Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Hoa Hồng / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Hoa Hồng

Kỹ thuật trồng hoa hồng

Hoa hồng thu hoạch khi hoa có cánh ngoài vừa hé nở, nên thu vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát lúc cây còn sung nhựa, nhiều nước, thì cành hoa thu mới bền và lâu tàn, trước khi cắt

I. GIỐNG VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG

1. Giống

Một số giống Hoa hồng đang được trồng phổ biến hiện nay tại Đà Lạt là giống hoa hồng Pháp, Ý, đỏ Hà Lan, Tỷ muội, Vàng titi, Trắng xanh, Song hỷ, Bê Bê, vàng, đỏ, xanh ngọc, .…

2. Kỹ thuật nhân giống: Hoa hồng được nhân giống chủ yếu bằng phương pháp giâm cành hoặc ghép mắt

*Thời vụ nhân giống

– Thời vụ nhân giống hoa hồng tốt nhất (từ tháng 2-4) và (từ tháng 8-10) là thời gian tốt nhất giúp cho hom giống ra rễ nhanh và đạt tỷ lệ sống cao. Song với điều kiện thời tiết ở Đà Lạt thì việc nhân giống hoa Hồng có thể thực hiện quanh năm.

– Chuẩn bị giá thể: trộn xơ dừa băm nhỏ hoặc tro trấu, đất thịt nhẹ, giàu mùn trộn với phân chuồng hoai theo tỷ lệ 3:1 (đất đồi), trộn đều và đóng vào bịch đen chuyên dùng để ươm cây con.

* Chuẩn bị gốc ghép

– Sử dụng hom hồng dại (Tường vi, tầm xuân) cắt dài từ 20 – 25 cm, dùng dao hay kéo cắt cành bén cắt vát 30, không để cho hom bị xơ dập, nên chọn hom có gai màu tím, hom ở cành bánh tẻ, sạch sâu bệnh. Nhúng hom giống vào dung dịch kích thích ra rễ sau đó cắm vào bầu. Trong thời gian 10 ngày đầu cần che nắng để hom ra rễ, sau đó từ từ cho chiếu sáng và tiếp tục chăm sóc, giữ ẩm, tỉa bỏ những mầm yếu, kém phát triển chỉ chừa 3-4 mầm khoẻ mạnh, khoảng sau 3 tháng thì có thể ghép được.

– Tiến hành ghép: chọn gốc ghép sinh trưởng tốt, cành mập, khỏe để ghép. Sử dụng mắt ghép đủ tiêu chuẩn từ vườn cây sạch bệnh, lấy mắt ghép có kích thước 1cm x 3cm, có một chồi nhú lên bằng hạt gạo, ghép theo cách ghép da hình chữ T ngược dùng nilon quấn quanh mắt ghép theo kiểu ngói lợp, chừa phần chồi lại. Trong thời gian này nên che nắng mắt ghép và không được tưới ướt mắt ghép, luôn giử ẩm cho gốc ghép. Khoảng 15 ngày sau có thể mở dây nylon ra kiểm tra nếu mắt ghép còn tươi là đạt. Sau đó cắt bỏ hết tán và nhánh của gốc ghép để tập trung nuôi mắt ghép. Có thể giảm che nắng từ từ để mắt ghép làm quen với ánh sáng trực tiếp và tỷ lệ sống cao hơn.

* Chọn cành giâm

-Vườn hoa hồng dùng để cắt hom nhân giống cần được chăm sóc kỹ theo yêu cầu phân bón để đảm bảo hom giống tốt, sạch sâu bệnh.

          

– Cành hồng dùng để nhân giống là cành bánh tẻ khoẻ, mập, thẳng và sạch sâu bệnh, đang mang hoa ở giai đoạn sử dụng.

– Chọn mắt giâm: là loại mắt ngủ bắt đầu nhú lên bằng hạt tấm thì khi giâm mắt bắt đầu nẩy lộc ngay, cành giâm phát triển tốt thì khi đem trồng cây có sức sinh trưởng phát triển tốt, cho hoa đẹp.

– Trên cành đã chọn để cắt hom giống giâm chỉ nên lấy đoạn giữa của cành không nên lấy đoạn ngọn và gốc. Hom giống có chiều dài từ 8 – 10 cm trên đoạn cành có từ 1-3 mắt nhưng có 2 mắt là tốt nhất. Khi cắt cành nên dùng kéo cắt cành chuyên dùng, cắt vát 30, không để vết cắt bị dập nát. Trên đoạn cành cắt nên giữ lại từ 2-3 lá chét ở cuống lá mắt trên.

* Kỹ thuật pha, nhúng thuốc kích thích ra rễ: Hoa Hồng là loại cây thân gỗ tương đối khó ra rễ khi giâm, vì vậy muốn kích thích cành giâm ra rễ nhanh ta dùng thuốc kích thích ra rễ như IAA, NAA, axit giberelic với nồng độ từ 2000-2500 ppm. Hom giống sau khi cắt đem nhúng nhanh vào dung dịch pha sẵn trong khoảng thời gian 3-5 giây rồi cắm vào giá thể được chứa trong bầu nilon hoặc khay nhựa. Khi cắm hom giống phải thẳng đứng, cắm sâu từ 1-1,5cm. Khoảng cách hom giâm từ 4 – 5 cm trong khay nhựa hoặc mỗi túi bầu là một hom.

II. TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Chuẩn bị đất

Vệ sinh đồng ruộng sạch, xử lý cỏ dại, nhặt các gốc cây rễ cây trên ruộng. Sau đó cày sâu 45 – 50 cm, bừa kỹ 2 – lần, bón vôi cải tạo độ chua của đất kết hợp bón lót phân chuồng.

Đánh luống: Mặt luống + rãnh: 1,3m (rãnh 30cm). Luống hình chóp nón, cao từ 25-30 cm, thoát nước tốt, tránh bị ngập úng.

2. Kỹ thuật trồng hoa hồng

Khoảng cách trồng: cây cách cây 20 – 30 cm, hàng cách hàng 50 cm. Trồng cây giống thẳng đứng, nên trồng theo kiểu nanh sấu.

Khi trồng tay trái giữ cây, tay phải lấp đất nhẹ vào xung quanh gốc, ấn nhẹ tay cho cây đứng, tránh làm đứt rễ cây, không để phân tiếp xúc với đất. Trồng xong t­ới thật đẫm n­ước.

3. Chăm sóc

Lượng phân sử dụng cho 1000m2

– Phân chuồng: 10m3, vôi 200 kg

– Lân: 40 -50 kg

– Ure: 26 – 30kg

– KCl: 30 kg

– Phân vi sinh: 280 – 300 kg

Ngoài ra còn dùng một số phân bón vi lượng phun qua lá để bổ sung thêm dinh dưỡng cho cây hoa.

Cách bón:

– Bón lót: toàn bộ phân chuồng, lân, phân vi sinh

– Bón thúc: 2 tuần bón một lần

+ Lần 1: 1/5 kg Ure + 1/5kg KCl

+ Lần 2: 1/5 kg Ure + 1/ 5 kg KCl

+ Lần 3: 1/6 kg Ure + 2/5kg KCl

+ Lần 4: lượng Ure và KCl còn lại

Ngoài ra định kỳ hàng tháng bổ sung 1 lần phun vi lượng

Với cây hoa hồng có chu kỳ sinh trưởng kéo dài nhiều năm nên hàng năm phải bón phân chuồng, phân vi sinh, lân, vôi để bổ sung dinh dưỡng cho cây.

4. Kỹ thuật t­ưới n­ước

Có 2 phư­ơng pháp tư­ới: T­ưới n­ước ngập rãnh tức là bơm n­ước vào 2/3 các rãnh để 2 tiếng đồng hồ sau đó rút hết nư­ớc hoặc t­ưới bằng vòi bơm vào mặt luống giữa 2 hàng cây, tránh bắn n­ước nhiều lên bộ lá và nụ sẽ tạo điều kiện cho nấm bệnh lan truyền. Nếu t­ưới bằng vòi bơm thì giữa 2 hàng cây ta tạo ra 1 rãnh nhỏ để khi t­ưới n­ước và phân không chảy ra ngoài.

5. Kỹ thuật bón phân

Hoa hồng rất ­ưa phân hữu cơ, sau khi trồng 1 – 2 tháng là phải t­ưới phân cho cây. Có thể dùng phân hữu cơ ngâm ủ với phân vi sinh sông gianh theo tỷ lệ 2m3 n­ước cần 300 kg phân hữu cơ + 50 kg phân vi sinh tư­ới cho 5.000m2.

6. Kỹ thuật bấm ngọn, vít cành điều tiết sinh tr­ưởng

Ph­ương pháp bấm ngọn, vít cành ta có thể đạt đ­ược 3 mục đích sau:

– Làm tăng năng suất từ 3 – 4 lần (có thể thu từ 7 – 9 bông/1gốc/lần thu).

– Điều khiển ra hoa theo ý muốn

L­ưu ý: Vít cành chỉ áp dụng đối với cây giâm

7. Kỹ thuật bao hoa trên đồng ruộng

Mục đích: Để tránh côn trùng và các tác động của môi trư­ờng xung quanh, đồng thời giữ hoa nhanh nở trong vài ngày. Có 2 cách bao hoa là bao bằng giấy báo (cắt 1 mảnh giấy báo quấn quanh bông hoa và buộc hoặc dán lại) và bao bằng l­ưới bao có sẵn.

8. Phòng trừ sâu bệnh

a. Sâu: trên cây hoa hồng phổ biến nhất là nhện đỏ, sâu xanh, rầy. Dùng thuốc Polytrin, Sherpa, Karate, Actara, Supracide, Commite…

b. Bệnh:

*Bệnh đốm đen: Vết bệnh hình tròn hoặc bất định, ở giữa vết bệnh màu xám nhạt, xung quanh màu đen. Vết bệnh xuất hiện cả hai mặt lá. Bệnh nặng làm lá vàng, rụng hàng loạt.

* Bệnh đốm mắt cua : Vết bênh là những đốm nhỏ hình mắt cua, phía trong hơi lõm, ở giữa màu nâu nhạt, xung quanh nổi gờ màu nâu đậm. Bệnh thường hại chủ yếu trên lá bánh tẻ, lá già, nhiều vết chi chít làm lá vàng, rụng.

* Bệnh đốm vòng: Vết bênh là những đốm nhỏ, hình tròn đồng tâm, màu nâu nhạt. Bệnh hại cả lá bánh tẻ và lá già.

Dùng thuốc Score 250 EC, 2S sea & see 12WP, 12DD, Champion 77WP Daconil 550 SC, Altracol 70 BHN,…để phun phòng trừ các loại bệnh trên.

*Bệnh phấn trắng: Vết bệnh dạng bột phấn màu trắng xám, hình dạng bất định. Bệnh thường hại trên ngọn non, chồi non, lá non, gây hại cả hai mặt lá. Bệnh nặng hại cả thân, cành nụ và hoa, làm hoa biến dạng không nở, thân khô, giảm nụ và bệnh nặng làm chết cây. Dùng thuốc Score 250 EC, Daconil 550 SC, Som 5DD, Viben 50BHT…

* Bệnh gỉ sắt: Vết bệnh dạng ổ nổi màu vàng da cam hoặc màu nâu gỉ sắt, thường hình thành mặt dưới lá. Mặt trên lá bênh mất màu xanh bình thường, chuyển sang màu vàng nhạt. Bệnh nặng làm lá khô cháy, dễ rụng, hoa nhỏ và ít, cây còi cọc.

– Phòng trị: Phun thuốc Anvil 5 SC, Suppertilt, Coct 85, 2S sea & see 12WP, 12DD, Champion 77WP …

* Bệnh thán thư: Vết bệnh có dạng hình tròn nhỏ, hình thành từ chóp lá, mép lá hoặc giữa phiến lá. Ở giữa vết bệnh màu xám nhạt hơi lõm, xung quanh có viền màu nâu đỏ hoặc màu đen. Trên mô bệnh về sau thường hình thành các hạt đen nhỏ li ti. Bệnh hại lá bánh tẻ và là già. Phòng trị: Phun thuốc Ticarben 50WP, Derosal 50 SC, Topan, Fusin, Score 250 EC.

* Bệnh mốc sương: Vết bệnh có hình dạnh bất định màu vàng, khi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi vết bệnh ăn lan dần ra, liên kết với nhau làm lá vàng rụng. Bệnh xuất hiện ở những lá già và lan dần lên phần trên.

Phòng trị: Benex 50 WP, Bendazol 50WP, Folpan, Ridomil Gold….

IV. THU HOẠCH, BẢO QUẢN HOA SAU CẮT CÀNH

Hoa hồng thu hoạch khi hoa có cánh ngoài vừa hé nở, nên thu vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát lúc cây còn sung nhựa, nhiều nước, thì cành hoa thu mới bền và lâu tàn, trước khi cắt Hoa nên tưới nhiều nước. Cắt cách gốc cành chừa lại 3 lá, phần cành hồng còn lại sẽ cho 3 chồi mới, ta chỉ chọn 1-2 chồi khỏe cho ra hoa tiếp tục.

Sau khi cắt hoa nhúng ngay vào thùng nước có chứa chất khử Etylen khoảng 30 phút, sau đó ngâm vào thùng chứa dung dịch dinh dưỡng cho hoa no khoảng 1 – 3 giờ, nếu có điều kiện thì bảo quản trong kho lạnh, còn không thì phải để hoa ở chõ thoáng mát, sạch sẽ và đóng gói trước khi vận chuyển đi xa. Có như vậy thì hoa cắm mới bền và các nụ hoa sẽ nở hết, không có hiện tượng nụ ngủ.

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Ớt

Hiện nay nhiều nơi vẫn canh tác giống địa phương là chính. Giống trồng phổ biến ở

Đồng bằng Sông Cửu Long có giống Sừng Trâu, Chỉ Thiên, ớt Búng, ớt Hiểm, ở miềnTrung có giống ớt Sừng Bò, Chìa Vôi. Ngoài ra Viện Nghiên Cứu Nông nghiệp Hà Nội công bố bộ sưu tập với 117 giống nội địa (1987), điều này chứng minh nguồn giống ớt phong phú, đa dạng chưa được biết đến ở nước ta. Tuy nhiên, giống địa phương bị lai tạp nên thoái hóa, quần thể không đồng đều và cho năng suất kém, trong khi các giống F1 có khả năng cho năng suất vượt trội trong điều kiện thâm canh cao nên bắt đầu được ưa chuộng và đang thay thế dần các giống địa phương.

1.1. Giống lai F1:

– Giống Jet 18 (Công ty Syngenta sản xuất): Cây sinh trưởng khỏe, phân cành và ra

hoa sớm, đậu quả tập trung, thu hoạch từ 75-80 ngày sau khi trồng; năng suất cao, ở điều kiện chăm sóc tốt có thể đạt 15-20 tấn/ha. Dạng trái dài 6-7cm, đẹp, đều, thẳng, cứng, bóng láng, màu sắc đỏ tươi được thị trường ưa chuộng. Jet18 chống chịu tốt với nhiều sâu bệnh hại quan trọng.

– Giống Chili (Công ty Trang Nông phân phối): Trái to, dài 12-13 cm, đường kính trái

1,2-1,4cm; trọng lượng trung bình trái 15-16 gram, dạng trái chỉ địa, trái chín đỏ, cứng, cây trung bình, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Cây cao trung bình 75-85 cm, sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt và cho năng suất cao.

– Giống số 20 (Công ty Giống Miền Nam phân phối): sinh trưởng mạnh, phân tán lớn, ra nhiều hoa, dễ đậu trái, bắt đầu cho thu hoạch 85-90 ngày sau khi cấy, cho thu hoạch dài ngày và chống chịu tốt bệnh virus. Trái ớt chỉ địa dài 14-16 cm, thẳng, ít cây, trái cứng nên giữ được lâu sau thu hoạch, năng suất 2-3 tấn/1.000m2

– Giống TN 16 (Công ty Trang Nông phân phối): Cho thu hoạch 70-75 ngày sau khi

gieo, trái chỉ thiên khi chín đỏ tươi, rất cay, dài 4-5 cm, đường kính 0,5-0,6cm, trọng

lượng trung bình 3-4g/trái, đậu nhiều trái và chống chịu khá với bệnh thối trái, sinh

trưởng tốt quanh năm.

– Giống Hiểm lai 207 (Công ty Hai Mũi Tên Đỏ phân phối): Giống cho trái chỉ thiên, dài 2-3 cm, trái rất cay và thơm, năng suất 2-3 kg trái/cây, chống chịu khá bệnh thán thư.

1.2. Giống địa phương:

– Giống Sừng Trâu: Bắt đầu cho thu hoạch 60-80 ngày sau khi cấy. Trái màu đỏ khi

chín, dài 12-15 cm, hơi cong ở đầu, hướng xuống. Năng suất 8-10 tấn/ha, dễ nhiễm

bệnh virus và thán thư trên trái.

– Giống Chỉ Thiên: Bắt đầu cho trái 85-90 ngày sau khi cấy. Trái thẳng, bóng láng, dài 7-10 cm, hướng lên, năng suất tương đương với ớt Sừng nhưng trái cay hơn nên được ưa chuộng hơn.

– Giống Ớt Hiểm: Cây cao, trổ hoa và cho trái chậm hơn 2 giống trên nhưng cho thu

hoạch dài ngày hơn nhờ chống chịu bệnh tốt. Trái nhỏ 3-4 cm nên thu hoạch tốn công, trái cay và kháng bệnh đén trái nên trồng được trong mùa mưa.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, ớt có thể trồng quanh năm, tuy nhiên, trong sản xuất

thường canh tác ớt vào các thời vụ sau:

– Vụ sớm: Gieo tháng 8-9, trồng tháng 9-10, bắt đầu thu hoạch tháng 12-1 dl và kéo

dài đến tháng 4-5 năm sau. Vụ này ớt trồng trên đất bờ líp cao không ngập nước vào mùa mưa. Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới, thu hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến và thời gian thu hoạch dài, tuy nhiên, diện tích canh tác vụ này không nhiều.

– Vụ chính (Đông Xuân): Gieo tháng 10-11 dl, trồng tháng 11-12 dl, bắt đầu thu hoạch tháng 2-3 dương lịch. Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh.

– Vụ Hè Thu: Gieo tháng 4-5 dl trồng tháng 5-6 dl thu hoạch 8-9 dl. Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt để tránh úng ngập và chọn giống kháng bệnh thán thư.

Lượng hạt giống gieo đủ cấy cho 1.000m2 từ 15-25 gram (150-160 hạt/g). Diện tích

gieo ương cây con là 250 m2. Chọn đất cao ráo hay làm giàn cách mặt đất 0,5-1 m, lót phên tre hay lá chuối rồi đổ lên trên một lớp đất, phân, tro dày 5-10 cm rồi gieo hạt.

Cách này dễ chăm sóc cây con và ngăn ngừa côn trùng hoặc gia súc phá hại. Cũng có thể gieo hạt thẳng vào bầu hay gieo theo hàng trên líp ương. Hạt ớt thường nẩy mầm chậm, 8-10 ngày sau khi gieo mới mọc khỏi đất, cây con cấy vào lúc 30-35 ngày tuổi, có sử dụng màng phủ cây con nên cấy sớm lúc 20 ngày tuổi.

Đất trồng ớt phải được luân canh triệt để với các loại cây trồng khác họ, tránh trồng

trùng lặp với các loại cây như cà chua, thuốc lá và cà tím… Trồng mùa mưa cần lên líp cao vì ớt chịu úng kém. Khoảng cách trồng thay đổi tùy thời gian dự định thu hoạch trái, nếu ăn trái nhanh (4-5 tháng sau khi trồng) nên trồng dày, khoảng cách trồng 50x(30-40)cm, mật độ 3.500-5.000 cây/1.000m2; nếu muốn thu hoạch lâu nên trồng thưa, 70x(50-60) cm, mật độ 2.000-2.500 cây/1.000m2.

5.1. Mục đích:

 Hạn chế côn trùng và bệnh hại: Mặt màu bạc của màng phủ phản chiếu ánh sáng

mặt trời nên giảm côn trùng, nhện và nấm bệnh tấn công ở gốc thân và đốm lá

chân.

 Ngăn ngừa cỏ dại: Mặt đen của màng phủ ngăn cản ánh sáng mặt trời, làm hạt

cỏ bị chết hay không mọc được trong màng phủ.

 Điều hoà độ ẩm và giữ cấu trúc mặt đất: Màng phủ ngăn cản sự bốc hơi nước

trong mùa nắng, hạn chế lượng nước mưa nên rễ cây không bị úng nước, giữ độ

ẩm ổn định và mặt đất tơi xốp, thúc đẩy rễ phát triển, tăng sản lượng.

 Giữ phân bón: Giảm rửa trôi của phân bón khi tưới nước hoặc mưa to, ít bay hơi

nên tiết kiệm phân.

 Tăng nhiệt độ đất: Giữ ấm mặt đất vào ban đêm (mùa lạnh) hoặc thời điểm mưa

dầm thiếu nắng mặt đất bị lạnh.

 Hạn chế độ phèn, mặn: Màng phủ làm giảm sự bốc hơi qua mặt đất nên phèn,

mặn được giữ ở tầng đất sâu, giúp bộ rễ hoạt động tốt hơn.

5.2. Cách sử dụng màng phủ nông nghiệp

– Vật liệu và qui cách: Dùng 2 cuồn màng phủ khổ rộng 0.9-1m trồng ớt hàng đơn, còn hàng đôi 1,5 cuồn màng phủ khổ 1,2-1,4 m, diện tích vải phủ càng rộng thì hiệu quả phòng trừ sâu bệnh càng cao. Chiều dài mỗi cuồn màng phủ là 400m, khi phủ liếp mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng xuống.

– Lên liếp: Lên liếp cao 20-40cm tùy mùa vụ, mặt liếp phải làm bằng phẳng không

được lồi lõm vì rễ khó phát triển và màng phủ mau hư, ở giữa liếp hơi cao hai bên

thấp để tiện việc tưới nước.

– Rãi phân lót: Liều lượng cụ thể hướng dẫn bên dưới, nên bón lót lượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì màng phủ hạn chế mất phân và không bị cỏ dại canh tranh, có thể giảm bớt 20% lượng phân so với không dùng.

– Xử lý mầm bệnh: Phun thuốc trừ nấm bệnh có hoạt chất Metalaxyl hoặc

Hexaconazole đều trên mặt liếp trước khi đậy màng phủ.

– Đậy màng phủ: Mùa khô nên tưới nước ngay hàng trồng cây trước khi đậy màng

phủ. Khi phủ kéo căng vải bạt, hai bên mép ngoài được cố định bằng cách dùng dây

chì bẻ hình chữ U mỗi cạnh khoảng 10 cm ghim sâu xuống đất (dây chì sử dụng được nhiều năm) hoặc dùng tre chẻ lạc ghim mé liếp.

Lượng phân bón trung bình (ha):

(185-210 N) – (150-180 P2O5) – (160-180 K2O) kg/ha.

– 200 kg Urea

– 500 kg Super Lân

– 200 kg Clorua Kali (KCl)

– 120 kg Calcium Nitrat/Ca(NO3)2

– 500-700 kg (16-16-8)

– 10 tấn chuồng hoai

– 1 tấn vôi bột.

* Bón lót:

500 kg Super Lân + 30 kg KCl + 20 kg Ca(NO3)2, 100-150 kg (16-16-8), 100% phân

chuồng và vôi. Vôi rải đều trên mặt đất trước khi cuốc đất lên liếp, phân chuồng hoai, lân rải trên toàn bộ mặt liếp xới trộn đều. Trong trường hợp trồng phủ rơm, nên bón lót lượng phân nhiều

* Bón phân thúc:

Lần 1 – Giống thấp cây: 20-25 ngày sau khi cấy

– Giống cao cây: 20 ngày sau khi cấy

Lần 2 Đậu trái đều: 55-60 ngày sau khi cấy

Lần 3 Bắt đầu thu trái: 80-85 ngày sau khi cấy

Lần 4 Thúc thu hoạch rộ (đối với ớt sừng dài ngày): 100-110 ngày sau khi cấy.

Bón phân bằng cách vén màng phủ lên rãi phân một bên hàng cây, lần bón sau thì rải phía ngược lại hoặc đục lổ màng phủ giữa 2 gốc cây.

Chú ý:

 Ớt thường bị thối đuôi trái do thiếu canxi, do đó mặc dù đất được bón vôi đầy đủ

trước khi trồng hoặc bón đủ Ca(NO3)2 nhưng cũng nên chú ý phun bổ sung phân

Clorua Canxi (CaCl2) định kỳ 7-10 ngày/lần vào lúc trái đang phát triển để ngừa bệnh thối đuôi trái.

 Nếu không dùng màng phủ, nên chia nhỏ lượng phân hơn và bón nhiều lần để hạn chế mất phân.

Nhằm góp phần tăng năng suất và phẩm chất trái, nhất là trong mùa mưa có thể

dùng phân bón lá vi lượng như MasterGrow, Risopla II và IV, Miracle… Bayfolan,

Miracle… phun định kỳ 7-10 ngày/lần từ khi cấy đến 10 ngày trước khi thu hoạch.

– Bón theo hàng hoặc hốc rải phân và lấp đất lại– Đối với luống che phủ nilon: Bón phân bằng cách vén màng phủ lên rãi phân một bên hàng cây, lần bón sau thì rải phía ngược lại hoặc đục lỗ màng phủ giữa 2 gốc cây.

Tỉa nhánh: Thông thường các cành nhánh dưới điểm phân cành đều được tỉa bỏ cho

gốc thông thoáng. Các lá dưới cũng tỉa bỏ để ớt phân tán rộng.

Làm giàn:

Giàn giữ cho cây đứng vững, để cành lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại do

sâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất, giúp kéo dài thời gian thu hái trái.

Giàn được làm bằng cách cắm trụ cứng xung quanh hàng ớt, dùng dây chì giăng xung

quanh và giăng lưới bên trong hoặc cột dây nilon lúc cây chuẩn bị trổ hoa.

 Thu hoạch ớt khi trái bắt đầu chuyển màu. Ngắt nhẹ nhàng cả cuống trái mà không

làm gãy nhánh. Ớt cay cho thu hoạch 35-40 ngày sau khi trổ hoa, ở các lứa rộ thu

hoạch ớt mỗi ngày, bình thường cách 1-2 ngày thu 1 lần, nếu chăm sóc tốt năng

suất trái đạt 20-30 tấn/ha.

 Làm giống nên chọn cây tốt, cách ly để tránh lai tạp làm giảm giá trị giống sau này.

Chọn trái ở lứa thu hoạch rộ, để chín hoàn toàn trên cây, hái về để chín thêm vài

ngày rồi mổ lấy hạt, phơi thật khô, để vào chai lọ kín và để nơi khô ráo. Hạt ớt

chứa nhiều chất béo, do đó hạt khô thường hút nước lại và gia tăng ẩm độ, vì vậy,

trữ hạt ở điều kiện nóng ẩm (ẩm độ trữ hơn 70% và nhiệt độ 20oC) hạt mất khả

năng nẩy mầm 50% trong thời gian 3 tháng và mất khả năng nẩy mầm hoàn toàn

trong thời gian 6 tháng. Trữ hạt trong điều kiện khô, kín (ẩm độ 20%, nhiệt độ là

25oC), hạt khô (ẩm độ 5%) có thể giữ độ nẩy mầm 80% trong 5 năm.

Nguồn: Tổng hợp

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Gấc

Thưa quý bà con, gấc là loài cây thân thảo, dây leo thuộc chi Mướp đắng. Quả gấc có nhiều vitamin và dưỡng chất rất tốt cho cơ thể. Các hãng dược phẩm ví trái gấc như là loại quả đến từ thiên đường và là thần dược cho sức khỏe của con người. Gấc có tác dụng phòng chống ung thư, giảm cholesterol, nâng cao hệ thống miễn dịch, chống lão hóa, tăng cường thị lực và làm đẹp da… Gấc còn góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con. Tuy nhiên, trồng gấc như thế nào lại là điều khá nhiều bà con chưa nắm rõ. Để giúp bà con hiểu hơn về quy trình trồng và chăm sóc cây gấc, chúng tôi xin giới thiệu đến bà con bài viết sau đây. Kính mời quý bà con quan tâm theo dõi!

Quy trình trồng bắp cải mang lại hiệu quả cao

Quy trình trồng và chăm sóc cây gấc

I. Yêu cầu và chuẩn bị đất trồng:

Gấc là cây không kén đất nhưng bà con nên chọn đất tốt để trồng. Đất không bị úng và thoát nước tốt khi mưa lớn.

– Đào hố trồng gấc: cần đào hố vuông với cạnh 1 – 1,2m và có độ sâu khoảng 40 – 60 cm. Nếu bà con trồng gấc với diện tích lớn thì khoảng cách giữa các hố từ 3 – 4 m, khoảng cách giữa các hàng là 4 – 5 m. Bà con cần để riêng lớp đất bề mặt cạnh hố đào. Không đào hố ngay cạnh gốc cây trồng khác, nếu trồng trên đất vườn tạp hoặc trồng xen canh, nên đào hố với khoảng cách từ 1,5m -2m so với gốc cây trồng khác…

Để đạt hiệu quả trong công việc khoan các hố đất trồng gấc, bà con có thể sử dụng máy khoan đất chạy xăng có giá đỡ do Công ty CPĐT Tuấn Tú cung cấp:

Máy khoan đất chạy xăng có giá đỡ 3A

– Quy trình xử lý hố và tiến hành bón lót : Bà con trộn phần lớp đất vừa đào với các loại phân bón sau (đối với 1 hố): 2 kg GV- hữu cơ vi sinh, 0,5 kg Gavi -Bio, 10 – 15kg phân chuồng hoai, 0,5 – 0,6 kg Super lân, 0,5 – 1 kg chế phẩm sinh học có chứa Trichoderma. (Cần thực hiện các công việc trên trước khi trồng khoảng 5 – 7 ngày)

Thiết kế giàn: Bà con có thể dựng giàn bằng các cây tạp, cột bê tông hoặc tre, nứa. Gác các cành tre ở bên trên hoặc đan bằng dây thép hay có thể dùng dây cước một sợi để đan thành lưới (kích thước mắt lưới khoảng 40cm x 40cm), căng lên giàn. Giàn được làm bằng lưới cước chi phí thấp và có thể giữ được khoảng 3-5 năm. Khoảng cách giữa mặt đất và mặt giàn bình quân là 2m, cần đảm bảo giàn không bi chùng khi cây leo lên hoặc khi gấc ra quả. (Giàn gấc phải hoàn tất sau 3 tuần từ khi trồng cây con).

II. Tiến hành trồng gấc

Bà con chuẩn bị hố ngay trước khi trồng: Dọn sạch cỏ dại, cây cối xung quanh hố. Xới nhẹ đất trong hố trồng một lần nữa. Sau đó cuốc 2 lỗ nhỏ giữa hố để đặt cây giống, khoảng cách giữa 2 lỗ trong cùng 1 hố tối thiểu là 35cm. Khi đã xử lý hố đất được 5- 7 ngày thì bà con tiến hành trồng cây con.

Cần lưu ý: Nếu bà con trồng cây giống thực sinh thì nên trồng 2 cây trong 1 hố, vì bà con cần theo dõi khi thu quả năm đầu tiên, cây nào ít quả, hoặc không ra quả, quả nhỏ hoặc sâu bệnh nặng thì cần cắt bỏ cây đó để cây còn lại phát triển tốt hơn. Đối với cây hom hoặc cây ghép thì trồng 1 đến 2 cây cho một hố. Năm đầu, thường tỷ lệ ra quả thấp, lượng quả chưa nhiều. Vì vậy, để tăng khả năng thụ phấn tự nhiên và sản lượng, bà con nên trồng 2 cây.

III. Tưới nước và chăm sóc

– Tưới nước: Đất trồng gấc cần có đủ độ ẩm, nhưng không được ngập úng, do vậy, cần phải tưới đủ nước và thoát nước tốt ở gốc cây. Ở giai đoạn này, cây cần khoảng 80 – 85% độ ẩm của đất. Cần tiến hành tưới nước khi thời tiết nắng nóng, phủ rơm rạ, bao nilon để giữ ẩm cho cây.

– Đào kênh thoát nước: Khi cây gấc bị ngập nước sẽ khiến cây bị úng và tạo điều kiện cho nhiều loại vi khuẩn, sâu bệnh tấn công, làm giảm năng suất nếu bị úng nhẹ và có thể làm chết cây nếu ngập úng kéo dài. Vì vậy, ở những nơi trũng, ngập nước vào mùa mưa thì cần đào kênh tiêu nước. Mỗi kênh có kích thước rộng 500mm, sâu 300mm để thoát nước dễ dàng khi trời có mưa lớn.

– Sau 7 ngày, bà con tiến hành phun men sinh học Gavi – TriBio 5% với liều lượng pha loãng 300 lần trên lá và dưới gốc.

IV. Sau khi trồng 15 -30 ngày.

– Bà con bắt ngọn leo lên giàn và thường xuyên bắt cho các ngọn phân tán đều giàn.

– Cần kiểm tra sâu, bệnh hại trên cây, nếu thấy có sâu bệnh thì cần phải phòng trừ. Trong quá trình theo dõi, nếu thấy dây gấc vươn dài, yếu, nhỏ, bị sâu ăn lá thì cần cắt bỏ để nhường dinh dưỡng cho dây khác.

– Khi cây con bắt đầu leo giàn ( khoảng từ tuần thứ 5 đến tuần thứ 7sau khi trồng), bà con tiến hành bón lót 0,3 – 0,5 kg Phân NPK(16-16-8) cho 1 hố. Cần phun thêm Gavi – TriBio 5% pha loãng 300 lần trong giai đoạn này giúp tăng cường sức đề kháng cho cây, và hạn chế sâu bệnh hại.

– Sau 2 tháng kể từ ngày trồng cần bón thêm 0,5 kg chế phẩm Gavi – Bio cho 1 hố để phòng trừ bệnh hại, tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng cho cây.

V. Bón thúc khi gấc đã phủ lên giàn

– Cách bón: Bà con đào rãnh rộng 10cm và sâu 10cm hoặc có thể cào nhẹ lớp đất mặt trên hố gấc sâu khoảng 5-10cm, rồi rải phân GV hữu cơ vi sinh: 3kg trộn với đất dưới rãnh. Sau đó bà con cuốc xới nhẹ, lấp phân vào hố và tiến hành tưới nước cho cây.

– Cần chủ động tưới nước giữ để ẩm cho cây, khi không có mưa cần đảm bảo độ ẩm của đất từ 70-80%.

– Cần có kế hoạch theo dõi sâu bệnh thường xuyên và phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, đồng thời kết hợp với phun Gavi – TriBio 5% để bảo vệ cây và quả trước sự tấn công của sâu bệnh….

VI. Gấc bắt đầu ra hoa, kết trái (sau khi trồng khoảng 3, 4 tháng)

Giai đoạn gấc đang ra hoa

– Bà con cần bón thúc cho cây bằng phân trung vi lượng có gốc Canxi-Bo để kích thích sự phát triển của quả, tăng khả năng ra hoa, kết trái.

– Cách phun: Pha phân trung vi lượng có gốc Canxi-Bo với tỉ lệ 10ml/16 lít nước phun đều dưới nách lá, tán lá, quả và quanh gốc. Cần phun làm 2 lượt, mỗi lượt cách nhau khoảng 10 ngày, phun vào chiều mát hoặc khi sáng sớm.

– Tưới nước: Ở giai đoạn ra hoa và phát triển quả, cây gấc cần được cung cấp đủ nước cho cây, giai đoạn này cần giữ độ ẩm cho đất khoảng 70-80%.

VII. Xử lý ra hoa và kết quả (tháng thứ 4, thứ 5)

Đối với cây chưa ra quả hoặc không kết quả, tiến hành xử lý như sau:

Cách 1:

– Cần cắt tỉa những dây yếu, nhỏ, kém phát triển. Đối với những dây phát triển tốt, khỏe, bà con tiến hành bấm đọt, cách gốc khoảng 7m.

– Đồng thời, cần bón thúc bổ sung dinh dưỡng cho cây, giúp cây tăng tỷ lệ ra hoa và đậu quả.

+ Bón gốc: Bón 1 – 1,5 kg phân hữu cơ vi sinh cho 1 hố, 0,3 – 0,5 kg phân NPK (20-20-15)/hố, 5 – 10 kg phân chuồng hoai/hố. Tiến hành trộn toàn bộ số phân trên cùng với lớp đất mặt của gốc, sau đó lấp đất và tưới nước. Lưu ý: Để cây hấp thụ tốt nhất dinh dưỡng ở giai đoạn này cần phải tưới nước thường xuyên để tạo độ ẩm cho đất.

+ Bón lá: Cần kết hợp với phân bón lá trung vi lượng có gốc KNO3 hàm lượng khoảng 30-50g/8 lít nước. Phun trước mùa mưa ít nhất 20 – 30 ngày. Cần phun cho toàn thân cây từ cành, lá, nách lá, thân, gốc phun lúc mát trời, kéo dài 7-10 ngày.

– Chăm sóc vào giai đoạn cây đã ra hoa: thường xuyên tưới nước nếu trời không mưa để giữ độ ẩm trong đất đạt 70-80%.

Cách 2:

– Đầu tiên, cắt bỏ những gốc không ra trái, cách gốc khoảng 60 cm.

– Sau 1 tuần, bắt đầu xuất hiện các nhánh mới ở những cây không ra trái.

– Sau đó bà con chọn những nhánh ở cây có quả ghép vào các nhánh của cây không quả. Cần lưu ý: các nhánh để ghép không được non, cũng không được già quá. Để đảm bảo cho tỉ lệ cây sống cao, bà con nên trùm bao nilon vào nhánh mới ghép để tránh mất nước và hạn chế được sự tấn công của sâu bệnh.

– Sau khi cây đã có quả, bà con phun phân bón lá NPK (20-20-15) để quả phát triển. Trong giai đoạn quả phát triển mạnh, cần phun thêm kali 100% để chắc quả, tránh nứt quả, và cho chất lượng cao.

– Nên tiến hành tỉa bỏ những nhánh không mang trái, và khống chế chiều dài dây gấc tối đa khoảng 5-6 m, giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi quả, tránh tình trạng cây tập trung phát triển thân lá hoặc quả nhiều dẫn đến cây không nuôi nổi quả.

VIII. Cách phòng trừ sâu bệnh hại có thể gặp trên cây gấc

+ Bọ dừa: Bọ có cánh cứng dài 8mm, cánh có màu vàng ăn phá lá gấc. Phòng trừ bằng cách phun hoặc xịt Tata 25WG đều trên lá.

+ Rầy mềm: Thường bu mặt dưới của lá và hút nhựa. Bà con xịt Vicidi-M 50ND hoặc Decis 50ND 20-30ml/bình 8 lít để phòng trừ.

+ Nhện đỏ: Tập trung nhiều ở mặt dưới của lá, gây xoắn lá, làm lá úa vàng, dây gấc mọc cằn cỗi. Phòng trừ bằng cách phun SK Enpray 99EC hoặc Alfamite 15EC đều trên lá….

+ Ruồi trái cây: Ruồi phá hại nặng khi gấc có quả. Ruồi chích quả đẻ trứng, ấu trùng phát triển và phá vỏ dẫn đến thối quả. Phòng trị bằng cách phun dung dịch Oncol 20EC với liều lượng 30ml/8lít, và cần vệ sinh, thu lượm và đốt bỏ các quả gấc bị thối rụng.

+ Sâu xanh: Sâu xanh thường ăn hại lá gấc. Ở giai đoạn non, sâu xanh cuốn lá để làm tổ, sau đó ăn khuyết lá. Dùng thuốc Padan 95SP với liều lượng 10 – 15 g/10 lít phun vào buổi chiều mát.

2. Bệnh hại thường gặp

+ Đốm lá: Là do nấm Pseudope-ronopora cubensis Rostow gây ra, lá bị bệnh mặt trên có những chấm vàng, mặt dưới có nhiều chất xám làm cho lá chết héo. Dây gấc bị nhiễm bệnh phát triển kém không có hoặc cho ít quả, quả nhỏ chất lượng kém. Phòng trị bằng cách phun dung dịch Viroral 50BTN hoặc Viben – C lên lá.

+ Bệnh cháy lá: Là bệnh do nấm Collectrichum lagenarium Ell and Halst gây ra. Lá gấc bị bệnh cháy khô cả lá hoặc cháy thành đốm. Cách phòng trị như khi cây bị bệnh đốm lá.

+ Bệnh hoa lá: Là bệnh do virus CMV gây nên. Lá gấc bị đốm vàng, xoắn lá, dây còi cọc không cho quả. Bệnh này do cực vi trùng gây ra nên không có thuốc trị, bà con cần phòng trừ bằng cách nhổ bỏ cây bệnh để tránh lây sang những cây khác. Phun thuốc trị bọ dừa và rầy mềm cũng giảm bớt bệnh.

+ Tuyến trùng: Tuyến trùng Meloidogyne spp làm cho rễ, dây gốc bị tuyến trùng phá hoại còi cọc, kém phát triển, dẫn đến vàng quả hoặc không cho quả. Phòng trừ bằng cách rảicho mỗi hố 20gram Vimoca 10G hoặc 30 gram Vifuran 10H khi trồng cây con hoặc gieo hạt.

IX. Thu hoạch

Quả gấc sau khi thu hoạch

Thu hoạch khi quả đã chín ( ½ vỏ quả chuyển sang màu đỏ), màng bọc bên ngoài hạt dày và nhiều chất béo. Quả không bị dập nát, và không chín ép, thối hỏng. Trọng lượng quả từ 0,8kg trở lên là đạt yêu cầu. Màng gấc sấy khô phải đạt độ ẩm từ 7% – 8%, màng không có dị tật, mốc, sâu mọt, cháy khét… (có thể kiểm tra bằng cách dùng tay bẻ gãy là được).

Chúc bà con thành công!

Công ty CPĐT Tuấn Tú

VPGD Miền Bắc: Số 2, ngõ 2, đường Liên Mạc, phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Hotline: (024)22 05 05 05 – 0916 478 186

Chi nhánh Miền Nam: 129/17D Đường Lê Đình Cẩn, Khu phố 6, Phường Tân Tạo, Quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh.

Hotline: 0945 796 556 – 0984 930 099

Email: maylamdatvn@gmail.com

Website: maylamdat.vn

Fanpage: facebook.com/maylamdat3A/

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Ớt Ngọt

Đặc điểm thực vật học: Ớt ngọt trồng nhiều ở châu Âu, châu Mỹ. Vài năm gần đây có nhiều giống du nhập và trồng khá phổ biến tại Lâm Đồng.

Ớt ngọt là cây hàng năm, từ một gốc có thể phát triển thành bụi cây nhỏ gọn thẳng, có thể đạt chiều cao tối đa là 4m. Trái được hình thành từ một bông hoa duy nhất phát triển trong góc giữa lá và thân cây. Tùy giống ớt ngọt khác nhau về hình dạng và màu sắc, ớt ngọt dùng để ăn sống, nấu chín hoặc chế biến. Không phải tất cả các giống ớt ngọt nhẹ hương vị, một số có thể là cay nóng.

Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh: Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây là 25-28oC vào ban ngày và 18-20oC vào ban đêm, tối thích cho sinh trưởng là 18-28oC. Yêu cầu ánh sáng nhiều, nhất là thời điểm ra hoa, thiếu ánh sáng giảm tỷ lệ đậu quả. Ớt ngọt có thể phát triển tốt ở nhiều loại đất khác nhau như đất sét nhẹ, đất bazan, đất feralit vàng đỏ,… pH tối thích 5.5-6.5. Trong điều kiện nhà che nylon ớt ngọt có thể trồng được quanh năm.

Yêu cầu dinh dưỡng: Ớt là cây trồng cần phân bón Kali để hình thành quả, nếu thiếu Kali, quả ớt sẽ không rắn, chắc và không đạt độ bóng đẹp.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc.

Giống: Tại Lâm Đồng đang sử dụng phổ biến các giống ớt ngọt nhập từ Hà Lan có nhiều màu như ớt xanh, ớt đỏ (Pasarella), ớt vàng (Baschata)… của công ty Rijk Zwaan. Hạt ươm trong vỷ xốp cho đến đem ra vườn trồng.

Tiêu chuẩn lựa chọn giống xuất vườn:

Chuẩn bị đất: Chọn đất canh tác: Cách xa các khu công nghiệp, bệnh viện, nhà máy,… (không gần nguồn nước ô nhiễm và nước thải của các nhà máy, bệnh viện).

Vệ sinh vườn, dọn sạch tàn dư thực vật, cày xới và bón vôi bổ sung để nâng pH lên 5.5-6.6, phơi ải đất từ 1-2 tuần để tiêu diệt một số sâu bệnh hại, sau đó lên luống để bón lót và trồng. Phân bón lót được rải đều trên bề mặt luống, dùng cuốc xăm đều sau đó phủ 1 lớp đất lên bề mặt luống và tưới ẩm đều và tiến hành phủ bạt. Đục lỗ bón phân và lỗ trồng cây.

Trồng và chăm sóc: Mỗi luống trồng 2 hàng, khoảng cách hàng x hàng 50cm, cây x cây 45-50cm. Mật độ trồng 30.000-35.000 cây/ha, trồng theo kiểu nanh sấu, sau khi trồng tưới nước giữ ẩm để cây nhanh phục hồi.

Tưới nước: Sử dụng nguồn nước không bị ô nhiễm, nước giếng khoan, nước suối đầu nguồn, không sử dụng nước thải, nước ao tù, ứ đọng lâu ngày.

Tuần đầu tưới nhẹ từ 1-2 lần/ngày, sau đó mỗi ngày tưới 1 lần, nếu trồng vụ mưa tưới ít hơn.

Cắm chói: Sau khi trồng khoảng 2 tuần, cây đã bén rễ, tiến hành cắm choái, mỗi cây cắm một chói và cột cố định cây vào, khi cắm tránh làm long gốc sẽ ảnh hưởng đến cây trồng. Khi cây cao hơn 35 cm thì bắt đầu cắm chói cao và đan dây nylon để giữ cho cây không bị ngã đổ vì mang trái nặng.

Chăm sóc: Thường xuyên loại bỏ lá già, lá bị bệnh dưới gốc. Thực hiện khâu tỉa cành trước lúc ra hoa. Mỗi cây để 4-5 cành.

Phân bón và cách bón phân:

Phân bón: Lượng vật tư phân bón tính cho 1ha/vụ như sau:

Phân chuồng hoai: 40-50 m 3, phân hữu cơ vi sinh: 1.000kg, vôi bột: 800-1200kg, tùy pH của đất trồng.

Phân hóa học (lượng nguyên chất): 160kg N- 95kg P 2O 5 – 175kg K 2SO 4.

: Đổi lượng phân hóa học nguyên chất qua phân đơn hoặc NPK tương đương:

Cách 1: Ure: 348 kg; super lân: 594 kg; KCL: 292 kg.

Cách 2: NPK 19-6-21: 735 kg; Ure: 63 kg; super lân: 320 kg.

Bón theo cách 1:

Bón theo cách 2:

* Ghi chú: Sử dụng phân bón lá theo nồng độ khuyến cáo trên bao bì.

Chỉ sử dụng các loại phân bón có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng tại Việt Nam.

Bón thúc các lần sau: khoảng 1 tháng một lần với lượng phân bón tương tự thúc lần 2 hoặc lần 3.

III. Sâu hại và biện pháp phòng trừ:

Chú ý đến 03 loại côn trùng gây hại nghiêm trọng là: Rệp ( Aphid gossypii và Myzus persicae); Bọ trĩ ( Thrips palmi); Nhện đỏ ( Tetranychus sp).

Kiểm tra vườn trồng để phát hiện sớm và phun thuốc kịp thời, dùng các loại thuốc lưu dẫn có tác dụng kéo dài và hiệu quả cao để phòng trừ kịp thời.

+ Bọ trĩ: Sử dụng luân phiên một trong các loại thuốc: Abamectin (Silsau 1.8, 3.6 EC); Imidacloprid (Admire 200 OD)

+ Nhện đỏ: Sử dụng luân phiên một trong các loại thuốc: Azadirachtin (Agiaza 0.03 EC, 4.5 EC); Abamectin (Silsau 1.8, 3.6 EC); Rotenone (Limater 7.5 EC)

+ Rệp: Sử dụng luân phiên một trong các loại thuốc: Imidacloprid (Admire 200 OD); Rotenone (Limater 7.5 EC)

Phòng trừ sâu ăn lá:

– Áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp (IBM) như vệ sinh đồng ruộng, hạn chế ký chủ xung quanh ruộng, dùng bẫy vàng, cắt bỏ lá bị nhiễm ruồi nặng, phun thuốc phòng trừ 10-15 ngày một lần.

IV. Bệnh hại và biện pháp phòng trừ:

Là bệnh nguy hiểm gây thối quả hàng loạt và thường xuất hiện vào các tháng nóng, ẩm trong năm (tháng 5,6,7,8). Bệnh lan truyền do nấm tồn tại trên tàn dư cây trồng của vụ trước, do đó khi trồng ớt phải tuân thủ luân canh nghiêm ngặt.

Triệu chứng bệnh: Đầu tiên có vết ướt trên quả, sau đó lan rộng biến thành màu tối, vết bệnh thường có dạng vòng, trung tâm vết bệnh có màu đen. Nếu gặp thời tiết ẩm ướt trên vết bệnh có lớp bào tử màu hồng cam. Khi bệnh xuất hiện nên hạn chế tưới phun lên cây, vì tưới sẽ tạo điều kiện cho nấm bệnh lây lan nhanh chóng.

Có thể dùng thuốc: Thiophanate-Methyl (Thio-M 500FL); Chlorothalonil (Daconil 75 WP); Tebuconazole + Trifloxystrobin (Nativo 750 WG).

Bệnh Héo vàng do nấm (Fusarium oxysporum):

Xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn cây con đến khi ra hoa. Triệu chứng điển hình thường thấy ở phần thân gần gốc, có những vết nấm đốm thành mảng trên bề mặt, nấm bệnh làm hư hại bó mạch dẫn của cây, do vậy cây héo xanh và chết. Nấm phát triển nhanh ở nhiệt độ 25-30 0 C. Ruộng đất cát, chua, thiếu đạm và lân thường bị bệnh nhiều.

– Biện pháp phòng trừ: Chọn giống sạch bệnh; Luân canh với các cây trồng khác họ; Không tưới nước quá ẩm. Trồng cây trên những chân đất cao ráo, dễ thoát nước. Vệ sinh đồng ruộng, xử lý bằng Sunfat đồng (3kg/1000m 2). Biện pháp hóa học:

Bệnh héo xanh do vi khuẩn (Pseudomonas solanaceaerum):

Nguyên nhân: Đất bị nhiễm khuẩn héo xanh hoặc do giống kháng bệnh héo xanh kém, vi khuẩn phát triển mạnh ở nhiệt độ 30-35 0 C, tồn tại rất lâu trong đất và lan truyền qua hạt giống, cây bệnh và dụng cụ lao động. Triệu chứng điển hình là cây đang phát triển tốt nhưng vào giữa trưa nắng có một số cây bị héo rũ, đến chiều lại hồi phục, hiện tượng này diễn ra trong một thời gian ngắn sau đó cây héo luôn. Khi cắt đoạn thân gần gốc đặt vào ly nước sẽ thấy dịch trắng loang ra, đó chính là dịch vi khuẩn. Khi bệnh xuất hiện cần nhổ bỏ cây bệnh đem tiêu hủy xa nơi trồng. Trước khi trồng ớt nên tiến hành khử đất thật kỹ để giảm hiện tượng cây héo xanh do vi khuẩn.

– Biện pháp phòng trừ: Sử dụng hạt giống sạch bệnh; Sử dụng đất sạch bệnh làm bầu ươm cây. Việc tỉa cành bấm ngọn chú ý dụng cụ như dao, kéo cần phải khử trùng liên tục nếu trên ruộng đã xuất hiện bệnh. Sử dụng nguồn nước tưới không bị nhiễm bởi những tàn dư cây bệnh. Vườn trồng ớt phải bằng phẳng, hạn chế vi khuẩn sẽ lây lan theo dòng nước trong đất. Thường đất pha cát, nghèo dinh dưỡng bị bệnh nặng hơn các chân đất khác. Tăng cường nguồn phân hữu cơ cho cây khỏe để tăng khả năng chống chịu bệnh của cây. Không trồng ớt trên đất đã bị nhiễm bệnh nặng, đảm bảo chế độ luân canh tuyệt đối ít nhất 3-5 vụ với các cây trồng khác không cùng họ với ớt.

– Biện pháp hóa học: Sử dụng các hoạt chất sau: Fugous Proteoglycans (Elcarin 0.5SL); Streptomyces lydicus WYEC 108 (Actinovate 1 SP); Streptomyces lydicus WYEC 108 + Fe + Humic acid ( Actino – Iron 1.3 SP);

Là bệnh hại tương đối nặng đối với các vùng trồng ớt. Do đó trước khi trồng ớt nên luân canh tuyệt đối với các loại cây không cùng họ cà. Tiêu diệt môi giới truyền bệnh là rệp, bọ trĩ, nhện đỏ,…trên vườn, nhổ bỏ và tiêu hủy kịp thời những cây bệnh để không cho bệnh lây lan.

Ngoài ra còn gặp một số bệnh như: Sương mai ( Phytophthora infestans), Bệnh thối xốp vi khuẩn ( Erwinia spp...), Đốm lá vi khuẩn ( Xanthomonas campestris), Thối đen ( Botrytis spp.) v.v..

* Ghi chú: Thực hiện biện pháp phòng trừ tổng hợp đạt kết quả cao hơn sử dụng đơn lẻ phương pháp hóa học. Chỉ sử dụng các loại thuốc BVTV trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng trên rau tại Việt Nam.

V. Phòng trừ dịch hại tổng hợp

Áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM

Biện pháp canh tác kỹ thuật: Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, cắt tỉa các lá già vàng úa tiêu hủy, luân canh cây trồng khác họ, chọn giống khỏe, sức đề kháng sâu bệnh tốt, giống có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Bón phân cân đối và hợp lý, tăng cường sử dụng phân hữu cơ sinh học, vi sinh. Chăm sóc theo yêu cầu sinh lý của cây (tạo cây khỏe). Kiểm tra đồng ruộng phát hiện và kịp thời có biện pháp quản lý thích hợp đối với sâu, bệnh

– Thực hiện ghi chép nhật ký đồng ruộng

Biện pháp sinh học: Sử dụng các chế phẩm sinh học trừ sâu bệnh.

– Hạn chế sử dụng các loại thuốc hóa học có độ độc cao để bảo vệ các loài ong ký sinh của ruồi đục lá, các loài thiên địch bắt mồi như nhện, bọ đuôi kìm… 3. Biện pháp vật lý:

– Sử dụng bẫy màu vàng, bôi các chất bám dính: dùng nhựa thông (Colophan) nấu trộn với nhớt xe theo tỉ lệ 4/6,bẫy Pheromone dẫn dụ côn trùng

– Có thể sử dụng lưới ruồi cao từ 1,5 -1,8 m che chắn xung quanh vườn hạn chế ruồi đục lá, sâu, côn trùng gây hại bay từ vườn khác sang

– Dùng bẫy cào đuổi bắt ruồi vào buổi sáng sớm

Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc phải cân nhắc kỹ theo nguyên tắc 4 đúng (đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng, đúng thuốc) và nhớ đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc trước khi dùng. Phun khi bệnh chớm xuất hiện

– Chỉ sử dụng thuốc BVTV khi thật cần thiết và theo các yêu cầu sau:

+ Sử dụng các loại thuốc BVTV trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng trên rau tại Việt Nam.

+ Chọn các thuốc có hàm lượng hoạt chất thấp, ít độc hại với thiên địch, các động vật khác và con người

+ Ưu tiên sử dụng các thuốc sinh học (thuốc vi sinh và thảo mộc)

VI. Thu hoạch, phân loại và xử lý bảo quản sau thu hoạch:

Sau trồng khoảng 3 tháng cho thu hoạch quả lần đầu tiên, khi trái đạt kích thước tối đa, màu sắc chuyển từ màu xanh sang vàng hay đỏ được hơn hai phần trái thì có thể thu hoạch. Ớt cho thu hoạch liên tục 5-6 tháng. Khi thu tránh để trầy xước sẽ làm hỏng và mất phẩm chất của trái.

Thu hoạch tiến hành sau khi ớt đã được cách ly thuốc bảo vệ thực vật, tùy từng loại thuốc có thể từ 7-10 ngày hoặc theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

– Sản phẩm thu hoạch không bị dính đất, cát, đưa vào két nhựa hoặc giỏ tre theo yêu cầu khách hàng.