Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Gấc / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Gấc

Thưa quý bà con, gấc là loài cây thân thảo, dây leo thuộc chi Mướp đắng. Quả gấc có nhiều vitamin và dưỡng chất rất tốt cho cơ thể. Các hãng dược phẩm ví trái gấc như là loại quả đến từ thiên đường và là thần dược cho sức khỏe của con người. Gấc có tác dụng phòng chống ung thư, giảm cholesterol, nâng cao hệ thống miễn dịch, chống lão hóa, tăng cường thị lực và làm đẹp da… Gấc còn góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con. Tuy nhiên, trồng gấc như thế nào lại là điều khá nhiều bà con chưa nắm rõ. Để giúp bà con hiểu hơn về quy trình trồng và chăm sóc cây gấc, chúng tôi xin giới thiệu đến bà con bài viết sau đây. Kính mời quý bà con quan tâm theo dõi!

Quy trình trồng bắp cải mang lại hiệu quả cao

Quy trình trồng và chăm sóc cây gấc

I. Yêu cầu và chuẩn bị đất trồng:

Gấc là cây không kén đất nhưng bà con nên chọn đất tốt để trồng. Đất không bị úng và thoát nước tốt khi mưa lớn.

– Đào hố trồng gấc: cần đào hố vuông với cạnh 1 – 1,2m và có độ sâu khoảng 40 – 60 cm. Nếu bà con trồng gấc với diện tích lớn thì khoảng cách giữa các hố từ 3 – 4 m, khoảng cách giữa các hàng là 4 – 5 m. Bà con cần để riêng lớp đất bề mặt cạnh hố đào. Không đào hố ngay cạnh gốc cây trồng khác, nếu trồng trên đất vườn tạp hoặc trồng xen canh, nên đào hố với khoảng cách từ 1,5m -2m so với gốc cây trồng khác…

Để đạt hiệu quả trong công việc khoan các hố đất trồng gấc, bà con có thể sử dụng máy khoan đất chạy xăng có giá đỡ do Công ty CPĐT Tuấn Tú cung cấp:

Máy khoan đất chạy xăng có giá đỡ 3A

– Quy trình xử lý hố và tiến hành bón lót : Bà con trộn phần lớp đất vừa đào với các loại phân bón sau (đối với 1 hố): 2 kg GV- hữu cơ vi sinh, 0,5 kg Gavi -Bio, 10 – 15kg phân chuồng hoai, 0,5 – 0,6 kg Super lân, 0,5 – 1 kg chế phẩm sinh học có chứa Trichoderma. (Cần thực hiện các công việc trên trước khi trồng khoảng 5 – 7 ngày)

Thiết kế giàn: Bà con có thể dựng giàn bằng các cây tạp, cột bê tông hoặc tre, nứa. Gác các cành tre ở bên trên hoặc đan bằng dây thép hay có thể dùng dây cước một sợi để đan thành lưới (kích thước mắt lưới khoảng 40cm x 40cm), căng lên giàn. Giàn được làm bằng lưới cước chi phí thấp và có thể giữ được khoảng 3-5 năm. Khoảng cách giữa mặt đất và mặt giàn bình quân là 2m, cần đảm bảo giàn không bi chùng khi cây leo lên hoặc khi gấc ra quả. (Giàn gấc phải hoàn tất sau 3 tuần từ khi trồng cây con).

II. Tiến hành trồng gấc

Bà con chuẩn bị hố ngay trước khi trồng: Dọn sạch cỏ dại, cây cối xung quanh hố. Xới nhẹ đất trong hố trồng một lần nữa. Sau đó cuốc 2 lỗ nhỏ giữa hố để đặt cây giống, khoảng cách giữa 2 lỗ trong cùng 1 hố tối thiểu là 35cm. Khi đã xử lý hố đất được 5- 7 ngày thì bà con tiến hành trồng cây con.

Cần lưu ý: Nếu bà con trồng cây giống thực sinh thì nên trồng 2 cây trong 1 hố, vì bà con cần theo dõi khi thu quả năm đầu tiên, cây nào ít quả, hoặc không ra quả, quả nhỏ hoặc sâu bệnh nặng thì cần cắt bỏ cây đó để cây còn lại phát triển tốt hơn. Đối với cây hom hoặc cây ghép thì trồng 1 đến 2 cây cho một hố. Năm đầu, thường tỷ lệ ra quả thấp, lượng quả chưa nhiều. Vì vậy, để tăng khả năng thụ phấn tự nhiên và sản lượng, bà con nên trồng 2 cây.

III. Tưới nước và chăm sóc

– Tưới nước: Đất trồng gấc cần có đủ độ ẩm, nhưng không được ngập úng, do vậy, cần phải tưới đủ nước và thoát nước tốt ở gốc cây. Ở giai đoạn này, cây cần khoảng 80 – 85% độ ẩm của đất. Cần tiến hành tưới nước khi thời tiết nắng nóng, phủ rơm rạ, bao nilon để giữ ẩm cho cây.

– Đào kênh thoát nước: Khi cây gấc bị ngập nước sẽ khiến cây bị úng và tạo điều kiện cho nhiều loại vi khuẩn, sâu bệnh tấn công, làm giảm năng suất nếu bị úng nhẹ và có thể làm chết cây nếu ngập úng kéo dài. Vì vậy, ở những nơi trũng, ngập nước vào mùa mưa thì cần đào kênh tiêu nước. Mỗi kênh có kích thước rộng 500mm, sâu 300mm để thoát nước dễ dàng khi trời có mưa lớn.

– Sau 7 ngày, bà con tiến hành phun men sinh học Gavi – TriBio 5% với liều lượng pha loãng 300 lần trên lá và dưới gốc.

IV. Sau khi trồng 15 -30 ngày.

– Bà con bắt ngọn leo lên giàn và thường xuyên bắt cho các ngọn phân tán đều giàn.

– Cần kiểm tra sâu, bệnh hại trên cây, nếu thấy có sâu bệnh thì cần phải phòng trừ. Trong quá trình theo dõi, nếu thấy dây gấc vươn dài, yếu, nhỏ, bị sâu ăn lá thì cần cắt bỏ để nhường dinh dưỡng cho dây khác.

– Khi cây con bắt đầu leo giàn ( khoảng từ tuần thứ 5 đến tuần thứ 7sau khi trồng), bà con tiến hành bón lót 0,3 – 0,5 kg Phân NPK(16-16-8) cho 1 hố. Cần phun thêm Gavi – TriBio 5% pha loãng 300 lần trong giai đoạn này giúp tăng cường sức đề kháng cho cây, và hạn chế sâu bệnh hại.

– Sau 2 tháng kể từ ngày trồng cần bón thêm 0,5 kg chế phẩm Gavi – Bio cho 1 hố để phòng trừ bệnh hại, tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng cho cây.

V. Bón thúc khi gấc đã phủ lên giàn

– Cách bón: Bà con đào rãnh rộng 10cm và sâu 10cm hoặc có thể cào nhẹ lớp đất mặt trên hố gấc sâu khoảng 5-10cm, rồi rải phân GV hữu cơ vi sinh: 3kg trộn với đất dưới rãnh. Sau đó bà con cuốc xới nhẹ, lấp phân vào hố và tiến hành tưới nước cho cây.

– Cần chủ động tưới nước giữ để ẩm cho cây, khi không có mưa cần đảm bảo độ ẩm của đất từ 70-80%.

– Cần có kế hoạch theo dõi sâu bệnh thường xuyên và phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, đồng thời kết hợp với phun Gavi – TriBio 5% để bảo vệ cây và quả trước sự tấn công của sâu bệnh….

VI. Gấc bắt đầu ra hoa, kết trái (sau khi trồng khoảng 3, 4 tháng)

Giai đoạn gấc đang ra hoa

– Bà con cần bón thúc cho cây bằng phân trung vi lượng có gốc Canxi-Bo để kích thích sự phát triển của quả, tăng khả năng ra hoa, kết trái.

– Cách phun: Pha phân trung vi lượng có gốc Canxi-Bo với tỉ lệ 10ml/16 lít nước phun đều dưới nách lá, tán lá, quả và quanh gốc. Cần phun làm 2 lượt, mỗi lượt cách nhau khoảng 10 ngày, phun vào chiều mát hoặc khi sáng sớm.

– Tưới nước: Ở giai đoạn ra hoa và phát triển quả, cây gấc cần được cung cấp đủ nước cho cây, giai đoạn này cần giữ độ ẩm cho đất khoảng 70-80%.

VII. Xử lý ra hoa và kết quả (tháng thứ 4, thứ 5)

Đối với cây chưa ra quả hoặc không kết quả, tiến hành xử lý như sau:

Cách 1:

– Cần cắt tỉa những dây yếu, nhỏ, kém phát triển. Đối với những dây phát triển tốt, khỏe, bà con tiến hành bấm đọt, cách gốc khoảng 7m.

– Đồng thời, cần bón thúc bổ sung dinh dưỡng cho cây, giúp cây tăng tỷ lệ ra hoa và đậu quả.

+ Bón gốc: Bón 1 – 1,5 kg phân hữu cơ vi sinh cho 1 hố, 0,3 – 0,5 kg phân NPK (20-20-15)/hố, 5 – 10 kg phân chuồng hoai/hố. Tiến hành trộn toàn bộ số phân trên cùng với lớp đất mặt của gốc, sau đó lấp đất và tưới nước. Lưu ý: Để cây hấp thụ tốt nhất dinh dưỡng ở giai đoạn này cần phải tưới nước thường xuyên để tạo độ ẩm cho đất.

+ Bón lá: Cần kết hợp với phân bón lá trung vi lượng có gốc KNO3 hàm lượng khoảng 30-50g/8 lít nước. Phun trước mùa mưa ít nhất 20 – 30 ngày. Cần phun cho toàn thân cây từ cành, lá, nách lá, thân, gốc phun lúc mát trời, kéo dài 7-10 ngày.

– Chăm sóc vào giai đoạn cây đã ra hoa: thường xuyên tưới nước nếu trời không mưa để giữ độ ẩm trong đất đạt 70-80%.

Cách 2:

– Đầu tiên, cắt bỏ những gốc không ra trái, cách gốc khoảng 60 cm.

– Sau 1 tuần, bắt đầu xuất hiện các nhánh mới ở những cây không ra trái.

– Sau đó bà con chọn những nhánh ở cây có quả ghép vào các nhánh của cây không quả. Cần lưu ý: các nhánh để ghép không được non, cũng không được già quá. Để đảm bảo cho tỉ lệ cây sống cao, bà con nên trùm bao nilon vào nhánh mới ghép để tránh mất nước và hạn chế được sự tấn công của sâu bệnh.

– Sau khi cây đã có quả, bà con phun phân bón lá NPK (20-20-15) để quả phát triển. Trong giai đoạn quả phát triển mạnh, cần phun thêm kali 100% để chắc quả, tránh nứt quả, và cho chất lượng cao.

– Nên tiến hành tỉa bỏ những nhánh không mang trái, và khống chế chiều dài dây gấc tối đa khoảng 5-6 m, giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi quả, tránh tình trạng cây tập trung phát triển thân lá hoặc quả nhiều dẫn đến cây không nuôi nổi quả.

VIII. Cách phòng trừ sâu bệnh hại có thể gặp trên cây gấc

+ Bọ dừa: Bọ có cánh cứng dài 8mm, cánh có màu vàng ăn phá lá gấc. Phòng trừ bằng cách phun hoặc xịt Tata 25WG đều trên lá.

+ Rầy mềm: Thường bu mặt dưới của lá và hút nhựa. Bà con xịt Vicidi-M 50ND hoặc Decis 50ND 20-30ml/bình 8 lít để phòng trừ.

+ Nhện đỏ: Tập trung nhiều ở mặt dưới của lá, gây xoắn lá, làm lá úa vàng, dây gấc mọc cằn cỗi. Phòng trừ bằng cách phun SK Enpray 99EC hoặc Alfamite 15EC đều trên lá….

+ Ruồi trái cây: Ruồi phá hại nặng khi gấc có quả. Ruồi chích quả đẻ trứng, ấu trùng phát triển và phá vỏ dẫn đến thối quả. Phòng trị bằng cách phun dung dịch Oncol 20EC với liều lượng 30ml/8lít, và cần vệ sinh, thu lượm và đốt bỏ các quả gấc bị thối rụng.

+ Sâu xanh: Sâu xanh thường ăn hại lá gấc. Ở giai đoạn non, sâu xanh cuốn lá để làm tổ, sau đó ăn khuyết lá. Dùng thuốc Padan 95SP với liều lượng 10 – 15 g/10 lít phun vào buổi chiều mát.

2. Bệnh hại thường gặp

+ Đốm lá: Là do nấm Pseudope-ronopora cubensis Rostow gây ra, lá bị bệnh mặt trên có những chấm vàng, mặt dưới có nhiều chất xám làm cho lá chết héo. Dây gấc bị nhiễm bệnh phát triển kém không có hoặc cho ít quả, quả nhỏ chất lượng kém. Phòng trị bằng cách phun dung dịch Viroral 50BTN hoặc Viben – C lên lá.

+ Bệnh cháy lá: Là bệnh do nấm Collectrichum lagenarium Ell and Halst gây ra. Lá gấc bị bệnh cháy khô cả lá hoặc cháy thành đốm. Cách phòng trị như khi cây bị bệnh đốm lá.

+ Bệnh hoa lá: Là bệnh do virus CMV gây nên. Lá gấc bị đốm vàng, xoắn lá, dây còi cọc không cho quả. Bệnh này do cực vi trùng gây ra nên không có thuốc trị, bà con cần phòng trừ bằng cách nhổ bỏ cây bệnh để tránh lây sang những cây khác. Phun thuốc trị bọ dừa và rầy mềm cũng giảm bớt bệnh.

+ Tuyến trùng: Tuyến trùng Meloidogyne spp làm cho rễ, dây gốc bị tuyến trùng phá hoại còi cọc, kém phát triển, dẫn đến vàng quả hoặc không cho quả. Phòng trừ bằng cách rảicho mỗi hố 20gram Vimoca 10G hoặc 30 gram Vifuran 10H khi trồng cây con hoặc gieo hạt.

IX. Thu hoạch

Quả gấc sau khi thu hoạch

Thu hoạch khi quả đã chín ( ½ vỏ quả chuyển sang màu đỏ), màng bọc bên ngoài hạt dày và nhiều chất béo. Quả không bị dập nát, và không chín ép, thối hỏng. Trọng lượng quả từ 0,8kg trở lên là đạt yêu cầu. Màng gấc sấy khô phải đạt độ ẩm từ 7% – 8%, màng không có dị tật, mốc, sâu mọt, cháy khét… (có thể kiểm tra bằng cách dùng tay bẻ gãy là được).

Chúc bà con thành công!

Công ty CPĐT Tuấn Tú

VPGD Miền Bắc: Số 2, ngõ 2, đường Liên Mạc, phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Hotline: (024)22 05 05 05 – 0916 478 186

Chi nhánh Miền Nam: 129/17D Đường Lê Đình Cẩn, Khu phố 6, Phường Tân Tạo, Quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh.

Hotline: 0945 796 556 – 0984 930 099

Email: maylamdatvn@gmail.com

Website: maylamdat.vn

Fanpage: facebook.com/maylamdat3A/

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Vải

Vải chịu úng kém hơn nhãn, xoài… nhưng khả năng chịu hạn tốt hơn.

Tháng 11-12 cây vải cần thời tiết khô và lạnh phân hóa mầm hoa.

PH 5.5-6.5.

Thích hợp đất phù sa ven sông hay có tầng dày, độ phì cao, giữ ẩm và thoát nước tốt, những vùng đất xấu chế độ chăm sóc thích hợp nhưng độ dốc dưới 20%. PH 5.5-6.5

Vùng đất dốc: Đường đồng mức, mỗi bậc thang rộng 1.5-2.0m, sâu 0.8-1m, líp rộng 7-12m.

Đào hố:

+ Vùng đồng bằng: Dài x rộng x sâu 0.8mx0.8mx0.6m

+Vùng đồi: 1mx1mx0.8m.

Lượng phân lót: 30-50kg phân chuồng hoai mục; 0.7-1kg super lân, 0.5-1kg vôi bột.

Giống chín sớm: Đường kính gốc 1-1.5cm, đường kính cành ghép 0.7cm, chiều dài cành trên 40cm.

Giống chính vụ: Chỉ tiêu tương ứng 0.8-1cm, 0.5-0.7cm và 30-40cm. Cây giống phải có 2-3 cành cấp 1 trở lên và không được nhiễm sâu bệnh hại nguy hiểm.

– Vụ Xuân : tháng 2 – 3, và đầu tháng 4

– Vụ Thu : tháng 8; 9; 10.

– Khoảng cách: 4m x 6m; 7m x 7m hoặc 8 – 10m x 8 – 10m

– Cách trồng: đặt bầu cây giống vào sao cho cổ rễ cao hơn mặt đất 3 – 5 cm ( ở vùng đồng bằng ) và thấp hơn mặt đất 3 – 5 cm ( ở vùng đồi).

Nhu cầu dinh dưỡng

Nhu cầu đạm

Trong 1 năm, nhu cầu đạm cây vải cao sau khi thu hoạch để phục hồi và phát triển cành thu cho việc ra quả năm sau ( tháng 7-8) giảm mạnh khi chuẩn bị phân hóa mầm hoa (tháng 12) và lại tăng mạnh đầu xuân (tháng 2-3) khi cây phát triển cành xuân và ra hoa đậu quả, rồi lại giảm dần cho đến khi thu hoạch.

Nhu cầu Lân

Lân vai trò phát triển bộ rễ và khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây vải.

Thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa, hình thành quả, thành thục quả và hạt. Ảnh hưởng rõ phẩm chất của quả vải.

Tăng khả năng chống hạn chống rét và sâu bệnh.

Triệu chứng thiếu lân: lá tối màu, thiếu nhiều ngọn lá và mếp lá có màu nâu cục bộ và lan dần đến gân chính.

Thiếu lân không chỉ ảnh hưởng xấu đến khả năng hút dinh dưỡng, sinh trưởng phát triển cây vải mà còn ảnh hưởng xấu ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng quả.

Thừa lân làm hàm lượng N, K giảm ảnh hưởng xấu tới cây.

Trong 1 năm nhu cầu lân cao vào thời kì sau thu hoạch để phục hồi và phát triển cành thu và chuẩn bị phân hóa mầm hoa ( từ tháng 7-8 đến tháng 12) giảm dần cho đến khi thu hoạch

Nhu cầu kali

Kali dinh dưỡng cây vải hút nhiều nhất.

Vai trò: tăng độ ngọt và phẩm chất quả, tăng khả năng cất giữ, bảo vệ vỏ quả. Tăng khả năng chịu hạn, chịu lạnh, nóng khả năng chống chịu sâu bệnh giúp quả nhanh lớn và thành thục.

Triệu chứng: Thiếu kali lá hơi nhạt, ngọn lá màu trắng tro, khô, mép lá màu nâu gụ lan dần xuống tận gốc lá.

Trong năm nhu cầu kali tăng dần sau thu hoach quả và đạt cao nhất thời kì ra hoa giảm dần đậu quả cho đến thu hoạch.

Nhu cầu về yếu tố dinh dưỡng khác

– Cây vải nhu cầu khá cao MgO và CaO tăng độ ngọt, khả năng chống chịu.

– Có ý kiến cho rằng Clo yếu tố dinh dưỡng nhu cầu khá rõ với cây vải. – Ngoài ra, Bo, Zn, GA3, IAA tác dụng tăng tỷ lệ đậu quả, tăng trọng lượng và hàm lượng Vitamin C. 6.2. Bón phân

Giai đoạn kiến thiết cơ bản

Bón 3-4 đợt: đợt 1 vào tháng 2 thúc ra cành xuân, đợt 2 tháng 5 thúc cành hè, đợt 3 tháng 8 thúc cành mùa thu, đợt 4 (tháng 11) bón lân + kali tăng cường khả năng chống rét cho cây. Trong thời kì này cách 1 năm bón thêm phân hữu cơ và vôi bột tháng 7 và 8.

Liều lượng bón: Lượng bón cho cây vải năm thứ nhất là:

+ Đạm U rê: 0,1 – 0,15 kg/ cây + Lân Supe: 0,3 – 0,5 kg/cây

+ Kaliclorua: 0,1 – 0,15 kg/cây. Chia đều cho các lần bón.

– Từ những năm sau lượng bón tăng 40 – 60% so với năm trước tuỳ thuộc vào tình hình sinh trưởng của cây.

– Lượng bón cho năm bón cơ bản (cách 1 năm bón 1 năm) vào tháng 7 – 8 là:

+ Phân chuồng: 30 – 50 kg/ cây + Vôi bột: 0,3 – 0,5 kg/cây

+ Hoà phân vô cơ với nước phân chuồng ủ kỹ để tưới cho cây cách gốc 15 – 20 cm.

+ Cuốc 3 – 4 hố sâu 5 – 7 cm xung quanh tán, bón phân rồi lấp đất.

+ Rắc xung quanh hình chiếu tán cách gốc 15 – 20cm khi trời có mưa rào hoặc tưới nước.

Giai đoạn kinh doanh: Từ năm 3 trở đi

Thời kì bón:

Lần 1: Giai đoạn đậu quả (phân quả xong, quả bằng hạt đỗ).

Lần 2: Bón thúc quả giúp quả phát triển nhanh, chống rụng quả.

Lần 3: Bón sau thu hoạch quả xong 15 ngày, thúc ra lộc thu (thu hoạch xong, tỉa cành, tạo tán xong).

7.1. Phòng trừ sâu hại vải thiều

– Đặc điểm gây hại: trưởng thành qua đông vào tháng 12, 1 sau đó đẻ trứng vào tháng 2, 3, 4, trứng nở, bọ xít non gây hại các đợt lộc, hoa và quả non.

– Phòng trừ:

+ Vụ đông, rung cây vào buổi sáng sớm khi lá còn ướt sương cho bọ xít rơi xuống, tập trung lại và đốt.

+ Ngắt các lá có ổ trứng ở mặt dưới đem tiêu huỷ

+ Phun thuốc diệt bọ xít non bằng Dipterex 0,3%; Sherpa 0,2%.

– Đặc điểm gây hại: Trưởng thành đẻ trứng trên lộc non và cuống quả khi quả đang phát triển, sâu non nở ra đục qua lớp biểu bì ăn sâu vào hạt tập trung gần cuống quả làm rụng quả, tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn xâm nhập gây thối quả. Sâu đục đầu quả gây hại từ tháng 3 – 6.

– Phòng trừ:

+ Quét dọn cành lá khô, quả rụng làm giảm nguồn sâu

+ Khống chế lộc đông.

+ Phun thuốc phòng trừ vào các đợt cuối các tháng 3, 4, 5 và trước thu hoạch 15 – 20 ngày bằng Regent 0,05% để phòng trừ.

– Đặc điểm gây hại: Rệp xuất hiện từ khi giò hoa vươn dài đến khi quả non ổn định, mật độ rệp có thể lên rất cao (hàng 100 con/1 chùm hoa) gây cháy đọt, thui hoa, quả.

– Phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc ít ảnh hưởng đến hoa, quả non như Trebon 0,2%; Sherpa 0,2% phun kép 2 lần, lần 1: khi rệp xuất hiện, lần 2: sau 5 – 7 ngày vào lúc chiều mát.

– Đặc điểm gây hại: Con trưởng thành đẻ trứng vào các kẽ nứt trên gốc cây, thân và cành chính. Sâu non nở ra đục vào phần gỗ tạo ra các lỗ đục, trên vết đục xuất hiện lớp phân mùn cưa đùn ra.

– Phòng trừ:

+ Phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non

+ Sau thu hoạch quét vôi vào gốc cây để diệt trứng

+ Phun các loại thuốc xông hơi như Ofatox 0,1%; Sumicidin 0,2% sau sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu.

– Đặc điểm gây hại: Chích hút dịch quả, gây vết thương cơ giới cho nấm, vi khuẩn xâm nhập làm thối quả.

– Phòng trừ:

+ Xông khói xua đuổi

+ Bẫy ngài bằng lồng lưới

+ Bẫy bằng bả hoá học: Naled 5% + Metyl Eugenol 95% + dịch nước cam, dứa, chuối, mía, mít (100m2/1 bả).

– Đặc điểm gây hại: Nhện lông nhung phát sinh quanh năm, gây hại chủ yếu trên các đợt lộc, nặng nhất vào vụ xuân. Sâu non nở ra chích hút biểu bì mô mặt dưới lá hút nhựa, kích thích mô lá làm cho lá dị dạng có mầu nâu đỏ như nhung, mặt trên lá xoăn, phồng rộp phát triển không bình thường, làm cho lá quang hợp kém, dễ rụng.

– Phòng trừ:

+ Thu gom các lá rụng và cắt bỏ các cành bị hại nặng đem đốt. Sau thu quả và vụ đông cắt tỉa cho cây thông thoáng, làm vệ sinh vườn để giảm bớt điều kiện hoạt động của nhện.

+ Sử dụng thuốc: Regent 0,1%; Pegasus 0,1%; Ortus 0,1% có tác dụng diệt nhện trưởng thành tốt. Phun cho mỗi đợt lộc 2 lần: lần 1 nhú lộc, lần 2 lộc ra rộ.

– Đặc điểm gây hại: Sâu non và trưởng thành cắn cành non, ăn khuyết lá khi cây xuất hiện những đợt lộc làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây non.

– Phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc Sherpa 0,1%; Sumicidin 0,1%, supraside 0,15% phun vào lúc chiều mát hoặc sáng sớm.

7.2. Phòng trừ bệnh hại vải thiều

– Đặc điểm gây hại: Bệnh gây hại trên chùm hoa, lá đặc biệt là quả sắp chín và chín làm chùm hoa biến mầu đen, quả thối và rụng..

– Phòng trừ: + Sau thu hoạch cắt tỉa cành khô, cành bệnh, tiêu hủy để hạn chế nguồn bệnh. Phun phòng bằng Boocdo (1%), Oxiclorua Đồng (0,3%). Khi thấy xuất hiện bệnh trên hoa quả, dùng Ridomil MZ-72 (0,2%) để phòng trừ.

– Đặc điểm gây hại: Bệnh do nấm gây ra làm cho các mô lá bị tổn thương tạo thành các vết khô ở đầu và mép lá. Bệnh phát sinh vào tháng mùa mưa 7, 8, 9, gây hại nặng vào tháng 2, 3, 4.

– Phòng trừ:

+ Cắt bỏ những cành lá bị bệnh đem đốt tránh lây lan nguồn bệnh.

+ Phun Boocdo 1%, Ridomil MZ-72 0,2%.

– Đặc điểm gây hại: Bệnh do nấm gây ra tạo thành các vết khô ở đầu và mép lá và các đốm trên mặt lá, ranh giới giữa mô khoẻ và mô bệnh phân biệt rõ rệt.

– Phòng trừ:

+ Sau thu hoạch cắt tỉa cành khô, cành bệnh, gom lại và tiêu hủy.

+ Phun phòng thuốc vào vụ thu đông bằng Score 0,05%, Oxiclorua Đồng 0,3%, Bavistin 0,1%.

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Lạc

3.5. Kỹ thuật che phủ nilon 3.5.1. Vụ Xuân: Bước 1: Làm đất, lên luống Bước 2: Bón phân Bước 3: Gieo lạc, san mặt luống thật bằng phẳng Bước 4: Phun thuốc cỏ Bước 5: Tiến hành che phủ nilon: Vét đất giữ 4 mép để nilon khỏi bốc bay. Bước 6: Sau gieo 7-10 ngày tiến hành kiểm tra lạc đã mọc hay chưa nếu mọc rồi thì tổ chức đi chọc lỗ cho lạc lên khỏi nilon, kích cỡ đường kính lỗ 5 – 6cm. 3.5.2. Vụ Hè thu và vụ Thu đông: Bước 1: Làm đất, lên luống Bước 2: Bón phân, San mặt luống thật bằng phẳng Bước 3: Phun thuốc cỏ Bước 4: Che phủ nilon: Vét đất giữ 4 mép để nilon khỏi bốc bay. Bước 5: Tiến hành chọc lỗ (kích cỡ đường kính lỗ 5 – 6cm). Bước 6: Gieo lạc: Sau 7-10 ngày tiến hành kiểm tra tỷ lệ mọc * Chú ý: Những chân đất có cỏ thân ngầm (cỏ gấu, cỏ tranh), chân ruộng thoát nước kém không nên áp dụng công nghệ này. – Có thể làm dụng cụ chọc lỗ theo mật độ trên để tiến hành được nhanh hơn. 3.6. Chăm sóc 3.6.1. Làm cỏ, bón phân (Đối với lạc không che phủ nilon) – Làm cỏ lần 1: Khi lạc có 3 – 4 lá thật. Yêu cầu cuốc cạn, nhổ sạch cỏ ở gốc lạc làm thoáng gốc để lạc phân cành thuận lợi. Kết hợp bón phân thúc lần 1 cho lạc. -Làm cỏ lần 2: Khi lạc có 7 – 8 lá. Yêu cầu cuốc sâu hơn lần 1 tạo đất tơi xốp sạch cỏ. – Làm cỏ lần 3: Khi lạc ra hoa được 7 – 10 ngày, lần này làm cỏ kết hợp vun gốc và bón lượng vôi còn lại cho lạc. 3.6.2. Tưới nước: Thời tiết khô hạn, nếu có điều kiện nên tưới cho lạc được càng tốt, đặc biệt ở giai đoạn ra hoa và đâm tia. Nhất thiết không được để lạc ngập úng nước. Có thể tiến hành tưới theo 2 cách sau: + Tưới phun đều ruộng lạc, ướt thấm đất + Tháo nước đầy các rãnh, ngập hết mặt luống thì tháo nước ra. Sử dụng các loại phân bón qua lá, chất kích thích sinh trưởng cho cây lạc vào các giai đoạn thích hợp

4. Sâu bệnh 4.1. Sâu hại lạc Nhóm sâu ăn lá: Trong nhóm này có sâu khoang, sâu xám, sâu cuốn lá, sâu xanh. Sâu xám chủ yếu gây hại giai đoạn cây con (cắn đứt ngang gốc cây con) làm mất mật độ ban đầu. Các loại sâu khác gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây lạc. Mật độ ít: Bắt thủ công, khi mật độ cao nên dùng thuốc hoá học để xử lý. Có thể sử dụng 1 trong cỏc loại thuốc sau: Padan 95%, BESTOX 5 EC: 25 EC, Ammate 150SE, Virtako 40WG và các thuốc có nguồn gốc sinh học như Angun 5 WDG, Map Winnerr 5 WG, đầu trâu Bi-sad0.5ME… theo khuyến cáo trên bao bì. Nhóm chích hút: Nhóm này chủ yếu là rệp và rầy phá hoại bộ lá, có thể dùng các loại thuốc sau: Bassa 50EC; Aplan 10%; Conpidor 100SL 15 -21ml, Nissorun 5EC, Comite 73EC, Nhện và bọ trĩ cú thể dựng Confidor 100SL, Admire 50EC, Actara 25WG, … và phải luân phiên các loại thuốc. Sùng đất: Phá hoại từ khi lạc gieo xuống cho đến khi lạc ra hoa. – Biện pháp phòng trừ: + Vệ sinh đồng ruộng, bón vôi khi cày bừa làm đất. + Không bón phân chuồng tươi cho ruộng lạc. + Thuốc hoá học: Basudin 5H bỏ vào đất khi lên luống và đảo đều, số lượng 4-5kg/ha 4.2. Bệnh hại lạc Bệnh lỡ cổ rễ: Bệnh phát triển do nấm ở thời kỳ cây con trong điều kiện mưa nhiều ướt đất, độ ẩm cao. Lạc bị nấm phá hoại ở phần cổ rễ, rễ, gốc phần sát mặt đất. – Biện pháp phòng trừ: + Bố trí lạc trên đất cao, thoát nước tốt, bón vôi bột, trời nắng tranh thủ xới xáo làm thoáng đất. + Dùng thuốc hoá học: Rovral 50WP; Ridomil 240EC, 5G, Vicacben 50BTN, Vicacben S75BTN, Daconil 75WP, Cacban 50SC, Calvin 50WP… phun trừ khi bệnh mới xuất hiện theo khuyến cáo. Bệnh héo xanh vi khuẩn. Bệnh này do vi khuẩn gây hại. Thời kỳ gây hại từ khi lạc bắt đầu ra hoa trở về sau. Trong điều kiện lạc phát triển rậm rạp; Trời có mưa nắng xen kẽ độ ẩm trong đất cao, nhiệt độ không khí ở mức 350C thì bệnh thường xuất hiện và phá hoại. – Biện pháp phòng trừ: Biện pháp canh tác là chủ yếu: + Luân canh cây trồng khác. + Vệ sinh đồng ruộng, cày ải phơi đất. + Bón vôi khi cày bừa làm đất. + Vùng trũng nên lên luống cao, thoát nước nhanh, thường xuyên xới xáo đất khô thoáng. + Không được dùng phân tươi bón, gieo lạc đúng mật độ, đúng thời vụ, xử lý hạt giống (trong trường hợp thời tiết không thuận lợi), dùng giống kháng bệnh. 5. Thu hoạch Khi lạc có số củ già đạt từ 85 – 90% tổng số củ trên cây thì cho thu hoạch. Chọn ngày nắng ráo để thu hoạch để thuận tiện trong việc phơi và bảo quản. Lạc phủ nilon chín sớm hơn lạc không phủ nilon từ 7 – 10 ngày nên lạc phủ nilon thu hoạch sớm hơn lạc không phủ nilon gieo cùng thời gian. Sau khi thu hoạch lạc xong thu gom nilon để cày bừa vụ sau. Chọn lạc để giống: Lạc giống được chọn trên những thửa ruộng sinh trưởng và phát triển tốt, không sâu bệnh và có năng suất cao. – Phương pháp thứ nhất: Dùng lạc vụ Thu đông, sau khi thu hoạch chọn lạc củ đôi, không nứt nẻ, phơi được nắng để làm giống vụ Xuân. – Phương pháp thứ hai: Dùng lạc vụ Xuân, sau khi thu hoạch chọn lạc củ đôi, hạt mẩy, phơi được nắng, không nứt nẻ, để làm giống vụ Thu đông và vụ Xuân (khi giống vụ Thu đông không cung ứng đủ cho vụ Xuân).

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Mít Nghệ

Quy trình trồng và chăm sóc cây mít nghệ

Mít nghệ gồm hai giống là mít nghệ Viên Linh và mít nghệ MĐN06H, nhưng phổ biến hơn cả là giống mít Viên Linh, cả hai giống mít nghệ đều cho trái to, múi mít vàng óng, giòn dai và ít sơ với vị ngọt vỏ xanh

I. KỸ THUẬT TRỒNG 1/ Giống trồng:

* Đặc điểm của giống Viên Linh:

+ Dạng trái bầu hơi dài, gai nhỏ đồng đều, trung bình 10 kg/trái + Thịt trái màu vàng óng + Độ ngọt vừa phải 180 đến 240 độ Brix + Tỉ lệ bột trong thịt trái vừa phải, đường trong thịt trái không quá nhiều. + Thịt trái khô giòn và dai không có nhiều nước, thịt không nhão, bảo quản được lâu. + Tỷ lệ thịt trái 45% đến 50%. + Là giống thu hoạch sớm, từ khi trổ bông đến khi thu hoạch 120 – 130 ngày. + Là giống thích hợp cho ăn tươi.

* Đặc điểm của giống MĐN06H

+ Quả tròn đều, to, trọng lượng trung bình 14 kg + Vỏ quả màu xanh khi chín + Múi màu vàng tươi + Thịt trái dòn, ít xơ

2/ Kỹ thuật trồng và canh tác:

* Đất trồng mít

– Mít thích hợp với nhiều loại đất, nhưng đất phải thoát nước tốt không được ngập úng. – Đào hố kích cỡ: 60cm x 60cm x 60cm trở lên, bón lót bằng các loại phân rác hoai mục, hoặc cây phân xanh ủ cho hoai. – Bón lót trước khi trồng: + 01 kg vôi/hố (sau khi đào hố xong tiến hành bón vôi ngay) + Phân chuồng đã qua xử lý (XPF): 3 kg/hố + Lân Lâm Thao: 0,5 kg/hố + Chế phẩm Nolatri: 20g/hố + Phân NPK (20-20-15-TE+) : 50 g/hố + Bón 50 g thuốc Nokap/hố

– Cách bón:

+ Bón vào hố 3 kg phân chuồng, phân lân và 20g chế phẩm Nolatri, sau đó trộn đều. + Bón NPK xuống + Phủ lên 01 lớp đất mặt mỏng + Bón thuốc Nokap để phòng sâu và mối gây hại + Trồng cây vào nén chặt đất cho rễ cây và đất tiếp xúc nhau cây mau bén rễ.

* Mật độ, khoảng cách trồng: – Hàng x hàng = 7m; Cây x cây = 6m (đất nghèo dinh dưỡng thì trồng dày hơn có thể là 6x5m hoặc 6x6m)

* Thời vụ trồng: Thường trồng vào tháng 05 – 06 dương lịch, ưu điểm của vụ này vào mùa mưa, cây đủ độ ẩm để phát triển. Tuy nhiên nếu có đủ nước tưới trong mùa khô thì trồng trong mùa khô cũng được..

* Chuẩn bị cây giống: Cây ghép mắt, gốc ghép trên 01 năm tuổi, cây cao 20 cm trở lên đựng trong bầu nylon đen kích cỡ 30 x 11 cm.

* Cách đặt cây giống:

+ Đặt cây sao cho bầu cây nằm ngang mặt đất, chú ý phần ngay mắt ghép phải nằm trên mặt đất. + Cây mít nếu trồng quá sâu rễ mít dễ bị nấm tấn công gây hại. + Trồng xong lấp đất chặt gốc để rễ mau tiếp xúc với đất + Vào mùa nắng khi đất khô cần tủ gốc bằng rơm hoặc cỏ khô để giữ ẩm.

II. KỸ THUẬT CHĂM SÓC

1/ Tưới nước:

Các lô mít sau khi lắp đặt hệ thống tưới xong, tưới lần đầu cho thật đẫm nước. Sau đó kiểm tra lượng nước tưới đủ bảo đảm cho cây thì những lần tưới sau định kỳ 05 ngày tưới 01 lần

– Thời gian tưới mỗi lần tuỳ thuộc vào tính chất đất của từng lô và phụ thuộc vào lưu lượng nước mạnh yếu của từng lô nhưng sau khi tưới xong đất phải có độ ẩm sâu xuống ít nhất là 30 cm.

2. Tiả cành, tạo tán.

– Phương pháp tỉa cành, tạo tán: + Để 03 cành cấp 1 đối xứng nhau cách mặt đất 50 m trở lên. + Tỉa bỏ bớt các cành nhánh cấp 1 nhỏ nằm san sát nhau trên thân chính, khoảng cách giữa các cành cấp 1 trên thân chính nên để là khoảng 20-30 cm trở lên. + Trên cành cấp 1 có rất nhiều cành cấp 2, cấp 3 và cấp 4, nên tỉa bỏ bớt các cành cấp 2, 3, 4 đi , khoảng cách giữa 2 cành cấp 2 nên để lại là từ 10 cm trở lên và nên để đối xứng nhau để tạo cho tán cây có bộ khung cân đối và thông thoáng để giảm bớt khả năng gây hại của sâu ăn lá. + Nếu cây xuất hiện quả nên tỉa bỏ bớt, chỉ chừa lại 2 quả mọc trên thân chính ở năm thứ 03 cho trái bói. Từ năm thứ 4 trở đi, tùy khả năng của từng cây mà quyết định để số lượng trái nhiều hay ít. – Khống chế chiều cao cây không quá 5-7m, tỉa bỏ những cành mọc thấp (<1m). 3. Bón phân cho cây.

* Cây năm 1:

– Sau trồng 02 tháng: bón 50 g phân NPK – Sau trồng 04 tháng: bón 50 g phân NPK – Sau trồng 06 tháng: bón 100 g phân NPK – Sau trồng 12 tháng: bón 100 g phân NPK

* Cây năm 2: bón 1,5 kg phân NPK, chia làm nhiều lần bón để hạn chế phân bị mất đi do bốc thoát hơi và rửa trôi. Những lô mít bị mất sức nhiều do nắng hạn có thể bổ sung 150 g phân urê/gốc và chia làm 02 lần bón, mỗi lần bón 75gam. này, lần sau móc 01 hố đối xứng hố cũ và bón vào.

* Cây năm 3: bón 2 kg phân NPK, chia làm nhiều lần bón để hạn chế phân bị mất đi do bốc thoát hơi và rửa trôi.

* Phương pháp bón:

– Phân urê dễ tan, bón trực tiếp vào gốc khi đất có độ ẩm và sau khi bón phải tưới nước cho phân tan hết. – Phân NPK: nếu bón nổi khó tan thì bón vùi, lần này móc 01 hố bón một bên – Mỗi tháng bón phân 1 lần vào lần tưới thứ 3 trong tháng (tức là ngày 20 hàng tháng).

5. Phòng trừ sâu bệnh hại cho cây

– Định kỳ 02 tháng phun phòng 01 lần thuốc ngừa nấm hồng và sâu đục thân. – Thường xuyên kiểm tra sâu bệnh hại để phun thuốc phòng và trị cục bộ kịp thời, nếu phát hiện sâu đục thân thì dùng kim tiêm, tiêm thuốc vào đường đục hoặc lấy gòn chấm thuốc bít đường đục lại. – Đầu mùa mưa tiến hành quét thuốc Boocdor vào gốc cây để phòng bệnh xì mủ thân. – Định kỳ 03 tháng bón 01 lần thuốc Nokap II để phòng mối và tuyến trùng gây hại rễ và phun phòng chế phẩm Trichoberma phòng bệnh trên thân cây mít.

Phun xịt một số bệnh phổ biến:

– Sâu đục trái, dưỡng trái + Loại thuốc: Motox, BI58 kết hợp một số loại phân dưỡng trái + Cách phun: phun ướt đều quanh tán lá, trái

– Sâu đục thân: Nếu thấy đường đục sâu đục thân thì dùng que kẽm cho vào đường đục để giết chết sâu sâu đó pha một ít thuốc hạt dùng kim tim bơm vào đường đục hay lấy bông gòn chấm thuốc rồi bít lỗ đường sâu đục lại.

– Sâu ăn lá và bệnh hại thân cành: – Trị bệnh héo đen đầu lá: dùng dung dịch Bordeaux nồng độ 1%: Dùng trị bệnh héo đen đầu lá. Dùng vôi sống, sulfat đồng và nước với tỷ lệ 1:1:100. Hòa tan hoàn toàn 1 kg sulfat đồng trong 80 lít nước và 1 kg vôi trong 20 lít nước còn lại. Dung dịch trên được lọc để loại bỏ tạp chất, tiếp theo đổ từ từ dung dịch sulfat đồng vào dung dịch vôi và trộn đều; tuyệt đối không làm ngược lại. Dùng cây sắt được mài sáng và nhúng vào dung dịch thuốc đã pha trong 1 – 2 phút, nếu bị sét là do có pH thấp cần điều chỉnh tăng thêm lượng vôi. Nếu pha đúng cách dung dịch có màu xanh dương và chậm kết tủa. Dung dịch thuốc sử dụng ngay sau khi pha chế vì thuốc dễ bị phân hủy nếu để lâu.

– Trị nấm hồng: dùng dung dịch Bordeaux nồng độ 5%: Dùng chủ yếu để trị bệnh nấm hồng. Pha sulfat đồng, vôi sống và nước với tỷ lệ 1: 4: 15. Hòa tan hoàn toàn 1 kg sulfat đồng trong 5 lít nước và 1 kg vôi trong 10 lít nước còn lại. Cách pha tương tự như dùng cho nồng độ 1%.

– Phòng nấm Phythopthora: Phun đại trà vào gốc cây dung dịch Tricoderma (Nolatri) để phòng nấm Phythopthora gây hại. + Loại thuốc: Nolatri + Nồng độ phun: 200 ml/bình 16 lit

– Không dùng các dụng cụ bằng sắt, nhôm để pha và sử dụng dung dịch Bordeaux, vì thuốc có khả năng ăn mòn. Tốt nhất nên dùng dụng cụ bằng nhựa, thép không rỉ. – Pha và sử dụng trong ngày, không lưu trữ vì giảm hiệu quả trị bệnh.

6. Thu hoạch và bảo quản

Độ già thu hoạch khi trái mít từ 100 – 120 ngày sau trổ hoa. Trái mít có mùi thơm nhẹ, gai nở đều. Khi thu hoạch dùng kéo cắt cành cắt ngang cuống trái và tránh để trái va trạm, chày xước và tiếp xúc xuống đất. Thu hoạch đúng độ chín, sau khi thu hái có thể sau 2-4 ngày mít sẽ tự chín ở nhiệt độ bình thường. Sau khi thu hoạch cần bảo quản mít ở nơi thoáng, không để trái tiếp xúc trực tiếp xuống đất. Mít có thể bảo quản được 3 – 4 tuần ở nhiệt độ 11-13°C.