Sách Kỹ Thuật Trồng Bưởi Da Xanh / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Kỹ Thuật Trồng Bưởi Da Xanh

Hàng năm, sau khi thu hoạch cần phải loại bỏ những cành đã mang trái (thường rất ngắn khoảng 10- 15cm), cành sâu bệnh, cành ốm yếu, cành nằm bên trong tán không có khả năng mang trái, các cành đang chéo nhau, đồng thời cũng cần loại bỏ các cành vượt trong thời kỳ đang mang trái nhầm han chế việc cạnh tranh dinh dưỡng và sâu bệnh cho cây. –

2. Thời vụ trồng Bưởi Da xanh trồng được quanh năm nhưng nên trồng vào đầu mùa mưa để tiết kiệm công tưới, thời điểm thích hợp nhất vào tháng 5-6 dương lịch hàng năm. Cũng có thể trồng vào cuối mùa mưa nếu có đủ điều kiện tưới trong mùa nắng.

3. Mật độ trồng Khoảng cách trồng trung bình có thể là 4-5m x 5-6m (tương đương mật độ trồng khoảng 35-50cây/1000m2).

4. Chuẩn bị mô trồng và cách trồng Đất làm mô thường là đất mặt ruộng hoặc đất bãi bồi ven sông phơi khô. Mặt mô nên cao 40-60cm, đường kính 80-100cm. Đắp mô trước khi trồng 2-4 tuần, trộn đều đất đắp mô với 10 kg phân hữu cơ hoai với 200g vôi. Khi trồng, đào lỗ ở giữa mô và bón vào đáy lỗ 200g phân DAP (18%N-46%P205), phủ lên trên một lớp đất mỏng. Dùng dao cắt đáy bầu và đặt cây xuống giữa lỗ làm thế nào để mặt bầu cây nhô cao khoảng 3cm so với mặt mô, sau đó lấp đất xung quanh bầu cây ém nhẹ, kéo bao nylon từ từ lên và lấp đất lại ngang mặt bầu, tưới nước. Khi đặt cây phải xoay mắt ghép hướng về chiều gió để tránh cây bị tách chồi. Sau khi trồng cần cắm cọc giữ chặt cây con. Đối với cây chiết nên đặt cây nằm nghiêng một góc khoảng 45o để cây dễ phát triển cành và tán về sau.

5.Tưới nước Bưởi cần tưới nước đầy đủ nhất là giai đoạn cây con và ra hoa đậu trái. Mùa nắng nên thường xuyên tưới nước cho bưởi. Vào mùa mưa, cần tiêu nước vào các tháng mưa nhiều, tránh ngập úng kéo dài cây có thể chết.

6. Tỉa cành

7. Tạo tán Chú ý: trong quá trình cắt cần phải khử trùng dụng cụ cắt. Từ vị trí mắt ghép trở lên khoảng 50- 80cm thì bấm bỏ ngọn. Chọn 3 mầm khỏe, thẳng mọc từ thân chính và phát triển theo 3 hướng tương đối đồng đều là cành cấp 1, dùng cọc tre cấm xuống đất để giữ cành cấp 1 tạo với thân chính 1 góc 35 – 40°. Từ cành cấp 1 sẽ mọc ra cành cấp 2 và chỉ giữ lại 2- 3 cành cấp 2. Cành cấp 2 phải để cách thân chính 15- 30cm và cành này cách cành kia 20- 25cm, cùng với cành cấp 1 tạo thành một gốc 30- 35°. Từ cành cấp 2 sẽ hình thành những cành cấp 3, cành này không hạn chế về số lượng và chiều dài, nhưng cần loại bỏ những các cành mọc quá dày hoặc quá yếu. Sau 2 năm cây sẽ có bộ tán cân đối. Quét vôi quanh gốc cây định kỳ 1-2 tháng/lần, đoạn sát mặt đất cao 80-100 cm, lớp vôi bám vào vỏ cây ngăn không cho sâu đục thân trưởng thành, do một loại xén tóc đến đẻ trứng vào lớp vỏ của gốc cây. Buổi tối 19-21 giờ thắp bóng điện sáng ở giữa vườn, xén tóc có tính hướng quang sẽ bay đến, dùng vợt bắt đem giết hạn chế trứng đẻ.

8. Bón phân Trên cơ sở phân tích chất đất mà có chế độ bón phân thích hợp. Sử dụng phân hữu cơ kết hợp vô cơ, bón gốc kết hợp bón lá theo từng giai đoạn phát triển của cây bưởi.

Đạm (N) giúp cây bưởi phát triển nhanh, đâm chồi, thiếu đạm cây bưởi còi cọc, ốm yếu, đạm phù hợp cây bưởi trong giai đoạn tăng trưởng. Lân (P) kích thích nẩy chồi, đẻ nhánh, thúc đẩy bưởi ra hoa, đậu trái; lân còn giúp cây bưởi chống bị nhiễm bệnh. Phân hữu cơ: Xu hướng canh tác tiên tiến hiện nay là sử dụng càng nhiều phân hữu cơ càng tốt khi sản xuất trái cây theo hướng sạch. Liều lượng 15-30 kg/năm/cây trưởng thành rất tốt cho bưởi, giúp tăng tuổi thọ rất rõ cho cây. Cách ủ phân hữu cơ đơn giản: Không nên bón xác bã hữu cơ tươi vào đất mà nên ủ cho hoai mục trước khi bón. Các nguyên liệu hữu cơ được gom lại, có thể trộn với vôi để xử lý một số mầm bệnh trong đống ủ. Để gia tăng tiến trình nầy, trên thị trường đã có các loại phân phân hủy, có thể trộn thêm Lân và phân Đạm làm thức ăn cho vi sinh vật. Có thể ủ với Nấm đối kháng sau 6-8 tuần. Sử dụng phân này bón cho bưởi rất tốt. Kali (K) giúp cây bưởi cứng cáp, trái không bị rụng non. – Phân vô cơ: thường sử dụng là DAP rải xa gốc hoặc NPK phun lên lá.

9. Kỹ thuật bón phân Tùy theo giai đoạn sinh trưởng và phát triển của bưởi, việc bón phân có thể được chia ra các thời kỳ như sau :

+ Sau thu hoạch: bón 25% đạm + 25% lân + 10-30 kg hữu cơ/gốc/năm. + Bốn tuần trước khi cây ra hoa: bón 25% đạm + 50% lân + 25% kali. + Sau khi đậu quả: bón 25% đạm + 25% lân + 25% kali. + Giai đoạn quả phát triển: bón 25% đạm + 25% kali. – Thời kỳ cây 1-3 năm tuổi: Phân bón được chia làm nhiều đợt để bón cho bưởi. Nếu đã có bón lót phân lân hoặc DAP thì dùng phân Urea với liều lượng 10-20g hòa tan trong 10 lít nước để tưới cho một gốc bưởi (1-2 tháng/lần). Khi cây trên 1 năm tuổi, bón trực tiếp phân vào gốc. + Một tháng trước thu hoạch: bón 25% kali. – Thời kỳ cây bưởi đã cho trái ổn định: Có thể chia làm 5 lần bón như sau : Nên bón bổ sung từ 0,5-1kg phân Ca(NO3)2/cây/năm vào các giai đoạn sau thu họach, trước khi trổ hoa và sau đậu trái. Có thể phun phân bón lá tối đa không quá 3 lần/vụ trái, mỗi lần cách nhau ít nhất 30 ngày. Không phun phân bón lá vào mùa mưa vì làm cây dễ nhiễm nấm bệnh như Loét, Mốc hồng, Đốm rong.

10. Phòng trừ sâu bệnh Để phòng trừ các loại sâu, côn trùng chích hút, bệnh,….nên thường xuyên thay đổi các loại thuốc bảo vệ thực vật. Chú ý sâu vẽ bùa làm suy cây, hư ngọn, nên phòng trừ bằng cách xịt confidor và chất bám dính (có thể kết hợp NPK 16.16.8).

11. Kích thích ra hoa, đậu trái Bưởi da xanh ra hoa, trái quanh năm; do đó để có nhiều sản phẩm đưa ra thị trường vào thời điểm giá cả có lợi cho người sản xuất, nên kích thích ra hoa, đậu trái từ 7 đến 8 tháng trước ngày thu hoạch, nhưng nếu lưu trái nhiều quá sẽ làm suy cây.

12. Bao trái Quả bưởi cũng cần phải bao sớm. Khi quả bưởi to bằng quả trứng vịt (đường kính 2,2-2,5cm) dùng túi nilon có đường kính 20-40cm, dài 30-60cm, thủng hai đầu để bao quả có trọng lượng khi chín 0,7-4kg. Dùng túi nylon bao chùm trái từ phần cuống theo hướng thẳng xuống, dùng dây buộc giữ túi vừa chặt. Túi nylon cắt bỏ hoàn toàn phần đáy vừa giữ được sự thông thoáng, vừa ngăn các loại côn trùng, sâu và ruồi đục trái tấn công. Khi quả được bao bằng túi nilon màu trắng trong, chất diệp lục ở vỏ quả vẫn hấp thu được ánh sáng và quang hợp bình thường như những quả để tự nhiên, do vậy màu sắc của quả không thay đổi từ khi nhỏ tới chín, đảm bảo màu sắc hấp dẫn tự nhiên. Đa số các loại côn trùng trưởng thành là bướm (ngài) đều bay theo phương ngang thẳng, khi đậu vào quả được bao bởi giấy nilon để tiến hành đẻ trứng gặp bề mặt giấy nilon trơn, nhẵn nên bướm và trứng không bám được, do vậy hầu hết các loại sâu như: Bọ xít, xén tóc, bọ cánh cứng, ruồi đục quả, bọ rầy… được loại trừ khả năng gây hại. Quả trong túi nilon phát triển bình thường ít bị sâu, bệnh phá hại có màu sắc đẹp, hấp dẫn, năng suất, chất lượng quả được cải thiện rõ rệt.

13. Thu hoạch Nên thu hoạch khi bưởi vừa chín tới, da căng láng, cắt luôn cả cuốn trái. Không hái trái khi chưa chín tới hoặc hái quá trễ, chất lượng không tốt.

Chúc bà con thành công!

Kỹ Thuật Trồng Bưởi Da Xanh Ruột Hồng

Kỹ thuật trồng bưởi da xanh ruột hồng. Bưởi da xanh là một trong những giống bưởi ngon và nổi tiếng ở Việt Nam. Nhưng mọi người cần biết kỹ thuật trồng cây bưởi da xanh ruột hồng đúng cách nhất để thu được năng suất hiệu quả.

Hiện nay, bưởi da xanh đang là giống trái đặc sản rất được người tiêu dùng lựa chuộng bởi chất lượng cao, vị thanh ngọt vừa phải , không hạt, nước vừa phải, múi màu hồng, dễ lột,… Không những thế kỹ thuật trồng bưởi da xanh ruột hồng lại đơn giản nên mọi người có thể tự trồng và thu được hiệu quả tốt nhất.

Kỹ thuật trồng bưởi da xanh ruột hồng và cách chăm sóc

Thời vụ trồng

Bưởi da xanh ruột hồng được trồng quanh năm nhưng nên trồng vào đầu mùa mưa ( đầu tháng 5 tháng 6 dương lịch hằng năm) để tiết kiệm công tưới nước. Bạn cũng có thể trồng vào cuối mùa mưa nếu có đủ điều kiện tưới trong mùa nắng để cây phát triển bình thường cho năng suất cao không kém gì cây được trồng trong mùa mưa.

Kỹ thuật trồng bưởi da xanh ruột hồng: Cây giống phải đạt tiêu chuẩn sinh trưởng, sạch bệnh và có nhãn mác hoặc giấy xác nhận nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đang trong thời kỳ phát triển tốt, không có dấu hiệu sâu bệnh phá hại, kết quả kiểm tra âm tính đối với các bệnh nguy hiểm như bệnh vàng lá Greening, Tristeza, có năng suất ổn định.

Chuẩn bị mô đất trồng và cách trồng

Đất này thường là đất ruộng hoặc đất bãi bồi ven sông đem đi phơi khô. Mặt mô đất nên cao 40- 60cm, đường kính 80- 100cm. Bạn nên đắp mô trước khi trồng cây tầm 2- 4 tuần và trộn đều đất đắp mô với 10kg phân hữu cơ. Khi trồng, đào lỗ ở giữa mô đất lót phân chuồng bên dưới và phủ lên một lớp đất mỏng sau đó mới đặt cây vào hố. Sau khi trồng bạn phải tưới nước xung quanh gốc, cắm cọc để giữ cây non không bị lung lay gốc ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.

Kỹ thuật trồng bưởi da xanh ruột hồng: tủ gốc giữ ẩm trong mùa nắng bằng rơm khô, mùa mưa thì tủ cách gốc tầm 20cm. Cây còn nhỏ vậy nên bạn phải dọn sạch cỏ để tránh cạnh tranh dinh dưỡng, nhưng bạn có thể trồng hoa màu để tránh bị xói mòn đất đồng thời tăng thu nhập. Khi cây phát triển rồi bạn có thể giữ cỏ trong vườn nhằm giữ ẩm và xói mòn đất nhưng không để cỏ phát triển mạnh quá.

Tưới nước và bón phân cho cây cũng là 1 kỹ thuật quan trọng

Kỹ thuật trồng bưởi da xanh ruột hồng: Giống bưởi da xanh này cần tưới nước đầy đủ nhất là giai đoạn cây non mới phát triển và khi cây ra hoa đậu trái. Mùa nắng bạn nên thường xuyên tưới nước cho cây. Vào mùa mưa, bạn cần tiêu nước hơn là tưới, cần tiêu nước vào những tháng mưa nhiều để tránh tình trạng ngập úng kéo dài làm cây có thể chết.

Trong các kỹ thuật trồng bưởi da xanh ruột hồng bạn cũng nên chú trọng đến kỹ thuật bón phân cho cây. Tùy theo giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây bưởi mà việc bón phân có thể chia ra theo các thời kỳ: thời kỳ cây 1- 3 năm tuổi, thời kỳ cây bưởi cho ra trái ổn định,… Đặc biệt bạn nên bổ sung phân Ca(NO 3) 2/cây/năm vào các giai đoạn sau khi thu hoạch, trước khi trổ bông và sau khi đậu trái, Có thể bạn phun phân bón lá cho cây nhưng chú ý không quá 3 lần/ vụ trái và tránh phun phân bón lá vào mùa mưa vì rất dễ làm cây nhiễm nấm như bệnh loét, mốc hồng, đốm rong.

Đây là một vài những kỹ thuật trồng bưởi da xanh ruột hồng giúp chăm sóc cây bưởi phát triển nhanh và cho năng suất cao trong mùa thu hoạch.

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Bưởi Da Xanh

Tưới phun dưới tán: là phương pháp tưới bằng cách phun nước từ dưới mặt đất lên tán cây qua hệ thống máy bơm, ống dẫn nước với các vòi phun cố định, tự động xoay được với góc 3600, được đặt cao khỏi mặt đất 0,5-1,0m (dưới dạng phun sương hay phun mù). Giữa 4 cây bưởi được lắp đặt 1 vòi phun.

Tưới phun trên tán: là phương pháp tưới bằng cách phun nước từ trên tán xuống nhờ một hệ thống ống dẫn nước và máy bơm với các vòi cố định (có thể giữa 4 cây bưởi có 1 vòi phun hoặc mỗi một cây bưởi có 1 vòi phun ngắn vào giữa tán cây). Chiều cao của béc phun trên ngọn cây khoảng 30-50cm.

Nước: vào mùa nắng ở những vùng thiếu nước thì nên hạn chế sự phát triển của cỏ dại nhằm tránh sự cạnh tranh về nước. Vào mùa mưa nên khai thác thế mạnh của cỏ về khả năng hút nước từ dưới đất và thoát hơi nước qua bộ lá làm cho đất được thông thoáng hơn.

Ánh sáng: khi vườn cây còn nhỏ, cần hạn chế cỏ mọc vượt lên hay dây leo che ánh sáng.

Dinh dưỡng: khi cỏ dại phát triển trong vườn sẽ cạnh tranh dinh dưỡng với cây bưởi. Tuy nhiên, khi cắt thân lá trả lại thì đã bù đắp lại một phân dinh dưỡng cho cây bưởi thông qua chất hữu cơ.

Biện pháp quản lý cỏ dại trong vườn bưởi: có thể áp dụng kiểu làm cỏ thủ công hay làm cỏ bằng máy cắt cỏ. Không sử dụng thuốc trừ cỏ. Khi cây chưa giáp tán, nên áp dụng trồng xen để hạn chế cỏ. Thường xuyên duy trì một lớp cỏ có chiều cao nhất định để che phủ mặt đất hạn chế rửa trôi xói mòn, giữ ẩm cho đất trong mùa khô.

Loại phân bón: phân Urea (46% N); phân super lân (16% P2O5); phân KCl (60 % K2O); phân DAP (18-46-0); phân NPK các loại, phân hữu cơ hoai mục (phân bò, gà, dê, cút…), phân hữu cơ vi sinh, phân bón lá.

Bảng 1. Liều lượng phân bón vô cơ nguyên chất cho cây bưởi Da xanh ở thời kỳ kiến thiết cơ bản

Bảng 2. Bảng khuyến cáo lượng phân vô cơ nguyên chất cho cây bưởi Da xanh, dựa vào năng suất thu hoạch vụ trước

– Phân bón lá: sử dụng phân bón lá nhằm bổ sung các chất dinh dưỡng cho cây bưởi sinh trưởng phát triển tốt, bên cạnh đó phân bón lá còn giúp cho cây ra hoa thuận lợi trong việc xử lý ra hoa lệch vụ. Đặc biệt là phân bón lá có hàm lượng lân cao giúp cho cây bưởi phân hóa mầm hoa tốt như MKP (0.52.34), lân đỏ (86% P 2O 5).

Chọn 3-4 cành khoẻ, mọc từ thân chính, phát triển theo 3 hướng khác nhau, có kích thước tương đối đồng đều nhau làm cành cấp I. Các cành này mọc cách đều nhau trên thân. Dùng cọc chống giữ cành cấp I tạo với thân chính 1 góc 35-400.

Các cành cấp II này cách nhau từ 20 đến 30 cm, tạo với cành cấp I góc 30-350. Sau đó cũng tiến hành cắt ngọn của cành cấp II như cách làm ở cành cấp I. Từ cành cấp II sẽ hình thành cành cấp III.

Khử trùng dụng cụ cắt cành như kéo cắt cành, cưa bằng nước Javel 5% hoặc cồn 900 trước khi chuyển sang cây khác để tiếp tục cắt cành. Vết tỉa cành bôi với dung dịch bordeaux 1% hoặc quét mỡ bò nếu cành bị cắt là cành lớn.

gây hại khi ở giai đoạn sâu non, đục thành những đường hầm ngoằn ngoèo trên lá làm giảm khả năng quang hợp, hoa và trái dễ bị rụng, cây phát triển kém. Vết đục tạo điều kiện cho bệnh loét, bệnh ghẻ xâm nhập và phát triển.

u trùng tập trung ở chồi và lá non, chích hút nhựa cây làm cho lá quăn, ngừng sinh trưởng. Khi mật số cao làm cho chồi non bị khô, rụng lá, gây hiện tượng khô cành. Dịch do rầy chống cánh bài tiết ra chứa đường, tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển;

âu non có thể tấn công từ tháng thứ 2-6 sau đậu trái (đặc biệt là từ tháng thứ 3-4). Thường trên cùng một trái có 1 hay nhiều hang, mỗi hang chỉ có một sâu non cư ngụ và gây hại. Khi trái bị tấn công thì sau một thời gian sẽ rụng.

ả ấu trùng và thành trùng đều gây hại cho cây do chích hút nhựa lá và cành non làm giảm khả năng tăng trưởng của cây; lá non bị cong và biến dạng. Đồng thời rầy mềm cũng làm cho quả chín sớm và giảm phẩm chất, phân rầy có chứa đường sẽ thu hút nấm đen tới đóng trên thân hay lá làm giảm khả năng quang hợp của cây. Ngoài ra rầy mềm còn truyền bệnh Tristeza trên cây có múi.

ùng vòi phun có áp lực mạnh phun trực tiếp lên chồi, trái có rầy mềm. Bảo vệ các loài thiên địch như bọ rùa, các loài ong ký sinh. Các loài này có thể khống chế đến 95% mật số rầy mềm trong điều kiện tự nhiên.

đẻ trứng vào nách các cành nhỏ có đường kính từ 0,5-1,0 cm. S âu non đục rỗng cành, làm cành còi cọc, suy yếu nhanh, không có khả năng nuôi quả, giảm năng suất. Bị hại nặng cành bị chết khô hoặc có thể bị gãy. Những vùng trồng cây có múi lâu năm hoặc những vườn bưởi nhiều tuổi thường bị nặng.

– Biện pháp phòng trừ: dùng vợt bắt xén tóc để diệt từ tháng 4 hàng năm. Cuối tháng 5 đến tháng 6, quan sát tán cây, nếu có các cành nhỏ bị héo 2-3 lá ngọn cần bẻ để tìm và diệt sâu non. T háng 7 đến tháng 8, sâu đục xuống cành lớn, tìm lỗ đục và diệt sâu non. Có thể phun thuốc BVTV khi bắt đầu có cành héo, muộn hơn có thể bơm thuốc BVTV vào trong lỗ đục hoặc tẩm thuốc BVTV vào lỗ đục. Một số loại thuốc BVTV có thể sử dụng như Amitage 200 EC (Carbosulfan), Sherbush 25 EC (Cypermethrin), Vitashield 40 EC (Chlorpyrifos Ethyl). Nồng độ phun theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

đẻ trứng vào nơi tiếp giáp vỏ quả và thịt quả. Dòi ăn thịt quả, càng lớn thì càng ăn sâu vào phía trong. Đẫy sức chúng rời khỏi quả, rơi xuống đất (nếu quả chưa rụng) và chui vào đất ở dưới tán cây để hóa nhộng.

là nhện đỏ (Panonychus citri) và nhện vàng ( Phylocoptruta oleivora), gây hại trên bề mặt của lá và quả, ăn lớp biểu bì tạo thành những chấm nhỏ li ti, vết chấm lan rộng, lá có màu ánh bạc, có thể khô và rụng lá. Trên trái, nhện tập trung ở phần cuống trái, đáy và trong các phần lõm của trái. Khi trái còn non, nhện chích và hút dịch ở lớp biểu bì và làm vỡ tuyến tinh dầu trên vỏ trái, tạo nên những đốm sần sùi ‘da lu, da cám’.

thu hoạch xong, tiến hành bón phân, tỉa cành tạo tán cho cây thông thoáng. Phun thuốc phòng trước khi nhện sinh sản, như Kuraba WP ( Bacillus thurigiensis + Abamectin) hoặc Abapro 1.8 EC (Abamectin). Kết hợp dùng vòi nước phun mạnh lên tán lá, quả sẽ giảm mật số nhện đáng kể. Giữ ẩm tán cây và đất trồng trong mùa khô.

chích hút nhựa làm lá bị quăn vàng, cây phát triển kém. Trên trái non, nếu rệp sáp có mật số cao thì trái không phát triển và có thể bị rụng sớm. Rệp tiết mật, tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển, ảnh hưởng đến khả năng quang hợp. Rệp sáp thường gây hại mạnh trong mùa nắng. Những vườn thiếu chăm sóc, ẩm độ cao, không thoáng mát hoặc vườn đã sử dụng nhiều thuốc trừ sâu thường ó sự bộc phát của rệp sáp.

lá già có những đốm vàng loang lổ, các lá non trên lộc nhỏ, phiến lá chuyển sang màu vàng, gân lá còn giữ màu xanh. Cây có thể ra hoa trái vụ. Triệu chứng lá cây bị bệnh gần giống với triệu chứng thiếu kẽm. Quả thường nhỏ, biến dạng, vỏ dày, trên vỏ quả chín vẫn còn phần xanh. Múi bị khô sượng, tép có vị đắng, hạt thui lép không phát triển, màu nâu, tâm của quả bị lệch vẹo. Rễ cây nhiễm bệnh bị thoái hóa, lượng rễ còn rất ít.

: do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. citri gây ra, hại cho tất cả các bộ phận của cây trên mặt đất (thân, cành, lá, quả), gây rụng hoa, quả, lá, cành non thì bị khô, làm cây cằn cỗi, chóng tàn. Trên quả, vết bệnh không ăn sâu vào trong múi, quả bị bệnh có phẩm chất kém, không bảo quản được.

ắt tỉa và thu gom cành, lá, quả bị bệnh đem tiêu hủy, hạn chế tỉa cành trong điều kiện ẩm ướt. Tuy nhiên các dụng cụ khi sử dụng phải được khử trung bằng dung dịch Javen 5%. Những vườn bị bệnh không nên tưới nước lên tán cây vào buổi chiều mát, không nên tưới thừa nước. Tăng cường bón thêm phân kali cho vườn cây đang bị bệnh. Phun phòng bệnh vào lúc cây mới ra chồi non hoặc khi bệnh bắt đầu xuất hiện. Khi bệnh năng có thể phun từ 2-3 lần, mỗi lần cách nhau từ 10-15 ngày. Sử dụng các loại thuốc như BM Bordeaux M25WP, Kasuran 50 WP (Kasugamycin + Copper Oxychloride), Isacop 65.2WG (Copper Oxychloride). Nồng độ phun theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Bệnh gây hại trên lá, quả và cành, làm lá bị biến dạng (đây cũng là một đặc điểm để phân biệt với bệnh loét), q uả bị bệnh biến dạng, nhỏ, vỏ dày, khô, ít nước. Bị bệnh nặng sẽ làm quả rụng.

hường xuyên vệ sinh cắt tỉa và tiêu hủy ngay cành, lá, quả bị bệnh. Áp dụng các biện pháp phòng trừ bệnh loét cũng giảm được bệnh ghẻ. Phun thuốc bảo vệ thực vật khi cần thiết như Actinovate 1SP (Streptomyces lydicus), Actino – Iron 1.3SP (Streptomyces lydicus + Fe), Kumulus 80 WG (Sulfur), Kasuran 50 WP (Kasugamycin + Copper Oxychloride), Isacop 65.2WG (Copper Oxychloride). Nồng độ phun theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Bệnh có thể phát triển nhanh lên ngọn thân hay phát triển vòng quanh thân chính và rễ cái. B ệnh làm lá vàng. Ở dưới đất, nấm xâm nhập vào rễ gây thối hỏng rễ, không hút được dinh dưỡng. Cây bị bệnh ít rễ, rễ ngắn, vỏ rễ thối và rất dễ tuột ra khỏi rễ, nhất là ở các rễ con. Bệnh cũng làm thối quả (thường chỉ thối một bên quả) và rụng. Từ quả bệnh, nấm sẽ lây lan sang quả mạnh do tiếp xúc. Các quả gần mặt đất thường bị bệnh.

Cây bị nhiễm bệnh thường lùn, còi cọc, phát triển kém, lá hơi vàng ở rìa lá và nhỏ. Thân bị lõm trên cành già. Quan sát kỹ ở lá bánh tẻ thường thấy lá bị sưng lên (gân lồi), lá dầy, mặt lá sần sùi và còn thấy có những đoạn trong suốt (gân trong). Cây bị bệnh sớm tàn lụi.

o nấm Corticium salmonicolor gây ra. Bệnh gây hại trong mùa mưa ở chảng ba của cây. Trên vỏ cây có nhiều sợi nấm màu trắng phát triển và bao phủ vỏ cây, sau đó tơ nấm chuyển sang màu hồng và che phủ cả thân, cành cây, vỏ cây chuyển sang màu sậm đến đen, cuối cùng vỏ bị khô và nứt ra, cành chết. Đôi khi không thấy được lớp tơ nấm màu hồng mà chỉ thấy được những gai màu hồng nhô lên từ chỗ nứt của vỏ thân.

hững quả ở vị trí thấp có thể đứng với được thì dùng kéo cắt cành để thu hoạch quả. Đối với những quả ở trên cao, đứng với không tới thì sử dụng kéo cắt cành có cần dài và có khả năng giữ được phần cuống quả, nếu không có kéo cắt cành cần dài thì có thể sử dụng thang chữ A để thu hoạch. Cắt cuống quả, lau sạch cho vào thùng xốp, giỏ hoặc sọt tre, không được để quả xuống đất. Những quả tiếp xúc với đất thì xếp riêng và được coi là sản phẩm không đạt VietGAP. Sau đó chuyển quả đến nơi thoáng mát để phân loại. Lau sạch vỏ quả chờ vận chuyển đến nơi bảo quản và tiêu thụ. Bưởi có thể bảo quản được 12 tuần ở nhiệt độ 12 0 C và ẩm độ 85-90%.

Đối với các cơ sở mua bán bưởi hoặc các tổ chức kinh tế tập thể như tổ hợp tác hoặc Hợp tác xã, sử dụng Anolyte nồng độ 490 ppm (200ml dung dịch Hypocloride pha cho 1 lít nước) trong thời gian 7-10 phút xử lý bưởi

Đối với những cơ sở có nhà sơ chế và đầy đủ trang thiết bị để sở chế và bảo quản bưởi Da xanh cần thực hiện theo các bước sau:

-Phù hợp với tiêu chuẩn sản xuất an toàn VietGAP, phù hợp với điều kiện tự nhiên – xã hội các huyện của chúng tôi

Kỹ Thuật Bón Phân Cho Bưởi Da Xanh

Bưởi Da Xanh được trồng quanh năm nhưng nên trồng vào đầu mùa mưa để tiết kiệm công tưới, thời điểm thích hợp nhất vào tháng 5-6 dương lịch hàng năm. Cũng có thể trồng vào cuối mùa mưa nếu có đủ điều kiện tưới trong mùa nắng.

Bón phân cho bưởi được chia ra làm 3 giai đoạn (trừ giai đoạn vườn ươm), tùy theo đặc điểm từng loại đất và tình hình sinh trưởng phát triển của cây mà điều chỉnh lượng phân cho phù hợp.

Giai đoạn bón lót trước khi trồng

Lượng phân bón cho 1 hố trồng

Sau 1 tháng trồng, sử dụng phân bón lá Wokozim dạng lỏng pha với liều lượng 500ml cho 400 lít nước phun ướt đẫm lá, thân cây.

Giai đoạn kiến thiết cơ bản (năm thứ 1 đến năm thứ 3): Chia ra làm 4 đợt bón (bắt đầu từ đầu mùa mưa):

Sử dụng kết hợp với phun định kỳ 15-20 ngày/lần sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất.

Lượng phân bón cho 1 cây/ năm có thể tham khảo bảng sau:

Giai đoạn kinh doanh (tính từ năm thứ 4): lượng phân bón cần căn cứ vào tuổi cây và năng suất của vụ trước, có thể chia ra làm 5 đợt bón:

Đợt 1: sau thu hoạch: 25% đạm + 25% lân + 10-30 kg hữu cơ/gốc/năm.

Đợt 2: một tháng trước khi cây ra hoa: 25% đạm + 50% lân + 25% kali.

Đợt 3: sau khi đậu quả: 25% đạm + 25% lân + 25% kali.

Đợt 4: giai đoạn nuôi trái: 25% đạm + 25% kali.

Đợt 5: một tháng trước khi thu hoạch: 25% kali.

Lượng phân bón cho 1 cây/ năm có thể tham khảo bảng sau:

Lưu ý: Bón phân phù hợp nhất là ở thời điểm khi đọt bưởi già, không nên bón vào lúc cây đang ra đọt non, vì lúc này cây đang ra rễ cám, bón phân sẽ gây ảnh hưởng đến bộ rễ non; hoặc thời điểm mưa dầm, bão cũng không nên bón phân hóa học vì lúc này rễ bưởi không phát triển, bón phân sẽ hư rễ làm cây bị suy kiệt.

Kết hợp phân bón lá ( 4 – 5 lần/vụ ở giai đoạn sau khi đậu và giai đoạn quả bắt đầu phát triển nhanh, mỗi lần cách nhau 15 ngày.

Phòng trừ sâu bệnh:

1/ Rệp sáp:

Rệp sáp thường ở trên cành non, quả để chích hút nhựa, ngoài ra nơi chúng thải phân ra chúng còn kích thích nấm bồ hóng phát triển trên lá và quả. Trong điều kiện tự nhiên, rệp sáp chưa gây hại đáng kể, tuy nhiên khi mật độ cao cần phun một số hoạt chất phòng trừ hiệu quả như: Chlorpyrifos Ethyl (Tricel 48EC ), sử dụng dầu khoáng để phá vỡ lớp sáp bên ngoài.

2/ Nhện hại lá và quả:

Nhện gây hại trên lá và quả nên phát hiện thật sớm, nhất là khi vừa đậu trái, có thể sử dụng 1 trong các loại hoạt chất sau đây để trừ nhện: Sulfur (Sản phẩm ), Pyridaben, Fenpropathrin, Hexythiazox,…

3/ Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella)

Sâu non đục phá lá ở dưới phần biểu bì, ăn phần mô mềm. Sâu đi tới đâu biểu bì phồng lên tới đó, vẽ thành những đường ngoằn ngoèo nên được gọi là vẽ bùa, các lằn đục của sâu không bao giờ gặp nhau. Các lá bị sâu vẽ bùa gây hại thường bị co rúm lại và biến dạng nhất là những lá non, làm giảm diện tích quang hợp và làm giảm khả năng sinh trưởng của các chồi non. Ngoài ra các đường đục của sâu vẽ bùa còn tạo điều kiện cho bệnh loét vi khuẩn xâm nhập, làm lá bị rụng.

Phòng trừ: Bảo vệ loài ong ký sinh thuộc họ Encyrtidae và Enlophidae ký sinh trên nhộng sâu vẽ bùa. Tỉa cành cho ra lộc tập trung, chóng thành thục để hạn chế sự phá hoại của sâu. Phun thuốc có hoạt chất Chlorpyrifos Ethyl ().

3/ Bệnh ghẻ nhám:

Trồng cây không bị nhiễm bệnh, kiểm tra vườn thường xuyên, tỉa bỏ các cành mang bệnh ra khỏi vườn đốt, tiêu huỷ mầm bệnh. Phun ngừa khi cây ra đọt non hoặc khi hoa rụng cánh 2/3 bằng thuốc gốc đồng hoặc gốc Sulfur (sản phẩmSulfex 80WG ).

4/ Bệnh thán thư:

Bệnh thán thư phát triển và gây hại nhiều trong mùa mưa

Phòng trừ: Hàng năm, sau thu hoạch nên tỉa cành cho thông thoáng, loại bỏ và tiêu hủy các lá và trái bị bệnh. Khi phát hiện cây bị bệnh không nên tưới nước lên tán cây để hạn chế lây lan. Thường xuyên thăm vườn, phát hiện bệnh sớm sử dụng một trong các loại thuốc có hoạt chất sau (phun khi bệnh mới chớm): Sulfur (), Mancozeb, Chlorothalonil, Propineb,…

4/ Bệnh Tristeza:

Bệnh Tristeza do virus làm hỏng mạch dẫn nhựa từ trong thân cây xuống rễ, làm rụng lá, chết đọt, lùn cây và làm cho bộ rễ bị thoái hoá.Phòng trừ: Trồng giống sạch bệnh và tích cực phòng trừ các loại rầy mềm bằng các loại thuốc trừ sâu đã khuyến cáo vào các đợt ra đọt non để tránh lan truyền mầm bệnh.

5/ Bệnh vàng lá Greening ( do vi khuẩn Liberobacter asiticus)

Phòng trừ: Loại bỏ các cây đã nhiễm bệnh để tiêu huỷ mầm bệnh, tránh chiết, ghép bằng các mắt ghép trên các cây nghi ngờ đã có mầm bệnh. Khử trùng sau mỗi lần sử dụng các dụng cụ cắt tỉa.

Trồng giống sạch bệnh và nên cách ly với những vùng nhiễm bệnh, vườn trồng phải có cây chắn gió để hạn chế rầy chổng cánh di chuyển từ nơi khác tới. Phun thuốc trừ rầy chổng cánh vào các đợt ra lá non.

6/ Bệnh vàng lá thối rễ:

Triệu chứng nhận biết đầu tiên là lá chuyển màu vàng nhạt (phân biệt với bệnh vàng lá gân xanh và bệnh vàng lá thối rễ thì lá vàng bắt đầu từ những lá già lan dần lên đọt non, toàn bộ lá bị vàng. Trong khi bệnh vàng lá gân xanh thì triệu chứng xuất hiện ở lá non và thịt lá vàng nhưng gân lá vẫn xanh). Cây bệnh, lá rất dễ rụng khi có gió nhẹ. Lúc đầu có thể chỉ một vài nhánh, nhưng sau đó cả cây bị rụng lá và chết. Thường lá già bị rụng trước, chỉ còn một số ít lá ngọn nên trông cây rất xơ xác. Một số cây cũng có thể phát triển nhiều đọt non, bông trái nhưng trái nhỏ, chua sau đó cây chết dần. Đào rễ lên, thấy rễ bị hư thối, vỏ rễ có các sọc nâu đen, bị thối rời rạc thành sợi, bong tróc khỏi lõi rễ. Trường hợp nặng hơn, lõi rễ bị thối nâu từ chóp lan dần vào trong, phần vỏ dễ bị tuột khỏi lõi.

Bệnh do nấm Fusarium solani gây ra. Nguyên nhân sâu xa của bệnh này là tình trạng yếm khí lâu dài của đất vào các tháng mưa, do đất có thành phần sét cao nên mao quản nhỏ, giữ nước lâu và khó rút nước nên đất ở trong tình trạng thiếu oxy thường xuyên. Rễ cây phải hô hấp trong điều kiện yếm khí thường sản sinh ra nhiều polyphenol, chính chất này làm cho tế bào các rễ non bị chết. Những nơi rễ bị hư là nơi xâm nhiễm của nấm Fusarium solani (nấm này khó xâm nhiễm khi rễ còn lành lặn). Như vậy, chính điều kiện đất thiếu thoáng khí là nguyên nhân chính yếu của bệnh vàng lá thối rễ.

Bệnh thường xảy ra nặng trong mùa mưa nhưng thể hiện triệu chứng vào cuối mùa mưa, đầu mùa nắng. Những vườn thiếu chăm sóc, vườn có mực thủy cấp cao, khó thoát nước cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển.

Biện pháp phòng trị như sau:

Khi thiết kế vườn bưởi mới nên dọn sạch các tàn dư thực vật của các cây trồng trước.

Đất trồng phải cao ráo, thoát nước tốt. Vườn nên có bờ bao để kiểm soát mực nước sao cho cách mặt đất ít nhất 40-50cm. Nếu liếp làm rộng và trồng nhiều hàng thì phải có các mương rãnh phụ để giúp thoát nước nhanh sau mưa, tránh đọng nước cho các cây trồng ở hàng giữa. Trong mùa nắng tránh để cây khô hạn.

Bón phân hữu cơ hoai mục và chế phẩm sinh học Trichoderma cho cây. Việc bón phân hữu cơ, ngoài việc làm đất được tơi xốp, thoát nước tốt, rễ cây dễ phát triển còn giúp cho nhiều vi sinh vật đối kháng phát triển mạnh, ức chế nấm Fusarium solani có sẵn trong đất.

Thỉnh thoảng nên xới đất quanh gốc, nhất là sau những trận mưa lớn. Để trống một phần cổ rễ chính và rễ bàng lớn, chỉ phủ đất ở vùng ngọn rễ nơi kết tụ nhiều rễ con. Cách làm này giúp giảm ẩm và tăng cường ánh sáng để ngăn cản sự phát triển của nấm bệnh.

Thường xuyên thăm vườn, phát hiện sớm, cắt bỏ phần rễ hư. Xới xáo đất để tạo sự thông thoáng làm cho đất luôn tơi xốp và thoáng khí, sau đó tăng cường bón phân lân, phân hữu cơ sinh học Wokozim nhằm kích thích rễ mới phát triển. Quan sát khi cây ra rễ mới, bắt đầu phục hồi thì mới bổ sung dinh dưỡng cho cây.

Đối với các cây mới chớm bệnh, có thể sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất: Mataxyl, Fosetyl Aluminum, thuốc gốc đồng,… tưới cho cây. Để thuốc dễ ngấm nên xới nhẹ lớp đất mặt, tưới nước đầy đủ để toàn bộ rễ được ngấm nước trước, giúp nước thuốc dễ thấm xuống ngay. Xử lý khoảng 2-3 lần, mỗi lần cách nhau khoảng 15 ngày.