Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Mai / Top 7 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Mai Vàng

– Tay quai, bình tưới dạng nhỏ (trồng trên chậu/thùng)

– Chậu trồng cây.

– Cuốc, xẻng (nếu trồng trên nền đất)

– Kéo cắt tỉa cành, găng tay làm vườn (dày)

Cách chọn giống

– Dùng cành giâm hay hạt giống từ cây mẹ có những đặc tính tốt và không sâu bệnh hại.

Cách làm đất

– Thích hợp với nhiều loại đất khác nhau như đất thịt, đất cát pha, sét pha, đất phù sa, đất đỏ bazan, thậm chí đất có lẫn đá sỏi…mai vẫn phát triển tốt.

– Cây mai không chịu được úng nước nên chọn loại đất có độ thoát nước tốt, đất được làm tơi xốp, lên liếp để nước thoát tốt hơn.

– Riêng mai trồng chậu nên bổ sung tro trấu, xơ dừa, vỏ đậu phộng,… và cát sẽ giúp thoát nước rất tốt.

Tiến hành trồng Nhân giống hữu tính (gieo hạt):

+ Thường 5-6 năm mới có thể sử dụng, ưu điểm là số lượng mai con nhiều, không tốn kém, mất ít công sức.

+ Tuy nhiên, cây mai thường không mang những đặc tính tốt của cây mẹ (hoa nhỏ, ít cành hơn, màu sắc có khi khác với cây mẹ…).

Nhân giống vô tính:

– Sử dụng sau 2-3 năm.

– Dùng phương pháp chiết cành, ghép cành, hoặc giâm cành, giúp cây con giữ được trọn vẹn những đặc tính của cây mẹ nhưng không thể sản xuất đại trà với số lượng lớn.

Chọn một cành nhỏ của cây mai mẹ, cắt một khoanh vỏ có chiều dài khoảng 3-4 phân, cố tránh đừng để vết cắt phạm vào phần gỗ bên trong, bóc khoanh vỏ đó đi.

Sau đó, dùng hỗn hợp đất với phân chuồng hoai nhào dại cho dẻo rồi ốp chặt vào xung quanh vết cắt, bên ngoài dùng vải dày hay bao bố hoặc xơ dừa bó lại cho thật chặt.

Tưới nước cho bầu đất đó được ẩm cho đến vài ba tháng sau, khi bầu đất có nhiều rễ con bắn ra ngoài là lúc cắt nhánh đó rời khỏi cây mẹ.

+ Ghép cành (tháp cành, tháp cây): là dùng cành của cây mẹ đem ghép vào cây mai khác để tạo cây mai mới mang những đặc tính của cây mai mẹ.

+ Ghép mắt: Có một cách ghép khác là ghép mắt, là lấy mắt lá, chồi non từ cây mẹ để ghép sang một cây khác làm gốc ghép.

+ Ghép tam giác:

Lấy một cây mai làm gốc ghép, lựa một chỗ trên gốc cây để ghép cành hay ghép mắt, dùng mũi dao nhọn rạch một hình tam giác nhỏ tương đương hột bắp rồi bóc lớp vỏ đó ra.

Dùng dao bén tách ra một chồi nhỏ hay một mắt lá của cây mai mẹ đem áp vào chổ tam giác vừa được lột vỏ của gốc ghép.

Dùng dây vải hoặc băng keo băng mắt ghép lại. Sau vài tuần, thấy chồi ghép hay mắt ghép xanh tươi có nghĩa là thành công.

+ Ghép nêm: Nên ghép cây vào mùa mưa, vì đây là mùa cây đang dồi dào sinh lực.

Dùng dao vạt hình cái nêm trên cành ghép và hình lỗ nên trên gốc ghép (hay làm ngược lại) rồi ráp khít hai bộ phận trên lại với nhau.

Yêu cầu là cành ghép và gốc ghép phải có đường kính bằng nhau hay gần bằng nhau và cả 2 cây phải có độ tuổi ngang nhau mới tốt.

Đặt 2 mối khít với nhau, ta dùng dây cao su hoặc dây nylon quấn chặt bên ngoài vết ghép cho chắc chắn.

Tại gốc ghép, chọn nơi vỏ cây tươi tốt để tạo chỗ ghép, như vậy mắt ghép mới hy vọng đạt được thành công, vì nơi ấy nhựa nguyên lưu thông tốt. Việc ghép phải thực hiện càng nhanh càng tốt, để lâu nhựa sẽ khô, ghép không có kết quả.

– Mai thích hợp với khí hậu nóng ấm, từ 25-30 độ, có thể chịu được nhiệt độ cao trong nhiều ngày, nhiều tháng nhưng nhiệt độ thấp (dưới 10 độ), mai sinh trưởng kém.

– Mai cần hấp thu đủ 6h nắng/ngày.

+ Trong mùa nắng, cần thường xuyên tưới nước. Tưới thẳng vào gốc và xịt nước với tia nhỏ lên khắp tán lá.

+ Nên tưới vào lúc sáng sớm (trước 9 giờ) hoặc tưới vào lúc chiều mát.

+ Mai kiểng trồng trong chậu thường bị khô nước vì đất chứa trong chậu quá ít nên không giữ ẩm được lâu. Do đó, mai kiểng trồng trong chậu phải tưới nước mỗi ngày, ngày tưới 2 lần (sáng, chiều).

+ Phải chú ý đến độ rút nước của từng chậu, nếu thấy có tình trạng úng nước phải dùng que nhỏ thông ngay, nếu để lâu cây mai sẽ bị chết vì bộ rễ bị hư.

+ Trồng mai nhất là với cây trồng trong chậu, tỉa cành tạo dáng xong chúng ta cần bón phân cho mai sinh trưởng tốt về cành lá. Yêu cầu đạm và lân nhiều hơn, kali ít cũng được.

+ Có thể dùng phân Đầu Trâu NPK 20-20-15 TE, xới đất lên bón, lấp đất lại. Lượng bón mỗi lần không cần nhiều: khoảng 40-50 g/chậu chứa 50-60 kg đất (đối với cây trồng ngoài đất lượng bón tương tự như trong chậu nhưng bón xa gốc cây, khoảng rìa ngoài của tán cây), tưới đủ nước thường xuyên (trong mùa khô).

+ Mỗi tháng bón 2-3 lần, quan sát thấy cây ra lá, cành lá xum xuê là được. Nếu thấy lá quá đậm thì giảm số lượng cũng như số lần bón xuống.

+ Mùa mưa từ tháng 6-10, dùng NPK Đầu Trâu 13-13-13 TE để bón, mỗi lần bón 40-50g/chậu chứa 50-60kg đất, 15-20 ngày bón một lần. Khi thay đất hoặc sau 3-4 tháng kể từ khi thay đất có thể bón thêm phân chuồng: phân bò, heo, gà vịt đã ủ kỹ kết hợp với tro trấu.

+ Khi kết thúc mùa mưa: khoảng giữa tháng 11 dương lịch. Tiến hành xem lại dáng cây, cành lá đã thỏa mãn chưa. Có thể tỉa lại một lần nữa rồi chỉ tưới nước dưỡng cây.

– Diệt cỏ dại, bắt sâu:

+ Diệt cỏ vào trước mùa mưa hàng năm.

– Trẩy (lặt) lá mai: giúp mai nở hoa đúng vào dịp Tết.

+ Thời gian để trẩy lá mai không nhiều, tiến hành xong trong ngày mới tốt. Nếu kéo dài thì mai sẽ nở hoa không đúng ngày.

+ Muốn cây mai trổ hoa nhiều, người trồng mai cần trẩy hết là non, lá già, chú ý không làm gẫy ngọn cành.

+ Có 2 cách trẩy lá mai:

Cách 1: cầm lá trẩy ngược ra sau. Cách này tốn ít sức, nhưng dễ kéo theo một đoạn dài vỏ, dễ làm hư hại đến cành hoa và nụ hoa.

Cách 2: cầm lá kéo theo chiều của chiếc lá. Cách này không làm xước vỏ, nhưng tốn nhiều công sức. Hơn nữa, đối với những đọt non, cách này dễ gây ra đứt đọn do kéo quá sức.

Quy Trình Chăm Sóc Cây Mai Trong Năm

Mai thuộc loại kiểng hoa nhưng nó cũng có thể tạo thành kiểng dáng, kiểng thế hoặc bonsai đều rất đẹp, ít có loại cây nào được như thế, trồng mai người ta thường để ý đến hoa nhiều hơn. Để có cây mai đẹp chưng trong các ngày đầu Xuân ngoài việc chăm sóc, tạo dáng thế thích hợp thì việc chăm sóc để chuẩn bị cho hoa nở vàng trong các ngày Tết là việc phải làm cả năm mới quyết định.

Mai cũng như các loại cây khác, nó phát triển phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết mà thời tiết lại phụ thuộc phần lớn vào chu kỳ trái đất quanh quanh mặt trời, nói cách khác chăm sóc mai phải dựa vào dương lịch (dl) mới chính xác nhưng Tết Nguyên Đán lại căn cứ vào âm lịch (âl) . Chúng ta để ý xem nếu mai trổ rộ nhằm vào tiết lập xuân thì hoa trổ nhiều và đẹp tươi hơn nở các thời điểm khác. Việc nầy rất khó cho người chăm sóc mai (ncsm) nhất là gặp năm nhuần như năm nay thì tiết lập xuân rơi vào ngày 4 tháng 2 dl mà Tết lại là ngày 14 tháng 2 dl . Như vậy năm nay để điều khiển hoa nở ncsm phải có biện pháp điều chỉnh phân bón, nước tưới,bộ lá hợp lý mới đạt kết quả cao được (không nói đến yếu tố thời tiết bất thường).

Quan sát công việc của nhà vườn, ta thấy họ làm theo một quy trình nhất định (do thói quen họ không gọi là quy trình ) tháng nào làm việc gì đều như có lịch cả. Trong bài nầy tôi đề nghị một quy trình chăm sóc mai cho cả năm để các bạn tham khảo và khi thực hiện thì tự điều chỉnh cho hợp hoàn cảnh địa lý nơi ở của mình. Tôi tạm chia công việc làm 6 giai đoạn, mỗi giai đoạn có 2 tháng âm lịch. Chủ yếu công việc trình bày ở đây trên cây mai trồng trong chậu

-Công việc tháng giêng và tháng hai (giai đoạn hồi sức):

Mai được chưng trong nhà nhiều ngày bị thiếu ánh sáng , lá có màu xanh lợt, có khi người chưng quên không tưới nước lại đổ bia, nước ngọt vào gốc, vì vậy mai bị mất sức (nếu không gọi là kiệt sức) rất nhiều nhất là sau giai đoạn cây phô hết nội lực của mình ra khi trỗ hoa , nên việc đầu tiên của ncsm là phải “hồi sức” cho mai bằng cách:

-Đưa chậu mai ra ngoài sân nới có bóng mát và thoáng (để cây dưới nắng sẽ bị cháy lá)

-Sau những ngày Tết hoa vẫn chưa tàn hết hoặc còn một số nụ chưa nở dùng kéo cắt tất cả hoa trên cây, kể cả hoa đã nở và hoa chưa nở để nhựa tập trung nuôi cây thay vì nuôi đài hoa tạo hạt.

– Pha phân Urê thật loãng (1 muỗng caphê nhỏ pha với ít nhất 8 lít nước) tưới trên cây từ ngọn xuống đất cho ướt cả cây, hoặc có thể dùng thuốc kích thích chồ, lá phun đều trên cây) Công việc nầy chỉ thực hiện vào buổi chiều trời thật mát. Mỗi tuần tưới một lần Chưa vội xả tàn lúc nầy.

– Từ rằm tháng giêng trở đi nếu cây sung lại ta có thể xả bớt 1/3 tàn , nhất là những cành bị nấm, sâu bệnh mọc chéo phải cắt đi hết. Chú ý không nên cắt một lúc hết lá trên cây làm cho sự hô hấp và quang hợp bị gian đoạn cây lại bị mất sức lần nữa. Các bạn chú ý là các cành phía trên thường non hơn các cành bên dưới lại nhận được ánh sáng (quang hợp) nhiều hơn nên cành phía trên phát triển mạnh hơn cành bên dưới, vì thế khi tỉa cành thì những cành bên dưới không nên cắt ngắn quá , vì như thế cành bên dưới chưa phát triển bao nhiêu thì bị cành phía trên che hết rồi . Nguyên tắc tỉa cành chung là “dưới dài-trên ngắn” Công việc tỉa thêm cành ta có thể ngấm nghía rồi thực hiện từ từ trong tháng giêng cũng được.

-Trong đầu tháng hai nếu cây trồng trong chậu có rễ ra bít hết chậu thì phải thay đất mới cho cây , nếu mai trồng bằng hổn hợp xơ dừa, tro trấu thì các bạn có thể đưa mai ra khỏi chậu, dùng dao bén gọt bớt các rễ già xung quanh chậu (rễ già có màu nâu sậm và hơi khô) , sau đó đưa cây lại vào chậu và bổ sung chất trồng hổn hợp. Nếu mai trồng bằng đất thịt thì dùng cái bay nhỏ moi xung quanh chậu sâu xuống phía dưới chậu, chặt bớt rễ già quanh chậu bỏ bớt đất và rễ đi, đưa đất thịt (trộn thêm xơ dừa) vào thay phần đất cũ. Chú ý là không nên bón phân lúc nầy vì rễ bị chặt mất nên khả năng hấp thụ kém, chất dinh dưỡng sẽ theo nước tưới ra ngoài.Muốn vô phân ít nhất phải nữa tháng nữa mới thực hiện. Trong trường hợp cây chưa cần phải thay đất, ta có thể bón phân cho cây lúc nầy.

Trong giai đoạn nầy vì trời miền Nam nắng nhiều nên phải chú ý tưới nước ít nhất mỗi ngày 2 lần cho chậu trồng bằng chất trồng hổn hợp và một lần cho chậu trồng bằng đất thịt. Quan sát trên mặt chậu thấy đất khô mới tưới và cũng đặc biệt chú ý đây là giai đoạn bọ trỉ hoạt động nên phun thuốc ngừa hoặc quan sát thường ngày nếu thấy có hiện tượng bọ trỉ tấn công phải phun thuốc ngay.

-Công việc tháng ba và tháng tư (giai đoạn ổn định)

Ta biết ở miền Nam trời sẽ có những cơn mưa vào cuối tháng ba (âl), từ sau những cơn mưa đầu mùa, mai bắt đầu phát triển mạnh. Để chuẩn bị đủ dinh dưỡng cho mai phát triển thì ngay từ đầu tháng ba ta nên bón phân cho mai nhất là phân hữu cơ như bánh dầu, Dynamix Lifter, hoặc phân chuồng để có đủ thời gian cho phân giải phóng chất đạm cung cấp cho cây . Nếu bón phân vô cơ thì chậm hơn khoảng sau 20 tháng 3 cũng được. Khi những cơn mưa đầu mùa làm mát dịu không khí nếu mưa kèm theo nhiều sấm sét ( sấm sét tổng hợp chất đạm cho đất) thì mai bung tược rất nhanh, rễ non cũng phát triển mạnh. Cây cần lượng dinh dưỡng lớn, nếu có đủ chất thì chồi non sẽ vượt nhanh làm nền cho chồi hoa phát triển trong những tháng sau. Từ sau những cơn mưa cuối tháng ba sang tháng tư thì nhiệt độ trong không khí dao động có biên độ lớn , lúc thì mát , lúc oi bức . Giai đoạn nầy nấm hồng phát triển mạnh, cần thiết phải cắt tỉa bớt những cành có dấu hiệu bệnh, tạo thông thoáng cho cây , phun thuốc ngừa hoặc trị bệnh cho cây.

-Công việc tháng năm và tháng sáu (giai đọan tích luỹ ):

Tháng 5 và tháng 6 là giai đoạn cây tích luỹ chất dinh dưỡng nên phát triển rất mạnh. Đây là giai đoạn ổn định dáng thế cho cây. Tược non phát triển mạnh ncsm phải uốn nắn để tạo dáng cho mai hoặc bấm đọt để tạo tán cây theo ý muốn. Đây là giai đoạn tạo dáng tốt nhất cho cây, không nên để cành ra dài mới cắt làm mai bị mất sức , cành nào không muốn phát triển phải bấm đọt ngay để chất dinh dưỡng tập trung nuôi chồi khác .Nếu không là năm nhuần thì trong tháng 6 ta tạo dáng lần cuối cùng (năm nhuần có thể thực hiện trong tháng 7). Để chồi nách thành nụ hoa ta giảm hẳn phân đạm (chỉ dùng một lượng nhỏ để giữ cân đối dinh dưỡng cho cây), tốt nhất là không sử dụng phân vô cơ nữa . Để hình thành nụ tốt cần tăng lượng lân lên bằng cách bón phân hữu cơ (nếu dùng phân Dynamix lifter càng tốt) và trộn chung với phân lân vi sinh, nếu trồng trong chậu không sử dụng nhiều quá và phía trên phân vi sinh phải có một lớp đất mỏng để phân lân vi sinh phát huy tác dụng (trường hợp mai trồng ngoài đất thì sử dụng lượng cao hơn) Chú ý rằng đây là giai đoạn mưa tăng dần về lượng , thường xuyên kiểm tra nấm bệnh cho cây , tốt nhất nên phun thuốc ngừa nấm bệnh để phòng các bệnh cháy lá, rỉ sắt, thán thư, nấm hồng …bọ trĩ cũng còn phá hoại cây trong giai đoạn nầy (đã giảm nhiều so với các tháng trước) cũng cần để ý để phòng trị chúng.. Một số nụ hoa cũng hình thành từ tháng 6 âl. Nếu cây phát triển không cứng cáp lắm cần bổ sung thêm phân kali.

-Công việc tháng bảy và tháng tám (giai đoạn phát triển nụ hoa ) :

Đây là giai đoạn phát triển nụ hoa của mai lại nhầm vào giai đoạn trời mưa dầm, lúc nào thân cây và lá cây cũng bị ướt nên nấm mốc, rêu dễ phát triển , đất trong chậu cũng ẫm ướt phải thường xuyên kiểm tra xem chậu có bị đọng nước không?, nếu thấy đất trong chậu thoát nước chậm hoặc đọng nước phải kiểm tra và thông lỗ thoát nước cho chậu. Phải có gắng giữ bộ lá cho cây để việc quang hợp được thuận lợi , nụ hoa phát triển hoàn chỉnh hơn. trường hợp để sâu rầy hoặc nấm lá phá họai một phần lá bị rụng đi và cây có thể trổ hoa khi trời giảm mưa. Chú ý từ tháng 7 trở đi (cao điểm tháng 8) nhện đỏ bắt đầu phát triển , đây là loại côn trùng tấn công phía trên lá từ bánh tẻ đến là già , lớp biểu bì mặt trên lá bị hư gây khó khăn cho việc quang hợp của cây . Kể từ rằm tháng 7 trở đi việc bấm đọt, tỉa cành đều phải ngưng hẳn . Chú ý kiểm tra thường xuyên vườn nếu thấy có hiện tượng sâu bệnh phải phun thuốc phòng trị ngay. Nếu không cần thiết thì không nên thay chậu trong những tháng mưa dầm . Kiểm tra chậu thường xuyên xem có bị bít lỗ làm nước đọng hay không nếu nước thoát chậm phải thông ngay lỗ thóat nước, nếu để nước đọng lâu một phần lông hút bị hư ngăn cản việc hấp thu nguồn dinh dưỡng của cây.

-Công việc tháng chín và tháng mười (giai đoạn hình thành) :

Trong giai đoạn nầy vẫn cón mưa dầm vào đầu tháng 9 sau đó giảm dần đến cuối tháng 10 thì giảm hẳn , nụ hoa đã hình thành và sẳn sàng bung ra khi đủ điều kiện, vì vậy ncsm phải biết điều chỉnh bộ lá cho cây, tay nghề hơn thua nhau là ở giai đoạn nầy , nếu để mai ít lá quá thì có khả năng sẽ nở khi mưa giảm hẳn, để mai nhiều lá quá thì nụ hoa không phát triển tốt được và có lúc mai lại bung cành non nữa. Vì vậy việc điều chỉnh bộ lá cho mai rất cần thiết (phải dựa vào kinh nghiệm từng vùng). Nguyên tắc chung là không sử dụng phân có hàm lượng đạm cao trong giai đoạn nầy nhưng nếu bộ lá quá ít lại già quá thì phải dùng phân bón lá loại 20-20-10 phun để tạo thêm lá non kềm giữ sự phát triển nụ thành hoa . Trường hợp cây còn bộ lá xanh rợp ncsm phải biết xiết nước để một ít lá mai vàng và rụng đi giảm bớt bộ lá để nhựa nuôi chồi hoa. Việc nầy rất nguy hiễm nếu ta đánh giá không đúng làm lá rụng quá nhiều làm mai bung nếu không kinh nghiệm và không có thời gian theo dỏi khi xiết nước thì không nên làm . Trường hợp mưa giảm , trời nắng nhiều phải tưới cây ít nhất mỗi ngày một lần.

-Công việc tháng mười một và tháng mười hai (giai đoạn hoàn chỉnh ) :

Chăm sóc tốt trong giai đoạn nầy quyết định cho chất lượng hoa Tết. Ta biết trong lúc nầy nụ hoa sẳn sàng bung nụ khi có điều kiện nhưng để hoa trổ đạt chất lượng hơn như : hoa lâu tàn hơn, màu tươi hơn, lượng hoa mỗi nụ nhiều hơn và hoa thơm hơn thì phải gia công thêm nữa vì thế việc bón thúc là cần thiết. Từ cuối tháng mười hoặc chậm nhất là đầu tháng mười một phải bón thúc cho mai. Việc bón thúc không sử dụng phân hữu cơ mà phải dùng phân vô cơ mới có tác dụng tốt. Để làm tăng chất lượng hoa ta bón cho mai phân lân và kali .Phân lân có thể rãi trên mặt đất mỗi cây khỏang 200 g hoặc pha nước tưới vào gần gốc mai (phân không tan hoàn toàn trong nước), phân kali thì pha 1 muỗng caphê nhỏ với 5 lít nước tưới lên đất gần gốc mai, chỉ cần tưới 2 lần cách nhau một tuần. Có người còn dùng phân bón lá loại thúc ra hoa để phun xịt (xin tìm hiểu kỹ tác dụng của phân), có thể phun từ 2 đến 3 lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 7 ngày.. Đầu tháng 12 có thể bón thêm một ít phân Úc để giúp cây sau khi trỗ không mất sức nhiều và hoa ít rụng hơn. Cuối cùng ncsm phải “canh” để lảy lá , lá được lảy vào thời điểm nào phải do kinh nghiệm ncsm quyết định dựa vào diễn biến của thời tiết, phải dựa vào độ lớn nhỏ của chồi nụ, phải dưạ vào tán lá của cây ….(đã có rất nhiều tài liệu nói về vấn đề nây , xin không trình bày thêm). Sau khi lảy lá không cần phải tưới nhiều nữa nhưng không được để mai bị khô gốc. Hàng ngày quan sát diển biến của mỗi cây nhất là sự phát triển của nụ hoa để điều chỉnh nước tưới hoặc dùng các biện pháp khác để điều chỉnh cho nụ bung vỏ lụa vào ngày đưa Ống Táo .

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Gấc

Thưa quý bà con, gấc là loài cây thân thảo, dây leo thuộc chi Mướp đắng. Quả gấc có nhiều vitamin và dưỡng chất rất tốt cho cơ thể. Các hãng dược phẩm ví trái gấc như là loại quả đến từ thiên đường và là thần dược cho sức khỏe của con người. Gấc có tác dụng phòng chống ung thư, giảm cholesterol, nâng cao hệ thống miễn dịch, chống lão hóa, tăng cường thị lực và làm đẹp da… Gấc còn góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con. Tuy nhiên, trồng gấc như thế nào lại là điều khá nhiều bà con chưa nắm rõ. Để giúp bà con hiểu hơn về quy trình trồng và chăm sóc cây gấc, chúng tôi xin giới thiệu đến bà con bài viết sau đây. Kính mời quý bà con quan tâm theo dõi!

Quy trình trồng bắp cải mang lại hiệu quả cao

Quy trình trồng và chăm sóc cây gấc

I. Yêu cầu và chuẩn bị đất trồng:

Gấc là cây không kén đất nhưng bà con nên chọn đất tốt để trồng. Đất không bị úng và thoát nước tốt khi mưa lớn.

– Đào hố trồng gấc: cần đào hố vuông với cạnh 1 – 1,2m và có độ sâu khoảng 40 – 60 cm. Nếu bà con trồng gấc với diện tích lớn thì khoảng cách giữa các hố từ 3 – 4 m, khoảng cách giữa các hàng là 4 – 5 m. Bà con cần để riêng lớp đất bề mặt cạnh hố đào. Không đào hố ngay cạnh gốc cây trồng khác, nếu trồng trên đất vườn tạp hoặc trồng xen canh, nên đào hố với khoảng cách từ 1,5m -2m so với gốc cây trồng khác…

Để đạt hiệu quả trong công việc khoan các hố đất trồng gấc, bà con có thể sử dụng máy khoan đất chạy xăng có giá đỡ do Công ty CPĐT Tuấn Tú cung cấp:

Máy khoan đất chạy xăng có giá đỡ 3A

– Quy trình xử lý hố và tiến hành bón lót : Bà con trộn phần lớp đất vừa đào với các loại phân bón sau (đối với 1 hố): 2 kg GV- hữu cơ vi sinh, 0,5 kg Gavi -Bio, 10 – 15kg phân chuồng hoai, 0,5 – 0,6 kg Super lân, 0,5 – 1 kg chế phẩm sinh học có chứa Trichoderma. (Cần thực hiện các công việc trên trước khi trồng khoảng 5 – 7 ngày)

Thiết kế giàn: Bà con có thể dựng giàn bằng các cây tạp, cột bê tông hoặc tre, nứa. Gác các cành tre ở bên trên hoặc đan bằng dây thép hay có thể dùng dây cước một sợi để đan thành lưới (kích thước mắt lưới khoảng 40cm x 40cm), căng lên giàn. Giàn được làm bằng lưới cước chi phí thấp và có thể giữ được khoảng 3-5 năm. Khoảng cách giữa mặt đất và mặt giàn bình quân là 2m, cần đảm bảo giàn không bi chùng khi cây leo lên hoặc khi gấc ra quả. (Giàn gấc phải hoàn tất sau 3 tuần từ khi trồng cây con).

II. Tiến hành trồng gấc

Bà con chuẩn bị hố ngay trước khi trồng: Dọn sạch cỏ dại, cây cối xung quanh hố. Xới nhẹ đất trong hố trồng một lần nữa. Sau đó cuốc 2 lỗ nhỏ giữa hố để đặt cây giống, khoảng cách giữa 2 lỗ trong cùng 1 hố tối thiểu là 35cm. Khi đã xử lý hố đất được 5- 7 ngày thì bà con tiến hành trồng cây con.

Cần lưu ý: Nếu bà con trồng cây giống thực sinh thì nên trồng 2 cây trong 1 hố, vì bà con cần theo dõi khi thu quả năm đầu tiên, cây nào ít quả, hoặc không ra quả, quả nhỏ hoặc sâu bệnh nặng thì cần cắt bỏ cây đó để cây còn lại phát triển tốt hơn. Đối với cây hom hoặc cây ghép thì trồng 1 đến 2 cây cho một hố. Năm đầu, thường tỷ lệ ra quả thấp, lượng quả chưa nhiều. Vì vậy, để tăng khả năng thụ phấn tự nhiên và sản lượng, bà con nên trồng 2 cây.

III. Tưới nước và chăm sóc

– Tưới nước: Đất trồng gấc cần có đủ độ ẩm, nhưng không được ngập úng, do vậy, cần phải tưới đủ nước và thoát nước tốt ở gốc cây. Ở giai đoạn này, cây cần khoảng 80 – 85% độ ẩm của đất. Cần tiến hành tưới nước khi thời tiết nắng nóng, phủ rơm rạ, bao nilon để giữ ẩm cho cây.

– Đào kênh thoát nước: Khi cây gấc bị ngập nước sẽ khiến cây bị úng và tạo điều kiện cho nhiều loại vi khuẩn, sâu bệnh tấn công, làm giảm năng suất nếu bị úng nhẹ và có thể làm chết cây nếu ngập úng kéo dài. Vì vậy, ở những nơi trũng, ngập nước vào mùa mưa thì cần đào kênh tiêu nước. Mỗi kênh có kích thước rộng 500mm, sâu 300mm để thoát nước dễ dàng khi trời có mưa lớn.

– Sau 7 ngày, bà con tiến hành phun men sinh học Gavi – TriBio 5% với liều lượng pha loãng 300 lần trên lá và dưới gốc.

IV. Sau khi trồng 15 -30 ngày.

– Bà con bắt ngọn leo lên giàn và thường xuyên bắt cho các ngọn phân tán đều giàn.

– Cần kiểm tra sâu, bệnh hại trên cây, nếu thấy có sâu bệnh thì cần phải phòng trừ. Trong quá trình theo dõi, nếu thấy dây gấc vươn dài, yếu, nhỏ, bị sâu ăn lá thì cần cắt bỏ để nhường dinh dưỡng cho dây khác.

– Khi cây con bắt đầu leo giàn ( khoảng từ tuần thứ 5 đến tuần thứ 7sau khi trồng), bà con tiến hành bón lót 0,3 – 0,5 kg Phân NPK(16-16-8) cho 1 hố. Cần phun thêm Gavi – TriBio 5% pha loãng 300 lần trong giai đoạn này giúp tăng cường sức đề kháng cho cây, và hạn chế sâu bệnh hại.

– Sau 2 tháng kể từ ngày trồng cần bón thêm 0,5 kg chế phẩm Gavi – Bio cho 1 hố để phòng trừ bệnh hại, tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng cho cây.

V. Bón thúc khi gấc đã phủ lên giàn

– Cách bón: Bà con đào rãnh rộng 10cm và sâu 10cm hoặc có thể cào nhẹ lớp đất mặt trên hố gấc sâu khoảng 5-10cm, rồi rải phân GV hữu cơ vi sinh: 3kg trộn với đất dưới rãnh. Sau đó bà con cuốc xới nhẹ, lấp phân vào hố và tiến hành tưới nước cho cây.

– Cần chủ động tưới nước giữ để ẩm cho cây, khi không có mưa cần đảm bảo độ ẩm của đất từ 70-80%.

– Cần có kế hoạch theo dõi sâu bệnh thường xuyên và phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, đồng thời kết hợp với phun Gavi – TriBio 5% để bảo vệ cây và quả trước sự tấn công của sâu bệnh….

VI. Gấc bắt đầu ra hoa, kết trái (sau khi trồng khoảng 3, 4 tháng)

Giai đoạn gấc đang ra hoa

– Bà con cần bón thúc cho cây bằng phân trung vi lượng có gốc Canxi-Bo để kích thích sự phát triển của quả, tăng khả năng ra hoa, kết trái.

– Cách phun: Pha phân trung vi lượng có gốc Canxi-Bo với tỉ lệ 10ml/16 lít nước phun đều dưới nách lá, tán lá, quả và quanh gốc. Cần phun làm 2 lượt, mỗi lượt cách nhau khoảng 10 ngày, phun vào chiều mát hoặc khi sáng sớm.

– Tưới nước: Ở giai đoạn ra hoa và phát triển quả, cây gấc cần được cung cấp đủ nước cho cây, giai đoạn này cần giữ độ ẩm cho đất khoảng 70-80%.

VII. Xử lý ra hoa và kết quả (tháng thứ 4, thứ 5)

Đối với cây chưa ra quả hoặc không kết quả, tiến hành xử lý như sau:

Cách 1:

– Cần cắt tỉa những dây yếu, nhỏ, kém phát triển. Đối với những dây phát triển tốt, khỏe, bà con tiến hành bấm đọt, cách gốc khoảng 7m.

– Đồng thời, cần bón thúc bổ sung dinh dưỡng cho cây, giúp cây tăng tỷ lệ ra hoa và đậu quả.

+ Bón gốc: Bón 1 – 1,5 kg phân hữu cơ vi sinh cho 1 hố, 0,3 – 0,5 kg phân NPK (20-20-15)/hố, 5 – 10 kg phân chuồng hoai/hố. Tiến hành trộn toàn bộ số phân trên cùng với lớp đất mặt của gốc, sau đó lấp đất và tưới nước. Lưu ý: Để cây hấp thụ tốt nhất dinh dưỡng ở giai đoạn này cần phải tưới nước thường xuyên để tạo độ ẩm cho đất.

+ Bón lá: Cần kết hợp với phân bón lá trung vi lượng có gốc KNO3 hàm lượng khoảng 30-50g/8 lít nước. Phun trước mùa mưa ít nhất 20 – 30 ngày. Cần phun cho toàn thân cây từ cành, lá, nách lá, thân, gốc phun lúc mát trời, kéo dài 7-10 ngày.

– Chăm sóc vào giai đoạn cây đã ra hoa: thường xuyên tưới nước nếu trời không mưa để giữ độ ẩm trong đất đạt 70-80%.

Cách 2:

– Đầu tiên, cắt bỏ những gốc không ra trái, cách gốc khoảng 60 cm.

– Sau 1 tuần, bắt đầu xuất hiện các nhánh mới ở những cây không ra trái.

– Sau đó bà con chọn những nhánh ở cây có quả ghép vào các nhánh của cây không quả. Cần lưu ý: các nhánh để ghép không được non, cũng không được già quá. Để đảm bảo cho tỉ lệ cây sống cao, bà con nên trùm bao nilon vào nhánh mới ghép để tránh mất nước và hạn chế được sự tấn công của sâu bệnh.

– Sau khi cây đã có quả, bà con phun phân bón lá NPK (20-20-15) để quả phát triển. Trong giai đoạn quả phát triển mạnh, cần phun thêm kali 100% để chắc quả, tránh nứt quả, và cho chất lượng cao.

– Nên tiến hành tỉa bỏ những nhánh không mang trái, và khống chế chiều dài dây gấc tối đa khoảng 5-6 m, giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi quả, tránh tình trạng cây tập trung phát triển thân lá hoặc quả nhiều dẫn đến cây không nuôi nổi quả.

VIII. Cách phòng trừ sâu bệnh hại có thể gặp trên cây gấc

+ Bọ dừa: Bọ có cánh cứng dài 8mm, cánh có màu vàng ăn phá lá gấc. Phòng trừ bằng cách phun hoặc xịt Tata 25WG đều trên lá.

+ Rầy mềm: Thường bu mặt dưới của lá và hút nhựa. Bà con xịt Vicidi-M 50ND hoặc Decis 50ND 20-30ml/bình 8 lít để phòng trừ.

+ Nhện đỏ: Tập trung nhiều ở mặt dưới của lá, gây xoắn lá, làm lá úa vàng, dây gấc mọc cằn cỗi. Phòng trừ bằng cách phun SK Enpray 99EC hoặc Alfamite 15EC đều trên lá….

+ Ruồi trái cây: Ruồi phá hại nặng khi gấc có quả. Ruồi chích quả đẻ trứng, ấu trùng phát triển và phá vỏ dẫn đến thối quả. Phòng trị bằng cách phun dung dịch Oncol 20EC với liều lượng 30ml/8lít, và cần vệ sinh, thu lượm và đốt bỏ các quả gấc bị thối rụng.

+ Sâu xanh: Sâu xanh thường ăn hại lá gấc. Ở giai đoạn non, sâu xanh cuốn lá để làm tổ, sau đó ăn khuyết lá. Dùng thuốc Padan 95SP với liều lượng 10 – 15 g/10 lít phun vào buổi chiều mát.

2. Bệnh hại thường gặp

+ Đốm lá: Là do nấm Pseudope-ronopora cubensis Rostow gây ra, lá bị bệnh mặt trên có những chấm vàng, mặt dưới có nhiều chất xám làm cho lá chết héo. Dây gấc bị nhiễm bệnh phát triển kém không có hoặc cho ít quả, quả nhỏ chất lượng kém. Phòng trị bằng cách phun dung dịch Viroral 50BTN hoặc Viben – C lên lá.

+ Bệnh cháy lá: Là bệnh do nấm Collectrichum lagenarium Ell and Halst gây ra. Lá gấc bị bệnh cháy khô cả lá hoặc cháy thành đốm. Cách phòng trị như khi cây bị bệnh đốm lá.

+ Bệnh hoa lá: Là bệnh do virus CMV gây nên. Lá gấc bị đốm vàng, xoắn lá, dây còi cọc không cho quả. Bệnh này do cực vi trùng gây ra nên không có thuốc trị, bà con cần phòng trừ bằng cách nhổ bỏ cây bệnh để tránh lây sang những cây khác. Phun thuốc trị bọ dừa và rầy mềm cũng giảm bớt bệnh.

+ Tuyến trùng: Tuyến trùng Meloidogyne spp làm cho rễ, dây gốc bị tuyến trùng phá hoại còi cọc, kém phát triển, dẫn đến vàng quả hoặc không cho quả. Phòng trừ bằng cách rảicho mỗi hố 20gram Vimoca 10G hoặc 30 gram Vifuran 10H khi trồng cây con hoặc gieo hạt.

IX. Thu hoạch

Quả gấc sau khi thu hoạch

Thu hoạch khi quả đã chín ( ½ vỏ quả chuyển sang màu đỏ), màng bọc bên ngoài hạt dày và nhiều chất béo. Quả không bị dập nát, và không chín ép, thối hỏng. Trọng lượng quả từ 0,8kg trở lên là đạt yêu cầu. Màng gấc sấy khô phải đạt độ ẩm từ 7% – 8%, màng không có dị tật, mốc, sâu mọt, cháy khét… (có thể kiểm tra bằng cách dùng tay bẻ gãy là được).

Chúc bà con thành công!

Công ty CPĐT Tuấn Tú

VPGD Miền Bắc: Số 2, ngõ 2, đường Liên Mạc, phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Hotline: (024)22 05 05 05 – 0916 478 186

Chi nhánh Miền Nam: 129/17D Đường Lê Đình Cẩn, Khu phố 6, Phường Tân Tạo, Quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh.

Hotline: 0945 796 556 – 0984 930 099

Email: maylamdatvn@gmail.com

Website: maylamdat.vn

Fanpage: facebook.com/maylamdat3A/

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Vải

Vải chịu úng kém hơn nhãn, xoài… nhưng khả năng chịu hạn tốt hơn.

Tháng 11-12 cây vải cần thời tiết khô và lạnh phân hóa mầm hoa.

PH 5.5-6.5.

Thích hợp đất phù sa ven sông hay có tầng dày, độ phì cao, giữ ẩm và thoát nước tốt, những vùng đất xấu chế độ chăm sóc thích hợp nhưng độ dốc dưới 20%. PH 5.5-6.5

Vùng đất dốc: Đường đồng mức, mỗi bậc thang rộng 1.5-2.0m, sâu 0.8-1m, líp rộng 7-12m.

Đào hố:

+ Vùng đồng bằng: Dài x rộng x sâu 0.8mx0.8mx0.6m

+Vùng đồi: 1mx1mx0.8m.

Lượng phân lót: 30-50kg phân chuồng hoai mục; 0.7-1kg super lân, 0.5-1kg vôi bột.

Giống chín sớm: Đường kính gốc 1-1.5cm, đường kính cành ghép 0.7cm, chiều dài cành trên 40cm.

Giống chính vụ: Chỉ tiêu tương ứng 0.8-1cm, 0.5-0.7cm và 30-40cm. Cây giống phải có 2-3 cành cấp 1 trở lên và không được nhiễm sâu bệnh hại nguy hiểm.

– Vụ Xuân : tháng 2 – 3, và đầu tháng 4

– Vụ Thu : tháng 8; 9; 10.

– Khoảng cách: 4m x 6m; 7m x 7m hoặc 8 – 10m x 8 – 10m

– Cách trồng: đặt bầu cây giống vào sao cho cổ rễ cao hơn mặt đất 3 – 5 cm ( ở vùng đồng bằng ) và thấp hơn mặt đất 3 – 5 cm ( ở vùng đồi).

Nhu cầu dinh dưỡng

Nhu cầu đạm

Trong 1 năm, nhu cầu đạm cây vải cao sau khi thu hoạch để phục hồi và phát triển cành thu cho việc ra quả năm sau ( tháng 7-8) giảm mạnh khi chuẩn bị phân hóa mầm hoa (tháng 12) và lại tăng mạnh đầu xuân (tháng 2-3) khi cây phát triển cành xuân và ra hoa đậu quả, rồi lại giảm dần cho đến khi thu hoạch.

Nhu cầu Lân

Lân vai trò phát triển bộ rễ và khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây vải.

Thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa, hình thành quả, thành thục quả và hạt. Ảnh hưởng rõ phẩm chất của quả vải.

Tăng khả năng chống hạn chống rét và sâu bệnh.

Triệu chứng thiếu lân: lá tối màu, thiếu nhiều ngọn lá và mếp lá có màu nâu cục bộ và lan dần đến gân chính.

Thiếu lân không chỉ ảnh hưởng xấu đến khả năng hút dinh dưỡng, sinh trưởng phát triển cây vải mà còn ảnh hưởng xấu ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng quả.

Thừa lân làm hàm lượng N, K giảm ảnh hưởng xấu tới cây.

Trong 1 năm nhu cầu lân cao vào thời kì sau thu hoạch để phục hồi và phát triển cành thu và chuẩn bị phân hóa mầm hoa ( từ tháng 7-8 đến tháng 12) giảm dần cho đến khi thu hoạch

Nhu cầu kali

Kali dinh dưỡng cây vải hút nhiều nhất.

Vai trò: tăng độ ngọt và phẩm chất quả, tăng khả năng cất giữ, bảo vệ vỏ quả. Tăng khả năng chịu hạn, chịu lạnh, nóng khả năng chống chịu sâu bệnh giúp quả nhanh lớn và thành thục.

Triệu chứng: Thiếu kali lá hơi nhạt, ngọn lá màu trắng tro, khô, mép lá màu nâu gụ lan dần xuống tận gốc lá.

Trong năm nhu cầu kali tăng dần sau thu hoach quả và đạt cao nhất thời kì ra hoa giảm dần đậu quả cho đến thu hoạch.

Nhu cầu về yếu tố dinh dưỡng khác

– Cây vải nhu cầu khá cao MgO và CaO tăng độ ngọt, khả năng chống chịu.

– Có ý kiến cho rằng Clo yếu tố dinh dưỡng nhu cầu khá rõ với cây vải. – Ngoài ra, Bo, Zn, GA3, IAA tác dụng tăng tỷ lệ đậu quả, tăng trọng lượng và hàm lượng Vitamin C. 6.2. Bón phân

Giai đoạn kiến thiết cơ bản

Bón 3-4 đợt: đợt 1 vào tháng 2 thúc ra cành xuân, đợt 2 tháng 5 thúc cành hè, đợt 3 tháng 8 thúc cành mùa thu, đợt 4 (tháng 11) bón lân + kali tăng cường khả năng chống rét cho cây. Trong thời kì này cách 1 năm bón thêm phân hữu cơ và vôi bột tháng 7 và 8.

Liều lượng bón: Lượng bón cho cây vải năm thứ nhất là:

+ Đạm U rê: 0,1 – 0,15 kg/ cây + Lân Supe: 0,3 – 0,5 kg/cây

+ Kaliclorua: 0,1 – 0,15 kg/cây. Chia đều cho các lần bón.

– Từ những năm sau lượng bón tăng 40 – 60% so với năm trước tuỳ thuộc vào tình hình sinh trưởng của cây.

– Lượng bón cho năm bón cơ bản (cách 1 năm bón 1 năm) vào tháng 7 – 8 là:

+ Phân chuồng: 30 – 50 kg/ cây + Vôi bột: 0,3 – 0,5 kg/cây

+ Hoà phân vô cơ với nước phân chuồng ủ kỹ để tưới cho cây cách gốc 15 – 20 cm.

+ Cuốc 3 – 4 hố sâu 5 – 7 cm xung quanh tán, bón phân rồi lấp đất.

+ Rắc xung quanh hình chiếu tán cách gốc 15 – 20cm khi trời có mưa rào hoặc tưới nước.

Giai đoạn kinh doanh: Từ năm 3 trở đi

Thời kì bón:

Lần 1: Giai đoạn đậu quả (phân quả xong, quả bằng hạt đỗ).

Lần 2: Bón thúc quả giúp quả phát triển nhanh, chống rụng quả.

Lần 3: Bón sau thu hoạch quả xong 15 ngày, thúc ra lộc thu (thu hoạch xong, tỉa cành, tạo tán xong).

7.1. Phòng trừ sâu hại vải thiều

– Đặc điểm gây hại: trưởng thành qua đông vào tháng 12, 1 sau đó đẻ trứng vào tháng 2, 3, 4, trứng nở, bọ xít non gây hại các đợt lộc, hoa và quả non.

– Phòng trừ:

+ Vụ đông, rung cây vào buổi sáng sớm khi lá còn ướt sương cho bọ xít rơi xuống, tập trung lại và đốt.

+ Ngắt các lá có ổ trứng ở mặt dưới đem tiêu huỷ

+ Phun thuốc diệt bọ xít non bằng Dipterex 0,3%; Sherpa 0,2%.

– Đặc điểm gây hại: Trưởng thành đẻ trứng trên lộc non và cuống quả khi quả đang phát triển, sâu non nở ra đục qua lớp biểu bì ăn sâu vào hạt tập trung gần cuống quả làm rụng quả, tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn xâm nhập gây thối quả. Sâu đục đầu quả gây hại từ tháng 3 – 6.

– Phòng trừ:

+ Quét dọn cành lá khô, quả rụng làm giảm nguồn sâu

+ Khống chế lộc đông.

+ Phun thuốc phòng trừ vào các đợt cuối các tháng 3, 4, 5 và trước thu hoạch 15 – 20 ngày bằng Regent 0,05% để phòng trừ.

– Đặc điểm gây hại: Rệp xuất hiện từ khi giò hoa vươn dài đến khi quả non ổn định, mật độ rệp có thể lên rất cao (hàng 100 con/1 chùm hoa) gây cháy đọt, thui hoa, quả.

– Phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc ít ảnh hưởng đến hoa, quả non như Trebon 0,2%; Sherpa 0,2% phun kép 2 lần, lần 1: khi rệp xuất hiện, lần 2: sau 5 – 7 ngày vào lúc chiều mát.

– Đặc điểm gây hại: Con trưởng thành đẻ trứng vào các kẽ nứt trên gốc cây, thân và cành chính. Sâu non nở ra đục vào phần gỗ tạo ra các lỗ đục, trên vết đục xuất hiện lớp phân mùn cưa đùn ra.

– Phòng trừ:

+ Phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non

+ Sau thu hoạch quét vôi vào gốc cây để diệt trứng

+ Phun các loại thuốc xông hơi như Ofatox 0,1%; Sumicidin 0,2% sau sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu.

– Đặc điểm gây hại: Chích hút dịch quả, gây vết thương cơ giới cho nấm, vi khuẩn xâm nhập làm thối quả.

– Phòng trừ:

+ Xông khói xua đuổi

+ Bẫy ngài bằng lồng lưới

+ Bẫy bằng bả hoá học: Naled 5% + Metyl Eugenol 95% + dịch nước cam, dứa, chuối, mía, mít (100m2/1 bả).

– Đặc điểm gây hại: Nhện lông nhung phát sinh quanh năm, gây hại chủ yếu trên các đợt lộc, nặng nhất vào vụ xuân. Sâu non nở ra chích hút biểu bì mô mặt dưới lá hút nhựa, kích thích mô lá làm cho lá dị dạng có mầu nâu đỏ như nhung, mặt trên lá xoăn, phồng rộp phát triển không bình thường, làm cho lá quang hợp kém, dễ rụng.

– Phòng trừ:

+ Thu gom các lá rụng và cắt bỏ các cành bị hại nặng đem đốt. Sau thu quả và vụ đông cắt tỉa cho cây thông thoáng, làm vệ sinh vườn để giảm bớt điều kiện hoạt động của nhện.

+ Sử dụng thuốc: Regent 0,1%; Pegasus 0,1%; Ortus 0,1% có tác dụng diệt nhện trưởng thành tốt. Phun cho mỗi đợt lộc 2 lần: lần 1 nhú lộc, lần 2 lộc ra rộ.

– Đặc điểm gây hại: Sâu non và trưởng thành cắn cành non, ăn khuyết lá khi cây xuất hiện những đợt lộc làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây non.

– Phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc Sherpa 0,1%; Sumicidin 0,1%, supraside 0,15% phun vào lúc chiều mát hoặc sáng sớm.

7.2. Phòng trừ bệnh hại vải thiều

– Đặc điểm gây hại: Bệnh gây hại trên chùm hoa, lá đặc biệt là quả sắp chín và chín làm chùm hoa biến mầu đen, quả thối và rụng..

– Phòng trừ: + Sau thu hoạch cắt tỉa cành khô, cành bệnh, tiêu hủy để hạn chế nguồn bệnh. Phun phòng bằng Boocdo (1%), Oxiclorua Đồng (0,3%). Khi thấy xuất hiện bệnh trên hoa quả, dùng Ridomil MZ-72 (0,2%) để phòng trừ.

– Đặc điểm gây hại: Bệnh do nấm gây ra làm cho các mô lá bị tổn thương tạo thành các vết khô ở đầu và mép lá. Bệnh phát sinh vào tháng mùa mưa 7, 8, 9, gây hại nặng vào tháng 2, 3, 4.

– Phòng trừ:

+ Cắt bỏ những cành lá bị bệnh đem đốt tránh lây lan nguồn bệnh.

+ Phun Boocdo 1%, Ridomil MZ-72 0,2%.

– Đặc điểm gây hại: Bệnh do nấm gây ra tạo thành các vết khô ở đầu và mép lá và các đốm trên mặt lá, ranh giới giữa mô khoẻ và mô bệnh phân biệt rõ rệt.

– Phòng trừ:

+ Sau thu hoạch cắt tỉa cành khô, cành bệnh, gom lại và tiêu hủy.

+ Phun phòng thuốc vào vụ thu đông bằng Score 0,05%, Oxiclorua Đồng 0,3%, Bavistin 0,1%.