Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Hồ Tiêu / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Hồ Tiêu

Cây hồ tiêu (Piper nigrum L): Là loại cây gia vị yêu thích và cổ xưa nhất so với các loại cây gia vị khác, có nguồn gốc từ tán rừng nhiệt đới vùng Tây Ghats tại Ấn Độ. Thuộc loại cây thân thảo, có thể mọc thành bụi hoặc leo bám. Ở nước ta hồ tiêu được trồng nhiều từ những năm cuối của thế kỷ 20 và là cây có giá trị kinh tế cao do vậy diện tích gieo trồng được tăng nhanh qua các năm. Hiện nay, diện tích hồ tiêu của cả nước đã đạt trên 79.000 ha, tập trung ở các tỉnh Tây Nguyên (51,6%), các tỉnh Đông Nam bộ (39,6%) và một phần ít còn lại là các tình thành khác, (Lê Ngọc Báu, 2015). Năng suất hồ tiêu bình quân của cả nước đạt 2,16 tấn tiêu khô/ha (xếp vào loại cao nhất thế giới), chiếm 30% sản lượng và hơn 50% thị phần xuất khẩu trên thế giới.

Là một trong các loại cây trồng mang lại giá trị kinh tế khá cao, đặc biệt trên địa bàn khu vực các tỉnh Tây Nguyên, điều này đã góp phần làm tăng nhanh diện tích trồng tiêu trên cả nước. Tuy nhiên, việc tăng nhanh diện tích đã tiềm ẩn những rủi ro và biểu hiện thực tế đó là tình trạng vườn cây ít ổn định, dễ bùng phát các hiện tượng sâu bệnh nguy hiểm như: rụng đọt, đốt ngắn và xoăn lại, tuyến trùng, thối rễ, đen rễ, rễ chậm phát triển, chu kì kinh doanh ngắn, tình trạng ít đồng đều giữa các cây trong vườn và năng suất không ổn định giữa các năm mà nguyên nhân có thể nói là xuất phát từ phân bón và việc bón phân gây nên.

Sau nhiều năm trồng trọt canh tác, bón phân đã làm cho pH của đất giảm mạnh. Quá trình chua hóa đã làm mất cân bằng và giảm đi sự đa dạng dinh dưỡng khoáng cho cây, đồng thời làm giảm hiệu suất sử dụng phân bón và tăng khả năng hòa tan của một số yếu tố gây độc ảnh hưởng tới cây trồng. Không chỉ vậy, quá trình chua hóa còn tạo môi trường thuận lợi làm gia tăng số lượng và mật độ vi sinh vật gây hại vùng rễ, gây thiệt hại năng suất, chất lượng nông sản và tính bền vững trong canh tác.

Từ những thực tiễn trên, để góp phần đảm bảo canh tác bền vững hồ tiêu, các chuyên gia khuyến cáo giải pháp dinh dưỡng bền vững cho cây hồ tiêu gồm: Chất điều hòa pH đất; Dinh dưỡng Tiêu 1; Dinh dưỡng Tiêu 2 giúp cải tạo pH và phục hồi độ phì nhiêu đất, cung cấp cân đối, đầy đủ và đa dạng dinh dưỡng theo nhu cầu của cây, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hô hấp và dinh dưỡng khoáng cho cây.

I. Chăm sóc và bón phân cho cây hồ tiêu1.1. Chăm sóc cho cây hồ tiêu kiến thiết cơ bản Chăm sóc Tiêu thời kỳ kiến thiết cơ bản là tiền đề để tạo cơ sở thâm canh, kéo dài chu kỳ kinh doanh và đảm bảo canh tác bền vững.

– Làm đất, đào hố và thiết kế lô trồng

– Làm đất: Đất cần được cày bừa kỹ và xử lý mầm bệnh trước khi trồng, với đất chua trước khi bừa lần cuối cần thiết phải khử chua cho đất bằng chất điều hòa pH đất, lượng dùng 1,5-2,0 tấn/ha. Khi trồng mới trên vườn tiêu cũ, cần cày bừa, dọn sạch rễ cây và tàn dư thực vật trong đất, sau đó luân canh với cây họ đậu hoặc các cây ngắn ngày khác ít nhất 1-2 năm trước khi trồng mới.

– Đào hố: Tùy thuộc cách trồng mà kích thước hố đào khác nhau. Nếu trồng đơn kích thước hố đào 30x40x40cm và nếu trồng đôi kích thước hố đào 40x60x40cm, khoảng cách giữa các hố từ 2,0-2,5m x 2,5m (tương ứng mật độ từ 1600-2000 trụ/ha).

Mỗi hố bón 7-10kg phân chuồng hoai mục kết hợp 0,4-0,6 kg phân bón Tiêu 1 + 0,3-0,5 kg phân lân PA (lân trung tính), trộn đều với lớp đất mặt cho vào hố khoảng 20cm. Nên tiến hành đào hố và trộn phân lấp hố trước khi trồng 20-30 ngày. Vườn tiêu trên vùng đất có độ dốc nên đào hố theo đường đồng mức và bố trí hố theo hình nanh sấu.

– Xử lý đất trong hố trước trồng: Sử dụng một trong các loại thuốc như Confidor 100 SL 0,1% pha theo hướng dẫn (tưới 0,5 lít/hố), hoặc Basudin 10H (rải 20 – 30g/ hố) xử lý trước khi trồng 3-5 ngày để phòng ngừa dịch hại.

– Thiết kế lô trồng: Khoảng 10-15m giữa hai hàng trụ tiêu đào một rãnh thoát nước vuông góc với hướng dốc chính, rãnh sâu 15-20cm, rộng 20cm. Dọc theo hướng dốc chính giữa hai hàng trụ tiêu, khoảng 30-40m đào một mương sâu 30-40cm, rộng 40cm, mương vuông góc với rãnh thoát nước. Việc tiến hành thiết kế hệ thống tiêu nước nên tiến hành cùng lúc trồng trụ tiêu.

– Đặt hom, trồng dặm

– Đặt hom tiêu: Khi đặt hom tiêu vào hố cần chú ý xé bỏ bầu PE, tránh làm vỡ bầu, đặt hom vào hố trồng, sau đó lấp đất và lèn chặt gốc, hom đặt nghiêng 30-45° hướng về phía trụ tiêu.

– Trồng dặm và buộc dây: Sau khi trồng 7-10 ngày, thường xuyên kiểm tra vườn trồng, khi phát hiện có cây chết cần tiến hành trồng dặm ngay (các cây trồng dặm cần được chăm sóc kỹ). Khi dây tiêu phát triển vươn tới trụ nên dùng các loại dây mềm (dây nylon) để buộc dây tiêu vào cây trụ, buộc vào vị trí ở gần đốt của dây tiêu để rễ cây dễ dàng bám vào trụ, sau khi rễ đã bám chặt vào trụ cần cắt bỏ dây buộc.

– Cắt tỉa tạo hình và đôn tiêu

+ Đối với tiêu trồng bằng dây thân

Sau 1 năm trồng, cắt tạo hình cho tiêu bằng cách cắt ngang toàn bộ dây thân trên trụ, cách gốc tiêu 40 – 50 cm. Cắt tạo hình với mục đích vừa lấy hom nhân giống vừa tạo khung thân dây tiêu trên trụ. Cắt dây tiêu vào các ngày khô ráo, không cắt trong thời gian mưa dầm để hạn chế các loại bệnh hại tiêu. Từ chỗ cắt các dây thân chính sẽ mọc lên, giữ lại các dây thân khoẻ mạnh phân bố đều xung quanh trụ làm bộ khung chính, cắt bỏ các mầm dây thân còn lại. Số lượng dây thân để làm bộ khung chính phụ thuộc vào kích thước trụ.

– Trụ sống : 9 – 12 dây thân/trụ

– Trụ gỗ hay trụ bê tông : 8 – 10 dây thân/trụ

– Trụ xây gạch: 20 – 30 dây/trụ gạch.

Khi dây tiêu leo lên hết chiều cao trụ thì hãm ngọn và xén tỉa định kỳ. Nếu không có nhu cầu lấy hom nhân giống thì khi các dây thân ở độ cao 80 – 100cm và có 5 – 6 cành quả/1 dây thân, tiến hành bấm ngọn lần đầu để kích thích sự phát triển thêm dây thân. Bấm ngọn bằng cách cắt bỏ phần ngọn tiêu mang 1 – 2 cành quả. Sau khi bấm ngọn lần đầu nếu trên trụ tiêu vẫn chưa có đủ số dây thân cần thiết của mỗi trụ thì sau khi dây thân mới có từ 3 – 5 cành quả thì tiếp tục bấm ngọn lần thứ hai.

+ Đối với tiêu trồng bằng dây lươn

Tiêu trồng bằng dây lươn cây sẽ cho nhiều dây thân, cắt bỏ các dây yếu, chỉ để lại 3-4 dây khoẻ trên một gốc dây lươn. Sau 10-12 tháng trồng, các dây tiêu đạt kích thước 1,4-1,8m và bắt đầu suất hiện cành mang quả, khi phần lớn các dây trên trụ có cành mang quả cần tiến hành đôn tiêu.

Xới đất quanh trụ tiêu thành rãnh sâu 10-15cm, cách trụ 15-20cm, chọn 3-4 dây tiêu khoẻ, cắt hết những lá phía dưới cành mang quả đầu tiên trừ lại khoảng 30-40cm tính từ cành mang quả xuống, khoanh tròn trong rãnh phần thân đã cắt bỏ lá, lấp một lớp đất mỏng 7-10cm, buộc cành áp vào trụ tiêu và tưới nước, khi thấy rễ nhú ra từ các đốt đôn dưới đất cần lấp thêm đất, vun gốc và bón phân cho tiêu.

Sử dụng Dinh dưỡng khoáng hữu cơ chức năng (Organic Tiêu 1) bón 0,2-0,3 kg/trụ/lần (bón 4 lần mỗi năm)

1.2. Chăm sóc cho cây hồ tiêu kinh doanha. Xén tỉa cho tiêu kinh doanh + Tỉa bỏ tất cả các dây thân, dây lươn, cành ác mọc phía dưới gốc tiêu cách mặt đất 10 – 15cm.

+ Tỉa bỏ các dây thân mọc ngoài bộ tán tiêu, các dây thân mọc quá dài ở đỉnh trụ.

b. Bón phân cho cây hồ tiêu Bón phân là việc làm bổ sung dinh dưỡng thiếu hụt mà đất không cung cấp đủ cho nhu cầu của cây. Do vậy, để bón phân hiệu quả cần xác định được khả năng cung cấp của đất và phải biết yêu cầu của cây ở mỗi giai đoạn sinh trưởng, phát triển khác nhau.

Bình quân với năng suất 2 tấn hạt/ha, hàng năm cây tiêu lấy đi từ đất khoảng 70kg đạm (N); 16kg Lân (P2O5); 42kg Kali (K2O); 18kg Magiê (MgO); 67kg Canxi (CaO) cùng các yếu tố trung vi lượng khác như Si; B; Zn; Cu; Mn; Mo… Với nhu cầu dinh dưỡng như vậy, việc bón phân cần phải cung cấp được đầy đủ nhu cầu về dưỡng chất cho cây ở mỗi giai đoạn sinh trưởng và phát triển, phải đảm bảo trả lại đúng cho đất những gì mà cây trồng lấy đi theo sản phẩm và phần dinh dưỡng giúp cây tích lũy để phát triển sinh khối hàng năm nhằm phát huy tối đa hiệu quả của phân bón.

– Phân hữu cơ

Cây tiêu rất cần phân hữu cơ nhất là khi trồng mới. Khác với nhiều loại cây lâu năm khác, vườn tiêu cần được bón phân hữu cơ hàng năm (lượng bón 10-20 kg/trụ). Phân hữu cơ không những cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng mà còn có tác dụng làm đất tơi xốp, tăng khả năng giữ ẩm giữ phân của đất, làm cho đất thông thoáng, cung cấp nguồn năng lượng cho vi sinh vật hoạt động, tăng tính đệm cho đất, giảm thiểu tác hại do biến động về thời tiết, hạn hán và bón phân không cân đối gây ra. Các loại phân hữu cơ cần được ủ cùng Chất điều hòa pH đất và các chủng vi sinh hữu ích cho hoai mục mới nên bón cho hồ tiêu.

– Dinh dưỡng khoáng hữu cơ chức năng (Organic Tiêu 1)

Organic Tiêu 1 là loại dinh dưỡng chuyên dùng cho cây hồ tiêu đảm bảo cung cấp đầy đủ, cân đối dinh dưỡng đa, trung và vi lượng thiết yếu giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt giai đoạn hồi phục cây, phân hóa mầm hoa, ra hoa và đậu quả. Đặc biệt, các nguồn hữu cơ có chức năng kiểm soát sinh lý cây trồng và hoạt động vi sinh vật đất nhờ vậy có thể kiểm soát tốt cây trồng giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, biểu hiện ở tính năng ra rễ cực mạnh, phục hồi rễ hư, cành lá xanh tốt, mầm hoa nhiều.

Lượng bón và thời điểm bón

+ Bón lần 1: Sau khi thu hoạch 1-2 tháng, khi lượng mưa đủ ẩm đất sử dụng Dinh dưỡng chức năng Tiêu 1 bón từ 0,4-0,5 kg/trụ giúp tăng khả năng hồi phục cây sau thu hoạch và thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa.

+ Bón lần 2: Sau bón lần 1 từ 40-50 ngày (khoảng T6-T7) tiếp tục sử dụng Dinh dưỡng chức năng Tiêu 1 bón với lượng 0,5 kg/trụ đảm bảo cung cấp dinh dưỡng cho cây giúp cây phát triển mạnh ra hoa tập trung, dài hoa và hạn chế số lượng mầm ngủ ngày.

– Dinh dưỡng chức năng (NPKSi-Tiêu 2)

Dinh dưỡng chức năng Tiêu 2 là loại dinh dưỡng chuyên dùng cho cây hồ tiêu, được sản xuất từ các dạng nguyên liệu chức năng thích hợp và cân đối dinh dưỡng cho hồ tiêu phát triển bền vững. Dinh dưỡng chức năng Tiêu 2 giúp cành lá phát triển cân đối, đồng đều, hiệu suất quang hợp cao; Tăng tỷ lệ đậu trái, hạn chế rụng trái; Trái lớn nhanh, lớn đồng đều, chín tập trung, chắc nhân và chống hiện tượng răng cưa; Tăng khả năng chống chịu điều kiện bất thuận và giúp năng suất ổn định qua nhiều năm.

+ Bón lần 3: Sau khi bón phân lần 2 từ 30-45 ngày (khoảng T8-T9) hoa đã trỗ đều và bắt đầu làm hạt sử dụng loại Dinh dưỡng chức năng Tiêu 2 bón từ 0,2-0,3/trụ nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cây, giúp cây phát triển khỏe mạnh, trái lớn đồng đều và giảm mạnh tiêu răng cưa.

+ Bón lần 4: Sau khi bón đợt 3 từ 35-50 ngày (khoảng T10-T11), để có thể cung cấp đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng giúp cây phát triển cành nhánh mạnh cho năm sau và chống chịu nắng hạn giúp trái chín đồng đều đạt trọng lượng hạt tiến hành bón phân đợt 4, sử dụng loại Dinh dưỡng chức năng Tiêu 2 với lượng bón 0,2-0,3 kg/trụ.

Như vậy, theo quy trình bón mỗi năm ngoài việc đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng trung lượng, vi lượng cần thiết và cân đối cho cây hồ tiêu, thì lượng dinh dưỡng đạm (N), lân (P2O5), kali (K2O) cung cấp cho mỗi trụ đạt: đạm (N = 110-150g), lân (P2O5= 90-110g), kali (K2O = 120-160g) đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây để đạt năng suất hạt 4-6 kg/trụ.

Ngoài phân bón gốc, việc bổ sung phân bón lá cũng rất cần thiết để hồ tiêu đậu nhiều trái, năng suất cao. Mỗi năm phun phân bón lá cho tiêu 2 – 3 lần, phun trong mùa mưa, chọn ngày mát trời không nắng gắt. Khi phun chú ý dùng đúng liều lượng được ghi trên bao bì của nhà sản xuất. Nếu liều lượng quá cao sẽ có hiện tượng cháy lá, rụng quả, rụng gié. Nên dùng các loại phân có chứa vi lượng Zn, Bo để làm tăng tỷ lệ đậu quả, giảm rụng chùm quả (gié).

II. Dịch hại và biện pháp phòng trừ trên cây hồ tiêu Phải thường xuyên thăm vườn để phát hiện dịch hại ở giai đoạn sớm và phòng trừ kịp thời. Cần áp dụng nhiều biện pháp phòng trừ tổng hợp để phòng trừ dịch hại có hiệu quả và bền vững.

Một số dịch hại chính trên cây hồ tiêu:

2.1. Bệnh chết nhanh – Tác nhân và triệu chứng

Bệnh do nấm Phytophthora capsici gây ra. Nấm xâm nhập và phá huỷ các tế bào ở rễ, thân, cành, lá của cây tiêu làm cho lá héo, teo tóp lại rồi rụng. Khi cây bị hại thân lá có triệu chứng héo rũ nhanh, gốc, rễ và phần thân gần mặt đất bị thối, từ khi bệnh xuất hiện đến khi cây tiêu chết hoàn toàn khoảng vài tuần lễ.

– Biện pháp phòng trừ

Chọn giống ít nhiễm bệnh, không để vườn tiêu bị úng nước, vườn tiêu phải có rãnh thoát nước tốt trong mùa mưa. Vệ sinh vườn sạch sẽ, thông thoáng. Bón phân cân đối, tăng cường bón phân chuồng ủ với nấm Trichoderma hoặc bón phân hữu cơ vi sinh. Tránh gây vết thương cho gốc và rễ tiêu khi bón phân, chăm sóc. Khi phát hiện trong vườn có cây bị bệnh, sử dụng dung dịch Bordeaux 1%, Oxyclorua đồng 0,2-0,3%, Phosphorous acid 0,15%, Fosetyl Aluminium 0,1-0,2% để tưới vào gốc và phun xịt lên thân lá.

Dọn sạch cây chết do bệnh và tàn dư thân lá bệnh gom đem chôn hoặc đốt để hạn chế bệnh lây lan.

2.2. Bệnh vàng lá chết chậm – Tác nhân và triệu chứng:

Bệnh gây nên do sự phối hợp của tuyến trùng, rệp sáp và các nấm Fusarium sp., Rhizoctonia sp., Pythium sp., P. Capsici. Khi tuyến trùng, rệp sáp đục vết thương ở rễ để chích hút sẽ tạo điều kiện cho các loại nấm trên xâm nhập qua vết thương hủy hoại bộ rễ cây tiêu. Biểu hiện ban đầu là cây sinh trưởng chậm, lá chuyển sang màu vàng. Bệnh hại nặng làm cho lá, hoa, quả rụng dần từ dưới gốc lên ngọn, gốc và rễ bị thối. Cây không hút đủ nước và chất dinh dưỡng nên cây sinh trưởng chậm và chết dần. Từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên đến khi cây tiêu chết có thể kéo dài một vài năm.

– Biện pháp phòng trừ

Trồng các giống ít nhiễm tuyến trùng (Vĩnh Linh, tiêu Trung, Ấn Độ), tăng cường bón phân chuồng, phân hữu cơ hoai mục. Khi thấy có triệu chứng bệnh xuất hiện, cần theo dõi và xác định tác nhân chính gây bệnh để có biện pháp phòng trừ hiệu quả. Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật Cytokinin pha nồng độ 0,1-0,2% tưới quanh gốc, rải Ethoprophos 10-15g/gốc trộn đều với đất để phòng trừ tuyến trùng, sử dụng Thiophanate-Methyl nồng độ 0,1% phun đều lên cây, Benomyl 17% + Zineb 53% với nồng độ 0,15% phun đều lên cây và tưới vào gốc (2-3 lít/gốc) để phòng trừ nấm bệnh.

2.3. Bệnh thán thư – Tác nhân và triệu chứng

Bệnh do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra, bệnh tấn công cả cành, lá và gié. Lá bị bệnh có những vết vằn lớn màu vàng nâu, xung quanh vết vằn có quầng đen, đốm bệnh tròn hoặc không đều, kích thước 4-6 cm. Khi bệnh lây sang cành, gié sẽ gây rụng đốt cành, gié, làm hạt khô đen và lép. Bệnh phát triển mạnh trong vườn cây nóng ẩm, chăm sóc kém, bón phân không cân đối, tưới nước không đều về mùa khô.

– Biện pháp phòng trừ

Bón đủ phân hữu cơ, bón cân đối phân vô cơ và phân vi lượng, thường xuyên vệ sinh vườn, cắt tỉa và thu dọn cành lá bị bệnh. Khi phát hiện bệnh, sử dụng dung dịch Bordeaux 1% hoặc Carbendazim pha với nồng độ 0,15% phun đều lên cây.

2.4. Bệnh virus (bệnh tiêu điên) – Tác nhân và triệu chứng

Bệnh do virus gây ra, biểu hiện bệnh khá rõ khi cây tiêu được 1-2 năm tuổi trở đi. Bệnh lây lan theo nguồn hom giống, dụng cụ dao, kéo cắt hom và cắt tỉa, một số trường hợp bệnh lay lan do côn trùng chích hút như bọ xít, rầy mềm và rệp sáp.

Sáu nhóm triệu chứng bệnh virus trên cây tiêu, bao gồm đốm hoa lá, vàng lá gân xanh, vàng lá, đốm vàng nhạt, lá nhỏ biến dạng và khảm xanh, trong đó đốm hoa lá thường gặp nhất. Bệnh xuất hiện ở các lá non, bệnh làm cây cằn cỗi, chậm phát triển, giảm năng suất, khi bệnh nặng cây sẽ chết.

– Biện pháp phòng trừ

Không lấy hom giống từ những vườn tiêu bị bệnh, khử trùng dao kéo khi cắt hom và tỉa cành bằng các loại thuốc sát trùng. Nhổ cây bị bệnh nặng, gom lại đem chôn hoặc đốt để hạn chế sự lây lan. Khi phát hiện côn trùng môi giới truyền bệnh nên dùng Fenobucarb pha với nồng độ 0,1-0,2% phun xịt để tiêu diệt.

2.5. Rệp sáp (Pseudococcus spp.)

– Đặc điểm nhận dạng

Rệp sáp có kích thước nhỏ, cơ thể dài 2,5-3,0mm, rộng 1,8-2,0mm, hình ovan tròn. Cơ thể màu nâu nhạt, phủ một lớp bột sáp màu trắng nhưng vẫn nhìn thấy ngấn ngang theo đốt cơ thể, xung quanh cơ thể có nhiều cặp tua sáp trắng, cuối bụng có 2-4 cặp tua sáp dài hơn so với những tua sáp còn lại.

– Tập quán gây hại

Rệp sống thành từng đám bám chặt ở cổ rễ và các rễ chính, chích hút nhựa cây, rệp còn gây hại ở gié hoa, trái, nách lá hoặc mặt dưới của lá, làm cho lá, gié hoa và trái bị héo khô. Trên thân, lá nơi rệp gây hại thường xuất hiện nấm bồ hóng. Rệp sinh sản nhanh và phát triển mạnh vào cuối mùa mưa.

– Biện pháp phòng trừ

Thường xuyên theo dõi vùng rễ gần gốc và trên cây tiêu, nhất là vào cuối mùa mưa và trong mùa khô. Khi phát hiện rệp ở vùng rễ tiêu, xới đất xung quanh trụ tiêu sâu 5cm, làm đất tơi và phá bỏ tổ đất khô cứng quanh trụ tiêu, rải các loại thuốc dạng hạt như Diazinon (Basudin 10H, 10-12 g/gốc) sau đó lấp phủ đất lại. Dùng vòi nước phun rửa bột rệp sáp và bồ hóng trên thân lá, sau đó phun Methidathion pha với nồng độ 0,1% hoặc Carbaryl nồng độ 0,2%.

2.6. Rệp sáp giả vằn (Ferrisia virgata Ckll.)

– Đặc điểm nhận dạng

Cơ thể có hình ovan dài 4-5mm, rộng 3,0-3,5mm, cơ thể màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt, phủ một lớp bột sáp trắng, xung quanh cơ thể không có tua sáp, cuối bụng có một cặp tua sáp dài.

– Tập quán gây hại

Rệp sáp giả vằn chích hút nhựa chủ yếu trên lá, đọt non và trên chùm hạt.

– Biện pháp phòng trừ: tương tự như trường hợp rệp sáp.

2.7. Bọ xít lưới (Elasmognathus nepalensis Dist.)

– Đặc điểm nhận dạng

Thành trùng là một loài bọ xít nhỏ màu đen, kích thước cơ thể dài 5-7mm, ngực trước phát triển rộng ra hai bên, tạo với trục cơ thể thành hình chữ thập. Ấu trùng bọ xít lưới không có cánh và trải qua năm lần lột xác.

– Tập quán gây hại

Cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút dinh dưỡng trên gié hoa, gié quả và cành non. Vết chích có màu xám sau chuyển dần sang màu nâu. Khi bị bọ xít gây hại nặng, cả gié hoa, chùm quả non có màu nâu vàng, làm rụng hoa và quả non.

– Biện pháp phòng trừ

Khi phát hiện bọ xít gây hại, dùng Thiamethoxam pha với nồng độ 0,015% hoặc Cartap nồng độ 0,15-0,2% phun đều lên cây.

III. Thu hoạch, sơ chế và bảo quản tiêu3.1. Thu hoạch và tách hạt

Mùa vụ thu hoạch thay đổi theo vùng, tháng 1-3 ở Đông Nam bộ và Phú Quốc, tháng 2-4 ở Tây Nguyên, tháng 3-5 ở Nam Trung Bộ và tháng 5-7 ở Bắc Trung bộ.

Không thu hoạch khi quả tiêu còn xanh, thời điểm thu hoạch tốt nhất để làm tiêu đen khi chùm tiêu có trên 5% quả chín có màu vàng hoặc đỏ và để làm tiêu trắng khi trên 20% quả chín.

Khi thu hái xong có thể phơi ngay để làm tiêu đen hoặc ủ 1-2 ngày trong mát cho tiêu tiếp tục chín để làm tiêu sọ, thường xuyên trộn đều trong quá trình ủ để quả chín đều, tách hạt ra khỏi chùm quả sau khi phơi ½ -1 nắng.

Dùng máy tuốt hạt để tách hạt tiêu ra khỏi chùm quả, lượng tiêu thu hoạch ít hoặc không có máy có thể tách hạt thủ công. Trong quá trình tách hạt tránh làm các hạt tiêu bị xây xát vỏ và vỡ, gié và cuống hạt phải được tách riêng khỏi hạt. Máy tuốt hạt phải được vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi sử dụng.

3.2. Sơ chế tiêu đen

Để giảm mức độ tạp nhiễm và tiêu đen thương phẩm có màu đẹp, trước khi phơi nên nhúng tiêu vào nước nóng 80-90oC trong vòng 1-2 phút, trộn đều sau đó lấy ra để trong mát cho ráo nước rồi đem phơi. Thay vì nhúng tiêu vào nước nóng, khi tiêu phơi được một nắng, khoảng 3-4 giờ chiều gom tiêu thành đống và dùng bạt tủ kín qua đêm, nhiệt độ trong đống tiêu có thể đạt 60-70 oC.

Phơi tiêu trên nong tre, bạt ni-lông hoặc sân xi măng, dụng cụ phơi và sân cần được rửa sạch trước mỗi đợt phơi, dùng lưới ni-lông bao quanh khu vực phơi để tránh thú vật vào khu phơi. Nếu trời nắng tốt phơi 3-4 ngày là đạt, độ ẩm của hạt sau khi phơi khô phải đảm bảo dưới 13%, sản phẩm sau khi phơi gọi là tiêu đen. Có thể dùng máy sấy lúa, sấy bắp, sấy cà-phê để sấy tiêu, giữ nhiệt độ ổn định trong buồng sấy khoảng 55-60 oC, vệ sinh buồng sấy sạch sẽ trước mỗi đợt sấy.

Sau khi phơi khô, tiêu cần được làm sạch tạp chất (đất, đá, cành lá, cuống và chùm quả) bằng cách sàng, quạt, thổi để thu được tiêu đen khô trước khi đưa vào bảo quản và tiêu thụ.

3.3 Sơ chế tiêu trắng

Muốn làm tiêu trắng (tiêu sọ) từ tiêu tươi, tiêu phải được thu họach khi chùm tiêu có khỏang 20% quả chín, cho vào bao PP hoặc bao bố ngâm trong nước sạch 2-3 ngày, vớt tiêu ra chà xát vỏ bằng máy hoặc thủ công và đải sạch vỏ, 4kg tiêu tươi có thể làm được 1kg tiêu sọ. Có thể làm tiêu sọ từ tiêu khô bằng cách cho tiêu vào bao đem ngâm trong nước lã 8-10 ngày trong bồn xi-măng hoặc nhựa, thường xuyên thay nước, đến khi vỏ tiêu mềm thì vớt ra, cho vào máy xát và rửa sạch vỏ, sau đó đem sấy hoặc phơi.

3.4. Bảo quản

Hạt tiêu đưa vào bảo quản phải khô, đạt độ ẩm 12-13% và sạch tạp chất. Bảo quản tiêu bằng bao hai lớp, lớp trong là bao ni-lông (PE) để chống ẩm mốc, lớp ngoài là bao PP hoặc bao bố, bao dùng đựng tiêu phải là bao mới hoàn toàn. Tiêu được đưa vào chất trên kệ hoặc pa-lét trong kho khô ráo và thông thoáng. Kho bảo quản tiêu không được chứa hóa chất, phân bón và các sản phẩm khác, cách ly với gia súc, chuột bọ và sâu bệnh. Thường xuyên kiểm tra kho để phát hiện và xử lý các biểu hiện không bình thường.

Quy Trình Bón Phân Cho Cây Hồ Tiêu

Trong bài viết này, bạn đọc sẽ hiểu được nhu cầu dinh dưỡng của cây tiêu, hiểu được loại phân, lượng phân và cách bón phân cho hồ tiêu.

1. Nhu cầu dinh dưỡng của cây hồ tiêu

Năm 1960, De Waard và Sutton phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong cây tiêu trưởng thành giống Kuching đã cho thấy lượng dinh dưỡng lấy ra khỏi đất tính trên 1ha là 252 kg N, 32 kg P2O5 và 224 kg K2O. Năm 2000, Sadanandan khi nghiên cứu trên giống Panniyur 1, là giống tiêu lai của Ấn Độ, cũng cho thấy tổng lượng N và K ở các bộ phận của cây tiêu đều rất cao so với lân. Lượng N, P, K lấy đi từ 1 ha đất trồng tiêu ở năm thứ 8 là 292 kg N, 56 kg P (tương đương 24 kg P2O5) và 405 kg K (tương đương 336 kg K2O). Kết quả của Sadanandan cho thấy cây tiêu có nhu cầu kali cao hơn N trong khi đó De Waard lại cho rằng cây tiêu có nhu cầu N cao hơn kali.

Lượng dinh dưỡng một cây tiêu 8 tuổi lấy đi từ đất (kg/ha)

Bộ phận

Khối lượng khô

N

P

K

Thân Lá Rễ Quả

6,0 6,0 2,5 1,0

43,8 151,8 72,3 24,2

13,7 28,9 9,2 4,6

100,8 195,6 76,0 32,3

Tổng cộng

15,5

292

56

405

* Nguồn: Sadanandan, 2000

– Ngoài ra một số nguyên tố dinh dưỡng khác như Ca, Mg cây tiêu cũng cần với một lượng rất lớn, còn cao hơn cả lân.

2. Các loại phân thường sử dụng cho cây hồ tiêu

– Phân hữu cơ: Phân chuồng ủ hoai mục, phân hữu cơ vi sinh, vỏ quả cà phê ủ với nấm Trichoderma…

Phân hữu cơ

– Phân hóa học:

+ Phân Đạm: Đạm Urê (46%N), Đạm SA (21%N),

+ Phân lân: Lân nung chảy (14-16% P2O5), Lân super (16-18% P2O5)

+ Phân Kali: Kali Clorua, Kali Sunphat

+ Phân phức hợp: phân NPK 16 – 16 – 8, 16 – 8 – 16

– Phân bón lá: sử dụng các loại phân bón lá có chứa các nguyên vi lượng như Zn, B, Mo… để phun.

– Vôi bột

3. Lượng phân bón cho cây hồ tiêu

– Phân hữu cơ: 30 – 40 m3/ha/năm

– Vôi: 500 kg/ha/năm

– Phân hóa học:

+ Định lượng phân bón hóa học cho hồ tiêu (kg/ha/năm)

Năm

Phân NPK(kg/ha/năm)

Phân đơn (kg/ha/năm)

Loại

Liều lượng

Urê

S.A

Lân nung chảy hoặc lân Super

Kcl

Trồng mới

16-16-8

400-500

150

50

1000

35

Năm 2

16-16-8

1000-1200

350

150

1000

170

Năm 3

16-16-8

1600-1800

550

250

1000

500

Kinh doanh

16-8-16

2200-2500

650

300

1000

600

+ Định lượng phân bón hóa học cho hồ tiêu (g/trụ/năm)

Năm

Phân NPK(g/trụ/năm)

Phân đơn (g/trụ/năm)

Loại

Liều lượng

Urê

S.A

Lân nung chảy hoặc lân Super

Kcl

Trồng mới

16-16-8

200-250

75

25

500

17,5

Năm 2

16-16-8

500-600

175

75

500

85

Năm 3

16-16-8

800-900

275

125

500

250

Kinh doanh

16-8-16

1100-1250

325

150

500

300

4. Cách bón phân cho cây hồ tiêu

– Bón phân hữu cơ:

+ Phân hữu cơ được rải trên mặt đất, xung quanh gốc rố i dùng cỏ rác tủ lên. Hoặc rạch nhẹ rãnh, sâu 5 – 10 cm, xung quanh tán tiêu, rải phân và lấp đất.

Bón phân hữu cơ cho cây hồ tiêu

+ Không được đào rãnh sâu quanh gốc để bón phân làm tổn thương bộ rễ tiêu.

– Bón vôi: rải đều vôi trên mặt đất, xung quanh tán tiêu hoặc ủ chung với phân chuồng rồi mới đem bón.

– Bón lân: rải đều lân trên mặt đất, xung quanh tán tiêu.

Phân hữu cơ, phân lân, vôi được bón toàn bộ một lần vào đầu mùa mưa.

– Bón Đạm và Kali:

+ Phân Urê, S.A và Kali được chia ra bón làm 3 – 4 lần, vào các thời kỳ sau thu hoạch, ra hoa và nuôi trái.

+ Trước khi bón phân phải làm sạch cỏ, khi bón đất phải đủ ẩm, rải phân lên mặt đất xung quanh tán, dùng cuốc xăm xới nhẹ để lấp phân vào đất.

+ Khi rạch rãnh hoặc xăm xới cần hết sức cẩn thận để không làm đứt rễ tiêu.

Rạch rãnh

Bón phân hóa học

+ Tại một số địa phương, vào mùa mưa bà con nông dân khi bón phân hóa học cho vườn tiêu thường không rạch rãnh vì dễ gây tổn thương rễ tiêu, tạo điều kiện cho nấm bệnh xâm nhập, mà chỉ rải phân trên mặt đất xung quanh tán, nếu không gặp mưa thì tưới nước để phân tan và ngấm hết vào đất hoặc hòa phân ra nước để tưới là những biện pháp có hiệu quả rất tốt.

– Phân bón lá:

+ Được phun làm nhiều lần để cung cấp thêm các nguyên tố đa vi lượng để cây ra hoa quả tập trung, không bị rụng, gié dài, quả to…

+ Nếu phun trong mùa khô, phải phun ngay sau khi tưới.

Phun phân bón lá cho hồ tiêu

+ Khi phun phải đúng liều lượng và nồng độ hướng dẫn trên bao bì để tránh cháy lá và rụng gié do nồng độ quá cao.

Phun vào thời điểm trời mát.

Nguồn: Giáo trình cây hồ tiêu – Bộ NN&PTNT

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Tiêu Theo Hướng Bền Vững

Quy trình kỹ thuật trồng và Chăm sóc cây tiêu theo hướng bền vững

Cây hồ tiêu ( Piper nigrum L.) có nguồn gốc ở Ấn Độ, mọc hoang trong các rừng nhiệt đới ẩm phía Tây vùng Ghats và Assam. Từ thế kỷ XIII, hồ tiêu được canh tác và sử dụng rộng rãi trong bữa ăn hàng ngày. Trong nhiều năm, Ấn Độ là nước trồng hồ tiêu nhiều nhất thế giới, tập trung canh tác ở Kerela và Mysore. Sau đó, cây tiêu được trồng phổ biến sang nhiều nước khác ở Viễn Đông, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và SriLanka.

Ở Đông Dương, cây hồ tiêu mọc hoang được tìm thấy từ trước thế kỷ XVI nhưng đến thế kỷ XIX mới được canh tác tương đối qui mô ở vùng Hà Tiên (Việt Nam) và vùng Kampot (Campuchia).

Từ cuối thế kỷ XIX, hồ tiêu bắt đầu được phổ biến sang trồng ở Châu Phi với Mađagasca là địa bàn canh tác tiêu nhiều nhất. Ở Châu Mỹ, Brasil là nước canh tác hồ tiêu nhiều nhất với giống tiêu do nguời Nhật đưa từ Singapore sang.

Hiện nay, hồ tiêu được trồng nhiều ở các nước nằm trong vùng xích đạo khoảng 15 o vĩ Bắc và 15 o vĩ Nam. ở Việt Nam, hồ tiêu có thể trồng ở vĩ độ 17. Hồ tiêu chỉ thích hợp ở độ cao dưới 800 m, trồng ở độ cao hơn tiêu phát triển kém.

Hồ tiêu thuộc loại thân thảo mềm dẻo được phân thành nhiều đốt, tại mỗi đốt có 1 lá đơn. Lá có cuống, phiến lá hình trái tim, mọc cách. Ở nách lá có các mầm ngủ có thể phát sinh thành các dây thân, dây lươn, cành quả tùy theo từng giai đoạn phát triển của cây hồ tiêu.

– Dây thân: thường phát sinh từ mầm nách trên các cây tiêu nhỏ hơn 1 tuổi. Đối với cây trưởng thành, dây thân phát sinh từ các mầm nách trên dây thân chính phía dưới thấp của trụ tiêu. Đặc điểm của dây thân là góc độ phân cành nhỏ, dưới 45 0, cành mọc tương đối thẳng. Dây thân sinh trưởng khỏe, lóng ngắn, các đốt có nhiều rễ bám, thường được dùng để giâm cành nhân giống. Cây tiêu được nhân giống bằng loại dây thân này sinh trưởng khỏe, nhanh cho hoa quả.

– Dây lươn: phát sinh từ mầm nách của các đốt gần sát gốc của cây tiêu. Đặc trưng của dây lươn là bò sát đất và các lóng rất dài. Dây lươn cũng được dùng để nhân giống bằng giâm cành hoặc chiết. Cây tiêu được trồng từ dây lươn thường ra hoa quả chậm nhưng sinh trưởng khoẻ và có thời gian khai thác dài hơn.

– Cành quả: là cành mang trái, phát sinh từ các mầm nách trên dây thân chính của cây tiêu. Mỗi nách lá trên dây thân chỉ có 1 mầm ngủ có khả năng phát triển thành cành quả. Trên cây hồ tiêu trồng bằng dây thân, cành quả phát sinh rất sớm sau khi trồng. Trên cây tiêu trồng bằng dây lươn thường thì sau 1 năm trồng mới phát sinh cành quả. Đặc trưng của cành quả là góc độ phân cành lớn, mọc ngang, độ dài của cành thường ngắn, < 1m, cành khúc khuỷu và lóng rất ngắn. Trên các đốt của cành quả cũng có nhiều mầm ngủ có thể phát sinh thành cành quả cấp 2, cấp 3. Cành quả được đem trồng cũng ra rễ, cây cho trái rất sớm, tuy vậy cây phát triển chậm, không leo cao trên trụ mà mọc thành bụi vì lóng đốt không có rễ bám hoặc rất ít, cây mau cỗi, năng suất thường thấp.

Dây tiêu trồng từ hom có các loại rễ sau đây

– Rễ cái: 3-4 rễ, các rễ này làm nhiệm vụ chính là hút nước. Sau khi trồng ra ngoài vườn được 1 năm các rễ cái này có thể ăn sâu đến 2m.

– Rễ phụ: các rễ phụ mọc thành chùm, phát triển theo chiều ngang, rất dày đặc, phân bố nhiều nhất ở độ sâu 15 – 40cm, làm nhiệm vụ hút nước và hút chất dinh dưỡng trong đất để nuôi cây

Rễ cây hồ tiêu thuộc loại háo khí, không chịu được ngập úng, do đó để tạo cho rễ cái ăn sâu, cây chịu hạn tốt và rễ phụ phát triển tốt hút được nhiều chất dinh dưỡng thì phải thường xuyên có biện pháp cải tạo làm cho đất được tơi xốp, tăng hàm lượng mùn.

Chỉ cần úng thủy 12 – 24 giờ thì bộ rễ cây hồ tiêu đã bị tổn thương đáng kể và có thể dẫn tới việc hư thối và dây tiêu có thể bị chết dần.

– Rễ bám: mọc ra từ các đốt trên thân ở trên không, làm nhiệm vụ chính là giúp cây tiêu bám vào choái, vách tường v.v… để vươn lên cao. Khả năng hút nước và hút chất dinh dưỡng của rễ bám rất hạn chế, gần như không đáng kể.

Hoa hồ tiêu ra không tập trung mà ra thành nhiều lứa. Vào mùa mưa, khi mưa đã đều, cùng với sự ra lá non là mùa hồ tiêu trổ hoa. Các búp non có chứa lá non, chồi non và mầm hoa (gié hoa) ở đốt thân bắt đầu nhú lên. Sau đó lá non mọc mạnh ra trước, tiếp theo sau đó là gié hoa và chồi non. Như vậy búp non ở đốt thân sẽ phát triển thành một cành con mang 1 gié hoa.

Hoa tự của hồ tiêu hình gié, treo lủng lẳng, dài 7 – 12cm tùy giống và tùy điều kiện chăm sóc. Trên hoa tự có bình quân 20 – 60 hoa xếp thành hình xoắn ốc, hoa lưỡng tính hay đơn tính. Các giống hồ tiêu cho năng suất cao thường có tỷ lệ hoa lưỡng tính nhiều hơn.

Quả hồ tiêu thuộc loại quả hạch, không có cuống, mang 1 hạt hình cầu.

Hồ tiêu là một loại cây đặc trưng của vùng nhiệt đới ẩm. Các vùng trồng hồ tiêu chính trên thế giới chủ yếu nằm ở vùng Châu Á Thái Bình Dương như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Sri Lanca, Thái Lan và Việt Nam. Hồ tiêu cũng được trồng ở các nước khác như Brazil, Madagascar. Cây hồ tiêu đòi hỏi lượng mưa cao, nhiệt độ khá cao đồng đều và ẩm độ không khí cao, đó là kiểu khí hậu đặc trưng của vùng nhiệt đới nóng và ẩm với sự thay đổi không đáng kể về độ dài ngày và ẩm độ không khí trong suốt năm.

Về mặt nhiệt độ, các tài liệu cho thấy cây hồ tiêu có thể trồng được ở khu vực vĩ tuyến 20 0 bắc và nam, nơi có nhiệt độ từ 10 – 35 0C. Nhiệt độ thích hợp cho cây hồ tiêu từ 20 – 30 0C. Khi nhiệt độ không khí cao hơn 40 0C và thấp hơn 10 0C đều ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng. Cây hồ tiêu sẽ ngừng sinh trưởng ở nhiệt độ 15 0C kéo dài. Nhiệt độ 6 – 10 0 C trong thời gian ngắn làm nám lá non, sau đó lá trên cây bắt đầu rụng.

Nguồn gốc tổ tiên của cây hồ tiêu mọc dưới tán rừng thưa, do vậy hồ tiêu là loại cây ưa bóng ở mức độ nhất định. Ánh sáng tán xạ nhẹ phù hợp với yêu cầu sinh lý về sinh trưởng và phát dục, ra hoa đậu quả của cây hồ tiêu và kéo dài tuổi thọ của vườn cây hơn, do vậy trồng hồ tiêu trên các loại cây trụ sống là kiểu canh tác thích hợp cho cây hồ tiêu.

Cây hồ tiêu ưa thích điều kiện khí hậu nóng ẩm. Lượng mưa trong năm cần từ 1500 – 2500mm phân bố tương đối điều hòa. Hồ tiêu cũng cần một giai đoạn hạn tương đối ngắn sau vụ thu hoạch để phân hóa mầm hoa tốt và ra hoa đồng loạt vào mùa mưa năm sau. Cây hồ tiêu cũng có thể sinh trưởng và phát triển tốt ở nơi có lượng mưa thấp hơn, miễn là mưa phân bố đều trong năm.

Cây hồ tiêu cần ẩm độ không khí cao từ 70 – 90%, nhất là vào thời kỳ ra hoa. Độ ẩm cao làm hạt phấn dễ dính vào nuốm nhị và làm cho thời gian thụ phấn kéo dài do nuốm nhị trương to khi có độ ẩm. Tuy độ ẩm cao là giúp cây hồ tiêu sinh trưởng phát triển tốt, ra hoa đậu quả thuận lợi, nhưng đồng thời độ ẩm cao lại tạo điều kiện cho sâu bệnh hại trên hồ tiêu phát triển mạnh. Những nơi mà môi trường đất đủ ẩm với không khí có gió nhẹ và khô rất thuận lợi cho việc trồng hồ tiêu.

Cây hồ tiêu ưa thích môi trường lặng gió, hoặc gió nhẹ. Gió nóng, gió lạnh, bão đều không hợp với cây hồ tiêu. Do vậy khi trồng hồ tiêu tại những vùng có gió lớn, việc thiết lập các hệ đai rừng chắn gió cho cây là điều không thể thiếu được.

Cây hồ tiêu trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như đất đỏ phát triển trên đá bazan, đất đỏ vàng phát triển trên sa phiến thạch, diệp thạch, đất cát xám trên đá granit, đất phù sa, đất sét pha cát …..miễn là đạt các yêu cầu cơ bản sau:

– Đất dễ thoát nước, có độ dốc dưới 20 0, không bị úng ngập dù chỉ úng ngập tạm thời trong vòng 24 giờ. Đất dốc thoai thoải từ 5-10 0 tốt hơn đất bằng phẳng vì thuận lợi cho việc thiết lập hệ thống thoát nước cho vườn tiêu.

– Tầng canh tác dày trên 70cm, mạch nước ngầm sâu hơn 2m.

– Đất giàu mùn, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, pH KCl từ 5 – 6.

Đất phải được cày bừa, nhặt sạch rễ cây, rải vôi bột khi bừa với liều lượng 2-3 tấn/ha. Nếu là đất từ các vườn cây ăn quả lâu năm hết nhiệm kỳ kinh tế hoặc từ vườn cà phê già cỗi thanh lý cần phải áp dụng các biện pháp khai hoang, cày bừa, rà rễ và đốt, gieo trồng cây phân xanh họ đậu, cây đậu đỗ từ 2 – 3 vụ để cải tạo đất, xử lý đất để diệt trừ nấm bệnh trước khi trồng hồ tiêu.

2.6. Yêu cầu về địa hình, độ cao so với mặt biển

Cây hồ tiêu trồng được trên đất bằng phẳng, đất dốc thoai thoải, hoặc dốc khá mạnh, miễn là đất thoát nước tốt.

Ở Ấn Độ, người ta trồng hồ tiêu ở các vùng đồi núi có độ cao từ 700 – 1200m, ở đó hồ tiêu được trồng trên các cây che bóng cho vườn cà phê, chè. Ở nước ta, hồ tiêu có thể sinh trưởng phát triển tốt ở vùng Tây Nguyên, nơi có độ cao biến động từ 400 – 700m.

QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Chọn đất trồng và chuẩn bị đất trồng

Cây tiêu trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như đất đỏ phát triển trên đá bazan, đất đỏ vàng phát triển trên sa phiến thạch, diệp thạch, đất cát xám trên đá granit, đất phù sa, đất sét pha cát …. miễn là đạt các yêu cầu cơ bản sau:

– Đất dễ thoát nước, có độ dốc dưới 25 0, không bị úng ngập, dù chỉ úng ngập tạm thời trong vòng 24 giờ. Đất dốc thoai thoải từ 5-10 0 tốt hơn đất bằng phẳng vì thuận lợi cho việc thiết lập hệ thống thoát nước cho vườn tiêu.

– Tầng canh tác dày trên 75cm, tốt nhất trên 1m.

– Đất giàu mùn, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, pH KCl từ 5 – 6.

Tiêu trồng lại trên vườn tiêu cũ, hoặc các vườn cây ăn quả lâu năm hết nhiệm kỳ kinh tế hoặc vườn cà phê già cỗi thanh lý cần phải áp dụng các biện pháp khai hoang, cày bừa, rà rễ và đốt tàn dư thực vật. Gieo trồng cây phân xanh họ đậu, từ 2 – 3 vụ để cải tạo đất. Mùa nắng cày phơi đất, xử lý đất để diệt trừ nấm bệnh trước khi trồng tiêu. Trồng tiêu trên đất trồng cao su hay ca cao đã hết thời kỳ khai thác cũng phải luân canh 2-3 năm vì nấm Phytophthora gây hại trên hai loại cây này cũng là đối tượng bệnh hại chính trên cây tiêu.

Trước khi trồng, đất phải được cày bừa, nhặt sạch rễ cây còn sót, rải vôi bột khi bừa với liều lượng 2 – 3 tấn/ha.

2. Thiết kế lô trồng, mật độ khoảng cách

Thiết kế đúng khoảng cách mật độ tùy loại trụ. Trên đất dốc thiết kế trồng tiêu theo hàng đồng mức để hạn chế xói mòn đất.

Chú ý thiết kế các mương rãnh thoát nước, tránh đọng nước trong vườn tiêu vào mùa mưa.

Mật độ khoảng cáchtùy thuộc rất nhiều vào loại trụ tiêu.

– Trụ đúc bê tông: cạnh đáy trụ từ 12-15cm, cạnh đỉnh trụ là 10cm cao 4m, sau khi dựng trụ còn 3,5m tính từ mặt đất. Do có tiết diện leo bám hẹp, trụ đúc thường được trồng với mật độ dày, từ 1800-2000 trụ/ha, với khoảng cách trồng là 2.2 x 2,5m hoặc 2 x 2,5m.

– Trụ gạch xây: Kích thước và hình dạng trụ gạch biến đổi tùy theo nông hộ. Có thể xây trụ gạch vuông có lõi sắt, cạnh 20-25cm, cao 3,5m hoặc trụ gạch tròn có đường kính gốc trụ 80 – 100cm và đường kính đỉnh trụ 60 – 70cm. Mật độ trụ gạch thay đổi tùy theo kích cỡ trụ. Trụ gạch vuông được dựng theo mật độ 1600 trụ/ha, khoảng cách 2,5 x 2,5m. Trụ gạch tròn do có tiết diện leo bám rộng nên được dựng với mật độ thưa hơn 1110 trụ/ha, với khoảng cách 3 x 3m.

– Trụ sống: Tùy theo khả năng sinh trưởng phát triển của bộ tán, cây trụ sống được trồng với mật độ khoảng cách khác nhau. Trụ keo dậu, anh đào, lồng mức ….được trồng với khoảng cách 2,5 x 2,5m, mật độ 1600 trụ/ha. Trụ sống cây muồng đen được trồng với khoảng cách 3 x 3m, mật độ 1100 trụ/ha.

Có thể trồng xen kẽ, một hàng trụ sống kết hợp với 1 hàng trụ bê tông với khoảng cách 2,5 x 2,5m, mật độ 1600 trụ/ha.

3. Giống tiêu sử dụng và tiêu chuẩn hom giống, cây giống

Trong vườn tiêu quy mô tương đối lớn hơn 1ha trở lên nên sử dụng từ 2 – 3 giống tiêu, mỗi giống trồng riêng một khu vực để tiện chăm sóc, thu hoạch. Các giống có triển vọng hiện nay trong sản xuất là: Vĩnh Linh, Trung Lộc Ninh.

Hom giống đem ươm hay trồng cần đạt các tiêu chuẩn sau

* Tiêu chuẩn cây giống khi xuất vườn

– Cây được ươm từ 4 – 5 tháng trong vườn ươm, có ít nhất 1 chồi mang 5 – 6 lá trở lên mới đem trồng.

– Cây không bị sâu bệnh và được huấn luyện với ánh sáng 70 – 80% từ 15 – 20 ngày trước khi đem trồng.

b/ Hom tiêu dây thân: hom thân bánh tẻ khỏe mạnh, lấy trên các vườn tiêu 12 – 18 tháng tuổi. Đường kính dây hom thân lớn hơn 5mm, có 4 – 5 đốt, các đốt có rễ bám tốt hoặc ít nhất 2 – 3 đốt phía dưới phải có rễ bám tốt. Hom có mang ít nhất một cành quả.

Hom thân được đem trồng trực tiếp hoặc ươm trên líp ương cho ra rễ rồi đem trồng, cũng có thể ươm hom thân vào bầu lớn, cây phát triển tốt mới đem trồng.

Hom thân được cắt xiên phía dưới gốc, vết cắt cách đốt cuối cùng 1,5 – 2cm. Cắt hết lá và cành quả ở các đốt chôn vào đất. Tỉa bớt một số lá non và cành quả. Mỗi hom để lại từ 1 – 2 cành quả và một số lá bánh tẻ.

Trước khi đem ươm hay trồng, xử lý hom giống bằng một trong các loại thuốc sau Aliette 80 WP, nồng độ 0,1%, Ridomil Gold 68 WP nồng độ 0,1%, Curzate72WP M8 nồng độ 0,1%. Nhúng vào dung dịch thuốc trong vòng 30 phút.

4. Trụ tiêu và kỹ thuật trồng :

4.1. Trồng cây trụ sống và cây trụ tạm

– Cây trụ sống được trồng ngay vào đầu mùa mưa, làm cỏ bón phân thúc cẩn thận. Sau khi trồng, cứ 20 – 30 ngày bón 1 lần với lượng 10 – 15g Urê + 5g KCl/cây trụ sống cho đến khi trồng mới tiêu vào 2 – 3 tháng sau đó. Có thể trồng cây trụ sống 1 – 2 năm trước khi trồng tiêu, trong trường hợp này mỗi năm bón thúc phân cho cây trụ sống từ 2 – 3 lần. Cần chăm sóc tốt cây trụ sống như cây trồng chính để cây trụ sống sinh trưởng tốt đảm bảo yêu cầu leo bám cho cây tiêu.

– Trồng cây trụ tạm: trồng tiêu cùng năm với cây trụ sống bắt buộc phải trồng trụ tạm. Sau khi trồng trụ sống 2 – 3 tháng thì trồng tiêu. Do cây trụ sống còn nhỏ, chưa có chỗ cho tiêu leo bám nên cần trồng cây trụ gỗ tạm cùng lúc với trồng tiêu. Cây trụ tạm được trồng cách cây trụ sống 10-15cm. Trụ tạm có đường kính 10 – 15cm, chiều cao tính từ mặt đất từ

3 – 3,5m, chất lượng cây trụ tạm tương đối tốt để tiêu có thể leo bám trong vòng 2 – 3 năm trước khi cây trụ sống đủ lớn cho tiêu leo bám.

4.2. Trồng trụ bằng vật liệu xây dựng

Dựng trụ hoặc xây trụ trước khi trồng tiêu khoảng 1 – 1,5 tháng để gặp các trận mưa to rửa sạch bớt hồ, vữa.

Trồng cây che bóng tầng cao trong vườn trụ bằng vật liệu xây dựng để tạo bóng mát cho vườn tiêu vào thời kỳ kinh doanh. Keo dậu được trồng với khoảng cách 6 x 12m.

– Đào hố trồng tiêu: đào 1 hố trồng phía cây trụ tạm, ở phía xa cây trụ sống, mép hố cách trụ tạm 10 – 15 cm, sao cho tâm hố là vị trí đặt bầu tiêu hay dây tiêu cách cây trụ sống từ 40 – 50cm. Hố đào có kích thước 60 x 60 x 60cm. Đất mặt và đất sâu để riêng.

+ Bón 10kg phân hữu cơ ủ hoai(phân bò, gà…) + 0,3kg phân lân nung chảy hoặc super lân + 0,3 kg vôi . Trộn các loại phân lót trên với lớp đất mặt rồi lấp đầy hố trồng. Việc trộn phân lấp hố được thực hiện trước khi trồng tiêu ít nhất là 15 ngày.

+ Bón phân hữu cơ :

* Komix thúc tiêu 6.2.4 : 0,3 kg/hố

* Komix lân vôi + TE : 0,5 kg/hố

* Komix vi lượng : 50 g/hố

– Khi trồng móc lại hố để trồng, trồng tiêu ngang mặt đất, không trồng âm.

– Nếu trồng bằng bầu, xé bầu tiêu nhẹ nhàng tránh vỡ bầu rồi đặt vào giữa hố, đặt bầu hơi nghiêng, hướng chồi tiêu về phía trụ, mặt bầu ngang với mặt đất, không trồng âm. Lấp đất, dùng chân dậm chặt đất xung quanh bầu.

– Trồng bằng hom thì dùng hom thân 5 mắt, đặt hom xiên với đất mặt 45 0, đầu hom hướng về phía trụ, vùi lấp 3 mắt vào đất, chừa trên mặt đất 2 mắt, dậm chặt đất quanh hom.

– Sau 7 – 10 ngày trồng tiêu bằng bầu, 2 – 3 ngày trồng tiêu bằng hom thân nếu trời không mưa phải tưới nước cho dây tiêu.

– Trồng dặm kịp thời các những dây tiêu bị chết và chấm dứt trồng dặm trước khi dứt mưa 1,5 – 2 tháng.

– Làm túp che nắng và chắn gió: do cây trụ sống còn nhỏ, chưa có tác dụng che bóng, cần làm túp che hoặc dàn che nắng và chắn gió cho tiêu. Dàn che làm bằng lưới công nghiệp hoặc các vật liệu che nắng khác có sẳn ở địa phương.

5. Trồng cây đai rừng, cây che bóng

Trồng tiêu quy mô nhỏ, diện tích dưới 1 ha, chỉ cần trồng 1 hàng muồng đen (Cassia siamea) ở đầu lô chắn hướng gió chính.

– Trồng tiêu quy mô lớn, có chiều dài lô tiêu theo hướng gió chính dài hơn 200m cần trồng đai rừng. Đai rừng được trồng đồng thời hoặc trồng trước khi trồng tiêu, gồm 1 – 2 hàng muồng đen cách nhau 2m, khoảng cách cây 2m, trồng nanh sấu. Tùy địa hình và tốc độ gió của vùng, khoảng các giữa các đai rừng chính từ 200 – 300m. Đai rừng chính được bố trí thẳng góc hoặc có thể xiên 60 0 với hướng gió chính.

Tiêu trồng với cây trụ sống đã có bóng mát. Cần chú ý rong tỉa định hình cây trụ sống và cây bóng mát trong các vườn trụ chết từ lúc mới trồng để cây trụ sống và cây bóng mát trong vườn tiêu có thân thẳng đứng cao tới 4 – 5m mà không phân cành ngang.

Đối với những vườn tiêu kinh doanh trồng trên trụ chết không có cây che bóng cần trồng bổ sung cây che bóng. Cây keo dậu, cây muồng cườm trồng với mật độ 100 – 120 cây/ha, cây muồng đen 80 – 100 cây/ha.

Làm sạch cỏ thường xuyên, nhổ cỏ mọc trong gốc bằng tay, tránh làm tổn thương vùng rễ.

Dùng rơm rạ, cỏ rác, vỏ ngô, đậu, cành lá cây phân xanh …. tủ xung quanh gốc tiêu, cách gốc tiêu 10 – 15cm vào mùa khô để giữ ẩm cho cây, khối lượng chất tủ từ 5 – 10 kg vật liệu tủ/trụ.

6.2. Buộc dây tiêu vào trụ, tỉa cành dây tiêu

Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản thường xuyên buộc dây tiêu kịp thời để đảm bảo dây tiêu có rễ bám tốt ở tất cả các mắt. Dây buộc phải mềm, dẻo.

Trong thời kỳ kinh doanh: tỉa bỏ tất cả các dây lươn, cành ác mọc phía dưới gốc tiêu, cành lá của cành ác phải cách mặt đất 10 – 15cm, tỉa bỏ các dây thân mọc ngoài bộ tán tiêu, các dây thân mọc quá dài ở đỉnh trụ, tỉa bỏ các cành ác yếu ớt, các cành tăm nhang. Việc cắt tỉa tiêu kinh doanh cần tiến hành 2 – 3 lần trong mùa mưa. Không dùng kéo cắt các cây bị bệnh xoăn lá do bị virus xâm nhiễm để cắt các cây chưa bị bệnh.

– Phân hữu cơ truyền thống: Phân chuồng được bón hàng năm với liều lượng 15-20kg/trụ. Vào đầu mùa mưa, có thể bón trên mặt đất rồi dùng rơm, cây phân xanh, cỏ khô tủ lên phân chuồng tránh mất dinh dưỡng trong phân. Hạn chế đào rãnh sâu để bón phân chuồng vì làm ảnh hưởng bộ rễ tiêu.

– Phân hữu cơ :

Bón cho cây tiêu thời kỳ kiến thiết cơ bản

Bón cho cây tiêu thời kỳ kinh doanh

Hồ tiêu kiến thiết cơ bản

– Năm trồng mới: ngoài phân chuồng và 0,5 kg phân lân được bón lót khi trồng, lượng phân NPK ở bảng trên được chia thành 2-3 lần để bón thúc sau trồng.

– Năm 2 và 3 lượng phân NPK mùa mưa được chia 3-4 lần để bón trong mùa mưa.

– Lượng phân mùa khô được chia thành 2 lần để bón khi tưới.

* Chú thích: đợt bón nuôi quả cuối cùng trong năm có thể đã vào đầu mùa khô, cần tưới nước đủ ẩm khi bón phân.

* Bón phân đơn: lượng bón/trụ/năm như sau: 400-450g Urê + 500-600g super lân (hay lân Vân điển) + 350 – 400g KCl. Bón vào các thời kỳ sau

Bón phân đơn cho tiêu thời kỳ kinh doanh

Bón phân khi đất đủ ẩm, rải phân lên mặt đất xung quang tán, xới nhẹ lấp phân vào đất, tránh làm đứt rễ tiêu.

Nếu bón phân đơn thì phân lân được bón 1 lần vào đầu mùa mưa, rải đều trên mặt đất chiếu theo tán cây, cách gốc 30 – 40 cm, không nên trộn phân lân nung chảy với phân đạm. Phân kali và đạm có thể trộn đều và bón ngay:

* Chú ý bón vôi: * Bón vôi: Hàng năm bón vôi cho vườn tiêu với liều lượng 500kg/ha. Vôi được bón bằng cách rải đều trên mặt đất, chiếu theo tán tiêu hoặc ủ chung với phân chuồng rồi đem bón cho tiêu hoặc sử dụng Komix lân vôi + TE: Bón trước khi bón các loại phân khác từ 7 – 10 ngày.

* Phân bón lá: Sử dụng một trong các sản phẩm sau đây để bổ sung dinh dưỡng cho cây tiêu: Komix Super zinc K, Bud Booster, Bortrac, phun qua lá, 3 lần trong mùa mưa vào các thời kỳ sau:

– Ra lá non: giúp ra gié tiêu tập trung, tang tỉ lệ trổ bông, đậu trái, hạn chế rụng bông.

– Trái non: hạn chế rụng trái non.

– Trái vào chắc: giúp hạ tiêu chắc mẩy, tang độ dzem (dung trọng).

+ Phun đúng nồng độ hướng dẫn trên bao bì để tránh bị cháy lá, rụng gié do nồng độ quá cao.

+ Phun phân bón lá vào những ngày trời mát không nắng gắt.

6.4. Tưới nước và thoát nước

– Phương pháp tưới: dùng biện pháp tưới gốc cho tiêu. Trong các vườn tiêu quy mô lớn, nên bố trí hệ thống ống tưới chính ngầm trong đất để chủ động tưới và tránh làm thương tổn dây tiêu khi kéo ống tưới trong vườn tiêu.

– Định lượng nước tưới và chu kỳ tưới

– Thời kỳ tưới

+ Tiêu trồng mới và kiến thiết cơ bản: tưới suốt mùa khô cho đến khi có mưa. Trong năm trồng mới, nếu vào mùa mưa có những đợt hạn dài cũng cần tưới nước bổ sung cho tiêu.

+ Tiêu kinh doanh: tưới vào mùa khô khi cây đang nuôi quả, sau khi thu hoạch xong ngừng tưới nước.

Mùa mưa, vườn tiêu phải được thoát nước tốt, vun gốc tiêu để không cho nước đọng ở gốc. Tùy thuộc vào địa hình của vườn tiêu, có thể tiến hành đào các rãnh, mương tiêu nước.

6.5. Điều chỉnh ánh sáng cho vườn tiêu

– Rong tỉa cây che bóng và cây trụ sống

+ Trong vòng 2-3 năm đầu sau khi trồng cây trụ sống và cây bóng mát, chỉ tỉa các cành ngang, hãm ngọn cây trụ sống ở độ cao 4m tính từ mặt đất.

+ Khi cây trụ sống đã lớn và tiêu bước vào thời kỳ kinh doanh cần rong tỉa cây trụ sống và cây bóng mát để tiêu có đầy đủ ánh sáng thích hợp. Mỗi năm rong tỉa 3 – 4 lần. Đầu mùa mưa, rong mạnh cây trụ sống và cây bóng mát, chỉ để lại 2 – 3 cành nhỏ ở ngọn tán. Sau đó cứ 2 tháng rong tỉa lại 1 lần nhẹ hơn, rong lần cuối cùng trước khi chấm dứt mưa 1,5 – 2 tháng và giữ bóng mát qua suốt mùa khô.

– Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản trồng cây che phủ đất như cây họ đậu, cây phân xanh. Trồng các loại cây này theo băng, cách hàng tiêu 50 – 60cm.

– Trong thời kỳ kinh doanh trồng lạc dại theo băng, cách hàng tiêu 80 – 100cm

SÂU BỆNH HẠI CÂY HỒ TIÊU VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

1. CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ TỔNG HỢP SÂU BỆNH HẠI TRÊN CÂY HỒ TIÊU

Hồ tiêu là một trong các loại cây công nghiệp bị nhiễm các loại sâu bệnh có nguồn gốc từ đất rất nghiêm trọng. Đây là các loài dịch hại rất khó phòng trị, nhất là đối với cây hồ tiêu, một loại cây trồng có bộ rễ rất nhạy cảm với sự tấn công của sâu bệnh. Vì vậy để quản lý sâu bệnh hại trong vườn tiêu có hiệu quả cần thiết phải áp dụng biện pháp quản lý tổng hợp theo các nguyên tắc sau:

1.1. Kiểm tra thường xuyên, phát hiện và xử lý kịp thời

– Thường xuyên kiểm tra vườn tiêu để phát hiện sớm sâu bệnh ở giai đoạn mới phát sinh.

– Khi thấy triệu chứng sâu bệnh xuất hiện phải tiến hành chữa trị, đưa các bộ phận bị sâu bệnh gây hại nặng ra khỏi đồng ruộng và đốt để hạn chế sự lây lan.

1.2. Biện pháp phòng ngừa sự nhiễm sâu bệnh

– Phương pháp phòng ngừa bệnh phải được thực hiện cho các cây tiêu khỏe xung quanh những cây tiêu đã bị nhiễm các loại bệnh như: bệnh virus, bệnh héo chết nhanh, bệnh vàng lá chết chậm.

– Các dụng cụ đã dùng để cắt bỏ và chuyển các bộ phận bị bệnh của cây tiêu ra khỏi đồng ruộng nên được làm sạch hay khử trùng trước khi dùng lại trên cây tiêu khác.

– Dụng cụ nông nghiệp đã dùng ở vườn bị nhiễm bệnh phải được làm sạch và khử trùng trước khi dùng cho vườn khác.

– Hạn chế sự di chuyển của người làm vườn từ các vườn tiêu bệnh đến vườn không bệnh.

– Hệ thống thoát nước phải được thiết lập để có thể tránh được sự lan truyền của nấm bệnh qua dòng nước.

1.3. Dùng giống kháng, giống sạch bệnh

Ở Việt Nam, công tác chọn tạo giống, nhất là giống chống bệnh cho cây hồ tiêu còn bỏ ngỏ, chưa có các giống hồ tiêu chống chịu hoặc kháng sâu bệnh hại.

Để phòng ngừa bệnh hại cần lấy các vật liệu giống (dây thân, dây lươn) tại các vườn không bị nhiễm bệnh.

1.4. Các thực hành nông nghiệp để kiểm soát sâu bệnh hại tiêu

– Chọn đất trồng tiêu phù hợp, lập hệ thống thoát nước tốt cho vườn tiêu nếu cần thiết.

– Không trồng với mật độ dày hơn 2000 cây/ha.

– Khuyến khích trồng tiêu trên cây trụ sống. Rong tỉa cây che bóng thường xuyên trong mùa mưa để tạo độ thông thoáng và ánh sáng đầy đủ cho vườn tiêu.

– Cắt tỉa hết các cành nhánh ở gốc tiêu trong khoảng 30 cm trên mặt đất, để làm giảm độ ẩm tối thiểu ở phần cổ rễ và tránh sự tiếp xúc các lá ở tầng thấp với đất vì có thể dễ nhiễm nấm bệnh.

– Hạn chế xới xáo, làm cỏ. Nhổ cỏ gốc bằng tay, trồng cây che phủ giữa các hàng tiêu, cần chú ý không để thảm che phủ phát triển quá tốt sát gốc tiêu.

– Tích cực bồi dưỡng hữu cơ để tăng độ tơi xốp, tạo điều kiện cho hệ thống rễ cây tiêu phát triển khỏe mạnh, chống đỡ được sâu bệnh.

– Tăng cường phun phân bón lá

– Bón phân khoáng cân đối hợp lý cả về đa lượng, trung lượng và vi lượng

– Vệ sinh đồng ruộng: Thu dọn các bộ phận bị sâu bệnh, các tàn dư thực vật của cây tiêu đem ra ngoài lô và tiêu hủy.

Đây là biện pháp cần được ưu tiên trong phòng trừ sâu bệnh hại hồ tiêu

– Duy trì một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các vi sinh vật có ích trong vườn tiêu để hạn chế sự gây hại của các loài sâu bệnh bằng cách: tăng cường bón phân hữu cơ, bón phân bón khoáng cân đối và hợp lý, hạn chế sử dụng hóa chất nông nghiệp.

– Thường xuyên sử dụng các chế phẩm sinh học, chế phẩm chiết xuất từ cây trồng để phòng trừ bệnh.

Biện pháp hóa học được dùng như là biện pháp cuối cùng trong việc phòng trừ sâu bệnh hại tiêu.

Khi sử dụng phải tuân theo các quy định an toàn cho người lao động và các quy định an toàn thực phẩm.

2. BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN CÂY HỒ TIÊU VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

2.1. BỆNH VÀNG LÁ CHẾT CHẬM

Ban đầu cây sinh trưởng, phát triển chậm, lá vàng (các lá già thường bị vàng trước) sau đó héo và rụng, tiếp theo là các đốt bị rụng. Những cây bị bệnh thường có bộ tán lá thưa thớt, ra hoa và đậu quả kém dẫn đến năng suất và chất lượng giảm. Hiện tượng cây sinh trưởng kém, vàng lá thường xuất hiện thành từng vùng cục bộ; lúc đầu chỉ có một vài cây, sau đó lan rộng ra hoặc phát triển thành nhiều vùng. Triệu chứng vàng và rụng lá, rụng đốt thường phát triển chậm và kéo dài, có khi vài ba năm sau khi xuất hiện triệu chứng cây mới chết.

Hệ thống rễ của cây tiêu bị bệnh phát triển kém, đầu rễ bị thối, rễ có những nốt sần. Những nốt sần này có thể xuất hiện riêng lẻ hay tạo thành từng chuỗi. Triệu chứng nốt sần trên rễ và đầu rễ bị thối thường xuất hiện trên cùng 1 cây nhưng cũng có thể xuất hiện riêng lẻ trên các cây khác nhau và đều đưa đến triệu chứng trên mặt đất là cây vàng, rụng lá và rụng đốt. Khi cây bị bệnh nặng thì các rễ chính và phụ đều bị thối.

Tác nhân gây triệu chứng nốt sần trên rễ chủ yếu là tuyến trùng Meloidogyne spp. và triệu chứng thối rễ là do sự gây hại của một số loài nấm, chủ yếu là: Fusarium spp., Phytophthora spp., Pythium spp…. Tuyến trùng tấn công trước, tạo ra những vết thương và nốt sưng trên rễ sau đó nấm xâm nhập làm thối rễ dẫn đến triệu chứng cây sinh trưởng chậm, vàng lá, tháo đốt và chết.

Đôi khi mặc dầu không có sự hiện diện của tuyến trùng, các loài nấm Phytophthora spp., Pythium spp…. cũng có thể tấn công vào các đầu rễ gây triệu chứng thối đầu rễ làm cây không hấp thu được dinh dưỡng và cũng dẫn đến triệu chứng cây sinh trưởng chậm, vàng lá, tháo đốt và chết.

Tuyến trùng và nấm gây bệnh vàng lá chết chậm trên cây tiêu là các loài dịch hại có nguồn gốc từ đất vì vậy để phòng trừ có hiệu quả cần chú trọng các biện pháp phòng trừ bằng canh tác và sinh học, hạn chế sử dụng biện pháp hóa học. Biện pháp hóa học chỉ nhằm làm giảm tạm thời số lượng tuyến trùng trong rễ và đất trồng cây tiêu, sau đó các biện pháp canh tác và sinh học sẽ giúp cây tiêu phát triển bền vững và chống chịu được sự gây hại của tuyến trùng mà không gây ô nhiễm môi trường và độc hại cho người trồng tiêu. Để hạn chế sự phát triển và gây hại của bệnh vàng lá chết chậm cần áp dụng các biện pháp sau:

– Không nên trồng tiêu trên các vườn tiêu đã nhổ bỏ do bị tuyến trùng gây hại mà chưa qua thời gian luân canh. Đất làm vườn ươm cũng không nên lấy từ những vườn này.

– Trước khi trồng mới cần vệ sinh đồng ruộng để loại bỏ các tàn dư thực vật, cày phơi đất trong mùa khô để diệt nguồn tuyến trùng trong đất.

– Bón phân cân đối, tăng cường phân bón lá và thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho cây vì ngoài việc bổ sung dinh dưỡng và cải tạo đất trong phân hữu cơ còn có các vi sinh vật đối kháng với tuyến trùng có thể hạn chế được sự phát triển của tuyến trùng.

– Thường xuyên sử dụng các loại thuốc sinh học như Paecilomyces lilacinus (Palila 500WP), Chitosan, Trichoderma spp. Nên sử dụng ngay từ khi bắt đầu trồng tiêu và sử dụng liên tục hàng năm để tăng cường lượng vi sinh vật đối kháng với tuyến trùng trong đất trồng tiêu.

– Thường xuyên theo dõi và kiểm tra vườn cây để phát hiện bệnh và xử lý sớm.

– Hạn chế xới xáo và không để nước chảy tràn từ gốc tiêu này sang gốc tiêu khác trong vườn tiêu bị bệnh.

– Những vườn đã bị nặng cần nhổ bỏ và luân canh 2 – 3 năm với cây trồng khác trước khi trồng lại tiêu.

– Sử dụng thuốc hóa học:

o Sử dụng thuốc hóa học để trị tuyến trùng và một số nấm dưới đất: Tervigo 020SC kết hợp với Ridomil Gold 68WG(với nồng độ 200ml Tervigo + 200g Ridomil Gold để phòng và 200ml Tervigo + 400g Ridomil Gold để trị, pha trong 200 lít nước tưới vào từ gốc)

o Để phòng trừ các nhóm nấm xâm nhiễm gây thối rễ ( Fusarium, Pythium, Lasiodiplodia, Rhizoctonia, Phytophthora) tưới gốc EDDY 72WP (pha 500g/ 200 lít, tưới 4-5 lít/ trụ ), xử lý thuốc 2 lần vào đầu mùa mưa (tháng 5,6) và giữa mùa mưa (tháng 8,9).

Bệnh xuất hiện trên tất cả các bộ phận và ở các giai đoạn sinh trưởng của cây tiêu. Nấm bệnh có thể gây hại trên lá, chùm quả, thân, rễ nhưng phổ biến nhất là ở phần thân nằm trong đất nơi tiếp giáp với mặt đất.

Nếu bệnh tấn công vào các bộ phận trên mặt đất như thân, cành, lá sẽ làm các bộ phận này thối đen. Đầu tiên là những vết bệnh mềm, sũng nước trên thân, cành, lá. Sau đó các vết bệnh lan rộng ra tạo các vết thâm đen dẫn đến đến triệu chứng thối thân, thối cành, cháy lá. Những lá tiêu gần sát mặt đất thường dễ nhiễm bệnh do nấm Phytophthora sau những trận mưa lớn trong mùa mưa.

* Triệu chứng trên gié hoa, quả: Sự nhiễm nấm Phytophthora trên gié hoa, quả gây hiện tượng quả, cuống gié hoa, quả bị đen và rụng.

Bệnh do một số loài nấm Phytophthora gây hại.

Bệnh chết nhanh thường xuất hiện trong mùa mưa. đặc biệt là những tháng mưa nhiều và tập trung ở những vườn không thoát nước tốt. Những năm mưa nhiều và kéo dài bệnh thường gây hại nặng và lây lan nhanh, đôi khi thành dịch. Những năm có hạn hán kéo dài, khả năng sinh trưởng và sức đề kháng của cây kém nên cây cũng dễ bị nấm tấn công hơn trong mùa mưa.

Nấm bệnh chủ yếu sống trong đất và lây lan từ đất qua nước mưa; nước tưới; thân, cành, lá tiêu bị bệnh rụng xuống đất. Thân, cành, lá thường bị nhiễm bệnh trong mùa mưa. Các vườn ẩm thấp, các cây có bộ tán lá rậm rạp là điều kiện thích hợp cho nấm bệnh phát triển.

Do diễn biến bệnh trên đồng ruộng rất nhanh, thường khi lá bắt đầu héo thì nấm đã ăn sâu vào bên trong các bộ phận của cây, nên đối với bệnh này phòng bệnh là chủ yếu. Để phòng trừ bệnh cần phải sử dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp bao gồm các biện pháp: vệ sinh đồng ruộng, kỹ thuật canh tác, sinh học và hóa học. Đặc biệt chú trọng biện pháp canh tác và sinh học.

– Chọn đất trồng tiêu có tầng canh tác dày, thoát nước tốt, có mực nước ngầm thấp.

– Xử lý hom giống trước khi trồng bằng một trong các loại thuốc sau Aliette 80 WP (0,1%), Ridomil Gold 68 WP (0,1%), Rovral 50 WP (0,1%).

– Trồng tiêu với mật độ thích hợp

– Đào rãnh thoát nước, tránh để nước đọng trong gốc tiêu, vun đất cao ở phần gốc thân, không để bồn quá sâu.

– Tạo điều kiện tiểu khí hậu thuận lợi trong vườn tiêu như: trồng cây đai rừng chắn gió, cây che bóng để vườn tiêu có độ ẩm, nhiệt độ thích hợp cho cây tiêu sinh trưởng và phát triển tốt.

– Điều chỉnh cây che bóng hợp lý: Cây tiêu thường được cho leo bám lên các loại cây trụ sống như cây muồng đen, cây lồng mức, cây muồng cườm, cây keo dậu… Trong mùa mưa tán của các loại cây trụ sống này phát triển và tạo một vùng tiểu khí hậu dưới tán cây với ẩm độ cao và nhiệt độ thấp. Đây là điều kiện lý tưởng để cho nấm Phytophthora phát triển và lây nhiễm. Việc chặt các cành nhánh cây trụ sống trong mùa mưa là cần thiết để cây tiêu có thể nhận ánh sáng mặt trời để quang hợp và giảm độ ẩm trong vườn cây. Các cành nhánh được chặt có thể dùng để che phủ đất chống lại sự văng đất bệnh lên cây tiêu.

– Trồng các loại cây che phủ như cây lạc dại ( Arachis pintoii) giữa các hàng tiêu để kìm hãm sự lan truyền của nấm Phytophthora và chống lại việc văng các hạt đất bị nhiễm Phytophthora từ các lá tiêu ở dưới thấp trong suốt mùa mưa.

– Thường xuyên kiểm tra vườn cây trong mùa mưa, đặc biệt là những trận mưa sau một đợt hạn hán kéo dài, để có thể phát hiện được bệnh sớm. Khi đã phát hiện được cây bệnh phải kiên quyết đào bỏ, thu dọn tàn dư cây bệnh đưa ra khỏi vườn và đốt để loại trừ nguồn bệnh.

– Trong quá trình chăm sóc vườn tiêu tránh gây vết thương cho thân ngầm và rễ tiêu: Khi làm cỏ vào mùa mưa nên tránh làm tổn thương rễ, những cỏ mọc trong gốc nên nhổ bằng tay. Khi bón phân chú ý không để phân vô cơ tiếp xúc trực tiếp với phần thân của cây tiêu.

– Cắt bỏ các các dây lươn và các cành nhánh ở cách mặt đất khoảng 30 cm, để tạo độ thông thoáng ở phần gốc thân và hạn chế các lá ở tầng thấp tiếp xúc với đất là nơi có nhiều nguồn nấm Phytophthora.

– Bón phân vô cơ cho cây tiêu cân đối và hợp lý.

– Thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho đất bằng các loại phân hữu cơ hoặc sử dụng các vật liệu như: cây xoan, cây đậu tương, cây lạc, rơm rạ, ngô và các loại cây họ đậu để tủ gốc, làm tăng sự phát triển của các vi sinh vật đối kháng với nấm Phytophthora.

– Không trồng xen các loại cây là ký chủ của nấm Phytophthora trong vườn tiêu như: bầu bí, cây họ cà, cao su, ca cao, sầu riêng, bơ…

– Thường xuyên sử dụng các chế phẩm sinh học có nấm đối kháng với nấm Phytophthora như Trichoderma(Tricô – ĐHCT), Pseudomonas fluorescens ….để hạn chế sự phát triển của nấm Phytophthora. Bón 2 – 3 lần trong mùa mưa.

Biện pháp hóa học tổng hợp phòng trừ bệnh chết nhanh

Rửa vườn : Norshield 86.2WG (300 g/200 lít) phun kỹ ướt đều toàn bộ trụ tiêu và quanh gốc sau khi thu hoạch xong (tháng 3,4).

Quét gốc : Cắt bỏ cành nhánh sát mặt đất, dùng Norshield 86.2WG (50 g/1 lít) quét ướt đều phần gốc thân, cổ rễ vào đầu mùa mưa (tháng 5,6).

Tưới gốc : thực hiện 2 lần đầu mùa mưa và giữa mùa mưa EDDY 72WP (500g/ 200 lít), tưới ướt đều cho thuốc thấm sâu vào vùng rễ (4 – 5 lít/ trụ tùy theo tuổi cây).

Phun lá, bông và trái non: dùng Ridomil Gold; Agri foost 400; Hợp Trí Kaliphos (500ml/ phuy 200 lít) phun khi cây có lá non gữa 2 lần tưới Eddy (tháng 7,8 và tháng 9,10)

– Có thể bổ sung thêm 1 lần quét thân vào giữa mùa mưa (tháng 8-9).

– Trường hợp phát hiện vườn đã có bệnh nên tưới EDDY 72WP 2 lần cách nhau 15 ngày/ 1 lần (500 – 600g/200 lít, tưới 4-5 lít/nọc)

– Sau khi phòng trị bệnh nên tưới hay bón Hợp Trí Super Humic để kích thích bộ rễ mới và hồi phục cây (bón 20g/ trụ hoặc pha 1kg/200 lít nước để tưới).

– Bổ sung thêm phân trung vi lượng phân giải chậm Micromate (50g/gốc) vào đầu và cuối mùa mưa để phòng chống hiện tượng rối loạn dinh dưỡng vàng xoăn đọt.

2.3. BỆNH KHẢM LÁ VÀ XOĂN LÁ (TIÊU ĐIÊN)

Có 3 triệu chứng phổ biến xuất hiện trên cây tiêu:

* Triệu chứng xoăn lùn: Cây tiêu bị bệnh thường có lá nhỏ, biến dạng; mặt lá sần sùi; lá dày và giòn; mép lá gợn sóng, có những vùng xanh đậm xen lẫn với những vùng xanh nhạt do sự phân bố không đều của diệp lục. Ngọn tiêu nhỏ lại và ra rất nhiều ngọn tạo thành búi lớn sát gốc. Các lóng đốt của cây tiêu ngắn lại, dẫn đến chiều cao cây cũng thấp hẳn so với cây bình thường. Triệu chứng này thường gặp ở vườn tiêu kiến thiết cơ bản. Trên vườn tiêu triệu chứng này thường dễ nhận biết và nông dân thường gọi là “tiêu điên”.

– Không được lấy giống từ các vườn đã có triệu chứng bệnh virus. Bệnh do virus thường lây lan qua hom giống lấy từ cây đã bị bệnh. Các cây này có thể chưa thể hiện triệu chứng xoăn lá, khảm lá nhưng virus đã xâm nhập và hiện diện trong cây.

– Trong quá trình canh tác không dùng dao, kéo cắt tỉa các cây bị bệnh, sau đó cắt sang cây khỏe.

– Cần phải kiểm tra cây tiêu xem có các côn trùng môi giới chích hút hay không. Nếu có thì phun một trong các loại thuốc sau: Bassa 50 EC nồng độ 0,1% hay Vibasa 50 ND nồng độ 0,2%, Subatox 75 EC nồng độ 0,2%, để diệt trừ côn trùng môi giới.

– Khi cây đã bị bệnh virus thì không thể cứu chữa, cần nhổ bỏ cây bệnh.

Đầu tiên trên lá có những đốm lớn màu vàng sau đó chuyển thành màu nâu và đen dần. Vết bệnh có hình dạng không nhất định. Khi già rìa vết bệnh có quầng đen rộng bao quanh, phân cách giữa phần mô bệnh và mô khỏe.

Bệnh thường gây hại ở đầu và mép lá tiêu, làm lá bị cháy, trường hợp bị nhiễm nặng lá sẽ bị rụng. Bệnh cũng có thể tấn công vào gié bông, gié quả làm bông, hạt bị khô đen hoặc cũng có thể gây hại thân nhánh cây tiêu làm tháo đốt, khô cành. Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng thường phát triển mạnh trong mùa mưa.

Tác nhân gây bệnh: Do nấm Colletotrichum spp.,

– Phun thuốc Tepro Super 300EC 250ml/phuy 200 lít; Rius opti; Carban… bệnh nặng phun lại lần 2 cách nhau 15 ngày.

(Cành tiêu bị nấm mạng nhện) (Cành lá tiêu bị khô do nấm mạng nhện) – Trên thân, cành, lá có những sợi màu trắng giống như sợi chỉ bám chặt làm các bộ phận này bị héo khô. Triệu chứng dễ nhận biết đó là cành và lá khô héo nhưng vẫn bám chặt vào cây do các sợi nấm kết chặt lại với nhau. Bệnh thường xuất hiện ở các cành lá trên đỉnh tán hay các cành lá phía ngoài tán.

– Bệnh làm cho cây không phát triển được chiều cao, phần dây thân từ đỉnh tán bị chết khô và tuột khỏi trụ.

Đây là loại bệnh mới xuất hiện gần đây tại một số vùng trồng tiêu ở nước ta nhưng đã gây nhiều tổn thất nặng cho người trồng tiêu

Do nấm Corticium koleroga. Đây là loài nấm thích ẩm độ cao, sợi nấm luôn phát triển theo hướng ánh sáng. Vì vậy bệnh phát triển mạnh trong mùa mưa và thường gây hại phần nửa phía trên của cây tiêu.

Sử dụng Keviar 325SC (250 ml/ phuy 200 lít) phun trên lá.

2.7. BỆNH TẢO (BỆNH ĐỐM RONG)

Mặt trên lá có những đốm tròn hoặc hơi tròn, hơi nổi lên cao hơn bề mặt của phiến lá một chút. Ở giữa đốm tảo có lớp rong phát triển nhìn giống như lớp nhung mịn, màu nâu đỏ.

Tảo cũng có thể gây hại trên cành và quả tiêu nhưng không phổ biến như trên lá.

Do tảo Cephaleuros virescens. Tảo phát triển mạnh trong điều kiện mưa nhiều và ẩm. Đất thoát nước kém, cây sinh trưởng kém, vườn cây thông thoáng là điều kiện để tảo phát triển

– Tạo tỉa thông thoáng vườn cây.

– Rong tỉa cây choái và cây che bóng trong mùa mưa.

– Rửa vườn sau thu hoạch là hiệu quả nhất : Norshield 86.2WG (300 g/ 200 lít) phun kỹ ướt đều toàn bộ nọc tiêu và quanh gốc. Mục đích: Vệ sinh vườn tẩy các loại nấm bệnh tồn lưu trên lá, trái, thân, nọc tiêu, …

Ngoài ra trên cây tiêu còn có một số bệnh khác gây hại nhưng mức độ gây hại không nghiêm trọng như: bệnh đen lá (do nấm Lasiodiplodia theobromae), bệnh khô vằn (do nấm Rhizoctonia solani), bệnh nấm hồng (do nấm Corticium salmonicolor)

3.SÂU HẠI CHÍNH TRÊN CÂY HỒ TIÊU VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

Trên cây tiêu rệp sáp gây hại tất cả các bộ phận của cây từ thân, lá, quả đến rễ. Rệp sáp hại rễ là đối tượng gây hại nguy hiểm, đã từng gây nạn dịch làm hủy diệt nhiều vườn tiêu tại Đak Lak vào những năm trước 1990 và hiện nay chúng cũng là một trong những nguyên nhân gây hiện tượng vàng lá, chết cây tại các vùng trồng tiêu ở nước ta.

Rệp sáp tấn công gié hoa, gié quả, đọt non, kẽ cành, mặt dưới lá tiêu. Chúng chích hút dinh dưỡng làm cho các bộ phận này không phát triển được và khô héo.

Khi rễ tiêu bị rệp sáp gây hại thì triệu chứng trên cây giống như triệu chứng bệnh vàng lá chết chậm. Thường rất khó phát hiện triệu chứng trên thân lá khi cây bị rệp gây hại ở mức độ nhẹ. Cây bị hại nặng thì vàng lá, cằn cỗi, sau đó cây rụng hết lá và chết. Vì vậy khi thấy cây có triệu chứng sinh trưởng kém, rụng lá thì cần phải kiểm tra hệ thống rễ của cây để xác định nguyên nhân.

Rệp sáp chích hút thân ngầm và rễ của cây tiêu, tạo vết thương để nấm xâm nhập và làm thối rễ. Rễ các cây bị rệp nặng thường có măng xông bao xung quanh tạo thành những vùng u lớn, bên trong có rất nhiều rệp sáp. Lớp măng xông này sẽ bảo vệ rệp không bị tác động bởi các điều kiện ngoại cảnh, vì thế khi cây đã có măng xông ở rễ thì rất khó diệt rệp. Rệp sáp thường tấn công vào phần thân ngầm tiếp giáp với mặt đất (cổ rễ) trước, sau đó đến các rễ ngang và rễ chính. Do vậy, đối với các cây có triệu chứng vàng lá nặng, khi kiểm tra cổ rễ nếu không thấy rệp sáp, cần phải đào sâu đến vùng rễ ngang và rễ chính.

Rệp sáp lây lan chủ yếu nhờ vào các loài kiến, cây tiêu bị rệp sáp gây hại thường có nhiều kiến. Rệp sáp tiết ra chất thải có hàm lượng đường cao là thức ăn cho nhiều loài kiến, đồng thời chất thải này cũng tạo điều kiện cho nấm muội đen phát triển. Kiến ăn dịch của rệp sáp và mang rệp đi khắp nơi. Ngoài ra rệp sáp còn lây lan qua các con đường khác như: mưa, nước tưới, dụng cụ lao động.

– Cần chăm sóc vườn cây, cắt bỏ những cành mọc sát mặt đất, vệ sinh đồng ruộng để hạn chế sự lây lan của rệp qua kiến.

– Cắt bỏ các cành nhánh tiêu bị rệp sáp nặng, nhổ bỏ các cây tiêu đã bị rệp sáp gây hại tạo măng xông, đưa ra ngoài vườn và đốt.

– Việc phòng trừ rệp sáp hại rễ chỉ có hiệu quả khi cây bắt đầu có triệu chứng chậm phát triển, cây vàng lá nhẹ, rệp sáp chưa tạo ra măng xông. Khi kiểm tra phần cổ rễ nếu có rệp sáp thì sử dụng một trong các loại thuốc sau để tưới vào gốc tiêu: Brightin 1.8EC(250 ml/200 liters, tưới 4-5 liters/gốc), Subatox 75 EC, nồng độ 0,3 %, Pyrinex 20 EC, nồng độ 0,3 %, Suprathion 40 EC, nồng độ 0,3 %…, liều lượng 1 – 2 lít dung dịch/ gốc, tưới 2 – 3 lần cách nhau 15 ngày. Trước khi xử lý cần đào đất ra để thuốc tiếp xúc trực tiếp với rệp thì hiệu quả sẽ cao hơn. Đào đất đến đâu tưới thuốc đến đó, đợi thuốc ngấm rồi lấp đất lại.

– Các loại thuốc dạng hạt cũng rất thuận tiện để phòng trị rệp sáp hại rễ: dùng Basudin rải gốc với liều lượng 30-40g/gốc. Rạch rãnh sâu 7-10cm quanh tán trụ tiêu, rắc thuốc và lấp đất. Chỉ thực hiện khi đất đủ ẩm.

– Có thể dùng thuốc sinh học Metarhizium với lượng 500 g/ gốc để phòng trừ.

– Nếu cây đã bị măng xông thì nhổ bỏ, việc phòng trừ giai đoạn này không có hiệu quả bởi vì rễ tiêu đã bị thối không thể hồi phục lại được.

– Hạn chế trồng tiêu trên các vùng đất đã bị rệp sáp gây hại nặng.

Con trưởng thành của bọ xít lưới có màu đen, kích thước khoảng 15 x 7 mm. Cánh dài quá bụng, mảnh lưng ngực trước kéo dài ra hai bên và phình tròn ở đầu, nhìn giống như hai cánh ngắn. Mặt lưng và cánh trước có cấu tạo lưới. Vòi nằm sát mặt dưới của đầu và ngực.

Bọ xít lưới chích hút lá non, gié bông, gié quả, quả non làm rụng gié bông, gié quả, quả non, giảm tỷ lệ đậu quả và ảnh hưởng đến năng suất vườn cây. Mức độ rụng hoa, quả phụ thuộc vào mật độ bọ xít trên cây. Khi cây tiêu bị bọ xít gây hại nặng, gié bông, gié quả rụng đầy dưới đất. Bọ xít lưới thường sống ở mặt dưới lá tiêu, ngoài ra chúng còn sống và trú ngụ ở các loại cỏ trong vườn tiêu.

Bọ xít lưới thường xuất hiện vào giai đoạn cây tiêu ra hoa và đậu quả. Thời gian xuất hiện nhiều nhất trong năm là vào đầu và giữa mùa mưa.

– Thu gom các bộ phận bị hại, đưa ra ngoài vườn để đốt.

– Làm cỏ trong vườn tiêu để phá bỏ nơi trú ngụ của bọ xít lưới.

– Trồng tiêu với mật độ thích hợp, tạo hình để cây thông thoáng.

– Sử dụng một trong các loại thuốc như: Thiamax 25WG, Brightin 1.8EC,

Permecide 50EC, Motox, Subatox 75 EC (0,3 %)… Phun vào tán lá, chú ý phun kỹ vào tán lá và mặt dưới lá tiêu và phun vào lúc chiều tối sẽ tăng hiệu quả phòng trừ.

Đặc điểm hình thái, sinh học của rệp và cách gây hại

Rệp muội có màu xanh, nâu bóng hay đen. Rệp non có màu sắc thay đổi nhưng nhạt hơn rệp trưởng thành. Rệp muội dài 2 – 3 mm, có cánh hoặc không có cánh, râu đầu tương đối ngắn.

Rệp muội thường xuất hiện và chích hút các bộ phận non của cây tiêu như đọt non, lá non, làm biến dạng, thâm đen.

– Có thể dùng một trong các loại thuốc sau đây khi thấy cần thiết như: Subatox 75 EC (0,2 %), Thiamax 25 WG (4g/ 16 lít nước). Chỉ phun vào các bộ phận của cây tiêu bị rệp muội gây hại.

4. CÁC LOÀI SÂU HẠI TIÊU KHÁC

Trên cây tiêu còn có các loại sâu hại khác như: rầy xanh (thuộc Bộ Homoptera), bọ xít dài ( Leptocorisa actua), bọ cánh cứng ăn lá ( Anomala sp., Apogonia sp.)…Tuy nhiên các loài này không xuất hiện phổ biến và mức độ gây hại không nghiêm trọng đối với cây tiêu.

Dùng một trong các loại thuốc sau: Bi 58 40 EC, Subatox 75 EC, nồng độ 0,3%, phun 2 lần cách nhau 7 – 10 ngày.

BÀI VIẾT QUA CÁC NĂM

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Bơ

(Ban hành kèm theo quyết định số 1251/QĐ-SNN, ngày 13/12/2012 của Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng V/v Ban hành tạm thời quy trình canh tác một số cây trồng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng)

PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG:

Phạm vi điều chỉnh: Quy trình này quy định các yêu cầu kỹ thuật về trồng, chăm sóc; phòng trừ sâu bệnh hại; thu hoạch và bảo quản cây bơ ghép sản xuất tại Lâm Đồng.

Mục tiêu kinh tế kỹ thuật: Thời kỳ kiến thiết cơ bản: 4 năm.

Năng suất trái bình quân trong giai đoạn kinh doanh khoảng 20-25 tấn/ha.

ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU VỀ ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH:

Đặc điểm: Bơ là loại trái cây nhiệt đới điển hình, ngon, bổ dưỡng chỉ trồng được ở một số vùng chuyên biệt ở nước ta. Lâm Đồng có điều kiện sinh thái thuận lợi để trồng loại cây ăn quả này, bơ chủ yếu để ăn tươi, quả bơ không ngọt, không chua, không thơm, chỉ có vị béo. Chất béo trong quả bơ rất dễ tiêu, có thể hấp thu tới 92,8%.

Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh:

– Độ cao: Cây bơ có nguồn gốc ở các xứ nhiệt đới Trung Mỹ phân bố ở độ cao dưới 2.700m so với mặt nước biển, càng lên cao cây càng chậm ra hoa kết quả, phẩm chất quả bơ thay đổi theo khí hậu và độ cao của các vùng khác nhau. Lâm Đồng là vùng trồng bơ rất tốt.

– Nhiệt độ: Thích hợp từ 12-28 oC, cây bơ có thể chịu nhiệt độ lạnh -7 oC, thậm chí -10 oC. Các giống bơ Mexico chịu lạnh tốt nhất còn các giống Antilles chịu lạnh kém nhất nên được trồng nhiều ở các nước thuộc vùng nhiệt đới. Biên độ nhiệt độ ngày đêm cũng có tác động rõ nét đến sinh trưởng và phát triển của cây, đặc biệt sự phát dục của hoa. Nhiệt độ ban đêm là 15-20 0C và ban ngày là 20 0 C, thích hợp cho sự phát triển hoa, tăng trưởng của ống phấn và sinh trưởng các giai đoạn phôi.

– Ẩm độ: Cây bơ không yêu cầu ẩm độ cao, nhưng không phải là cây của vùng khô hạn, cây bơ chỉ sinh trưởng phát triển tốt nơi nào có lượng mưa đầy đủ lượng mưa tối thích cho cả năm là 1.000-1.500mm, độ ẩm 80-85%. Đặc biệt lúc trổ hoa và tượng trái cần ẩm độ cao, nhưng gặp trời mưa dầm, mưa to thì quá trình thụ phấn không bình thường vì nước mưa sẽ cuốn trôi hạt phấn, hoa sẽ rụng nhiều. Ngoài ra sự khô hạn cũng gây bất lợi cho quá trình hình thành trái, làm rụng quả non nhiều. Hầu hết các giống bơ đều nhạy cảm với điều kiện dư thừa nước, độ ẩm cao, thoát nước kém.

– Đất đai: Có thể trồng bơ trên nhiều loại đất khác nhau đất sét pha cát, đất pha sét, đất thịt nặng, phủ hợp nhất là đất phải thông thoáng, dễ thoát nước, giàu chất hữu cơ, có mạch nước ngầm sâu hơn 2m, pH thích hợp 5-7, bơ không ưa đất quá chua hoặc quá kiềm. Ở những đất có pH quá cao, nhiều yếu tố kim loại bị giữ lại trong đất làm cây không hấp thu được. Cây bơ mọc tốt hơn ở đất trung tính hay kiềm so với đất chua trung bình hay rất chua.

Cây bơ ghép (lấy chồi của những cây bơ có năng suất cao, chất lượng tốt, hình dạng quả đẹp, ghép lên cây bơ được ươm từ hạt), chồi ghép được lấy từ các cây bơ đầu dòng đã được công nhận.

Kỹ thuật trồng: Chọn đất thoát nước tốt, làm đất và đào hố trước khi trồng 3-4 tháng để đất kịp ải. Đào hố theo quy cách: 60x60x60cm.

Thời vụ trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa từ tháng 6- tháng 8 dương lịch.

Trồng cây dùng dao cắt quanh bầu, bóc bịch nhẹ nhàng, đặt cây giữa hố lấp đất ngang mặt bầu và nhận chặt đất xung quanh, tránh vỡ bầu.

Xen canh: Trồng thuần những năm đầu mới trồng khi cây bơ chưa tỏa tán rộng, có thể trồng xen các cây họ đậu; trồng xen trong các vườn cây công nghiệp nhằm làm cây che bóng kết hợp tăng thu nhập trên đơn vị diện tích nhưng không nên trồng xen cà chua, khoai tây vì nấm Verticilium có thể lan truyền cho cây bơ.

Kỹ thuật chăm sóc: Sau trồng một tháng, kiểm tra cây chết, cây yếu để trồng dặm, tưới đủ ẩm cho cây, làm sạch cỏ gốc, tủ cỏ khô quanh gốc để giữ ẩm. Giai đoạn còn nhỏ, bộ rễ bơ ăn cạn, vấn đề tưới nước giữ ẩm và phủ gốc là cần thiết để hạn chế cây bơ bị chết do nóng khô vào mùa nắng nhất là những vườn bơ trồng bằng cây ghép. Tốt nhất nên tưới phun và lưu ý không nên tưới quá đẫm vào bồn gốc. Thời kỳ kinh doanh cần tưới đủ nước để cây sinh trưởng và phát triển khỏe; nhất là tháng 11-12 cần tưới để cây tăng khả năng ra hoa và kết quả.

– Bón phân:

Bảng tổng hợp lượng phân bón qua các thời kỳ sinh trưởng của cây bơ.

Lượng phân nguyên chất trên qui thành phân thương phẩm như sau

Bón phân lót: Dùng phân chuồng huoai đã xử lý, bón lót 15-30 kg/hố, kết hợp với 0,5-1 kg phân lân và 0,5 kg vôi đảo đều trước trồng 10-15 ngày.

Mật độ và khoảng cách trồng thuần: Khoảng cách 7 x 8m, mật độ 178 cây/ ha (trồng xen trong vườn cây công nghiệp mật độ khoảng 80-100 cây/ha).

Thời kỳ kiến thiết cơ bản: Bón N:P:K theo tỷ lệ 1:1:1.

Cách bón: Đào sâu 10-15 cm, cách gốc 30-40 cm, rải phân đều và lấp đất kỹ, tưới đủ ẩm cho cây. Hàng năm bón bổ sung phân hữu cơ hoai.

Trong 4 năm đầu, lượng phân chia 3 lần bón/1 năm:

Thời kỳ kinh doanh: Từ năm thứ 5 trở đi phân vô cơ bón 3 lần/năm, bón N:P:K theo tỷ lệ 2:1:2 và phân hữu cơ vào sau vụ thu hoạch. Tùy theo tình hình sinh trưởng và năng suất của cây mà ta bón lượng phân cho phù hợp hàng năm.

Bón lần 1 thêm phân chuồng hoai từ 30-50 kg.

– Đốn tỉa tạo tán: Tiến hành từ nhỏ đối với những giống cây cao để tạo dáng cây không cao quá 6 mét và cành tỏa đều về các phía (những cành khỏe mọc đều ra các hướng nhằm tạo bộ cành khung). Việc cắt xén cành khô, cành nhỏ yếu cũng phải được thực hiện sau thu hoạch nhằm tạo sự thông thoáng, giúp cây sinh trưởng phát triển tốt và ngăn ngừa không cho sâu bệnh lây nhiễm.

PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI:

Sâu hại chính và biện pháp phòng trừ:

Sâu cuốn lá (Gracilaria percicae Busk)

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Bướm thường đẻ trứng trên lá mới ra, trứng nở thành sâu và lớn dần lên theo lá, nhưng thông thường nhất là sâu nhả tơ cuốn lá lại để làm tổ. Sâu dài 10mm, màu xanh và có những lằn đen ngang không rõ rệt. Trưởng thành sâu làm nhộng trong các tổ lá, sau 5-7 ngày rồi vũ hóa.

– Biện pháp phòng trừ: Nếu có điều kiện trước khi phun thuốc nên dỡ bỏ các tổ lá do sâu cuốn lại để tăng hiệu lực của thuốc. Dùng các loại thuốc Sherzol, Pyrinex 20EC, Bulldock 025EC phun ướt đều tán lá.

Sâu cắn lá: Có rất nhiều loài, có hai loài đã được định danh là Seirarctiaecho và Feltia subterrania F.

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Sâu ăn trụi lá làm chết cây con và làm giảm sức tăng trưởng cây lớn. Có thể tìm thấy sâu trên lá, trên cành hoặc vỏ thân cây. Ban ngày, sâu ẩn nấp dưới gốc cây, đêm đến bò ra phá hại.

– Biện pháp phòng trừ: Tương tự như phòng trừ sâu cuốn lá

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Rầy thường xuất hiện vào mùa mưa, chích hút nhựa lá và đọt non, quả non làm cây giảm sức tăng trưởng.

Bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ:

Bệnh thối rễ: (Phytophthora cinnamoni)

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Những chân đất có độ giữ ẩm cao, nấm xâm nhập làm hư rễ chính (rễ cọc), sau đó nấm lan tràn phá hủy cả bộ rễ làm cây chết rụi. Cây bị bệnh có tán lá xơ xác, lá đổi sang màu xanh nhạt rồi rụng. Cành chết dần từ ngọn xuống thân chính. Đặc biệt với cây con trong giai đoạn vườn ươm rất dễ bị nhiễm bệnh và gây chết hàng loạt.

– Biện pháp phòng trừ: Dùng các loại Aliete + Validacin tỷ lệ 1:1 với lượng 100g/200 lít nước tưới cho dung dịch thuốc thấm đều đất (4-5lít/cây). Phát hiện kịp thời những vết thối trên thân, cạo sạch và quét sulfate đồng – vôi đặc. Khi cây chết vì bệnh, nên đào và hủy bỏ để bệnh không lan tràn.

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Bệnh hại lá và trái, nấm bệnh xuất hiện rải rác trên lá, có hình dạng và kích thước gần giống nhau, hình có góc cạnh hoặc hơi tròn, màu nâu. Những đốm này có thể liên kết với nhau tạo thành mảng. Trên trái bệnh tạo nên những mụn lồi cỡ 5mm, có màu nâu nhạt đến nâu đậm. Trái bị bệnh mất giá trị. Bệnh tồn tại trên lá già, bào tử nấm phát tán khi có điều kiện thích hợp.

– Biện pháp phòng trừ: Phun dung dịch Boocđô để phòng bệnh vào đầu mùa mưa, khi phát hiện bệnh sử dụng các loại thuốc có hoạt chất như Thiophanate-Methy (Topsin), Difenoconazole (Tiltsuper, Soore), Cholorothalonil (Daconil), … phun ướt đều tán lá với liều lượng sử dụng theo khuyến cáo của trên bao bì.

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Nấm xâm nhập vào trên cành làm tắc nghẽn và phá hủy các mạch li be dẫn đến cành khô và chết. Trên trái đã già, gần chín, nấm thường xâm nhập vào những chỗ do trái cọ sát hoặc bị thương tích hay do côn trùng chích hút, ăn vỏ quả làm cho trái bị nhũn thường ở phần cuối trái.

– Biện pháp phòng trừ: Phun dung dịch Boocđô để phòng bệnh vào đầu mùa mưa, khi phát hiện bệnh sử dụng các loại thuốc như Propineb (Antracol), Carbendazim (Carbendazim; Appencarb super, Bavistin),…để phòng trừ bệnh.

Bệnh héo rũ (Verticillium albo – atrum)

– Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Cây bị nhiễm nấm thường đột nhiên bị héo lá trên một phần cây hoặc khắp cây. Lá bị chết rất nhanh, chuyển thành vàng nhưng rất khó rụng. Nếu lột vỏ của cành hoặc rễ cây đã chết sẽ thấy những đường sọc màu nâu ở phần tiếp giáp vỏ và gỗ. Nấm tồn tại trong đất và gây hại ở bất kỳ tuổi nào của cây. Cây bệnh có thể chết luôn hoặc sống trở lại, đối với những cây bị bệnh một phần thì phần bệnh không thể cho trái trong vòng 1 hoặc 2 năm.

– Biện pháp phòng trừ: Phun thuốc hoặc tưới dung dịch Boocđô để phòng bệnh vào đầu mùa mưa, dùng Aliete tưới hoặc quét lên các vùng thân, rễ bị bệnh, cắt xén kỹ khi cây vừa có triệu chứng bệnh, sau khi cây bị bệnh phục hồi cắt bỏ những nhánh nhỏ đã bị chết.

1.Thu hoạch: Căn cứ vào sự đổi màu của vỏ quả hoặc cầm quả lắc nhẹ nghe tiếng va đập của hạt vào thành quả là thu được.

Người trồng bơ thường chờ đến khi có vài quả rụng thì tiến hành hái hết cây, chỉ để lại những quả bơ non còn nhỏ (vỏ còn xanh). Phương pháp này đơn giản dễ áp dụng, thu hoạch bằng sào hoặc rọ, hạn chế leo trực tiếp lên cây để thu hái. Chú ý lúc hái không làm đứt cuống, trầy dập để quả bảo quản được lâu hơn.

Bảo quản: Trái bơ có thể bảo quản lạnh hoặc nhiệt độ thường, các giống bơ có thể bảo quản lạnh ở nhiệt độ từ 7-120C, ẩm độ từ 85-90%. Ở nhiệt độ 200C quả bơ chín sau 6-10 ngày, ở nhiệt độ 25 -27 0C trái chín sau 5-7 ngày.