Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Ngô

Ngô (Zea mays L., thuộc họ hòa thảo Gramineae) là cây trồng quan trọng đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu, được trồng để làm thức ăn cho người và gia súc.

Ở nước ta cây lương thực chính sau cây lúa là cây ngô, ngô được xem là nguồn lương thực chủ yếu, là nguyên liệu chính để chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.

Cùng với xu hướng phát triển chung của ngành Nông nghiệp gần đây, cây ngô cũng được đầu tư phát triển theo. Thực tế, tình hình sản xuất và phát triển cây ngô thời gian qua trong cả nước luôn tăng cả về diện tích và sản lượng. Để trồng cây Ngô đạt năng suất cao Công ty CP phân bón Nhật Long Thanh Hóa chúng tôi đưa ra quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Ngô như sau:

Đạm: Là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng nhất, đóng vai trò tạo năng suất và chất lượng. Đạm được tích luỹ trong hạt 66%. Cây ngô hút đạm tăng dần từ khi cây có 3 – 4 lá tới trước trổ cờ. thời kỳ hút đạm mạnh nhất là 6 – 12 lá và trước khi trổ cờ, nếu các giai đoạn này mà thiếu đạm thì năng suất giảm rõ rệt.

Triệu chứng thiếu đạm: Cây thấp, lá nhỏ có màu vàng, các lá già có vệt xém đỏ, cây sinh trưởng chậm, cằn cỗi, cờ ít, bắp nhỏ, năng suất thấp.

Lân: Là yếu tố quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển của cây, tuy nhiên khả năng hút lân ở giai đoạn cây non lại rất yếu. Thời kỳ 3 – 4 lá, cây ngô hút không được nhiều lân, đó là thời kỳ khủng hoảng lân của ngô, nếu thiếu lân trong giai đoạn này sẽ làm giảm năng suất nghiêm trọng. Cây ngô hút nhiều lân nhất (khoảng 62% tổng lượng lân yêu cầu) ở thời kỳ 6 – 12 lá sau đó giảm đi ở các thời kỳ sau.

Triệu chứng thiếu lân: Cây ngô biểu hiện bằng màu huyết dụ trên bẹ lá và gốc cây, bắp cong queo. Trường hợp thiếu nắng lá sẽ chuyển vàng và chết.

Kali: Có vai trò rất quan trọng tới sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của ngô. Kali tích luỹ nhiều ở thân lá (khoảng 80%) và tích luỹ trong hạt ít hơn. Cây ngô hút kali mạnh ngay từ giai đoạn sinh trưởng ban đầu. Từ khi cây mọc tới trổ cờ ngô đã hút khoảng 70% lượng kali cây cần.

Thiếu kali các chất prôtit và sắt sẽ tích tụ gây cản trở quá trình vận chuyển chất hữu cơ. Thiếu kali là nguyên nhân rễ ngang phát triển mạnh, rễ ăn sâu kém phát triển do đó cây dễ đổ ngã. Thiếu kali thể hiện ở các triệu chứng như chuyển nâu và khô dọc theo mép lá và chóp lá, bắp nhỏ, nhiều hạt lép ở đầu bắp (bắp đuôi chuột), năng suất thấp.

Các giai đoạn sinh trưởng

Thời kỳ hạt nảy mầm: Bắt đầu từ khi hạt hút nước đến khi hạt nảy mầm.

Nước hạt phải hút ít nhất 45% nước so với khối lượng khô của hạt, độ ẩm đất 60 – 70% độ ẩm tối đa đồng ruộng. Đất khô cần làm đất giữ ẩm, đất quá ướt phải làm đất tiêu nước

Nhiệt độ tối thiểu 10 – 12 0C, nhiệt độ thích hợp 28-30 0 C. Đất phải tơi xốp, thoáng khí

Sau khi mầm ngoi lên khỏi mặt đất, lá đầu tiên suất hiện rất nhanh. Trong điều kiện thuận lợi chỉ 5 – 7 ngày sau gieo xuất hiện 3 lá thật.

Độ ẩm đất 60 – 70%

Nhiệt độ 20 – 30 0 C. Đất phải thoáng khí, tơi xốp

Bắt đầu từ khi cây có 3 – 4 lá đến 7 – 9 lá, khoảng 10 – 40 ngày sau khi gieo

Độ ẩm đất: Giai đoạn này cây có khả năng chịu hạn tốt, độ ẩm đất thích hợp 60 – 65%. Nhiệt độ thích hợp 20 – 30 0C nhiệt độ tốt nhất 25 – 28 0 C

Đất tơi xốp, thoáng để hệ rễ phát triển, đầy đủ dinh dưỡng để cung cấp cho quá trình tạo cơ quan sinh dưỡng và bông cờ

Thân lá phát triển mạnh, cây lớn vọt nhất từ 15 – 20 ngày trước trỗ cờ.

Phải đầy đủ dinh dưỡng, độ ẩm đất 70 – 80%, nhiệt độ thích hợp 24 – 25 0 C

( nhiệt độ cao hay thấp có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phatts triển của cây ngô)

Diễn ra trong 10 – 15 ngày, đây là thời kỳ quyết định tới năng suất

Nhiệt độ thích hợp 22 – 25 0 C. nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao phấn sẽ bị chết

Thời gian hoàn thành giai đoạn này từ 35 – 40 ngày. Chất dinh dưỡng tập trung từ thân lá vào hạt. nhiệt độ trong khoảng 20 – 22 0 C. Độ ẩm 60 – 70%

Vụ ngô xuân: gieo từ 15/1 đến 15/2.

Vụ hè thu: tháng 5 – 6.

Vụ đông gieo: 15/9 đến 15/10.

Ngô có thể trồng được trên nhiều chân đất khác nhau, song phù hợp cho ngô sinh trưởng và phát triển là đất có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình: Đất thịt nhẹ đến đất trung bình, đất phù sa ven sông, đất cát pha, đất bồi ven sông , đất đỏ ba gian….Đất có tầng canh tác từ 30- 40 cm không bị kết von đá ong, thoát nước tốt, độ pH = 6,5 – 7,5.

Đất được cày bừa nhỏ, sạch cỏ. Nếu đất 2 vụ lúa, trồng thêm ngô vụ đông, cần lên luống rộng 1- 1,1m, cao 30- 40 cm, rãnh luống rộng 0,3 – 0,4m. Nếu đất màu thoát nước tốt có thể làm vạt hoặc làm đất bằng.

3.3.1. Mật độ và khoảng cách gieo

Dựa vào đặc điểm hình thái của giống, thời gian sinh trưởng, tính chất đất, trình độ thâm canh, mục đích thu hoạch… Mật độ khoảng cách ngô gieo lấy hạt thường trồng trong sản xuất như sau:

Nhóm giống ngắn ngày có mật độ 70.000 – 80.000 cây/ha.

Gieo với khoảng cách 70 x 20 hoặc 50 x 25 cm/cây.

Nhóm giống trung ngày: 60.000 – 70.000 cây/ha

Gieo với khoảng cách 70 x 25 cm/cây hoặc 70 x 22 cm/cây

Nhóm giống dài ngày: 50.000 – 60.000 cây/ha

Gieo với khoảng cách 80 x 25 cm/cây hoặc 70 x 25 cm/cây

3.3.2. Chuẩn bị hạt giống và cách gieo

Hạt giống trước khi ngâm cần phơi lại dưới nắng nhẹ, để hạt hút nước nhanh và kích thích phôi mầm hoạt động. Hạt có tỷ lệ nảy mầm trên 95,5% thì 1 ha cần khoảng 15 – 20 kg giống.

Ngâm ủ: Nếu gieo ngô trên đất đủ ẩm cần ngâm hạt 10- 12h (riêng đối với ngô đường và các giống ngô có hạt dạng nhũ bột ngâm khoảng 4 – 5h) cho hạt hút no nước. Nếu nhiệt độ cao, trời ấm cần thay nước tránh hạt bị chua. Sau đó ủ cho hạt nứt nanh, rồi đem gieo.

Nếu đất khô không nên ngâm mà gieo theo hàng, theo hốc khoảng cách 20 x 30 cm/cây. Lấp hạt sâu 3 – 7cm tuỳ theo độ ẩm đất và thời tiết. Nên gieo tuần tự “2 hạt- 1 hạt” đối với giống có tỷ lệ nảy mầm thấp.

Ngô là cây trồng có khoảng cách rộng. Cách tưới là cho nước vào rãnh để ngấm dần các luống trong một ngày, nâng độ ẩm của đất lên 80 – 90% là vừa.

Lượng phân cho 1 sào

Cách bón lót: Bón theo hốc hay bón theo rạch sâu, rãi phân vùi đất lấp kín 2 – 3cm, sau đó tra hạt hoặc đặt bầu.

Lượng bón lót (Cho 1 sào 500m 2): Chuyên lót Cây Ngô 25kg/sào

Bón thúc lần 1: Bón thúc khi cây ngô có 4 – 5 lá thật

Sử dụng sản phẩm chuyên thúc cho cây ngô Lượng bón: từ 12 – 15 kg/ sào

Cách bón: bón cách gốc 5 – 7cm kết hợp xới xáo, vun cao luống sau khi bón phân phải lấp đất lại. Nếu đất khô có thể hòa nước tưới.

Bón thúc lần 2: Bón khi cây 7 – 9 lá thật

Sử dụng sản phẩm chuyên thúc cho cây ngô Lượng bón: từ 10 – 12 kg/ sào

Cách bón: Bón cách gốc 10 – 15cm kết hợp xới xáo vun cao luống.

Dặm cây trường hợp ruộng ngô bị mất khoảng: Dùng bầu trồng dặm khi ngô 2 – 3 lá để đảm bảo mật độ.

– Tỉa định cây lúc cây ngô 3 – 5 lá và ổn định mật độ khi ngô 6 – 7 lá.

– Đất khô hạn nếu có điều kiện nên tưới nước để ngô phát triển tốt cho năng suất cao ở các thời kỳ quan trọng như:

+ Thời kỳ cây 7 – 9 lá sau khi bón phân 2 – 3 ngày tưới ngập 1/3 luống.

+ Thời kỳ trước trổ cờ 10 – 15 ngày tưới ngập 2/3 luống thấm đều rồi rút cạn.

+ Thời kỳ: Khi ngô đã héo râu tưới ngập 1/3 luống rồi rút cạn.

Nếu trời mưa to làm cho đất ướt thì cần tháo khô nước, xới xáo để ngô không bị úng nước, nhất là thời kỳ cây con.

Lưu ý: Giai đoạn ngô 5 – 6 lá, 7 – 9 lá, 11 – 12 lá và xoáy nõn loa kèn là giai đoạn dễ bị khủng hoảng dinh dưỡng, vì vậy cần chú ý cung cấp đủ dinh dưỡng để ngô sinh trưởng phát triển tốt.

Nước tưới: Cây ngô rất cần nước nhưng không chịu được ngập úng, đặc biệt giai đoạn cây con.

Từ khi ngô xoáy nõn loa kèn đến khi trỗ cờ phun râu xong rất cần nước nên giữ nước đáy rãnh để duy trì lượng nước cần thiết cho ngô.

4.1. Sâu hại

Sâu hại thời kỳ cây con gồm có sâu keo, sâu xám… cắn phá cây con thì dùng Vibasu 10H, Diazan 10H rải gần gốc cây, liều lượng 1kg/sào.

Đối với sâu đục thân hại ngô là đối tượng nguy hiểm nhất đối với nghề trồng ngô. Dùng thuốc Vibasu 10H hoặc Diazan 10H rơi vào loa kèn 8 – 10 hạt vào thời điểm sau khi gieo 20, 30, 40 ngày.

Đối với sâu đục bắp, sâu phá hại trên râu. Dùng thuốc Basudin50N, Regent 800WG, Tango 800WG … phun khi thấy sâu xuất hiện (Liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì).

4.2. Bệnh hại

Để hạn chế bệnh hại cây ngô cần bón phân đầy đủ cân đối, khi xuất hiện bệnh hai có thể dùng thuốc BVTV: Đối với các bệnh khô vằn, bệnh đốm lá, bệnh thối cổ rễ có thể dùng các loại thuốc Anvil 5SC, Validacin3EC pha nồng độ 1/500, Tilt super liều lượng 15cc/bình 16 lít. Phun đẫm lên toàn bộ diện tích bị bệnh.

Thời kỳ thu hoạch: Khi ngô đã chín hoàn toàn mới thu hoạch. bằng việc quan sát hạt ngô ở đầu trái và cuối trái. Khi lá bao trái đã khô, hạt cứng, lãy thử hạt,nếu ở chân các hạt này có lớp màu đen là hạt đủ chín để thu hoạch. Nếu trồng ngô lấy thân lá thì thu hoạch lúc chín sữa

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cây Ngô Lai

QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG NGÔ LAI

1. Phạm vi áp dụng

Các tỉnh miền Nam.

2. Yêu cầu về đất trồng và giống 2.1. Đất trồng

Đất trồng ngô phải cao ráo và thoát nước tốt trong mùa mưa (vụ Hè Thu và Thu Đông), có khả năng tưới đủ ẩm trong mùa khô (vụ Đông Xuân). Đất nên được trồng luân xen canh với các loại cây trồng khác, tốt nhất là luân và xen canh với cây họ đậu (đậu xanh, đậu tương và đậu phộng).

Đất trồng cần được dọn sạch tàn dư thực vật và cỏ dại của vụ trước, vì nó là môi trường thuận lợi cho các loại nấm bệnh tồn tại và phát triển trong vụ tới.

2.2. Giống

Chọn các giống ngô lai F1 được khuyến cáo phù hợp với điều kiện sinh thái tại địa phương, có năng suất cao, chống chịu sâu, bệnh hại tốt.

Trong những năm gần đây, thời tiết diễn biến bất thường hay bị hạn giữa vụ, vụ Thu Đông mưa thường kết thúc sớm gây hạn cuối vụ. Do vậy nên lựa chọn nhóm giống ngô lai F1 có thời gian sinh trưởng ngắn (dưới 98 ngày) và chống chịu hạn tốt.

3. Kỹ thuật canh tác 3.1. Thời vụ

Tùy từng vùng, điều kiện thời tiết khí hậu từng năm mà xác định thời điểm gieo hạt thích hợp. Thường vụ Hè Thu ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên gieo vào tháng 4-5 dương lịch, vụ Thu Đông gieo vào tháng 8-9 dương lịch hàng năm.

3.2. Làm đất

Vụ Hè Thu cần được cày, bừa hoặc phay cho tơi xốp và thoáng khí nhằm tạo điều kiện cho hạt nảy mầm và cây con sinh trưởng phát triển nhanh. Vụ Thu Đông có thể áp dụng phương áp làm đất tối thiểu hoặc không làm đất .

Phân lô, rạch hàng, làm mương tưới hoặc tiêu nước để thoát úng. Ruộng cần được phân lô tùy theo địa hình và diện tích nhằm dễ chăm sóc và đi lại, ruộng cần được rạch hàng trước khi gieo. Tùy theo địa hình mà chọn hướng rạch hàng, nên chọn hướng Đông – Tây. Vụ Hè Thu và Thu Đông trồng thưa, vụ Đông xuân trồng dày hơn.

3.3. Gieo trồng

+ Lượng hạt giống cho 1ha : 16-17 kg cho vụ Hè Thu và Thu Đông; 20 kg cho vụ Đông Xuân.

+ Mật độ vụ Hè thu và Thu Đông : 66.000 – 71.000cây/ha

– Khoảng cách giữa các hàng : 50 – 60 cm

– Khoảng cách giữa các hốc : 25 – 30 cm/1cây

+ Vụ Đông Xuân trồng mật độ : 80.000- 90.000 cây/ha

– Khoảng cách trồng (1) : 50 x 25 cm/1 cây (80.000 cây/ha)

– Khoảng cách trồng (2) : 50 x 22 cm/1 cây (90.000 cây/ha)

3.4 Dặm và tỉa cây

Trồng dặm và tỉa định cây: Trồng dặm bằng cách làm bầu đất hoặc ngâm ủ cho hạt nứt mầm và dặm sớm ngay sau 6-8 ngày sau gieo. Việc tỉa định cây khi gieo mật độ dày cần phải tỉa ngay sau mọc 10- 12 ngày.

3.5. Phân bón (ha)

+ Phân chuồng: 8-10 m3 (8-10 tấn) hoặc 2 tấn phân hữu cơ vi sinh.

+ Vôi bột : 300-500 kg

+ Phân vô cơ : 180 – 210 kg N+ 80 kg P2O5 + 80 – 100 kg K2O/ha.

Tương đương :

– Urê : 320 – 450 kg;

– Super lân: 500 kg (hoặc 150- 200 kg DAP);

– Kali (KCl) : 130- 170 kg;

Hoặc bón từ 600 -900 kg phân hỗn hợp NPK 16-16-8-13S

3.6. Cách bón phân:

+ Bón lót: Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân, hoặc DAP. Nếu sử dụng phân NPK thì bón 200 kg/ha trước khi gieo hạt (trộn đều với đất trong rảnh). Tránh tình trạng khi gieo, hạt tiếp xúc với phân làm hư thối hạt giống.

+ Bón thúc: Chia làm 3 lần

– Lần 1: Giai đoạn 3 – 4 lá (10 – 12 ngày sau gieo) bón 1/3 Urê hoặc 200-300 kg NPK 16-16-8, kết hợp với làm cỏ phá váng cho ruộng ngô.

– Lần 2: Giai đoạn 8 -10 lá (24-26 NSG) bón 1/3 Urê + 1/2 Kali kết hợp làm cỏ vun gốc.

– Lần 3: Giai đoạn trước trổ cờ (45 – 50 NSG) bón 1/3 Urê + 1/2 Kali còn lại.

3.7. Làm cỏ

+ Làm cỏ bằng tay: – Làm cỏ lần 1 vào giai đoạn 10- 12 ngày sau gieo, xới xáo, vun gốc nhẹ kết hợp bón và lấp phân lần 1;

– Làm cỏ lần 2: vào giai đoạn 24-26 ngày sau gieo kết hợp làm cỏ vun gốc và lấp phân bón bón thúc lần 2;

– Làm cỏ lần 3: vào giai đoạn 50-60 ngày, khi ruộng ngô có nhiều cỏ, có thể nhổ bằng tay hoặc cuốc, tránh làm tổn thương rễ ngô.

+ Sử dụng thuốc hóa học: Ngay sau khi gieo, đất đủ ẩm dùng Dual 72 EC; Maizin 80WP liều lượng 1,5 – 2 kg, pha với 400 lít nước phun cho 1 ha. (lưu ý: lấp hạt giống kỹ).

+ Sử dụng thuốc hóa học lần thứ 2 khi ngô được 45-60 ngày sau gieo, dùng thuốc Gamaxol, xịt theo hàng, tránh thuốc dính vào gốc, lá ngô.

3.8. Che tủ: Có tác dụng hạn chế rửa trôi, xói mòn đất, giữ ẩm cho đất, hạn chế cỏ dại, cung cấp chất hữu cơ cho đất, cải tạo và làm đất tơi xốp hơn, làm tăng năng suất cây trồng từ 25- 35% so với không tủ. Các loại vật liệu che tủ cho ruộng ngô: tận dụng rơm rạ, cỏ khô, thân cây ngô đã thu hoạch, vỏ trái cà phê…

3.9. Tưới và tiêu nước

+ Tưới nước: nếu đất không đủ ẩm cần phải tưới nước, có thể tưới theo hàng, tưới rảnh hoặc tưới phun mưa. Có 3 giai đoạn cần thiết phải tưới: sau khi gieo hạt, trước và sau khi trổ cờ 15 ngày.

+ Tiêu nước: Cây ngô rất cần nước nhưng rất sợ úng. Do vậy cần tiêu thoát nước tốt, nhất thiết không để bị ngập úng.

3.10. Phòng trừ sâu bệnh 3.10.1 Sâu hại:

Xử lý đất bằng Vibasu hoặc Furadan 3H để trừ sâu xám, côn trùng gây hại hạt và cây con. Phòng trừ sâu đục thân bằng cách rắc Furadan hoặc Vibasu lên loa kèn (lá ngọn) cây ngô từ 4 – 6 hạt giai đoạn 30 – 40 ngày sau gieo.

3.10.2 Bệnh hại:

Phòng trừ các bệnh khô vằn, cháy lá và thối gốc bằng các loại thuốc Validacin, Anvil hoặc New Kasuran BTN ở giai đoạn sau gieo từ 20- 45 ngày.

4. Luân xen canh

Trồng ngô luân xen với các loại đậu như: đậu tương, đậu xanh và lạc. Trồng 2 hàng ngô xen với 6-8 hàng đậu.

5. Thu hoạch và bảo quản

Thu hoạch khi trái trên ruộng đã chín hoàn toàn, ẩm độ hạt 28-32% (vỏ bi từ vàng chuyển sang khô). Ủ trái thành từng đống lớn 2-3 ngày, dùng máy đánh tách hạt. Phơi hoặc sấy đến khi ẩm độ hạt còn 14-15% .

Bảo quản: Sau khi phơi, sấy, hạt đã khô ẩm độ còn 14-15%. Nếu bảo quản để lâu cần tồn trữ trong lu, bao kín hoặc kho kín có xử lý thuốc trừ mọt.

– Bón lót phân chuồng, phân lân hoặc DAP rất cần thiết, nhất là ở vụ Thu Đông; Không nên trồng ngô trên đất úng và có nguy cơ ngập nước trong mùa mưa. cần thoát úng, lên liếp và bón thêm vôi, lân đối với những chân đất thấp, đất phèn.

– Hạt giống ngô lai đã được tẩm thuốc chống sâu mọt và phòng chống bệnh, do vậy tuyệt đối không dùng hạt giống làm thức ăn cho người và gia súc, cần cất giữ cẩn thận, tránh xa tầm với của trẻ em.

– Không lấy hạt ngô đã thu hoạch trên đồng ruộng làm giống. Làm như thế không những năng suất hạt giảm (năng suất giảm 30-50% so với giống lai F1) mà độ đồng đều của cây, trái sẽ rất thấp.

Hướng Dẫn Quy Trình Trồng Và Bón Phân Cho Cây Ngô

QUY TRÌNH KỸ THUẬT THÂM CANH CÂY NGÔ TIẾN NÔNG 2024-2024

Ngô (Zea mays L., thuốc họ hòa thảo Gramineae) là cây trồng quan trọng đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu, được trồng để làm thức ăn cho người và gia súc. Ở nước ta cây lương thực sau cây lúa là cây ngô, ngô được xem là nguồn lương thực chủ yếu cho một số bộ phận đồng bào dân tộc sống ở vùng cao và là nguyên liệu chính để chế biến thức ăn gia súc, gia cầm. Cùng với xu hướng phát triển chung của ngành Nông nghiệp gần đây, cây ngô cũng được đầu tư phát triển theo. Thực tế, tình hình sản xuất và phát triển cây ngô thời gian qua trong cả nước luôn tăng cả về diện tích và sản lượng.

Thuộc loại cây C4 nên cây ngô sử dụng nước hiệu quả hơn nhiều các loại cây khác. Ví dụ: Để sản xuất ra 1 kg lúa gạo cần 1000-1300 lít nước, để sản xuất 1 kg ngô chỉ cần 700-900 lít nước. Nhu cầu nước của cây được thể hiện qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau của cây. Ở thời kỳ đầu sinh trưởng cây ngô cần ít nước, sau đó tăng dần đạt cực đại vào thời kỳ trỗ cờ và nhu cầu nước giảm dần đến khi chín sinh lý.

Ánh sáng là một yếu tố quan trọng cho sinh trưởng và phát triển của cây ngô, nó tham gia vào quá trình quang hợp, tổng hợp chất khô để sinh trưởng và tích luỹ. Do vậy, ánh sáng có ảnh hưởng đến độ dài quá trình sinh trưởng.

Với điều kiện khí hậu Việt Nam, vụ trồng ngô càng có nhiều bức xạ càng có lợi cho cây sinh trưởng và tạo năng suất. Tuy nhiên, do nhanh đạt tổng tích ôn, số giờ chiếu sáng trong ngày ngắn. Do vậy, cần chọn giống và thời vụ gieo trồng làm sao để cây ngô nhận được ánh sáng nhiều nhất trong vụ.

Cây ngô có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như: đất đồi, đất bãi ven sông, đất chuyên màu và đất hai vụ lúa. Tuy nhiên, thích hợp nhất là đất có thành phần cơ giới nhẹ, độ màu mỡ cao, dễ thoát nước, tầng canh tác dày, đất nhiều mùn và có phản ứng trung tính (pH: 6,0-7,0)

2. Làm đất:

Ngô thuộc loại cây trồng có khả năng sinh trưởng và phát triển mạnh, sinh khôi cao. Do vậy, để tránh hiện tượng đổ ngã gây thiệt hại năng suất về sau, đất cần được cày, bừa kỹ (nên cày sâu 20-25 cm) và phay nhỏ để tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển mạnh, tăng khả năng chống đổ, ngã cho cây. Là cây trồng ít chịu úng do vậy ở vụ mùa, thời tiết mưa nhiều đất trồng ngô cần được xẻ rãnh thoát nước hoặc lên luống cao để hạn chế hiện tượng ngập úng. Vụ đông, để lợi dụng tốt được khoảng thời tiết thuận lợi và chủ động thời gian cho vụ sau, trên đất hai lúa nên sử dụng phương pháp gieo ngô bầu, ngô bánh, làm đất tối thiểu, lên băng, luống để thoát nước và chống úng cho ngô giai đoạn đầu vụ.

Làm đất, lên luống, bón phân, gieo hạt 3. Chọn giống:

Hiện nay, trên thị trường Việt Nam có rất nhiều giống ngô có tiềm năng năng suất cao từ (7-12 tấn/ha) và một số giống ngô chuyển gen có khả năng kháng sâu, kháng thuốc trừ cỏ thích hợp cho sản xuất thâm canh tăng năng suất và tăng hiệu quả kinh tế. Căn cứ mùa vụ, chất đất và mức đầu tư mà chọn giống cho phù hợp theo nguyên tắc: Mùa vụ có nền nhiệt cao chọn giống trung và dài ngày, mùa vụ có nền nhiệt thấp chon giống ngắn ngày; Đất tốt, có điều kiện thâm canh chọn giống có tiềm năng năng suất cao và ngược lại.

4. Gieo trồng ngô:

Lượng giống gieo trồng từ 15 – 20kg/ha (tùy giống và mật độ trồng), dự phòng một số hạt gieo vào bầu để trồng dặm.

– Mật độ gieo trồng phổ biến hiện nay từ 5,7- 7,1vạn cây/ha.

– Khoảng cách có thể bố trí: hàng cách hàng 70cm, cây cách cây 20 – 25cm (gieo 1 hạt), hoặc hàng cách hàng 60cm, cây cách cây 25- 30cm (gieo 1 hạt).

5. Bón phân cho ngô:

Thực tế kết quả điều tra cho thấy năng suất ngô hiện vẫn chưa tương xứng với tiềm năng năng suất của vùng và của giống. Nguyên nhân một phần do sử dụng phân bón cho cây ngô chưa cân đối thừa đạm thiếu kali và các chất trung vi lượng.

Bình quân năng suất 6 tấn hạt/ha, cây ngô đã lấy đi từ đất lượng dinh dưỡng đáng kể: 150kg N, 60kg P 2O 5, 110 kg K 2O, 16kg MgO, 25kg CaO , 8kg S, 16kg SiO 2, 0,5kg Zn… trong thực tiễn việc cung cấp dinh dưỡng cho ngô thông qua phân bón còn nhiều hạn chế, thông thường chỉ đạt 60-80% tùy từng yếu tố và đặc biệt là các nguyên tố trung và vi lượng còn chưa được quan tâm. Là loại cây trồng phàm ăn, chính vì vậy nếu trồng độc canh ngô liên tục nhiều năm đất trồng sẽ bị giảm độ phì rất đáng kể (độ pH đất giảm, nghèo mùn và mất cân bằng dinh dưỡng).

Để góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Công ty cổ phần công nông nghiệp Tiến Nông khuyến cáo gói giải pháp “Đồng bộ Dinh dưỡng chuyên dùng Tiến Nông cho cây ngô”: Cải tạo độ chua và độ phì đất bằng chất điều hòa pH đất Tiến Nông, cung cấp dinh dưỡng cho cây bằng bộ sản phẩm dinh dưỡng chuyên dùng Cây ngô “NPKSi Cây ngô chuyên lót” và “NPKSi Cây ngô chuyên thúc” nhằm cung cấp đầy đủ, cân đối dinh dưỡng cho cây giúp tăng năng suất và tăng chất lượng nông sản góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất.

5.1. Cải tạo pH và độ phì đất

Kiểm tra pH của đất trước khi bón phân, căn cứ vào độ chua của đất để bón chất điều hòa pH đất tạo môi trường thuận lợi cho bộ rễ cây trồng phát triển tốt, nâng cao năng lực hấp thu dinh dưỡng khoáng và nước cho cây.

Nhìn chung đất trồng ngô hiện nay có phản ứng chua (pH từ 4,5-5,5) và nghèo mùn do vậy trước khi trồng nên cải tạo độ chua và cải thiện hàm lượng mùn cho đất bằng Chất điều hòa pH đất Tiên Nông, kết hợp bón phân chuồng hoai mục hoặc dinh dưỡng Hữu cơ khoáng Vinagreen.

+ Đối với đất pH< 5: Lượng dùng 750kg/ha; 35kg/sào 500 m 2; 25 kg/sào 360 m 2

– Phân hữu cơ hoai mục: 8-10 tấn/ha; 400-500 kg/sào 500 m 2; 300-350 kg/sào 360 m 2 (hoặc thay thế bằng Hữu cơ khoáng Vinagreen: 750-1000 kg/ha; 40-50 kg/sào 500 m 2; 30-35 kg/sào 360 m 2).

Cách bón: rải đều chất điều hòa pH đất Tiến Nông trên mặt luống, sau đó tiến hành cuốc hốc hoặc rạch hàng bón phân chuồng, hoặc dinh dưỡng hữu cơ khoáng Vinagreen.

5.2. Cung cấp dinh dưỡng cho cây bằng sản phẩm chuyên dùng

Bón lót: Sử dụng dinh dưỡng cây trồng Tiến Nông NPKSi: 5-10-3-3, Lượng dùng 500-600kg/ha; 25-30 kg/sào 500 m 2; 18-22 kg/sào 360 m 2 : Bón lót theo 2 cách:

Bón theo hàng hoặc theo hốc: Đất trồng sau khi lên luống, rải chất điều hòa pH đất và bón phân chuồng tiến hành bón bổ sung dinh dưỡng cây trồng Tiến Nông NPKSi: 5-10-3-3 xuống đáy rãnh trồng hoặc hốc trồng, lấp nhẹ một lớp đất bột trước khi tra hạt (cây con).

Bón thúc: Khi ngô đạt 2-3 lá sử dụng đạm vàng bón vào đất đối với đất đủ ẩm, hoặc hòa vào nước tưới nhử cho ngô đối với đất khô, đất chủ động tưới tiêu. Lượng dùng 40-60kg/ha; 2-3kg/sào 500 m 2; 1,5- 2,0 kg/sào 360 m 2.

– Bón thúc 1: Khi ngô đạt 4-5 lá, sử dụng dinh dưỡng chuyên dùng ” NPKS Cây ngô – Chuyên thúc” rải cách gốc 5-10 cm, kết hợp vun lấp nhẹ. Lượng dùng 300-400kg/ha (15-20kg/sào 500 m 2 hoặc 11-15 kg/sào 360 m 2).

– Bón thúc 2: Khi ngô đạt 7-9 lá, sử dụng dinh dưỡng chuyên dùng ” NPKS Cây ngô – Chuyên thúc” rải cách gốc 10- 15 cm, kết hợp vun cao gốc (lưu ý tránh làm ảnh hưởng rễ ngô). Lượng dùng 400-500kg/ha (20-25kg/sào 500 m 2 hoặc 15-18 kg/sào 360 m 2).

6. Chăm sóc:

– Dặm cây trường hợp ruộng ngô bị mất khoảng : Dùng bầu trồng dặm khi ngô 2-3 lá để đảm bảo mật độ.

– Tỉa định cây lúc cây ngô 3- 5 lá và ổn định mật độ khi ngô 6-7 lá.

– Đất khô hạn nếu có điều kiện nên tưới nước để ngô phát triển tốt cho năng suất cao ở các thời kỳ quan trọng như:

+Thời kỳ cây 7-9 lá sau khi bón phân 2-3 ngày tưới ngập 1/3 luống.

+ Thời kỳ trước trổ cờ 10-15 ngày tưới ngập 2/3 luống thấm đều rồi rút cạn.

+ Thời kỳ: Khi ngô đã héo râu tưới ngập 1/3 luống rồi rút cạn.

– Nếu trời mưa to làm cho đất ướt thì cần tháo khô nước, xới xáo để ngô không bị úng nước, nhất là thời kỳ cây con.

7. Phòng trừ một số sâu bệnh thường gặp: 7.1. Sâu hại

Sâu hại thời kỳ cây con gồm có sâu keo, sâu xám… cắn phá cây con thì dùng Vibasu 10H, Diazan 10H rải gần gốc cây, liều lượng 1kg/sào. Đối với sâu đục thân hại ngô là đối tượng nguy hiểm nhất đối với nghề trồng ngô. Dùng thuốc Vibasu 10H hoặc Diazan 10H rơi vào loa kèn 8 – 10 hạt vào thời điểm sau khi gieo 20, 30, 40 ngày. Đối với sâu đục bắp, sâu phá hại trên râu. Dùng thuốc Basudin50N, Regent 800WG, Tango 800WG … phun khi thấy sâu xuất hiện (Liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì).

7.2. Bệnh hại

Để hạn chế bệnh hại cây ngô cần bón phân đầy đủ cân đối, khi xuất hiện bệnh hai có thể dùng thuốc BVTV: Đối với các bệnh khô vằn, bệnh đốm lá, bệnh thối cổ rễ có thể dùng các loại thuốc Anvil 5SC, Validacin3EC pha nồng độ 1/500, Tilt super liều lượng 15cc/bình 16 lít. Phun đẫm lên toàn bộ diện tích bị bệnh.

8. Thu hoạch:

Xác định thời điểm thu hoạch ngô bằng việc quan sát hạt ngô ở đầu trái và cuối trái. Khi lá bao trái đã khô, hạt cứng, lãy thử hạt,nếu ở chân các hạt này có lớp màu đen là hạt đủ chín để thu hoạch.

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Gấc

Thưa quý bà con, gấc là loài cây thân thảo, dây leo thuộc chi Mướp đắng. Quả gấc có nhiều vitamin và dưỡng chất rất tốt cho cơ thể. Các hãng dược phẩm ví trái gấc như là loại quả đến từ thiên đường và là thần dược cho sức khỏe của con người. Gấc có tác dụng phòng chống ung thư, giảm cholesterol, nâng cao hệ thống miễn dịch, chống lão hóa, tăng cường thị lực và làm đẹp da… Gấc còn góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con. Tuy nhiên, trồng gấc như thế nào lại là điều khá nhiều bà con chưa nắm rõ. Để giúp bà con hiểu hơn về quy trình trồng và chăm sóc cây gấc, chúng tôi xin giới thiệu đến bà con bài viết sau đây. Kính mời quý bà con quan tâm theo dõi!

Quy trình trồng bắp cải mang lại hiệu quả cao

Quy trình trồng và chăm sóc cây gấc

I. Yêu cầu và chuẩn bị đất trồng:

Gấc là cây không kén đất nhưng bà con nên chọn đất tốt để trồng. Đất không bị úng và thoát nước tốt khi mưa lớn.

– Đào hố trồng gấc: cần đào hố vuông với cạnh 1 – 1,2m và có độ sâu khoảng 40 – 60 cm. Nếu bà con trồng gấc với diện tích lớn thì khoảng cách giữa các hố từ 3 – 4 m, khoảng cách giữa các hàng là 4 – 5 m. Bà con cần để riêng lớp đất bề mặt cạnh hố đào. Không đào hố ngay cạnh gốc cây trồng khác, nếu trồng trên đất vườn tạp hoặc trồng xen canh, nên đào hố với khoảng cách từ 1,5m -2m so với gốc cây trồng khác…

Để đạt hiệu quả trong công việc khoan các hố đất trồng gấc, bà con có thể sử dụng máy khoan đất chạy xăng có giá đỡ do Công ty CPĐT Tuấn Tú cung cấp:

Máy khoan đất chạy xăng có giá đỡ 3A

– Quy trình xử lý hố và tiến hành bón lót : Bà con trộn phần lớp đất vừa đào với các loại phân bón sau (đối với 1 hố): 2 kg GV- hữu cơ vi sinh, 0,5 kg Gavi -Bio, 10 – 15kg phân chuồng hoai, 0,5 – 0,6 kg Super lân, 0,5 – 1 kg chế phẩm sinh học có chứa Trichoderma. (Cần thực hiện các công việc trên trước khi trồng khoảng 5 – 7 ngày)

Thiết kế giàn: Bà con có thể dựng giàn bằng các cây tạp, cột bê tông hoặc tre, nứa. Gác các cành tre ở bên trên hoặc đan bằng dây thép hay có thể dùng dây cước một sợi để đan thành lưới (kích thước mắt lưới khoảng 40cm x 40cm), căng lên giàn. Giàn được làm bằng lưới cước chi phí thấp và có thể giữ được khoảng 3-5 năm. Khoảng cách giữa mặt đất và mặt giàn bình quân là 2m, cần đảm bảo giàn không bi chùng khi cây leo lên hoặc khi gấc ra quả. (Giàn gấc phải hoàn tất sau 3 tuần từ khi trồng cây con).

II. Tiến hành trồng gấc

Bà con chuẩn bị hố ngay trước khi trồng: Dọn sạch cỏ dại, cây cối xung quanh hố. Xới nhẹ đất trong hố trồng một lần nữa. Sau đó cuốc 2 lỗ nhỏ giữa hố để đặt cây giống, khoảng cách giữa 2 lỗ trong cùng 1 hố tối thiểu là 35cm. Khi đã xử lý hố đất được 5- 7 ngày thì bà con tiến hành trồng cây con.

Cần lưu ý: Nếu bà con trồng cây giống thực sinh thì nên trồng 2 cây trong 1 hố, vì bà con cần theo dõi khi thu quả năm đầu tiên, cây nào ít quả, hoặc không ra quả, quả nhỏ hoặc sâu bệnh nặng thì cần cắt bỏ cây đó để cây còn lại phát triển tốt hơn. Đối với cây hom hoặc cây ghép thì trồng 1 đến 2 cây cho một hố. Năm đầu, thường tỷ lệ ra quả thấp, lượng quả chưa nhiều. Vì vậy, để tăng khả năng thụ phấn tự nhiên và sản lượng, bà con nên trồng 2 cây.

III. Tưới nước và chăm sóc

– Tưới nước: Đất trồng gấc cần có đủ độ ẩm, nhưng không được ngập úng, do vậy, cần phải tưới đủ nước và thoát nước tốt ở gốc cây. Ở giai đoạn này, cây cần khoảng 80 – 85% độ ẩm của đất. Cần tiến hành tưới nước khi thời tiết nắng nóng, phủ rơm rạ, bao nilon để giữ ẩm cho cây.

– Đào kênh thoát nước: Khi cây gấc bị ngập nước sẽ khiến cây bị úng và tạo điều kiện cho nhiều loại vi khuẩn, sâu bệnh tấn công, làm giảm năng suất nếu bị úng nhẹ và có thể làm chết cây nếu ngập úng kéo dài. Vì vậy, ở những nơi trũng, ngập nước vào mùa mưa thì cần đào kênh tiêu nước. Mỗi kênh có kích thước rộng 500mm, sâu 300mm để thoát nước dễ dàng khi trời có mưa lớn.

– Sau 7 ngày, bà con tiến hành phun men sinh học Gavi – TriBio 5% với liều lượng pha loãng 300 lần trên lá và dưới gốc.

IV. Sau khi trồng 15 -30 ngày.

– Bà con bắt ngọn leo lên giàn và thường xuyên bắt cho các ngọn phân tán đều giàn.

– Cần kiểm tra sâu, bệnh hại trên cây, nếu thấy có sâu bệnh thì cần phải phòng trừ. Trong quá trình theo dõi, nếu thấy dây gấc vươn dài, yếu, nhỏ, bị sâu ăn lá thì cần cắt bỏ để nhường dinh dưỡng cho dây khác.

– Khi cây con bắt đầu leo giàn ( khoảng từ tuần thứ 5 đến tuần thứ 7sau khi trồng), bà con tiến hành bón lót 0,3 – 0,5 kg Phân NPK(16-16-8) cho 1 hố. Cần phun thêm Gavi – TriBio 5% pha loãng 300 lần trong giai đoạn này giúp tăng cường sức đề kháng cho cây, và hạn chế sâu bệnh hại.

– Sau 2 tháng kể từ ngày trồng cần bón thêm 0,5 kg chế phẩm Gavi – Bio cho 1 hố để phòng trừ bệnh hại, tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng cho cây.

V. Bón thúc khi gấc đã phủ lên giàn

– Cách bón: Bà con đào rãnh rộng 10cm và sâu 10cm hoặc có thể cào nhẹ lớp đất mặt trên hố gấc sâu khoảng 5-10cm, rồi rải phân GV hữu cơ vi sinh: 3kg trộn với đất dưới rãnh. Sau đó bà con cuốc xới nhẹ, lấp phân vào hố và tiến hành tưới nước cho cây.

– Cần chủ động tưới nước giữ để ẩm cho cây, khi không có mưa cần đảm bảo độ ẩm của đất từ 70-80%.

– Cần có kế hoạch theo dõi sâu bệnh thường xuyên và phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, đồng thời kết hợp với phun Gavi – TriBio 5% để bảo vệ cây và quả trước sự tấn công của sâu bệnh….

VI. Gấc bắt đầu ra hoa, kết trái (sau khi trồng khoảng 3, 4 tháng)

Giai đoạn gấc đang ra hoa

– Bà con cần bón thúc cho cây bằng phân trung vi lượng có gốc Canxi-Bo để kích thích sự phát triển của quả, tăng khả năng ra hoa, kết trái.

– Cách phun: Pha phân trung vi lượng có gốc Canxi-Bo với tỉ lệ 10ml/16 lít nước phun đều dưới nách lá, tán lá, quả và quanh gốc. Cần phun làm 2 lượt, mỗi lượt cách nhau khoảng 10 ngày, phun vào chiều mát hoặc khi sáng sớm.

– Tưới nước: Ở giai đoạn ra hoa và phát triển quả, cây gấc cần được cung cấp đủ nước cho cây, giai đoạn này cần giữ độ ẩm cho đất khoảng 70-80%.

VII. Xử lý ra hoa và kết quả (tháng thứ 4, thứ 5)

Đối với cây chưa ra quả hoặc không kết quả, tiến hành xử lý như sau:

Cách 1:

– Cần cắt tỉa những dây yếu, nhỏ, kém phát triển. Đối với những dây phát triển tốt, khỏe, bà con tiến hành bấm đọt, cách gốc khoảng 7m.

– Đồng thời, cần bón thúc bổ sung dinh dưỡng cho cây, giúp cây tăng tỷ lệ ra hoa và đậu quả.

+ Bón gốc: Bón 1 – 1,5 kg phân hữu cơ vi sinh cho 1 hố, 0,3 – 0,5 kg phân NPK (20-20-15)/hố, 5 – 10 kg phân chuồng hoai/hố. Tiến hành trộn toàn bộ số phân trên cùng với lớp đất mặt của gốc, sau đó lấp đất và tưới nước. Lưu ý: Để cây hấp thụ tốt nhất dinh dưỡng ở giai đoạn này cần phải tưới nước thường xuyên để tạo độ ẩm cho đất.

+ Bón lá: Cần kết hợp với phân bón lá trung vi lượng có gốc KNO3 hàm lượng khoảng 30-50g/8 lít nước. Phun trước mùa mưa ít nhất 20 – 30 ngày. Cần phun cho toàn thân cây từ cành, lá, nách lá, thân, gốc phun lúc mát trời, kéo dài 7-10 ngày.

– Chăm sóc vào giai đoạn cây đã ra hoa: thường xuyên tưới nước nếu trời không mưa để giữ độ ẩm trong đất đạt 70-80%.

Cách 2:

– Đầu tiên, cắt bỏ những gốc không ra trái, cách gốc khoảng 60 cm.

– Sau 1 tuần, bắt đầu xuất hiện các nhánh mới ở những cây không ra trái.

– Sau đó bà con chọn những nhánh ở cây có quả ghép vào các nhánh của cây không quả. Cần lưu ý: các nhánh để ghép không được non, cũng không được già quá. Để đảm bảo cho tỉ lệ cây sống cao, bà con nên trùm bao nilon vào nhánh mới ghép để tránh mất nước và hạn chế được sự tấn công của sâu bệnh.

– Sau khi cây đã có quả, bà con phun phân bón lá NPK (20-20-15) để quả phát triển. Trong giai đoạn quả phát triển mạnh, cần phun thêm kali 100% để chắc quả, tránh nứt quả, và cho chất lượng cao.

– Nên tiến hành tỉa bỏ những nhánh không mang trái, và khống chế chiều dài dây gấc tối đa khoảng 5-6 m, giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi quả, tránh tình trạng cây tập trung phát triển thân lá hoặc quả nhiều dẫn đến cây không nuôi nổi quả.

VIII. Cách phòng trừ sâu bệnh hại có thể gặp trên cây gấc

+ Bọ dừa: Bọ có cánh cứng dài 8mm, cánh có màu vàng ăn phá lá gấc. Phòng trừ bằng cách phun hoặc xịt Tata 25WG đều trên lá.

+ Rầy mềm: Thường bu mặt dưới của lá và hút nhựa. Bà con xịt Vicidi-M 50ND hoặc Decis 50ND 20-30ml/bình 8 lít để phòng trừ.

+ Nhện đỏ: Tập trung nhiều ở mặt dưới của lá, gây xoắn lá, làm lá úa vàng, dây gấc mọc cằn cỗi. Phòng trừ bằng cách phun SK Enpray 99EC hoặc Alfamite 15EC đều trên lá….

+ Ruồi trái cây: Ruồi phá hại nặng khi gấc có quả. Ruồi chích quả đẻ trứng, ấu trùng phát triển và phá vỏ dẫn đến thối quả. Phòng trị bằng cách phun dung dịch Oncol 20EC với liều lượng 30ml/8lít, và cần vệ sinh, thu lượm và đốt bỏ các quả gấc bị thối rụng.

+ Sâu xanh: Sâu xanh thường ăn hại lá gấc. Ở giai đoạn non, sâu xanh cuốn lá để làm tổ, sau đó ăn khuyết lá. Dùng thuốc Padan 95SP với liều lượng 10 – 15 g/10 lít phun vào buổi chiều mát.

2. Bệnh hại thường gặp

+ Đốm lá: Là do nấm Pseudope-ronopora cubensis Rostow gây ra, lá bị bệnh mặt trên có những chấm vàng, mặt dưới có nhiều chất xám làm cho lá chết héo. Dây gấc bị nhiễm bệnh phát triển kém không có hoặc cho ít quả, quả nhỏ chất lượng kém. Phòng trị bằng cách phun dung dịch Viroral 50BTN hoặc Viben – C lên lá.

+ Bệnh cháy lá: Là bệnh do nấm Collectrichum lagenarium Ell and Halst gây ra. Lá gấc bị bệnh cháy khô cả lá hoặc cháy thành đốm. Cách phòng trị như khi cây bị bệnh đốm lá.

+ Bệnh hoa lá: Là bệnh do virus CMV gây nên. Lá gấc bị đốm vàng, xoắn lá, dây còi cọc không cho quả. Bệnh này do cực vi trùng gây ra nên không có thuốc trị, bà con cần phòng trừ bằng cách nhổ bỏ cây bệnh để tránh lây sang những cây khác. Phun thuốc trị bọ dừa và rầy mềm cũng giảm bớt bệnh.

+ Tuyến trùng: Tuyến trùng Meloidogyne spp làm cho rễ, dây gốc bị tuyến trùng phá hoại còi cọc, kém phát triển, dẫn đến vàng quả hoặc không cho quả. Phòng trừ bằng cách rảicho mỗi hố 20gram Vimoca 10G hoặc 30 gram Vifuran 10H khi trồng cây con hoặc gieo hạt.

IX. Thu hoạch

Quả gấc sau khi thu hoạch

Thu hoạch khi quả đã chín ( ½ vỏ quả chuyển sang màu đỏ), màng bọc bên ngoài hạt dày và nhiều chất béo. Quả không bị dập nát, và không chín ép, thối hỏng. Trọng lượng quả từ 0,8kg trở lên là đạt yêu cầu. Màng gấc sấy khô phải đạt độ ẩm từ 7% – 8%, màng không có dị tật, mốc, sâu mọt, cháy khét… (có thể kiểm tra bằng cách dùng tay bẻ gãy là được).

Chúc bà con thành công!

Công ty CPĐT Tuấn Tú

VPGD Miền Bắc: Số 2, ngõ 2, đường Liên Mạc, phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Hotline: (024)22 05 05 05 – 0916 478 186

Chi nhánh Miền Nam: 129/17D Đường Lê Đình Cẩn, Khu phố 6, Phường Tân Tạo, Quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh.

Hotline: 0945 796 556 – 0984 930 099

Email: [email protected]

Website: maylamdat.vn

Fanpage: facebook.com/maylamdat3A/

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Bơ

(Ban hành kèm theo quyết định số 1251/QĐ-SNN, ngày 13/12/2012 của Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng V/v Ban hành tạm thời quy trình canh tác một số cây trồng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng)

PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG:

Phạm vi điều chỉnh: Quy trình này quy định các yêu cầu kỹ thuật về trồng, chăm sóc; phòng trừ sâu bệnh hại; thu hoạch và bảo quản cây bơ ghép sản xuất tại Lâm Đồng.

Mục tiêu kinh tế kỹ thuật: Thời kỳ kiến thiết cơ bản: 4 năm.

Năng suất trái bình quân trong giai đoạn kinh doanh khoảng 20-25 tấn/ha.

ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU VỀ ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH:

Đặc điểm: Bơ là loại trái cây nhiệt đới điển hình, ngon, bổ dưỡng chỉ trồng được ở một số vùng chuyên biệt ở nước ta. Lâm Đồng có điều kiện sinh thái thuận lợi để trồng loại cây ăn quả này, bơ chủ yếu để ăn tươi, quả bơ không ngọt, không chua, không thơm, chỉ có vị béo. Chất béo trong quả bơ rất dễ tiêu, có thể hấp thu tới 92,8%.

Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh:

– Độ cao: Cây bơ có nguồn gốc ở các xứ nhiệt đới Trung Mỹ phân bố ở độ cao dưới 2.700m so với mặt nước biển, càng lên cao cây càng chậm ra hoa kết quả, phẩm chất quả bơ thay đổi theo khí hậu và độ cao của các vùng khác nhau. Lâm Đồng là vùng trồng bơ rất tốt.

– Nhiệt độ: Thích hợp từ 12-28 oC, cây bơ có thể chịu nhiệt độ lạnh -7 oC, thậm chí -10 oC. Các giống bơ Mexico chịu lạnh tốt nhất còn các giống Antilles chịu lạnh kém nhất nên được trồng nhiều ở các nước thuộc vùng nhiệt đới. Biên độ nhiệt độ ngày đêm cũng có tác động rõ nét đến sinh trưởng và phát triển của cây, đặc biệt sự phát dục của hoa. Nhiệt độ ban đêm là 15-20 0C và ban ngày là 20 0 C, thích hợp cho sự phát triển hoa, tăng trưởng của ống phấn và sinh trưởng các giai đoạn phôi.

– Ẩm độ: Cây bơ không yêu cầu ẩm độ cao, nhưng không phải là cây của vùng khô hạn, cây bơ chỉ sinh trưởng phát triển tốt nơi nào có lượng mưa đầy đủ lượng mưa tối thích cho cả năm là 1.000-1.500mm, độ ẩm 80-85%. Đặc biệt lúc trổ hoa và tượng trái cần ẩm độ cao, nhưng gặp trời mưa dầm, mưa to thì quá trình thụ phấn không bình thường vì nước mưa sẽ cuốn trôi hạt phấn, hoa sẽ rụng nhiều. Ngoài ra sự khô hạn cũng gây bất lợi cho quá trình hình thành trái, làm rụng quả non nhiều. Hầu hết các giống bơ đều nhạy cảm với điều kiện dư thừa nước, độ ẩm cao, thoát nước kém.

– Đất đai: Có thể trồng bơ trên nhiều loại đất khác nhau đất sét pha cát, đất pha sét, đất thịt nặng, phủ hợp nhất là đất phải thông thoáng, dễ thoát nước, giàu chất hữu cơ, có mạch nước ngầm sâu hơn 2m, pH thích hợp 5-7, bơ không ưa đất quá chua hoặc quá kiềm. Ở những đất có pH quá cao, nhiều yếu tố kim loại bị giữ lại trong đất làm cây không hấp thu được. Cây bơ mọc tốt hơn ở đất trung tính hay kiềm so với đất chua trung bình hay rất chua.

Cây bơ ghép (lấy chồi của những cây bơ có năng suất cao, chất lượng tốt, hình dạng quả đẹp, ghép lên cây bơ được ươm từ hạt), chồi ghép được lấy từ các cây bơ đầu dòng đã được công nhận.

Kỹ thuật trồng: Chọn đất thoát nước tốt, làm đất và đào hố trước khi trồng 3-4 tháng để đất kịp ải. Đào hố theo quy cách: 60x60x60cm.

Thời vụ trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa từ tháng 6- tháng 8 dương lịch.

Trồng cây dùng dao cắt quanh bầu, bóc bịch nhẹ nhàng, đặt cây giữa hố lấp đất ngang mặt bầu và nhận chặt đất xung quanh, tránh vỡ bầu.

Xen canh: Trồng thuần những năm đầu mới trồng khi cây bơ chưa tỏa tán rộng, có thể trồng xen các cây họ đậu; trồng xen trong các vườn cây công nghiệp nhằm làm cây che bóng kết hợp tăng thu nhập trên đơn vị diện tích nhưng không nên trồng xen cà chua, khoai tây vì nấm Verticilium có thể lan truyền cho cây bơ.

Kỹ thuật chăm sóc: Sau trồng một tháng, kiểm tra cây chết, cây yếu để trồng dặm, tưới đủ ẩm cho cây, làm sạch cỏ gốc, tủ cỏ khô quanh gốc để giữ ẩm. Giai đoạn còn nhỏ, bộ rễ bơ ăn cạn, vấn đề tưới nước giữ ẩm và phủ gốc là cần thiết để hạn chế cây bơ bị chết do nóng khô vào mùa nắng nhất là những vườn bơ trồng bằng cây ghép. Tốt nhất nên tưới phun và lưu ý không nên tưới quá đẫm vào bồn gốc. Thời kỳ kinh doanh cần tưới đủ nước để cây sinh trưởng và phát triển khỏe; nhất là tháng 11-12 cần tưới để cây tăng khả năng ra hoa và kết quả.

– Bón phân:

Bảng tổng hợp lượng phân bón qua các thời kỳ sinh trưởng của cây bơ.

Lượng phân nguyên chất trên qui thành phân thương phẩm như sau

Bón phân lót: Dùng phân chuồng huoai đã xử lý, bón lót 15-30 kg/hố, kết hợp với 0,5-1 kg phân lân và 0,5 kg vôi đảo đều trước trồng 10-15 ngày.

Mật độ và khoảng cách trồng thuần: Khoảng cách 7 x 8m, mật độ 178 cây/ ha (trồng xen trong vườn cây công nghiệp mật độ khoảng 80-100 cây/ha).

Thời kỳ kiến thiết cơ bản: Bón N:P:K theo tỷ lệ 1:1:1.

Cách bón: Đào sâu 10-15 cm, cách gốc 30-40 cm, rải phân đều và lấp đất kỹ, tưới đủ ẩm cho cây. Hàng năm bón bổ sung phân hữu cơ hoai.

Trong 4 năm đầu, lượng phân chia 3 lần bón/1 năm:

Thời kỳ kinh doanh: Từ năm thứ 5 trở đi phân vô cơ bón 3 lần/năm, bón N:P:K theo tỷ lệ 2:1:2 và phân hữu cơ vào sau vụ thu hoạch. Tùy theo tình hình sinh trưởng và năng suất của cây mà ta bón lượng phân cho phù hợp hàng năm.

Bón lần 1 thêm phân chuồng hoai từ 30-50 kg.

– Đốn tỉa tạo tán: Tiến hành từ nhỏ đối với những giống cây cao để tạo dáng cây không cao quá 6 mét và cành tỏa đều về các phía (những cành khỏe mọc đều ra các hướng nhằm tạo bộ cành khung). Việc cắt xén cành khô, cành nhỏ yếu cũng phải được thực hiện sau thu hoạch nhằm tạo sự thông thoáng, giúp cây sinh trưởng phát triển tốt và ngăn ngừa không cho sâu bệnh lây nhiễm.

PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI:

Sâu hại chính và biện pháp phòng trừ:

Sâu cuốn lá (Gracilaria percicae Busk)

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Bướm thường đẻ trứng trên lá mới ra, trứng nở thành sâu và lớn dần lên theo lá, nhưng thông thường nhất là sâu nhả tơ cuốn lá lại để làm tổ. Sâu dài 10mm, màu xanh và có những lằn đen ngang không rõ rệt. Trưởng thành sâu làm nhộng trong các tổ lá, sau 5-7 ngày rồi vũ hóa.

– Biện pháp phòng trừ: Nếu có điều kiện trước khi phun thuốc nên dỡ bỏ các tổ lá do sâu cuốn lại để tăng hiệu lực của thuốc. Dùng các loại thuốc Sherzol, Pyrinex 20EC, Bulldock 025EC phun ướt đều tán lá.

Sâu cắn lá: Có rất nhiều loài, có hai loài đã được định danh là Seirarctiaecho và Feltia subterrania F.

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Sâu ăn trụi lá làm chết cây con và làm giảm sức tăng trưởng cây lớn. Có thể tìm thấy sâu trên lá, trên cành hoặc vỏ thân cây. Ban ngày, sâu ẩn nấp dưới gốc cây, đêm đến bò ra phá hại.

– Biện pháp phòng trừ: Tương tự như phòng trừ sâu cuốn lá

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Rầy thường xuất hiện vào mùa mưa, chích hút nhựa lá và đọt non, quả non làm cây giảm sức tăng trưởng.

Bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ:

Bệnh thối rễ: (Phytophthora cinnamoni)

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Những chân đất có độ giữ ẩm cao, nấm xâm nhập làm hư rễ chính (rễ cọc), sau đó nấm lan tràn phá hủy cả bộ rễ làm cây chết rụi. Cây bị bệnh có tán lá xơ xác, lá đổi sang màu xanh nhạt rồi rụng. Cành chết dần từ ngọn xuống thân chính. Đặc biệt với cây con trong giai đoạn vườn ươm rất dễ bị nhiễm bệnh và gây chết hàng loạt.

– Biện pháp phòng trừ: Dùng các loại Aliete + Validacin tỷ lệ 1:1 với lượng 100g/200 lít nước tưới cho dung dịch thuốc thấm đều đất (4-5lít/cây). Phát hiện kịp thời những vết thối trên thân, cạo sạch và quét sulfate đồng – vôi đặc. Khi cây chết vì bệnh, nên đào và hủy bỏ để bệnh không lan tràn.

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Bệnh hại lá và trái, nấm bệnh xuất hiện rải rác trên lá, có hình dạng và kích thước gần giống nhau, hình có góc cạnh hoặc hơi tròn, màu nâu. Những đốm này có thể liên kết với nhau tạo thành mảng. Trên trái bệnh tạo nên những mụn lồi cỡ 5mm, có màu nâu nhạt đến nâu đậm. Trái bị bệnh mất giá trị. Bệnh tồn tại trên lá già, bào tử nấm phát tán khi có điều kiện thích hợp.

– Biện pháp phòng trừ: Phun dung dịch Boocđô để phòng bệnh vào đầu mùa mưa, khi phát hiện bệnh sử dụng các loại thuốc có hoạt chất như Thiophanate-Methy (Topsin), Difenoconazole (Tiltsuper, Soore), Cholorothalonil (Daconil), … phun ướt đều tán lá với liều lượng sử dụng theo khuyến cáo của trên bao bì.

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Nấm xâm nhập vào trên cành làm tắc nghẽn và phá hủy các mạch li be dẫn đến cành khô và chết. Trên trái đã già, gần chín, nấm thường xâm nhập vào những chỗ do trái cọ sát hoặc bị thương tích hay do côn trùng chích hút, ăn vỏ quả làm cho trái bị nhũn thường ở phần cuối trái.

– Biện pháp phòng trừ: Phun dung dịch Boocđô để phòng bệnh vào đầu mùa mưa, khi phát hiện bệnh sử dụng các loại thuốc như Propineb (Antracol), Carbendazim (Carbendazim; Appencarb super, Bavistin),…để phòng trừ bệnh.

Bệnh héo rũ (Verticillium albo – atrum)

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Cây bị nhiễm nấm thường đột nhiên bị héo lá trên một phần cây hoặc khắp cây. Lá bị chết rất nhanh, chuyển thành vàng nhưng rất khó rụng. Nếu lột vỏ của cành hoặc rễ cây đã chết sẽ thấy những đường sọc màu nâu ở phần tiếp giáp vỏ và gỗ. Nấm tồn tại trong đất và gây hại ở bất kỳ tuổi nào của cây. Cây bệnh có thể chết luôn hoặc sống trở lại, đối với những cây bị bệnh một phần thì phần bệnh không thể cho trái trong vòng 1 hoặc 2 năm.

– Biện pháp phòng trừ: Phun thuốc hoặc tưới dung dịch Boocđô để phòng bệnh vào đầu mùa mưa, dùng Aliete tưới hoặc quét lên các vùng thân, rễ bị bệnh, cắt xén kỹ khi cây vừa có triệu chứng bệnh, sau khi cây bị bệnh phục hồi cắt bỏ những nhánh nhỏ đã bị chết.

1.Thu hoạch: Căn cứ vào sự đổi màu của vỏ quả hoặc cầm quả lắc nhẹ nghe tiếng va đập của hạt vào thành quả là thu được.

Người trồng bơ thường chờ đến khi có vài quả rụng thì tiến hành hái hết cây, chỉ để lại những quả bơ non còn nhỏ (vỏ còn xanh). Phương pháp này đơn giản dễ áp dụng, thu hoạch bằng sào hoặc rọ, hạn chế leo trực tiếp lên cây để thu hái. Chú ý lúc hái không làm đứt cuống, trầy dập để quả bảo quản được lâu hơn.

Bảo quản: Trái bơ có thể bảo quản lạnh hoặc nhiệt độ thường, các giống bơ có thể bảo quản lạnh ở nhiệt độ từ 7-120C, ẩm độ từ 85-90%. Ở nhiệt độ 200C quả bơ chín sau 6-10 ngày, ở nhiệt độ 25 -27 0C trái chín sau 5-7 ngày.