở huyện Lạc Dương hôm nay. Về với đời thường, trên mặt trận kinh tế, họ không ngại khó, ngại khổ, biến những vùng đất hoang hay những vườn cây năng suất thấp thành những vườn nhà kính trồng hoa theo hướng ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao. Những cựu chiến binh khi rời quân ngũ trở về với hai bàn tay trắng năm xưa, nay đã thành triệu phú, tỷ phú trở thành những tấm gương tiêu biểu trên mặt trận xóa đói giảm nghèo và gương mẫu đi đầu trong các phong trào ở địa phương. Cựu chiến binh Đỗ Đình Lợi ở thị trấn Lạc Dương là một trong những tấm gương như thế.

Theo chân các cán bộ Hội cựu chiến binh huyện Lạc Dương, chúng tôi tìm về gia đình cựu chiến binh Đỗ Đình Lợi ở tổ dân phố Đăng Gia Rít B, thị trấn Lạc Dương để tham quan mô hình trồng hoa hồng theo hướng ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao trong nhà kính. Tận mắt chứng kiến mô hình sản xuất quy mô lớn, chúng tôi càng thêm khâm phục nghị lực của người lính trong thời bình. Tiếp chúng tôi bằng cái bắt tay quen thuộc, nụ cười chất phác của một người lính năm xưa, anh kể cho chúng tôi nghe về những kỷ niệm và ký ức những năm tháng phục vụ trong quân ngũ. Năm 1986, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng thanh niên Đỗ Đình Lợi đã tình nguyện lên đường nhập ngũ, tham gia bảo vệ Tổ quốc.

Sau 3 năm phục vụ quân đội, năm 1989, xuất ngũ trở về quê hương, anh lại quay trở về với những công việc của nhà nông: Trồng lúa, trồng ngô, chăn nuôi… nhưng chỉ nuôi trồng theo thời vụ, vất vả làm lụng nhưng kinh tế gia đình vẫn không thoát khỏi khó khăn. Với mong muốn có một cuộc sống ổn định hơn, năm 1992, rời mảnh đất Kỳ Tân – Kỳ Anh – Hà Tĩnh đầy nắng và gió, gia đình anh vào mảnh đất Lạc Dương, Lâm Đồng để “sinh cơ lập nghiệp”. Cuộc sống những ngày đầu ở “đất khách quê người” thật không mấy dễ dàng. Hàng ngày vợ chồng anh phải đi làm thuê, cuốc mướn để có tiền thuê nhà và nuôi hai con ăn học. Những ngày tháng vất vả, không làm khuất phục ý chí vượt khó vươn lên của người cựu chiến binh Đỗ Đình Lợi. Từ hai bàn tay trắng, bằng sự siêng năng, chịu khó, sau 3 năm làm lụng vất vả, vợ chồng anh đã tích góp mua được mảnh vườn nho nhỏ để trồng rau và dựng được căn nhà gỗ để “an cư”. Trời không phụ lòng người, vụ rau nào xuống giống vợ chồng anh cũng được mùa, được giá. Số tiền thu được qua từng vụ rau, vợ chồng anh lại tích góp để mua vườn, mở rộng sản xuất, chuyển đổi cây trồng từ trồng rau sang trồng dâu.

Thành công với việc trồng rau, trồng dâu đã giúp gia đình anh có cuộc sống ổn định, một cơ ngơi khang trang. Nhưng mấy năm gần đây, giá cả bấp bênh nên nguồn thu không ổn định, có khi đến kỳ thu hoạch, rau bị sâu bệnh hoặc không bán được, phải chịu mất trắng cả vốn lẫn công lao động. Không thể sống mãi với nghề trồng rau, trồng dâu ngoài trời bếp bênh, năm 2017, nhận thấy trồng hoa hồng trong nhà kính có thu nhập cao, ổn định, tìm hiểu về kỹ thuật và yêu cầu đầu tư cho cây hoa hồng, thấy có thể làm được, vậy là vợ chồng anh quyết định đầu tư gần 2 tỷ đồng làm nhà kính, lắp đặt hệ thống tưới tự động và mua cây giống, phân bón chuyển 9 sào trồng rau sang trồng hoa hồng. Theo anh Lợi, hoa hồng là loại hoa tương đối khó trồng, đòi hỏi phải chăm sóc theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, tuy vốn đầu tư ban đầu cao, nhưng nếu chăm sóc tốt thì có thể cho thu hoạch từ 7 đến 10 năm. Lúc đầu do chưa nắm sâu về kỹ thuật, anh đã gặp rất nhiều khó khăn trong khâu chăm sóc, phòng bệnh cho cây. Không nản chí, vừa mày mò học hỏi qua sách báo, qua các lớp tập huấn, vừa làm, vừa rút kinh nhiệm, đến nay từ việc bón phân, phun thuốc đến việc phát hiện nấm bệnh anh Lợi đều đã thuần thục. Không phụ lòng người, vườn hoa hồng của gia đình anh với 9 màu vừa màu truyền thống vừa màu mới ngày càng phát triển, đạt yêu cầu về năng suất và chất lượng được các tư thương đánh giá cao.

Anh Lợi cho biết: “Trong số 9 sào trồng hoa hồng thì có 07 sào đã cho thu hoạch, 02 sào đang được cắt ghép, mỗi ngày cắt trung bình khoảng 5 ngàn cành, vào thời kỳ hoa rộ có thể cắt được 10 ngàn cành, tính ra mỗi tháng gia đình anh cắt được khoảng 150 ngàn cành. Với giá hợp đồng ổn định 1.200 đồng/cành mỗi tháng gia đình anh thu được khoảng 180 triệu đồng, trừ chi phí còn lời khoảng 100 triệu đồng. Có thu nhập cao, đến nay gia đình anh đã trả hết nợ vay của ngân hàng. Bên cạnh đó, anh còn tạo việc làm thường xuyên, ổn định cho 4 lao động, với mức thu nhập từ 6 đến 7 triệu đồng/tháng. Đánh giá về mô hình này, ông Trần Xuân Lộc – Phó Chủ tịch Hội CCB thị trấn Lạc Dương cho biết: “Hiện nay trên địa bàn thị trấn Lạc Dương rất nhiều nông dân đã chuyển đổi cây trồng từ trồng rau sang trồng hoa trong nhà kính. Nhưng mô hình của cựu chiến binh Đỗ Đình Lợi là một mô hình đầu tư bài bản, quy mô rất đáng để hội viên cựu chiến binh nói riêng và nhân dân trên địa bàn thị trấn nói chung học tập làm theo. Từ hai bàn tay trắng, đồng chí đã phát huy bản chất của anh bộ đội cụ Hồ, tích cực lao động sản xuất vươn lên làm giàu chính đáng”.

Những năm tháng khó khăn, vất vả đã qua đi, hiện gia đình cựu chiến binh Đỗ Đình Lợi đã có cuộc sống ổn định, mua sắm thêm được máy móc phục vụ sản xuất và phương tiện sinh hoạt có giá trị. Hình ảnh cựu chiến binh Đỗ Đình Lợi luôn tiên phong đi đầu trong lĩnh vực phát triển kinh tế đã một lần nữa khẳng định cho vẻ đẹp ý chí, phẩm chất đáng quý của anh bộ đội cụ Hồ giữa thời bình. Điều đáng trận trọng ở đây, dù ở trong hoàn cảnh nào, cựu chiến binh Đỗ Đình Lợi cũng luôn làm tốt vai trò, trách nhiệm và đã có những đóng góp thiết thực để góp phần xây dựng và tô điểm cho cuộc sống quê hương Lạc Dương ngày một ấm no và tươi đẹp hơn.

Phạm Phương – Lạc Dương

Chế Phẩm Sinh Học ” Vườn Sinh Thái ” Dùng Cho Cá, Che Pham Sinh Hoc ” Vuon Sinh Thai ” Dung Cho Ca

Mua 5 sản phẩm tặng 1 men tiêu hoá PROBACT

Mua 10 sản phẩm tặng 1 chai nano bạc SILVER 1000

MUA SỐ LƯỢNG CÀNG NHIỀU SẼ ĐƯỢC GIÁ TỐT HƠN!

GỌI VỀ TỔNG ĐÀI ĐỂ ĐƯỢC BÁO GIÁ TỐT:

0933 293 445 – 0976 543 435 – 0934 521 403

Sản phẩm đã có mặt tại các trang Thương mại điện tử:

Sản phẩm này đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,

Tổng cục Thủy sản cấp phép theo số:

Trong những năm gần đây, điều kiện khí hậu thay đổi thất thường cùng với việc lạm dụng quá nhiều chất kích thích tăng trưởng, thuốc kháng sinh, thuốc hóa học trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt ở đây là nuôi Tôm – Cá đã khiến môi trường ao nuôi, nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, tôm cá bị dịch bệnh triền miên.

Nhiều hộ nuôi Tôm, nuôi Cá … bỗng dưng trắng tay chỉ sau 1 đêm khi nhìn trên mặt hồ, Tôm – Cá chết rồi nổi trắng trên mặt hồ. Hệ quả để lại còn nặng nề hơn, khi nhiều ao hồ nuôi phải bỏ không vì có nuôi thả lại thì cũng không thành công do ao đã bị nhiễm bệnh quá năng nề.

Một trong những vấn đề mà người nuôi Tôm – Cá thường xuyên gặp phải đó là tình trạng ô nhiễm môi trường ao nuôi, Tôm – Cá hay mắc bệnh về tiêu hóa và hô hấp. Ngoài những nguyên nhân về thời tiết, khí hậu, môi trường, lạm dụng thuốc kháng sinh, thuốc kích thích, thuốc hóa học… thì còn có nguyên nhân khácmà bà con thường hay không để ý, nhưng lại là nguyên nhân cốt lõi.

” Đó là vấn đề sử dụng thức ăn trong nuôi Tôm – Cá: Khi tôm cá ăn thức ăn, thì cơ thể vật nuôi hầu như không hấp thụ được toàn bộ hàm lượng dinh dưỡng có trong thức ăn. Chỉ hấp thụ được khoảng 70-80% hàm lượng dinh dưỡng. Còn 20-30% hàm lượng dinh dưỡng còn lại sẽ theo đường phân ra ngoài. Khi đó trong phân vẫn còn chứa dinh dưỡng và ngay lập tức sẽ bị những vi khuẩn có hại xâm nhập gây ra mùi hôi thối và những vi khuẩn, virus này cũng là nguyên nhân chính gây lên tình trạng ô nhiễm nguồn nước, gây ra các bệnh về tiêu hóa, hô hấp khiến Tôm – Cá bị ngộ độc và chết hàng loạt.

Đó là chính là Nuôi trồng Thủy sản theo hướng sinh học bền vững, bằng việc ứng dụng các Chế phẩm sinh học công nghệ cao vào trong chăn nuôi.

Và Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái chính là 1 trong số những dòng chế phẩm được Bộ NN & PTNT VN, cũng như các chuyên gia nông nghiệp đầu nghành như Giáo sư TS Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Lân Hùng khuyến khích bà con áp dụng trong những năm qua.

Đây có thể nói là 1 trong những giải pháp nông nghiệp công nghệ cao đem lại hiệu quả kinh tế cao, giảm thiểu chi phí chăn nuôi, nâng cao chất lượng nông phẩm, an toàn bền vững vì sức khỏe cộng đồng.

Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái có vai trò như thế nào trong nuôi trồng Thủy Sản?

Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái là sản phẩm ở dạng dung dịch cô đặc, được sản xuất theo công nghệ Nano tiên tiến kết hợp với công nghệ sinh học hiện đại. Sản phẩm được chiết xuất từ rong rêu tảo biển, các phụ phẩm trong nông nghiệp là sản phẩm hoàn toàn thân thiện với môi trường.

== Thành phần có trong Chế phẩm sinh học Vườn sinh thái ==

Bảo vệ và ngăn ngừa các bệnh về đường ruột, tăng cường hệ miễn dịch.

Giúp tiêu hóa thức ăn nhanh, chuyển hóa thức ăn tốt, tăng trọng nhanh.

Ức chế các loài vi khuẩn gây bệnh, p hân hủy nhanh chất thải, mùn bã hữu cơ.

Làm sạch đáy ao, ổn định các chỉ tiêu nước.

Giảm chi phí thức ăn: 7 – 12%, g iảm 50% chi phí sử dụng thuốc kháng sinh.

Cho thu hoạch sớm hơn từ 10 – 15 ngày.

Bà Mai Thị Chín – Quỳnh Phụ, Thái Bình

“Do Ao nhà tôi cho cá ăn cỏ và phân thải của Vịt, cho nên nước có màu đen, có nhiều dải huyền phù ở mặt ao. Đặc biệt vào ngày mưa khiến cá chết nhiều. Từ khi sử dụng Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái trộn với ít đường rồi té đều mặt ao, sau 2 ngày màu nước ao chuyển sang màu xanh nõn chuối rồi sang màu hồng, màu nước rất đẹp và không thấy cá chết nữa”.

“Tôi đã sử dụng Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái nuôi Cá được 2 năm. Tôi thấy môi trường nước sạch, cá ít bị ngộ độc, cá hấp thụ thức ăn tốt nên tăng trọng nhanh hơn. Sau 6 tháng con cá đạt được hơn 8 gram (tăng 1 – 2 gram). Cá dầy mình, chắc khỏe. Rút ngắn thời gian thu hoạch được 1 tháng và tiết kiệm được thức ăn, tiền chăn nuôi. Trước đây khi chưa sử dụng, Cá hay bị ngoáp vào buổi sáng, hấp thụ thức ăn chỉ được 60 – 70%, cá chậm phát triển, tốn kém chi phí để xử lý ao nuôi.”

– Bằng khen Bông Lúa Vàng Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn VN 2012.

– Bằng khen Hiệp hội Chăn nuôi Gia Cầm Việt Nam 2010 và năm 2015.

– Bằng khen Sở Công Thương Hà Nội.

– Bằng khen Vì sự nghiệp phát triển nông thôn của Bộ NN và Phát triển Nông thôn VN 2015…

Khẳng định tầm quan trọng của chế phẩm sinh học Nano VƯỜN SINH THÁI “Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái là một giải pháp sinh học toàn diện, giúp bà con tối ưu được chi phí đầu tư, thu được hiệu quả cao trong canh tác nông nghiệp. Đất đai tơi xốp, cây trồng phát triển khỏe mạnh. Chăn Nuôi không mùi hôi, vật nuôi lại lớn nhanh. Giảm thiểu dịch bệnh hại” Theo: VTV2 – Bạn Của Nhà Nông

Đã có những ai sử dụng Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái?

Sau hơn 10 năm miệt mài chuyển giao khoa học kỹ thuật, chuyển giao Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái tới bà con các tỉnh thành trong cả nước, đến nay chúng tôi đã có hơn 38000 khách hàng thân thiết, thường xuyên sử dụng sản phẩm.

Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để nhận những sản phẩm với mức giá tốt nhất!

oOo

Quý khách hàng thân mến,

Trung tâm Chế phẩm Sinh học chúng tôi nhận cung cấp hàng hóa theo số lượng sỉ với mức giá ưu đãi cao, nhằm phục vụ nhu cầu của Quý doanh nghiệp, trang trại, nhà vườn, hợp tác xã, hội nông dân, hội khuyến nông… Quý khách hàng có nhu cầu đặt hàng với số lượng lớn phục vụ cho doanh nghiệp/tổ chức/trang trại/nông trại… hoặc hợp tác phân phối bán lẻ sản phẩm tại địa phương, vui lòng liên hệ ngay để được hỗ trợ:

Hướng dẫn sử dụng vườn sinh thái cho cá

– Đối với cá giống: Dùng 100ml Chế phẩm pha với 50-60 lít nước sạch trộn với 1-2kg mật rỉ đường ăn té đều cho 300-500m 3 nước. Khoảng 15-30 ngày xử lý 1 lần.

+ Trước khi thả cá giống 10-15 ngày: Tháo cạn nước, bón vôi, phân hữu cơ hoai mục, phơi đáy ao (vùng phèn chua không nên phơi đáy trong thời gian dài). Sau đó lấy nước đạt 2/3 yêu cầu, ngâm 5-7 ngày. Dùng 100ml Chế phẩm pha với 50-60 lít nước trộn với 1-2kg mật rỉ đường (hoặc đường đỏ) ăn té đều cho 500-700m 3. Sau 7-10 ngày lấy nước tiếp vào ao sao cho đạt yêu cầu rồi mới thả giống (diệt cá tạp, cá dữ trước khi thả cá giống).

+ Thời kỳ cá còn nhỏ: Dùng 100ml Chế phẩm pha với lượng nước vừa đủ trộn đều với 150kg thức ăn tinh (thức ăn hỗn hợp tự chế hoặc thức ăn công nghiệp).

+ Thời kỳ cá lớn: Dùng 100ml Chế phẩm pha với lượng nước vừa đủ trộn đều với 100-150kg thức ăn tinh (hoặc 200-250kg thức ăn xanh).

2 ngày sử dụng Chế phẩm Vườn Sinh Thái một lần. Lượng thức ăn pha trộn với Chế phẩm Vườn Sinh Thái phải bằng 50-70% khẩu phần ăn/ngày (thời kỳ cá nhỏ) và 30-50% khẩu phần ăn/ngày (thời kỳ cá lớn). Thức ăn sau khi pha trộn ngâm 20-30 phút mới cho ăn.

– Xử lý môi trường ao, đầm nuôi thủy sản: Dùng 100ml Chế phẩm pha với 50-60 lít nước rồi trộn đều với 1-2kg mật rỉ đường. Hỗn hợp sau khi pha trộn để 1-2h sau đó té đều cho 500-700m 3. Trước khi xử lý cần loại bỏ thảm thực vật trên mặt ao.

Lan Mokara – Dân Chơi Lan

Lan Mokara

Nguồn : vuonhoalan.net

Mokara là nhóm giống hoa lan được lai tạo từ các giống: Arachnis+Vanda+Ascocentrum.

Lan Mokara là giống lan có nhiều trong họ Lan (Orchidaceae), Mokara phân bố trên các vùng thuộc Châu Á nhiệt đới, tập trung nhiều nhất ở Đông Nam Á. Nếu như các nước Nam Mỹ tự hào về các loài thuộc giống Cattleya tuyệt đẹp của mình, thì các nước Đông Nam Á cũng hãnh diện vì có giống Mokara vô cùng phong phú, điều kiện sinh thái cũng rất đa dạng.

Mokara là nhóm giống hoa lan được lai tạo từ các giống: Arachnis+Vanda+Ascocentrum. Nhóm giống này có đặc điểm tương tự như nhóm Vanda là loài lan đơn thân, thân hình trụ dài tiếp tục mọc cao lên mãi, không có giả hành, lá dài hình lòng máng hay hình trụ mọc cách hai bên thân.

Phát hoa mọc từ nách lá giữa thân, phát hoa dài mang nhiều hoa thường không phân nhánh. Hoa cỡ trung bình đến lớn, cánh đài của hoa rất lớn. Hoa có nhiều màu sắc phong phú từ trắng, tím, hồng đỏ, cam đến vàng nâu, xanh. Trên cánh hoa thường có chấm, có đốm hoặc hình carô nhìn rất đẹp.

Nhiệt độ thích hợp cho lan Mokara phát triển là từ 25-30 độ C. Nhiệt độ là một trong những yếu tố quyết định sự ra hoa của Mokara. Nếu nằm ngoài ngưỡng nhiệt thích hợp cây sẽ ra hoa kém chất lượng hoặc có khi không ra hoa được.

Rễ của Mokara là rễ trần (rễ phơi ra ngoài không khí) nên đòi hỏi ẩm độ của vườn rất cao. Cây lan Mokara không chịu úng nên phải trồng thật thoáng. Vì có đặc điểm là cây đơn thân, không có giả hành nên khả năng mất nước rất lớn, từ đó làm cây sinh trưởng kém. Do đó, phải thường xuyên tưới nước mỗi ngày 2 lần cho cây (vào sáng sớm và chiều mát).

Các chậu lan Mokara treo màu sắc tươi sáng, hoa đẹp với hương thơm thoang thoảng góp phần làm thanh mát không khí, tạo cảm giác thoải mái cho người thưởng lan. Chậu treo này có thể trang trí giàn treo vườn nhà, trang trí sân thượng, treo tại cầu thang với tiểu cảnh giếng trời, trang trí không gian các quán cafe, nhà hàng… Hoặc dùng làm quà tặng khai trương, tặng khách hàng, sưu tầm…

(BlogCayCanh.vn)

Nhân Giống Lan Cắt Cành Mokara

Nhóm hoa lan Mokara là nhóm giống chủ lực trong việc phát triển diện tích và cung cấp sản phẩm hoa lan cắt cành tại TP. Hồ Chí Minh. Hiệu quả của việc trồng hoa lan cắt cành rất cao, nhu cầu tiêu thụ của thị trường nội địa và xuất khẩu cũng rất lớn.

Mokara là nhóm giống hoa được lai tạo từ các giống: Arachnis x Vanda x Ascocentrum. Nhóm giống này có đặc điểm tương tự như nhóm Vanda là loài Lan đơn thân, thân hình trụ dài tiếp tục mọc cao lên mãi, không có giả hành, lá dài hình lòng máng hay hình trụ mọc cách hai bên thân. Phát hoa mọc từ nách lá giữa thân, phát hoa dài mang nhiều hoa thường không phân nhánh. Hoa cỡ trung bình đến lớn, cánh đài của hoa rất lớn. Hoa có nhiều màu sắc phong phú từ trắng, tím, hồng đỏ, cam, vàng nâu, xanh. trên cánh hoa thường có chấm, có đốm hoặc hình carô rất đẹp. Nhóm giống này rất thích hợp với việc trồng sản xuất hoa cắt cành do siêng ra hoa, có thể đạt 6 – 8 phát hoa/năm.

Tuy nhiên, hiện nay giá cây giống còn cao, như cây giống hoa lan Mokara từ 40.000 – 45.000 đ/cây với kích cỡ trung bình 35 – 40 cm. Nếu đầu tư một diện tích vườn lan tối thiểu khỏang 1.000 m2 nhà lưới thì số lượng cây giống phải đầu tư trung bình là 4.000 cây, giá trị cây giống lên tới 160 – 200 triệu đồng. Chưa kể giá thành nhà lưới và vật tư cần thiết khác từ 60 – 80 triệu đồng/1.000 m2 nhà lưới. Chi phí ban đầu cho cây giống hoa lan Mokara chiếm tới 70% tổng chi phí. Do đó việc giảm giá thành cây giống để cung cấp cho người sản xuất, mở rộng diện tích đang rất bức xúc.

1- Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô ( in vitro )

Đây là phương pháp nhân giống chung được áp dụng cho hoa lan rất hiệu quả. Từ một cây mẹ ban đầu có thể nhân ra hàng ngàn cây có kích thước và chất lượng đồng đều như nhau, giúp việc nhân giống được nhanh hơn. Nếu chọn lựa cây mẹ ban đầu tốt, như có đặc tính ra hoa liên tục. Nhược điểm duy nhất của phương pháp nhân giống bằng cấy mô là từ cây cấy mô đến khi ra hoa thời gian kéo dài tối thiểu là 3 – 4 năm cây mới ra hoa nếu chăm sóc tốt. Trong khi đó cây trồng bằng hom cắt từ đọt cây mẹ chỉ cần 3 – 6 tháng đã ra hoa. Như vậy thời gian chăm sóc kéo dài, mặc dù giá thành cây giống ban đầu thấp.

2- Nhân giống từ hom:

Đây là phương pháp nhân giống đơn giản bằng cách cây con được cắt thẳng từ đọan trên cùng ( đọt ) của cây mẹ. Thông thường tùy theo yêu cầu quy cách hom giống tối thiểu phải bao gồm từ 2- 3 rễ đâm ra từ thân cây mẹ. Kích cỡ thường để trồng là tối thiểu 25 – 30 cm, có thể tới 50 – 60 cm. Hom càng dài thì khả năng cây càng khỏe do có nhiều rễ, sau khi cắt trồng sang vườn mới thì khả năng phục hồi nhanh, mau ra hoa trở lại. Tùy theo đặc tính giống, sau 3 tháng cây con cắt từ đọt đã có thể cho hoa nhưng thông thường để dưỡng cây người ta cắt bỏ các phát hoa ở giai đọan này.

Nhược điểm của phương pháp này là giống đợt đầu nhân ra với số lượng hạn chế, cứ một cây mẹ thì cắt được một đọt – tức 1 cây con. Tuy nhiên sau khi cắt đọt, cây mẹ nếu chăm sóc tốt từ các nách lá, tập trung phần trên gần chỗ cắt sẽ ra tiếp tục các mầm cây con. Thông thường từ cây mẹ sẽ ra được 2 – 3 chồi, tối đa có thể 4 chồi, sau khoảng 6 tháng cây con sẽ phát triển hoàn chỉnh và có thể tách ra để trồng. Giá thành cây giống cũng cao giống như cây mẹ.

3- Nhân giống từ hom có cải tiến:

Biện pháp cắt hom lấy phần ngọn làm cây giống, còn phần gốc sẽ phát triển các chồi con thành cây thành phẩm để trồng đang được nhà vườn trồng lan cắt cành Mokara áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, một điểm hạn chế của phương pháp này là hệ số nhân chồi không cao. Từ một cây mẹ ban đầu, sau khi cắt hom, lấy phần ngọn ta được 01 cây thành phẩm thì số lượng chồi con sinh ra không nhiều, từ 2 – 3 chồi, tối đa có thể 4 chồi. Để cải thiện hệ số này, chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm bằng áp dụng các biện pháp kỹ thuật để tác động vào để nâng cao khả năng ra chồi của các giống Mokara. Các lọai phân bón lá có hàm lượng đạm cao như 31-11-11 kết hợp lọai có chứa axit amin, rong biển được phun liên tục vào thời điểm trước khi cắt đọt 1 tháng và sau khi cắt 6 tháng.

Hình : Cây lan Mokara được xử lý ra chồi sau khi cắt đọt 3 tháng

Kết quả thu được cho thấy: đối với cả 2 giống thí nghiệm, tất cả các công thức có xử lý phân bón lá 31-11-11 kết hợp với rong biển, phân Terra Sorb ( có chứa acid amin ) đã cho số lượng chồi thu được cao hơn hẳn so với đối chứng từ 64 – 114%. Cũng như cao hơn so với công thức chỉ xử lý phun phân bón lá lọai 31-11-11. Số lượng chồi đạt tiêu chuẩn sau 6 tháng cắt đọt trong công thức này cũng cao hơn so với công thức đối chứng và công thức phun 31-11-11. Trong công thức có xử lý rong biển là lọai phân bón lá có chứa chất kích thích sinh trưởng Cytokinin. Đây là loại chất điều hòa sinh trưởng có tác dụng kích thích sự phân hóa cơ quan của thực vật, đặc biệt là phân hóa chồi. Nếu tỷ lệ Auxin cao hơn Cytokinin thì kích thích ra rễ, còn tỷ lệ Cytokinin cao hơn Auxin thì kích thích sự phát triển của chồi nách, giải phóng cây khỏi sự kìm hãm của chồi ngọn. Ngoài ra, lọai phân bón có chứa acid amin cũng góp phần cho sự phát triển về chiều cao của các chồi nách sau khi đọt cây mẹ bị cắt.

TS. Dương Hoa Xô