Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Có Múi / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Có Múi

Đất trồng cây có múi phải thoát nước tốt, tơi xốp, thoáng khí, hàm lượng mùn cao, đất có tầng canh tác dày 0,8m – 1m, pH trung tính: 6 – 6,5.

Vùng đất thấp trũng phải lên liếp và đắp mô cao 60 – 80cm, đường kính 0,8 – 1m, hệ thống thoát nước tốt tránh ngập úng vào mùa mưa.

Đất bằng cao ráo cuốc hố với kích thước: 0,4 x 0,4 x 0,4m, đất đồi cuốc hố với kích thước: 0,7 x 0,7 x 0,7m, bố trí hố trồng theo đường đồng mức theo hướng nam, đông nam để tránh gió.

Miền Bắc: Vụ Xuân (T2 – T3), vụ Thu (T9 – T10). Tốt nhất nên trồng vào vụ xuân vì độ ẩm không khí cao kèm mưa xuân nên tỷ lệ sống của cây cao.

Miền Nam: đầu mùa mưa và cuối mùa mưa.

Tiêu chuẩn chọn giống

Được nhân giống từ nguồn sạch bệnh

Sinh trưởng mạnh,thân thẳng, lá không bị dị dạng

Mật độ

Giống ghép: 5m x 5m, 5mx6m

Giống chiết: 3m x 3m; 4m x 4m, 4mx5m

Cách trồng

Giống, mật độ trồng và cách trồng

Làm cỏ, tưới nước giữ ẩm

Đảo lớp đất trộn phân đã có trong hố, tháo túi bầu và đặt cây trồng, đắp đất cao hơn mặt túi bầu 3 – 5cm, tưới nước giữ ẩm.

Cắt tỉa, tạo tán cho cây

Thường xuyên làm cỏ ở xung quanh hình chiếu tán cây, kết hợp với tưới nước, tủ gốc cho cây. Thời kỳ cây cho trái, giữ thảm cỏ trong vườn để tăng độ ẩm vườn, hạn chế rửa trôi dinh dưỡng.

Tạo tán: Cây con bắt đầu được tạo tán khi được 1 – 1,5 tuổi. Chọn 3 cành phát triển 3 hướng tương đối đồng đều với nhau làm cành cấp 1. Sau khi cành cấp 1 phát triển dài 50 – 80cm cắt đọt để phát triển 2 – 3 cành cấp 2. Mỗi cành cấp 2 cách nhau 15 – 20cm, tạo với cành cấp 1 một goc 30 – 35 độ, sau đó, cũng tiến hàng cắt đọt như cành cấp 1. Từ cành cấp 2 chọn tương tự ta được cành cấp 3, nhưng số lượng cành cấp 3 không hạn chế, chú ý tỉa bỏ khi cành mọc dày

Tỉa cành: được tiến hành sau mỗi lần thu hoạch. Tỉa các cành mang quả (cành rất ngắn chỉ dài 10 – 15cm). Cành sâu bệnh, cành tăm, cành mọc ngược, các cành sát mặt đất…

Tính từ sau trồng đến khi bắt đầu ra hoa và đậu trái (3 năm). Thời kỳ này cây chủ yếu sinh trưởng sinh dưỡng, thân cành phát triển liên tục trong năm, hình thành khung tán. Cần phải chăm sóc tốt để phát triển bộ rễ tối đa, thân cành khỏe mạnh, vững chắc.

Cách 1: dùng KOMORI Cách 2: dùng KOMORI và Đạm GAP

Sử dụng công thức phân GAP bón cho giai đoạn kiến thiết giúp cây sinh trưởng khỏe, tăng sức chống chịu với sâu bệnh hại và thời tiết:

Cách bón: rạch rãnh sâu 15 – 20 cm cách gốc 30 – 40cm, rải phân, lấp đất, tưới nước đủ ẩm.

: hàng năm bón thêm 1 – 3 kg FOSFATO hoặc GAP ORGAN hoặc VINA GAP cho mỗi cây để đảm bảo duy trì hàm lượng mùn và độ pH của đất giúp tăng khả năng tái tạo kết cấu đất và duy trì khoảng pH thích hợp cho quá trình hô hấp và dinh dưỡng khoáng của cây.

Giai đoạn phân hóa mầm hoa: tính từ sau thu hoạch đến khi nhú lộc xuân (tháng 11 – tháng 1). Cây cằn cỗi, chủ yếu lá già, xuất hiện nhiều lá vàng và rụng. Trong giai đoạn này cần quan tâm cắt tỉa tạo tán, đảm bảo lượng phân bón giúp cây phục hổi sinh trưởng, phát triển rễ mạnh nhất.

Giai đoạn ra hoa và lộc xuân: tính từ khi bắt đầu ra hoa đến khi hoa rụng hết. Cân đối dinh dưỡng giúp hoa phát triển thành thục và bộ lá phát triển mạnh.

Giai đoạn quả phát triển và lộc hè: bắt đầu sau khi quả được hình thành. Giai đoạn này quả sẽ phát triển, tăng mạnh về kích thước; xuất hiện nhiều cành vượt và có hiện tượng rụng quả sinh lý.

Giai đoạn lộc thu và quả chín: tính từ khi lộc thu xuất hiện đến khi quả chín. Quá trình biến đổi các chất diễn ra mạnh (tăng hàm lượng đường và hương vị quả). Giai đoạn này sẽ quyết định năng suất vườn cây ăn trái và tiền đề cho quá trình phân hóa mầm hoa vụ tới.

Sử dụng công thức phân GAP bón giai đoạn kinh doanh giúp khai thác năng suất cây có múi đạt hiệu quả cao:

Khi cây ăn quả ở thời kỳ kinh doanh, trong 1 năm cây sẽ qua bốn giai đoạn sinh lý chính.

Cây có múi yêu cầu đất tơi xốp, thoáng khí, hàm lượng mùn cao nên hàng năm cần bón thêm 25 – 40 kg phân chuồng hoai kết hợp 3 – 5 kg FOSFATO hoặc GAP ORGAN hoặc VINA GAP (bón một lần vào đầu kỳ) cho mỗi cây để đảm bảo duy trì hàm lượng mùn và độ pH của đất giúp tăng khả năng tái tạo kết cấu đất và duy trì khoảng pH thích hợp cho quá trình hô hấp và dinh dưỡng khoáng của cây.

Các bệnh thường gặp trên cây có múi như: vàng lá greening, loét cây có múi, chảy mủ thân. Bên cạnh đó cây có múi còn bị tấn công bởi bọ xít xanh, sâu vẽ bùa, nhện đỏ, và đặc biệt chú ý đến rầy chổng cánh, vì nó là môi giới truyền bệnh gây nên bệnh vàng lá greening, hiện tại chưa có thuốc chữa. Thường xuyên thăm vườn kết hợp với IPM để phát hiện kịp thời, kiểm soát được sâu bệnh để có biện pháp xử lý hiệu quả.

Qui Trình Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Có Múi (Citrus)

Một số lưu ý về kỹ thuật canh tác

a. Các giống cam: Ở Tiền Giang hiện trồng các giống: – Cam giây: Cây cam phân cành thấp, tán hình dù lan rộng. Ở tuổi thứ 5 cây cao khoảng 3 – 4 m, đường kính tán 5 – 6 m. Cành ít gai, gai ngắn, lá xanh đậm, có eo nhỏ, cây có thể ra hoa 3 vụ trong một năm, năng suất có thể đạt tới 1.000 – 1.200 trái/cây/năm. Trọng lượng trái trung bình 217 – 259g. Khi chín vỏ trái màu vàng, thịt trái vàng đậm, ngọt, ít chua, nhiều hạt 20 – 23 hạt/trái. – Cam mật: Cây 5 tuổi cao trung bình 5 m, tán hình cầu, cây phân cành nhiều, ít gai. Lá có màu xanh đậm, eo lá nhỏ, tán cây thoáng. Cây ra 2 – 3 vụ trái/năm. Số trái đạt từ 1.000 – 1.200 trái, trọng lượng trung bình 240 – 250 g. Vỏ trái dày 3 – 4 mm, trái mọng nước, khi chín có màu vàng, thơm, ngọt, ít chua, nhiều hạt. Cam mật là một giống có năng suất cao. – Cam sành: Là giống cam được các nhà vườn ưa chuộng, cây có phẩm chất trái thơm ngon, trồng được ở nhiều loại đất, màu sắc trái xanh vàng, bề mặt vỏ sần, trái hình cầu, hơi dẹp hai đầu, thịt trái màu cam, mềm, nhiều nước. Lá hình trứng màu xanh đậm, trọng lượng trung bình 250g, ít hạt. b. Các giống quít: – Quít đường: Tán cây trung bình, trái hơi dẹp hai đầu, vỏ mỏng dễ bóc, múi rời dễ tách, vỏ trái màu vàng xanh, láng, thịt trái màu cam, mềm: có nhiều nước, vị ngọt, thơm, trọng lượng trái trung bình 170 g. – Quít tiều: Vỏ màu cam đậm, bề mặt vỏ láng, nổi múi khá rõ. Trái hình cầu, dẹp hai đầu, vỏ rất dễ bóc, thịt trái màu cam đậm, mềm, vị hơi chua hơn quít đường, khá nhiều nước, ít hạt. Trọng lượng trái trung bình 180 g. c. Các giống bưởi: – Bưởi Năm Roi: Lá có dạng hình tam giác, phiến lá hình trứng ngược, vỏ trái màu vàng, bề mặt vỏ rỗ đốm, trái hình quả lê, vỏ múi dễ bóc, màu thịt vàng đồng đều, vị ngọt hơi chua, nước khá, ít hạt. Trọng lượng trái trung bình 1 kg. – Bưởi long: Lá có dạng tim, phiến lá hình trứng ngược; vỏ trái màu vàng xanh, bề mặt trái rổ đốm, trái có hình cầu hơi chom, vỏ múi dễ bóc, thịt trái màu hồng pha, nhiều nước, vị chua, hơi đắng, ít hạt. Trọng lượng trái trung bình 1,1 kg. – Bưởi đường da láng: Vỏ màu vàng nhạt, bề mặt vỏ láng, trái hình quả lê, vỏ múi dễ bóc, thịt trái màu vàng đậm, nước nhiều, vị ngọt đắng, ít hạt. Trọng lượng trái trung bình 1kg. – Bưởi thanh trà: Vỏ trái màu vàng nhạt, bề mặt vỏ láng, trái hình quả lê, vỏ múi dễ bóc, thịt trái màu vàng nhạt, nhiều nước, vị ngọt, ít hạt. Trọng lượng trái 1 kg. Ngoài ra, cây có múi còn có nhiều giống khác như: Cam xoàn, Bưởi Biên Hòa, Quít Orlando … mấy năm gần đây cũng đang được nhà vườn ưa chuộng.

Cây có múi thường được trồng vào đầu mùa mưa để đỡ công tưới, tuy nhiêm cũng có thể trồng được quanh năm nếu chủ động nguồn nước tưới. 3. Chuẩn bị đất trồng: Dùng đất tốt như đất mặt ruộng, đất bãi bồi ven sông … để đắp mô. Mô có hình tròn, đường kính 0,6 – 0,8 m; cao 0,3 – 0,5 m. Đất đắp mô có thể trộn tro trấu, phân chuồng hoai mục, xử lý đất bằng Furadan để trừ côn trùng và vôi để ngừa bệnh. 4. Trồng cây chắn gió và che mát: Cây có múi thích hợp ánh sáng tán xạ, do đó phải trồng cây che mát cho cam, quít bưởi như các loại cây mãng cầu xiêm, so đũa … . Đồng thời trồng cây chắn gió như dừa, xoài, các loại cây lấy gỗ trên bờ bao … để hạn chế sự thiệt hại do gió bão, sự lây lan của côn trùng, mầm bệnh. 5. Khoảng cách trồng: – Cam sành: 3 x 3 m – Cam mật, quít, chanh: 4 x 4 m

Có thể trồng dày hơn để khai thác trong những năm đầu, khi cây giao tán thì tiến hành đốn tỉa. 6. Đắp mô, bồi liếp: Trong 2 năm đầu sau khi trồng: mỗi năm bồi 1 – 2 lần bằng đất bùn ao, đất bãi sông phơi khô. Năm thứ ba trở đi thì tiến hành bồi liếp mỗi năm 1 lần khoảng 2 – 3 cm nhằm mục đích cung cấp thêm dinh dưỡng, đồng thời nâng cao tầng canh tác. Chú ý không bồi sát gốc cây. Mực nước trong mương: cam, quít rất mẫn cảm với nước, vì vậy cần để mực nước trong mương cách mặt liếp khoảng 50 – 80 cm. 7. Tủ gốc, giữ ẩm: Rễ hấp thu dinh dưỡng đa số mọc cạn, mùa nắng nhiệt độ cao sẽ ảnh hưởng xấu đến rễ, do đó cần tủ gốc giữ ẩm bằng rơm rạ, lục bình, nhớ tủ xa gốc ít nhất 20 cm. Ngoài ra, trong vườn cần lưu ý để cỏ, loại cỏ ăn cạn như cỏ rau trai để giữ ẩm vườn trong mùa nắng, làm thông thoáng đất trong mùa mưa và giảm thiệt hại cho cây trong mùa lũ. Nếu cỏ mọc cao nên cắt cỏ bớt (không xới gốc).

Thường xuyên cắt tỉa cành già, cành vượt, cành sâu bệnh, cành mọc từ gốc ghép để vườn cây thông thoáng hạn chế sâu bệnh phát triển.

Tùy theo đất, giống và tình trạng dinh dưỡng của cây mà quyết định lượng phân bón thích hợp, cần cung cấp đầy đủ đạm, lân, kalii; bổ sung thêm phân hữu cơ và vi lượng để cây đạt năng suất cao.

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Có Múi

Thứ ba – 15/10/2019 09:13

Trồng đầu mùa mưa để tiết kiệm công tưới hoặc trồng cuối mùa mưa.– ĐBSCL, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên bắt đầu trồng từ tháng 6-7.– Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, bắt đầu trồng thường vào tháng 8 – 9.

– Vùng ĐBSCL: Nên làm mô (ụ đất) trước khi trồng ít nhất 4 tuần, đất làm mô trồng thường là đất mặt ruộng hoặc đất bãi bồi ven sông phơi khô. Mô nên cao 40 cm-60 cm và đường kính 80 cm-100 cm, giữa mô đất sẽ đào hố có kích thước nhỏ hơn để trồng cây. Trộn đều đất mặt với 20-30kg phân chuồng hoai 1kg phân super lân và 0,5kg vôi cho vào hố. Khi trồng, dùng dao cắt đáy bầu, đặt cây xuống giữa hố đã đào trước đó sao cho mặt bầu ngang mặt mô, rạch theo chiều dọc của bầu để kéo bao nilon lên và lấp đất, tưới nước đủ ẩm.– Vùng Miền Đông, Duyên Hải Nam trung Bộ và Tây Nguyên: Đào hố trước khi trồng 4 tuần, kích thước hố dài x rộng x sâu(1 x 1 x 0,7m). Trộn đều lớp đất mặt với 20-40 kg phân chuồng hoai, 1 kg phân super lân và 0,5 kg vôi cho vào hố và gom đất mặt đắp mặt hố thành mô cao 20-40 cm để tránh đọng nước vào mùa mưa. Cách trồng cũng tương tự như ở ĐBSCL.– Khi đặt cây phải xoay cành ghép hướng về chiều gió để tránh gãy nhánh. Sau khi trồng cần cắm cọc giữ chặt cây con.– Không được lấp đất đến vị trí mắt ghép.

Cần phải tủ gốc để giữ ẩm trong mùa hè bằng rơm rạ khô và cách gốc khoảng 20 cm, tránh cỏ dại phát triển đồng thời khi rơm rạ bị phân hủy sẽ cung cấp một lượng dinh dưỡng cho đất. Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản nên trồng hoa màu để tránh đất bị xói mòn.

Tùy theo loại đất, giống, giai đoạn sinh trưởng mà bón lượng phân cho cây thích hợp.4.1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản:Thời kỳ kiến thiết cơ bản (cây 1-3 năm tuổi), phân bón được chia làm nhiều đợt (3-5 đợt). Trong 6 tháng đầu sau khi trồng có thể dùng 40 g Urê pha trong 8 lít nước tưới gốc mỗi tháng /1 lần.Bảng 1: Liều lượng bón phân cho cây có múi ở thời kỳ kiến thiết cơ bản

4.2. Thời kỳ khai thác:Cây chanh: Thời kỳ bón phân được chia làm 3 lần:– Sau khi thu hoạch quả một tuần bón: 25% đạm +25 % lân + 10 kg phân hữu cơ.– Bón phân bốn tuần trước khi cây ra hoa: 25% đạm + 50 % lân + 30% kali.– Sau khi đậu quả và giai đoạn phát triển quả bón: 50% đạm + 25 % lân + 70% kali.– Giai đoạn nuôi quả, lượng phân nên chia làm 2-3 lần để bón tùy theo mức độ phát triển của quả. Cây cam, quýt và bưởi: Các thời kỳ bón phân như sau:– Sau khi thu hoạch một tuần bón: 25% đạm+ 25% lân + 5-20 kg hữu cơ/gốc/năm.– Bón phân bốn tuần trước khi cây ra hoa bón: 25% đạm + 50% lân + 30% kali.– Sau khi quả đậu và giai đoạn quả phát triển bón: 50% đạm + 25% lân + 50% kali.– Một tháng trước thu hoạch bón : 20% kali. Giai đoạn quả phát triển, lượng phân nên bón làm nhiều lần và tùy theo mức độ đậu quả và sự phát triển của quả. Hằng năm nên bón bổ sung canxi (dạng phân Ca(NO 3 ) 2 ) để tăng thêm phẩm chất của quả. Bảng 2: Liều lượng bón phân cho cây có múi ở thời kỳ khai thác(Bón theo năng suất thu hoạch của vụ quả trước, kg /cây)

Phân bón

Năng

suất thu

hoạch vụ trước

Liều lượng (g/cây/năm)

N

Tương đương urê

P 2O 5

Tương đương Super lân

K 2 O

Tương đương KCl

6.3. Phương pháp bón:– Vùng ĐBSCL: Đào rãnh xung quanh gốc theo chiều rộng của tán cây, rãnh sâu 10- 15 cm, rộng 10- 20 cm cho phân vào, lấp đất và tưới nước.– Miền Đông, Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên: Dựa theo hình chiếu tán cây đào những hố xung quanh gốc, sâu 20- 30 cm, rộng 20- 30 cm, cho phân vào lấp đất lại và tưới nước hoặc áp dụng bón rãnh như vùng ĐBSCL.Khi cây giao tán không cần đào rãnh mà có thể dùng cuốc sới nhẹ lớp đất chung quanh tán cây, bón phân và lấp đất, tưới nước đủ ẩm. Có thể sử dụng phân chế biến từ sản phẩm phụ của tôm, cá, phân dơi để tưới hoặc bón cho cây có múi. Phân bón lá nên phun 4 -5 lần/vụ, ở giai đoạn sau khi quả đậu và giai đoạn quả bắt đầu phát triển nhanh, mỗi lần phun cách nhau 15 ngày.

Cây có múi thường phân hóa mầm hoa trong điều kiện khô hạn, bằng cách không tưới nước trong một thời gian nhất định giúp cho cây phân hoá mầm hoa tốt.5.1Xử lý ra hoa trên cây cam quýt:Sau khi thu hoạch xong tiến hành vệ sinh vườn như: cắt tỉa cành già, cành sâu bệnh, làm cỏ, quét vôi gốc, phun thuốc phòng ngừa sâu bệnh… Sau đó bón phân lần 1 với liều lượng tùy thuộc vào sự sinh trưởng và tuổi cây.: Lượng nước tưới vừa phải, nếu quá thừa cây sẽ ra đọt non ảnh hưởng đến việc xử lý ra hoa sau này (hoa sẽ ra muộn hơn). – Cách 1: (Áp dụng cho vùng miền Đông, Duyên Hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên): Sau khi bón phân lần 2, từ khoảng 15/2 dương lịch ngừng tưới nước cho tới 5/3 dương lịch (20 ngày) thì bắt đầu tưới trở lại, mỗi ngày 2-3 lần và tưới liên tục 3 ngày liền, đến ngày thứ 4, tưới mỗi ngày/1lần, 7-15 ngày sau khi tưới trở lại cây sẽ ra hoa, thời gian này tưới cách ngày.– Cách 2: (Áp dụng cho vùng ĐBSCL): Cây cần bón phân lần hai trước 15/2, líp được tưới đẫm nước (có thể kết hợp với vét bùn lên líp một lớp dày 2-3 cm), mực nước trong mương ở mức thấp nhất trong năm (chú ý: mực nước phải trên tầng phèn tiềm tàng), khoảng 20-25 ngày (nếu vét bùn thì biểu hiện là mặt bùn khô, nứt nẻ) thì tiến hành tưới trở lại giống như cách 1, sau khi tưới trở lại 7-15 ngày cây sẽ ra hoa với biện pháp kỹ thuật này sẽ cho thu hoạch vào tháng 1-2 của năm sau (Tết Nguyên Đán).5.2. Xử lý ra hoa trên cây chanh:a) Tạo sự khô hạn để xử lý ra hoa: Chanh có thể ra hoa quanh năm nhưng tập trung vào mùa xuân (mùa thuận), muốn chanh có quả mùa nghịch thì phải tiến hành chăm sóc bón phân để cây ra hoa tháng 9,10.Qui trình có thể tóm tắt như sau:–Đầu tháng 7 dương lịch bón phân: 0,5-1 kg (Urê+ DAP+Kali)/gốc (tùy theo tuổi và tình trạng sinh trưởng) theo tỷ lệ: 1 Urê +2 DAP +2 Kali, sau đó tưới nước đủ ẩm. Khoảng 15 ngày sau khi bón phân sẽ rụng khoảng 20- 30% tổng số lá trên cây chanh, ngừng tưới nước kéo dài khoảng 15- 20 ngày. – Đến cuối tháng 7 thì tiến hành tưới nước trở lại, hai ngày đầu tưới 2- 3 lần/ngày sau đó giảm 1lần/ ngày.– Những ngày đầu tháng 8 cây sẽ trổ hoa, khoảng 20 ngày sau quả đậu. Khi quả lớn đường kính khoảng 0,5 cm -1 cm thì bón phân và liều lượng cho mỗi gốc 0,2-0,5 kg (Urê+DAP+ kali) cũng theo tỷ lệ 1:1:1. Sau đó mỗi tháng bón 2 lần: vào ngày 15 và 30 của tháng (bón 2 tháng như vậy).b) Sử dụng Urea phun lên lá: Ban đầu cũng chăm sóc như cách 1, tuy nhiên có sử dụng 1 kg Urê pha trong bình 8 lít nước xịt thẳng lên lá, sau vài ngày lá sẽ rụng khoảng 30- 50% tổng số lá trên cây, sau đó cũng ngưng tưới như cách trên.Khoảng cuối tháng 7 dương lịch phun Flower-95 hoặc Thiên nông (kích thích ra hoa, quả) lên lá (liều lượng theo hướng dẫn ghi trên nhãn phân bón lá). Sau đó tưới nước như cách 1.Áp dụng phương pháp trên thì thu hoạch quả từ tháng 1 – 3 của năm sau.5.3. Xử lý ra hoa trên cây bưởi:Bưởi cần thời gian khô hạn để phân hoá mầm hoa, cần tạo sự khô hạn để bưởi ra hoa trong thời gian cần thiết. Thời gian tạo khô hạn kéo dài 20- 30 ngày vào tháng 12 và tháng 01 năm sau, thu hoạch quả vào Tết Trung Thu (vụ nghịch khoảng tháng 7-8 dương lịch) hoặc xử lý tháng 4-6 dương lịch thu hoạch quả vào tết Nguyên Đán (vụ thuận khoảng tháng 12 và tháng 01 năm sau). Trước khi tạo sự khô hạn nhân tạo, cây cũng đã được bón phân lần 2 (trước khi ra hoa). Trong mùa mưa, dùng vải nylon phủ chung quanh gốc cũng có thể tạo sự khô hạn để xử lý ra hoa.

Đến thời điểm thu hoạch vẫn có thể neo quả được trên cây từ 15-30 ngày bằng cách dùng Urê hoặc các loại phân bón lá trong thành phần có các kích thích tố thuộc nhóm Auxin, Gibberellin phun thẳng lên quả.

7.1.Tạo tán: Tạo cây có dạng hình tim mở tự nhiên sẽ cho năng suất cao và ổn định lâu dài, các bước như sau:Từ vị trí mắt ghép (trên gốc ghép) trở lên khoảng 50-80 cm thì bấm bỏ phần ngọn, mục đích để các cành bên phát triển. Chọn 3 cành khoẻ, thẳng mọc từ thân chính và phát triển theo ba hướng tương đối đồng đều nhau làm cành cấp 1. Cành cấp 1 cùng với thân chính tạo thành một góc 35-40°. Từ cành cấp 1 sẽ phát triển các cành cấp 2 và chỉ giữ lại 2-3 cành. Cành cấp 2 phải để cách thân chính 15-30 cm và cành này cách cành khác 20-25cm và cùng cành cấp 1 tạo thành một góc 30-35° . Từ cành cấp 2 sẽ hình thành những cành cấp 3. Cành cấp 3 không hạn chế về số lượng và chiều dài nhưng cần loại bỏ các cành mọc quá dày hoặc yếu. Sau 3 năm cây sẽ có bộ tán cân đối, thuận lợi chăm sóc, phòng ngừa sâu bệnh và thu hoạch.7.2. Tỉa cành: Hàng năm, sau khi thu hoạch cần phải loại bỏ những đoạn cành đã mang quả (thường rất ngắn khoảng 10-15 cm), cành bị sâu bệnh, cành yếu, cành nằm bên trong tán không có khả năng mang quả, các cành đan chéo nhau; đồng thời cũng cần loại bỏ những cành vượt trong thời gian cây đang mang quả. Chú ý cần phải khử trùng dụng cụ bằng nước Javel hoặc cồn 90 o trước khi tỉa cành, tạo tán.

8.1.1. Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella Stainton)Biện pháp phòng trừ: Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, tỉa cành cho các đợt ra lộc tập trung, chóng thành thục, hạn chế được phá hại của sâu. Sử dụng Actara 25 WG với liều lượng 1g/bình 8 lít; dầu D.C. Tron Plus nồng độ 0,5-0,75% hoặc Karate 2.5 EC liều lượng 20ml/ bình 8lít; Lannate 40 SP 20g/ bình 8 lít; Selecron 500 EC phun lên lá.8.1.2. Rầy mềm (Toxoptera sp.)Biện pháp phòng trừ: Phun định kỳ các đợt lộc của cây bằng các thuốc bảo vệ thực vật như: Supracide 40 ND liều lượng 1-15 ml/ bình 8lít; Actara 25 WG 1g/bình 8 lít; Trebon 10 ND 10-15ml/ bình 8lít; Bassa 50 ND 20ml/ bình 8 lít phun lên lá.8.1.3. Rầy chổng cánh ( Diaphorina citri Kuwayama)Rầy chổng cánh là tác nhân truyền bệnh vàng lá greening gây hại trầm trọng trên cây có múi.Biện pháp phòng trừ: Dùng bẫy màu vàng để phát hiện sự hiện diện của rầy trong vườn. Trồng cây chắn gió để hạn chế rầy từ nơi khác xâm nhập vào vườn. Tỉa cành để các đợt đọt non ra tập trung, sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật như: Supracide 40 ND liều lượng 1-15 ml/ bình 8lít; Actara 25 WG, 1g/bình 8 lít; Confidor, Trebon 10 ND 10-15ml/ bình 8lít; Bassa 50 ND 20ml/ bình 8 lít phun lên lá.8.1.4.Nhện.Biện pháp phòng trừ: Phun dầu D.C Tron Plus nồng độ 0,5-0,7% hoặc sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật như: Pegasus 500 DD 10 ml/bình 8 lít Vertimec 1.8 ND 10 ml/ bình 8 lít; Rufast 3 ND; Nissorun 5 EC; Kumulus 80 DF phun lên lá.

8.2.1. Bệnh Vàng lá greening:Bệnh do vi khuẩn gram âm ( Liberibacter asiaticus) làm phá hủy mạch dẫn libe. Bệnh lan truyền chủ yếu do cây giống đã nhiễm bệnh (chiết, tháp, lấy mắt ghép từ cây bị bệnh). Mầm bệnh không lưu truyền qua trứng rầy hay hạt giống.Biện pháp phòng ngừa: Trồng cây sạch bệnh, phòng trừ rầy chổng cánh ở những lần cây ra đọt non. Không nhân giống từ những cây bị bệnh, trồng cây chắn gió để ngăn chặn rầy từ nơi khác đến.8.2.2. Bệnh thối gốc chảy nhựa:Bệnh do nấm Phytopthora sp. gây ra.Biện pháp phòng trị: Đất trồng phải thoát nước tốt, không tủ cỏ rác hay bồi bùn sát gốc, trong quá trình chăm sóc tránh gây thương tích vùng gốc và rễ. Theo dõi phát hiện bệnh sớm, cạo sạch vùng bệnh, bôi các thuốc bảo vệ thực vật như: Ridomyl MZ-72 BHN pha thuốc 20-25g/ bình 8 lít; Mataxyl 25 WP 20g/ bình 8 lít; Aliette 80 WP 10g/ bình 8lít. Thu gom, rải vôi và chôn sâu các quả rụng do bệnh để hạn chế sự lây lan.8.2.3. Bệnh Loét (Canker):Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. citri gây hại.Biện pháp phòng trừ: Thường xuyên vệ sinh, cắt và tiêu hủy những cành, lá bệnh, nhất là trong mùa khô.Sử dụng các thuốc như: Kasuran BTN; Copper Hydrocide, Kocide 53.8 DF; COC-85WP, ở giai đoạn cây chờ đâm lộc ra hoa và khi 2/3 hoa đã rụng cánh, tiếp tục phun định kỳ lên lá 2 tuần/lần cho đến khi quả chín.8.2.4.Bệnh ghẻ ( Scab):Bệnh do nấm Elsinoe fawcetii gây hại.Cách phòng trị:– Thường xuyên vệ sinh, cắt tỉa và tiêu hủy ngay các cành, lá, quả bị bệnh.– Phun các thuốc bảo vệ thực vật: Zineb, Bordeaux; Kasuran BNT; Copper-zin, Benomyl, Kocide 53.8 DF; COC-85WP.

Cây có múi từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 8 -10 tháng, tùy theo giống, tuổi cây, tình trạng sinh trưởng… Nên thu hoạch vào lúc trời mát và nhẹ tay, không nên thu quả sau cơn mưa hoặc có sương mù nhiều vì quả dễ bị ẩm thối khi bảo quản.

Dùng dao cắt cả cuống quả, lau sạch cho vào giỏ hoặc sọt tre để nơi thoáng mát. Trong điều kiện bình thường thời gian bảo quản không nên quá một tuần.

Nguồn tin: Trung tam dịch vụ NN tỉnh

Chăm Sóc Cây Có Múi Sau Thu Hoạch

So với các loại cây trồng khác thì cây có múi như cam, quýt, bưởi thường có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, theo các nhà chuyên môn thì nhiều hộ trồng cây có múi vẫn chưa thật sự quan tâm đến công tác chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh, nhất là thời kỳ sau thu hoạch. Các kỹ sư nông nghiệp và nhà vườn có nhiều kinh nghiệm sẽ chia sẻ những kiến thức cơ bản cách “Chăm sóc cây có múi sau thu hoạch” để vườn cây sinh trưởng và cho trái tốt hơn.

Kỹ thuật bón phân cho cây có múi sau thu hoạch.

Cây ăn trái đặc biệt là các loại cây có múi thường có thời gian khai thác từ 20 đến 30 năm, thậm chí nhiều loại cây có thời gian dài hơn. Trong thời gian cho trái, các loại cây có múi đã tích trữ trong cây một lượng lớn chất dinh dưỡng, do vậy khi thu hoạch, cũng đồng nghĩa với việc lấy đi một lượng lớn chất hữu cơ và dinh dưỡng, làm cho cây gần như kiệt quệ, cành lá và bộ rễ dễ bị già đi, dễ phát sinh các loại sâu bệnh gây hại, làm cho chất lượng sản phẩm vụ sau kém hơn vụ trước.

Chính vì vậy, ngay sau khi thu hoạch trái xong nhà vườn cần chú ý các biện pháp chăm sóc cơ bản. Theo thạc sĩ Nguyễn Thanh Hải, Phó phòng kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông tỉnh Sóc Trăng : “Cây có múi có thời gian mang trái từ 7 đến 9 tháng nên dinh dưỡng trong cây bị suy kiệt, hệ thống rễ cây bị hư. Để cây phát triển và cho năng suất ở vụ kế tiếp bà con phải cắt tỉa đi những cành bị sâu bệnh, khô hư, làm cỏ vệ sinh vườn, quét vôi cho thân cây, để hạn chế gây bệnh xì gôm, chảy nhựa, thối gốc, loại bỏ rệp xáp gây hại cho cây, sử dụng vôi đá, phi ra thành bột, bón gốc cây, với liều lượng từ 1kg đến 2kg/gốc, sau khi xử lý vôi được từ 10 đến 15 ngày thì bà con tiến hành bón phân cho cây và tưới nước ủ ẩm từ 50% đến 60%”.

Biện pháp tỉa cành, tạo tán cũng có nhiều tác dụng đối với cây có múi. Khi tỉa cành, tạo tán làm cho cây được thoáng, ánh sáng chiếu rọi trực tiếp xung quanh mặt đất dưới tán. Điều này giúp cho độ ẩm giảm đi, cây tránh được các loại bệnh nấm cũng như vi khuẩn. Mặt khác, tỉa cành, tạo tán làm cho các tán cây không bị giao nhau, giúp cho hiện tượng quang hợp của cây diễn ra tốt hơn và cây có khả năng sinh trưởng tốt hơn so với những cây không được tỉa cành, tạo tán.

Tỉa cành, tạo tán cho cây ăn trái sau thu hoạch.

Công tác tỉa cành tạo tán nên chọn những ngày trời nắng ráo, không nên cắt cành cây vào những ngày trời mưa để tránh hiện tượng lây lan bệnh từ cây này sang cây khác qua vết cắt. Khi cắt cành bỏ đi phải cắt sát vào thân, vết cắt phải dứt khoát và nhẵng, không được cắt cành quá dài, sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây. Ông Ong Thanh Hùng, nhà vườn huyện CLD cho biết: “Vườn bưởi của tôi sau khi thu hoạch, trước tiên là tôi cắt tỉa những cành già, khô rồi vô phân để dưỡng lại cây. Làm như vậy nên vụ sau, vườn bưởi của tôi, cây luôn cho trái tốt và chất lượng, bán được giá cao”.

Ngoài việc tỉa cành, tạo tán, bà con cũng cần chú ý đến việc bón phân để kích thích bộ rễ phát triển mới. Trước khi bón phân, bà con cần cuốc rãnh. Rãnh phải đảm bảo độ sâu từ 30-40 cm và rộng 20-30cm ở phía ngoài mép tán, nhằm giúp làm đứt các rễ già, rễ tơ cũ của cây, khi bón phân sẽ kích thích cây ra rễ tơ mới. Theo tập quán, bà con thường cuốc rãnh xong là đổ toàn bộ phân hữu cơ, vôi bột, phân NPK xuống rãnh rồi lấp đất, với phương thức bón này chưa thể làm thay đổi lý tính của đất và không tạo được vùng đất tơi xốp cho rễ cây phát triển. Cách bón phù hợp là bà con nên rải toàn bộ lượng phân hữu cơ, vôi bột, phân NPK đều xung quanh tán cây, trên lớp đất được cuốc lên, sau đó trộn đều đất với các loại phân, lấp lớp đất đã được trộn đều này xuống rãnh và phủ đất kín rãnh. Mục đích là tạo độ tơi xốp, thoáng khí cho vùng rễ phát triển, cây hấp thụ tốt dinh dưỡng và đặc biệt giúp cải tạo độ PH. Ông Phạm Khánh Hồng, Thị trấn Cù Lao Dung cho biết thêm: “Sau mỗi vụ thu hoạch, tôi luôn tuân thủ cung cấp lượng phân bón cân đối, đúng kỹ thuật cho cây, để cây không bị suy kiệt. Cách làm này duy trì độ phát triển của cây, cây không bị già cỗi quá nhanh”.

Kỹ thuật xới đất chuẩn bị bón vôi, phân cho cây có múi sau thu hoạch.

Để việc bón phân có hiệu quả, tùy theo điều kiện bà có thể bón theo rãnh hình vành khăn tán lá nhưng tốt nhất nên bón rộng ra cả vườn với liều lượng: Phân hữu cơ oai mục từ 10 – 15 kg/gốc, phân lân Long Thành hoặc Super lân 0,5 kg/gốc, phân NPK (20-20-15) từ 200 – 300 gam/gốc (tùy cây lớn hay nhỏ), Nấm Trichoderma loại dùng để trộn với phân hoặc rải góc liều lượng 10 gam/gốc. Tất cả các loại phân trên trộn lại với nhau, rồi dùng cào răng xới xung quanh theo đường kính tán sau đó bón phân, lấp đất và tưới nước.

Bên cạnh đó sau khi cắt bỏ nhiều cành trên cây thì sẽ vô tình tạo ra rất nhiều vết thương cơ giới, những vết thương này nếu trong quá trình chấm vôi, còn bị sót lại sẽ dễ bị nấm hoặc vi khuẩn xâm nhập. Chính vì vậy phòng trừ sâu bệnh sau khi thực hiện xong các biện pháp chăm sóc cây, cũng là vấn đề quan trọng cần lưu ý. Thạc sĩ Nguyễn Thanh hải, Phó phòng kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông tỉnh Sóc Trăng cho biết: “Bà con có thể sử dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM trong vườn cây có múi như: Vệ sinh vườn, tỉa cành, quản lý cỏ, nuôi kiến vàng .Những cây nào có biểu hiện bệnh vàng lá, thối rễ thì phải xử lý bệnh trước khi bón phân; cách xử lý bệnh vàng lá thối rễ, đơn giản nhất là dùng cào răng xới đất xung quanh tán cây, sau đó phơi từ 3 đến 4 ngày thì tiến hành xử lý vôi, sau khi xử lý vôi được 7 đến10 ngày, xử lý thuốc với khoảng cách 2 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày”.

Với những kiến thức hữu ích được chia sẻ, phần nào giúp bà con nông dân có thể áp dụng vào vườn cây ăn trái, đặc biệt là cây có múi của gia đình mình để đạt được năng suất và chất lượng cao