Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Bưởi Diễn / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Bưởi Diễn

Ngày đăng: 02/08/2015, 21:30

Quy Trình trồng và chăm sóc bưởi diễn 1. Giới thiệu chung Giống có nguồn gốc từ bưởi Đoan Hùng, được đưa về trồng đầu tiên tại xã Phú Diễn – huyện Từ Liêm – TP Hà Nội. Giống có quả tròn, vỏ quả nhẵn, khi chín màu vàng cam; khối lượng trung bình từ 0,8 – 1kg; tỷ lệ phần ăn được từ 55 – 60%; số hạt trung bình khoảng 50 – 70 hạt; múi và vách múi dễ tách rời nhau. Thịt quả màu vàng xanh, ăn giòn, ngọt, độ brix 12 -14 %. Với vườn cây từ 7 tuổi trở nên, năng suất đạt từ 25 – 28 tấn/ha trong điều kiện chăm sóc trung bình. Thời gian thu hoạch muộn hơn bưởi Đoan Hùng, thường trước tết nguyên đán khoảng 15 – 20 ngày. Hiện tại, cây bưởi Diễn được trồng ở khá nhiều vùng sinh thái khác nhau như: Hà Tây, Hưng Yên, Bắc Giang và ngày càng khẳng định tính ưu việt của giống so với các giống bản địa. 2. Một số yêu cầu ngoại cảnh * Yêu cầu về nhiệt độ Nhiệt độ bình quân năm thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây bưởi là 12 – 390C. Nhiệt độ thấp nhất gây chết là – 8 đến – 110C, bưởi có thể chống chịu được khi nhiệt độ lên đến 480C. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng của bưởi là 23 – 290C. Những vùng có nhiệt độ bình quân năm trên 200C và tổng tích ôn từ 2.500 – 3.5000C đều có thể trồng được bưởi. Với yêu cầu như trên, điều kiện nhiệt độ tại Vân Đồn nằm trong ngưỡng thích hợp cho phát triển bưởi. * Yêu cầu về nước và chế độ ẩm Lượng mưa trung bình năm thích hợp cho trồng bưởi là 1.250 – 1.850 mm. Bưởi yêu cầu lượng mưa phân bố đều trong năm hơn lượng mưa lớn nhưng tập trung vào một số ít tháng. Bưởi cần nhiều nước ở thời kỳ bật mầm, phân hoá mầm hoa, ra hoa và quả phát triển. Bưởi không chịu được úng, ẩm độ đất thích hợp là 70 – 80%. * Yêu cầu về đất đai Vùng trồng bưởi phải đất phải có tầng canh tác dày ít nhất 0,6 – 1m; thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, đất tơi xốp, thông thoáng và thoát nước tốt. Đất phải giầu mùn, hàm lượng các chất dinh dưỡng phải đạt mức trung bình trở lên (hàm lượng mùn từ 2 – 3%; N tổng số: 0,1 – 0,15%; P2O5 dễ tiêu từ 5 – 7mg/100g; K2O dễ tiêu từ 7 – 10mg/100g; Ca, Mg: 3 – 4mg/100g). pH KCl đất thích hợp nhất cho cây trồng bưởi là từ 5,5 – 6,0 song cũng có thể trồng được bưởi khi pH KCl từ 4,0 – 8,5 nhưng phải có biện pháp cải tạo đất. * Yêu cầu về ánh sáng Cường độ ánh sáng thích hợp cho trồng bưởi là 10.000 – 15.000 Lux (tương ứng với ánh sáng lúc 8 giờ sáng và 16 giờ chiều). Cần bố trí mật độ trồng dày hợp lý có được ánh sáng tán xạ, tránh được giám quả. * Yêu cầu về các yếu tố khác Vùng trồng bưởi thích hợp cần tránh những vùng có độ dốc lớn (trên 150), đất nhiễm phèn, mặn, những vùng có sương muối, gió bão… gây hại. 3. Kỹ thuật trồng a) Tiêu chuẩn giống trồng Cây giống phải được nhân từ cây mẹ đầu dòng tuyển chọn và phải đạt tiêu chuẩn ngành 10 TCN – 2001, cụ thể: cây giống sản xuất bằng phương pháp ghép phải được tạo hình cơ bản trong vườn ươm, có ít nhất 2 cành cấp 1 và không nhiều quá 3 cành. Đường kính cành ghép cách điểm ghép đạt từ 0,5 – 0,7 cm; dài từ 50 cm trở lên; có bộ lá xanh tốt, không sâu, bệnh. b) Chọn đất trồng và chuẩn bị đất trồng * Chọn đất: có tầng dầy từ 1 m trở lên, kết cấu xốp để giữ mầu, và thoát nước tốt, giàu mùn. Độ dốc của đất từ 3 – 200 (tốt nhất là 3 – 80 ). * Chuẩn bị đất trồng Bao gồm: phát quang, san mặt bằng; thiết kế vườn trồng; đào hố; bón phân lót và lấp hố; các công việc khác như làm đường, mương rãnh tưới tiêu nước, – Phát quang và san ủi mặt bằng Đối với những đồi rừng chuyển sang trồng cây ăn quả nói chung và trồng bưởi Diễn đều phải phát quang, thậm chí phải đánh bỏ toàn bộ rễ cây rừng và san ủi tạo mặt phẳng tương đối để cho việc thiết kế vườn được dễ dàng. Trừ những nơi đất quá dốc ( từ khoảng 100 trở lên ) sẽ áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, nghĩa là chỉ phát quang, dãy cỏ, san lấp những chỗ quá gồ ghề sau đó thiết kế và đào hố trồng cây, còn ở những nơi đất không quá dốc hoặc bằng, sau khi phát quang, san ủi sơ bộ có thể dùng cày máy hoặc cày trâu cày bừa một lượt để vừa sạch cỏ vừa tạo cho bề mặt vườn tơi xốp ngăn được sự bốc hơi nước của vườn sau khi bị phát quang. Đối với các loại đất chuyển đổi khác sang trồng bưởi Diễn cũng cần phải dọn sạch và tạo lại mặt bằng trước khi thiết kế. – Thiết kế vườn trồng + Tuỳ theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn trồng một cách phù hợp. Đối với đất bằng hoặc có độ dốc từ 3 – 50 nên bố trí cây theo kiểu hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tam giác (kiểu nanh sấu). Đất có độ dốc từ 5 – 100 phải trồng cây theo đường đồng mức, khoảng cách của hàng cây là khoảng cách của đường đồng mức. Ở độ dốc 8 – 100 nên thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang đơn giản, dưới 80 có thể áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, trên 100 phải thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang kiên cố. + Đối với vườn diện tích nhỏ dưới 1ha không cần phải thiết kế đường giao thông, song với diện tích lớn hơn thậm chí tới 5 – 10 ha cần phải phân thành từng lô nhỏ có diện tích từ 0,5 đến 1ha/lô và có đường giao thông rộng để có thể vận chuyển vật tư phân bón và sản phẩm thu hoạch bằng xe cơ giới, đặc biệt đối với đất dốc cần phải bố trí đường lên, xuống và đường liên đồi. Độ dốc của đường lên đồi không quá 100. + Bố trí mật độ, khoảng cách Mật độ trồng phụ thuộc vào và khả năng đầu tư thâm canh. Thông thường đối với bưởi Diễn trồng với khoảng cách 5 m ´ 4 m (tương ứng với 500 cây/ ha). Đối với những vùng đất tốt hoặc có điều kiện đầu tư thâm canh và áp dụng các biện pháp đốn tỉa hàng năm có thể bố trí mật độ dày hơn (600 cây/ha). Ở những vùng đất dốc, hàng cây được bố trí theo đường đồng mức và khoảng cách giữa 2 đường đồng mức là khoảng cách giữa 2 hình chiếu của cây. Khoảng cách cây được xác định như nhau trên cùng một đường đồng mức, đường đồng mức dài hơn thì có số cây nhiều hơn. – Đào hố trồng và bón lót + Kích thước hố rộng 0,8 – 1 m sâu 0,8 – 1 m. Đất xấu cần đào rộng hơn. + Bón phân lót cho 1 hố: Bót lót cho mỗi hố 30 – 50 kg phân chuồng hoai (hoặc 5 – 7 kg phân vi sinh) + 1 kg supelân + bón vôi đủ điều chỉnh pH đất về ngưỡng thích hợp (từ 6 – 6,5). Toàn bộ lượng phân lót trên được trộn đều với tầng đất mặt và lấp hố. Lượng đất lấp hố cao hơn bề mặt hố từ 7 – 10 cm, dùng cọc thiết kế vườn đánh dấu tâm hố. Hố cần phải chuẩn bị trước khi trồng ít nhất 1 tháng. c) Trồng cây * Thời vụ trồng và cách trồng – Trong điều kiện sinh thái huyện Vân Đồn thời vụ trồng tốt nhất vào tháng 2, 3 (có thể trồng vào tháng 8,9). – Cách trồng: Đào 1 hố nhỏ chính giữa hố trồng, đặt cây vào hố lấp đất vừa bằng cổ rễ hoặc cao hơn 2- 3 cm. Không được lấp quá sâu, trồng xong phải tưới ngay và dùng cỏ mục ủ gốc (lưu ý phải cách gốc từ 10- 15 cm để tránh sâu bệnh xâm nhập). * Chăm sóc sau khi trồng – Tưới nước Thường xuyên giữ ẩm trong vòng 20 ngày đến 1 tháng để cây hoàn toàn bén rễ và phục hồi. Sau đó tuỳ thời tiết nắng mưa để chống hạn hoặc chống úng cho cây. Trước khi thu hoạch 1 tháng ngừng tưới nước. Về lượng nước tưới và số lần tưới phải dựa vào khả năng giữ nước của đất, lượng bốc hơi và lượng mưa để quyết định, phương pháp tưới có thể là tưới bề mặt hoặc tưới nhỏ giọt, mỗi lần bón phân cần phải tưới nước để phân có thể hoà tan tạo điều kiện cho cây hấp thụ tốt hơn. – Cắt tỉa tạo hình + Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ chưa mang quả: Việc cắt tỉa được tiến hành ngay từ khi trồng. Để có được dạng hình hợp lý (hình bán cầu), cần thực hiện theo các bước sau: Tạo cành cấp 1 : Khi cây con đạt chiều cao 45 – 50 cm, cần bấm ngọn để tạo cành cấp 1. Chỉ để lại 3 – 4 cành cấp 1 phân bố tương đối đều về các hướng. Các cành cấp 1 này thường chọn cành khoẻ, ít cong queo, cách nhau 7 – 10 cm trên thân chính và tạo với thân chính một góc xấp xỉ 450 – 600 để khung tán đều và thoáng. Tạo cành cấp 2 : Khi cành cấp 1 dài 25 – 30 cm, ta bấm ngọn để tạo cành cấp 2. Thông thường trên cành cấp 1 chỉ giữ lại 3 cành cấp 2 phân bố hợp lý về góc độ và hướng. Tạo cành cấp 3: Cành cấp 3 là những cành tạo quả và mang quả cho những năm sau. Các cành này phải khống chế để chúng không giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác nhau giúp cây quang hợp được tốt. + Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ mang quả Cắt tỉa sau thu hoạch: Được tiến hành sau khi thu hoạch quả. Cắt tỉa tất cả các cành sâu bệnh, cành chết, cành vượt, những cành quá dày, cắt tỉa bớt cành cấp 1(nếu số cành cấp 1/cây quá dày) sao cho cây có bộ khung tán cân đối. Đối với cành thu, cắt bỏ những cành yếu, mọc quá dày. Cắt tỉa vụ xuân: Được tiến hành vào giữa tháng 1 đến giữa tháng 3 hàng năm: Cắt bỏ những cành xuân chất lượng kém, cành sâu bệnh, cành mọc lộn xộn trong tán, những chùm hoa nhỏ, dầy, dị hình. Cắt tỉa vụ hè: được tiến hành từ tháng 4 đến hết tháng 6: Cắt bỏ những cành hè mọc quá dày hoặc yếu, cành sâu bệnh, tỉa bỏ những quả nhỏ, dị hình. – Bón phân Bón phân cho bưởi Diễn tuỳ thuộc vào tuổi cây và sản lượng hàng năm, nền đất cụ thể. Cây từ 1- 3 năm sau khi trồng (cây chưa có quả – giai đoạn kiến thiết cơ bản). Mỗi năm bón 4 lần vào tháng 2, tháng 5 tháng 8 và tháng 11. Lượng phân bón ở mỗi lần như sau: + Đợt bón tháng 2: Bón 100% phân hữu cơ + 40% đạm + 40% kali + Đợt bón tháng 5: 30% đạm + 30% kali + Đợt bón tháng 8: 30% đạm + 30% kali + Đợt bón tháng 11: 100% lân + 100% vôi Lượng bón mỗi cây: Năm trồng Phân hữu cơ (kg) Đạm urê (gam/cây) Lân supe (gam) Kaliclo rua (gam) Vôi bột (kg) Năm thứ 1 30 300 500 110 1 Năm thứ 2 30 500 800 330 1 Năm thứ 3 50 860 1.200 460 1 Trong thời kỳ cho quả, lượng phân bón được thiết lập dựa trên năng suất của vụ trước. Có thể tham khảo bảng hướng dẫn sau: Năng suất thu hoạch vụ trước Lượng bón Phân hữu cơ (kg/cây) Đạm Urê (g/cây) Lân Supe (g/cây) Kaliclorua (g/cây) 20 kg/năm 30 650 830 410 40 kg/năm – 1.100 1.400 680 60 kg/năm 50 1.300 1.700 820 100 kg/năm – 1.750 2.250 1.090 120 kg/năm 70 2.200 2.800 1.360 Thời vụ bón: Toàn bộ lượng phân được chia làm 3 lần bón trong năm. Lần 1: Bón thúc hoa: (tháng 2): 40% đạm urê + 30% kaliclorua Lần 2: Bón thúc quả: (tháng 4 – 5): 20% đạm urê + 30% kaliclorua Lần 3: Bón sau thu hoạch: (tháng 11 – 12): 100% phân hữu cơ + 100% phân lân + 40% đạm urê, 40% kaliclorua. Cách bón: Bón phân hữu cơ: đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng 30 – 40 cm, sâu 20 – 25 cm, rải phân, lấp đất và tưới nước giữ ẩm. Hoặc có thể đào 3 rãnh theo hình vành khăn xung quanh tán để bón, năm sau bón tiếp phần còn lại. Bón phân vô cơ: khi đất ẩm chỉ cần rải phân lên mặt đất theo hình chiếu của tán cách xa gốc 20 – 30 cm, sau đó tưới nước để hoà tan phân. Khi trời khô hạn cần hoà tan phân trong nước để tưới hoặc rải phân theo hình chiếu của tán, xới nhẹ đất và tưới nước. 4. Một số biện pháp chăm sóc khác * Biện pháp kích thích ra hoa Khoanh vỏ: vào cuối tháng 11, đầu tháng 12, khi lá đã thành thục, chọn những cây sinh trưởng khoẻ, lá xanh đen tiến hành khoanh vỏ. Khoanh toàn bộ số cành cấp 1. Phương pháp là dùng dao sắc khoanh bỏ hết lớp vỏ đến phần gỗ với chiều rộng vết khoanh 0,2 – 0,3 cm theo hình xoắn ốc 1,5 – 2 vòng, tuyệt đối không dùng liềm, cưa. Xử lý thuốc trừ nấm bệnh cho vết khoanh. * Biện pháp tăng khả năng đậu quả + Trước khi nở hoa: dùng các loại phân bón lá: Atonic, Mastrer – Grow, kích phát tố thiên nông (theo chỉ dẫn trên bao bì) phun 2 lần, lần 1 khi mới xuất hiện nụ, lần 2 cách lần 1 là 15 ngày. + Sau khi đậu quả: khi quả non có đường kính 1 – 2 cm, phun Atonic, Mastrer – Grow, kích phát tố thiên nông 2 – 3 lần với nồng chỉ dẫn, các lần phun cách nhau 10 – 15 ngày. 5. Một số loại sâu bệnh hại chính Trong điều kiện cụ thể tại Đầm Hà, cần lưu ý phòng trừ các đối tượng sâu bệnh hại sau: * Sâu hại Bưởi * Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citriella): – Đặc điểm gây hại: Phá hoại ở thời kỳ vườn ươm và cây nhỏ 3 – 4 năm đầu mới trồng. Trên cây tập trung phá hoại thời kỳ lộc non, nhất là lộc xuân. Trưởng thành đẻ trứng vào búp lá non, sâu non nở ra ăn lớp biều bì lá, tạo thành đường ngoằn ngèo, có phủ sáp trắng, lá xoăn lại, cuối đường cong vẽ trên mặt lá có sâu non bằng đầu kim. Sâu phá hoại mạnh ở tất cả các tháng trong năm (mạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 10). – Phòng trừ: Phun thuốc diệt sâu 1 – 2 lần cho mỗi đợt lộc non bằng: Decis 2,5EC 0,1 – 0,15%; Trebon 0,1 – 0,15%; Polytrin 50EC 0,1 – 0,2%. * Sâu đục thân (Chelidonium argentatum), đục cành (Nadezhdiella cantori): – Đặc điểm gây hại: Con trưởng thành đẻ trứng vào các kẽ nứt trên thân, cành chính. Sâu non nở ra đục vào phần gỗ tạo ra các lỗ đục, trên vết đục xuất hiện lớp phân mùn cưa đùn ra. – Phòng trừ: + Bắt diệt trưởng thành (Xén tóc) + Phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non + Sau thu hoạch (tháng 11 – 12) quét vôi vào gốc cây để diệt trứng + Phun các loại thuốc xông hơi như Ofatox 400 EC 0,1%; Supracide 40ND 0,2% sau sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu. * Nhện hại: – Đặc điểm gây hại: + Nhện đỏ (Panonychus citri) : Phát sinh quanh năm hại lá là chính, chủ yếu vào vụ đông xuân. Nhện đỏ rất nhỏ, màu đỏ thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo đi. Trên lá nơi nhện tụ tập thường nhìn trên mặt lá thấy những vùng tròn lá bị bạc hơn so với chỗ lá không có nhện và hơi phồng lên nhăn nheo. + Nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus) : Phát sinh chủ yếu ở trong những thời kỳ khô hạn kéo dài và ít ánh sáng (trời âm u hoặc cây bị che bóng bởi các cây khác). Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu vàng sáng ở dưới mặt lá. – Phòng trừ: Để chống nhện (nhện đỏ và nhện trắng) dùng thuốc Comite, Ortus 50EC, Pegasus 250 pha nồng độ 0,1 – 0,2% phun ướt cả mặt dưới lá và phun lúc cây đang ra lộc non để phòng. Nếu đã bị nhện phá hại phải phun kép 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày bằng những thuốc trên hoặc phố trộn 2 loại với nhau hoặc với dầu khoáng trừ sâu. * Rệp hại : Chủ yếu hại trên các lá non, cành non, lá bị xoắn rộp lên, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen. – Đặc điểm gây hại: + Rệp cam: Chủ yếu gây hại trên các cành non, lá non. Lá bị xoăn, rộp lên. Rệp tiết ra chất nhờn (gọi là sương mật) hấp dẫn kiến và nấm muội đen. + Rệp sáp (Planococcus citri) : Trên mình phủ 1 lớp bông hoặc sáp màu trắng, hình gậy, hình vảy ốc, có thể màu hồng hoặc màu xám nâu. Những vườn cam hoặc cây cam ở gần ruộng mía thường hay bị từ mía lan sang. – Phòng trừ: Dùng Sherpa 25EC hoặc Trebon pha với nồng độ 0,1 – 0,2% phun 1 – 2 lần ở thời kì lá non. Khi xuất hiện rệp, muốn trị có hiệu quả cần pha thêm vào thuốc 1 ít xà phòng để có tác dụng phá lớp sáp phủ trên người rệp làm cho thuốc dễ thấm. * Bệnh hại bưởi * Bệnh loét (Xanthomonas campestris) Đặc điểm gây hại: Bệnh gây hại ở thời kì vườn ươm và cây mới trồng 1 – 3 năm, ở thời kỳ cây cho thu hoạch bệnh gây hại cả trên lá bánh tẻ, cành, quả non. Trên lá thấy xuất hiện các vết bệnh không định hình, mới mầu xanh vàng, sau chuyển thành màu nâu xung quanh có quầng vàng. Gặp điều kiện ẩm ướt gây thối rụng lá, gặp điều kiện khô gây khô giòn vết bệnh làm giảm quang hợp. Gây hại nặng trong điều kiện nóng, ẩm (vụ xuân hè). * Bệnh sẹo (Ensinoe fawcetti Bit. et Jenk) Triệu chứng gây hại: Vết bệnh thường có mầu nâu nhạt nhô lên khỏi bề mặt lá. Có thể lốm đốm hoặc dày đặc trên mặt lá, hình tròn, bề mặt vết bệnh sần sùi, gồ ghề. Nếu bệnh xuất hiện trên cành sẽ nhìn thấy các đám sần sùi giống như ghẻ lở, màu vàng hoặc nâu. Cành bị nhiều vết bệnh sẽ khô và chết. Bệnh đặc biệt gây hại nặng trong điều kiện nống và ẩm ( vụ xuân hè). – Phòng trừ: + Cắt bỏ lá bệnh, thu gom đem tiêu huỷ + Phun thuốc: Boocđo 1 – 2% hoặc thuốc Kasuran 0,2%. – Cách pha thuốc boocđô (pha cho 1bình 10 lít): + Dùng 0,1 kg Sunfat đồng + 0,2 kg vôi đã tôi (nồng độ 1/100), nếu nồng độ 2% thì lượng sunfat đồng và vôi tăng gấp đôi. + Lấy 7 lít nước pha với đồng sunfat, 3 lít còn lại pha với vôi, lọc bỏ cặn bã, sau đó lấy dung dịch đồng loãng đổ vào nước vôi đặc vừa đổ vừa quấy cho tan đều sẽ được dung dịch boocđô. * Bệnh chảy gôm (Phytophthora citriphora): – Đặc điểm gây hại: Bệnh thường phát sinh ở phần sát gốc cây cách mặt đất khoảng 20 – 30 cm trở xuống cổ rễ và rễ. Giai đoạn đầu bệnh mới phát sinh thường vỏ cây bị những vết nứt và chảy nhựa (gôm). Bóc lớp vỏ ra, ở phần gỗ bị hại có màu xám và nhìn thấy những mạch sợi đen hoặc nâu chạy dọc theo thớ gỗ. Bệnh nặng lớp vỏ bị hại thối rữa (giống như bị dội nước sôi) và tuột khỏi thân cây, phần gỗ bên trong có màu đen xám. Nếu tất cả xung quanh phần cổ rễ bị hại, cây có thể bị chết ngay, còn bị một phần thì cây bị vàng úa, sinh trưởng kém, bới sâu xuống đất có thể thấy nhiều rẽ cũng bị thối. – Phòng trừ: Đẽo sạch lớp vỏ và phần gỗ bị bệnh, dùng Boocđô 2% phun trên cây và quét trực tiếp vào chỗ bị hại, nếu bệnh đã lan xuống rễ phải đào chặt bỏ những rễ bị bệnh rồi xử lý bằng boocđô. Có thể dùng các loại thuốc khác như Aliette 80NP, Benlat C nồng độ 0,2 – 0,3% để phun và xử lý vết bệnh. * Bệnh Greening: – Đặc điểm gây hại: Cây có múi nói chung và bưởi nói riêng có thể nhiễm bệnh Greening vào bất kỳ giai đoạn nào từ thời kỳ vườn ươm tới khi cây 10 năm tuổi. Tuy nhiên, bưởi ít nhiễm bệnh Greening hơn các giống cam quýt khác. Triệu chứng cho thấy: trước khi những lá non trở thành mầu xanh thì trở nên vàng, cứng lại và mất mầu. Mô giữa các gân lá chuyển xanh vàng hoặc hơi vàng và có đường vân. Đầu tiên các đọt và lá non bị bệnh sâu đó có thể biểu hiện trên cả tán. Cùng thời gian đó lá xanh và lá già chuyển xang mầu vàng từ sống lá và gân lá. Các lá bị nhiễm bệnh có thể bị rụng sớm, trong một vài tháng hoặc và năm tất cả các cành cây bị khô đi và tàn lụi. – Phòng trừ: + Sử dụng cây giống sạch bệnh + Trồng sen ổi để xua đuổi rày chổng cánh. + Phun thuốc phòng trừ môi giới truyền bệnh (Rầy chổng cánh) + Cắt bỏ tất cả các cành bị bệnh đem đốt + Bón phân cân đối tăng sức đề kháng và chống chịu của cây * Các bệnh do virus và viroid: Trên bưởi còn 2 loại bệnh khá nguy hiểm gây hại: bệnh vàng lá (do virus Tristeza gây hạ) và bệnh Exocortis (do viroids gây hại). Các bệnh này không chữa trị được bằng các loại thuốc hoá học như trên mà phải phòng trị bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, bắt đầu từ khâu nhân giống sạch bệnh tới các kỹ thuật canh tác, vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ môi giới truyền bệnh vv 6. Thu hoạch và bảo quản – Thời điểm thu hoạch: Thu hoạch khi vỏ quả chuyển từ màu xanh chuyển xang mầu vàng; – Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh khi thu hái: Thu hoạch quả vào những ngày trời tạnh ráo, thu hoạch vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát, tránh thu hoạch vào giữa trưa hoặc trời quá nóng. – Kỹ thuật thu hái: Cần phải có thang chuyên sử dụng cho thu hoạch quả và sử dụng kéo để cắt chùm quả sau đó lau sạch, phân loại, cho vào thùng hoặc sọt tre có lót giấy hoặc xốp, để nơi thoáng mát và đem đi tiêu thụ. . Quy Trình trồng và chăm sóc bưởi diễn 1. Giới thiệu chung Giống có nguồn gốc từ bưởi Đoan Hùng, được đưa về trồng đầu tiên tại xã Phú Diễn – huyện Từ Liêm – TP. đổi khác sang trồng bưởi Diễn cũng cần phải dọn sạch và tạo lại mặt bằng trước khi thiết kế. – Thiết kế vườn trồng + Tuỳ theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn trồng một cách. và cách trồng – Trong điều kiện sinh thái huyện Vân Đồn thời vụ trồng tốt nhất vào tháng 2, 3 (có thể trồng vào tháng 8,9). – Cách trồng: Đào 1 hố nhỏ chính giữa hố trồng, đặt cây vào hố lấp

Quy Trình Quản Lý Cây Trồng Tổng Hợp Trên Cây Bưởi Diễn

Quy trình quản lý cây trồng tổng hợp trên cây bưởi Diễn

Năm: 2011

Mã: FV-QU-HD-1210-10-VVH

1. Giới thiệu chung

  Giống có nguồn gốc từ bưởi Đoan Hùng, được đưa về trồng đầu tiên tại xã Phú Diễn – huyện Từ Liêm – TP Hà Nội. Giống có quả tròn, vỏ quả nhẵn, khi chín màu vàng cam; khối lượng trung bình từ 0,8 – 1kg; tỷ lệ phần ăn được từ 55 – 60%; số hạt trung bình khoảng 50 – 70 hạt; múi và vách múi dễ tách rời nhau. Thịt quả màu vàng xanh, ăn giòn, ngọt, độ brix 12 -14 %. Với vườn cây từ 7 tuổi trở nên, năng suất đạt từ 25 – 28 tấn/ha trong điều kiện chăm sóc trung bình. Thời gian thu hoạch muộn hơn bưởi Đoan Hùng, thường trước tết nguyên đán khoảng 15 – 20 ngày. Hiện tại, cây bưởi Diễn được trồng ở khá nhiều vùng sinh thái khác nhau như: Hà Tây, Hưng Yên, Bắc Giang và ngày càng khẳng định tính ưu việt của giống so với các giống bản địa.

2. Một số yêu cầu ngoại cảnh

* Yêu cầu về nhiệt độ

Nhiệt độ bình quân năm thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây bưởi là 12 – 390C. Nhiệt độ thấp nhất gây chết là – 8 đến – 110C, bưởi có thể chống chịu được khi nhiệt độ lên đến 480C. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng của bưởi là 23 – 290C. Những vùng có nhiệt độ bình quân năm trên 200C và tổng tích ôn từ 2.500 – 3.5000C đều có thể trồng được bưởi. 

Với yêu cầu như trên, điều kiện nhiệt độ tại Vân Đồn nằm trong ngưỡng thích hợp cho phát triển bưởi.

* Yêu cầu về nước và chế độ ẩm

Lượng mưa trung bình năm thích hợp cho trồng bưởi là 1.250 – 1.850 mm. Bưởi yêu cầu lượng mưa phân bố đều trong năm hơn lượng mưa lớn nhưng tập trung vào một số ít tháng. Bưởi cần nhiều nước ở thời kỳ bật mầm, phân hoá mầm hoa, ra hoa và  quả phát triển.  Bưởi không chịu được úng, ẩm độ đất thích hợp là 70 – 80%.

* Yêu cầu về đất đai

Vùng trồng bưởi phải đất phải có tầng canh tác dày ít nhất 0,6 – 1m; thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, đất tơi xốp, thông thoáng và thoát nước tốt. Đất phải giầu mùn, hàm lượng các chất dinh dưỡng phải đạt mức trung bình trở lên (hàm lượng mùn từ 2 – 3%; N tổng số: 0,1 – 0,15%; P2O5 dễ tiêu từ 5 – 7mg/100g; K2O dễ tiêu từ 7 – 10mg/100g; Ca, Mg: 3 – 4mg/100g).

pH KCl đất thích hợp nhất cho cây trồng bưởi là từ  5,5 – 6,0 song cũng có thể trồng được bưởi khi pH KCl từ 4,0 – 8,5 nhưng phải có biện pháp cải tạo đất.

* Yêu cầu về ánh sáng

Cường độ ánh sáng thích hợp cho trồng bưởi là 10.000 – 15.000 Lux (tương ứng với ánh sáng lúc 8 giờ sáng và 16 giờ chiều). Cần bố trí mật độ trồng dày hợp lý có được ánh sáng tán xạ, tránh được giám quả.

* Yêu cầu về các yếu tố khác

Vùng trồng bưởi thích hợp cần tránh những vùng có độ dốc lớn (trên 150), đất nhiễm phèn, mặn, những vùng có sương muối, gió bão… gây hại.

3. Kỹ thuật trồng

a) Tiêu chuẩn giống trồng

Cây giống phải được nhân từ cây mẹ đầu dòng tuyển chọn và phải đạt tiêu chuẩn ngành 10 TCN – 2001, cụ thể: cây giống sản xuất bằng phương pháp ghép phải được tạo hình cơ bản trong vườn ươm, có ít nhất 2 cành cấp 1 và không nhiều quá 3 cành. Đường kính cành ghép cách điểm ghép đạt từ 0,5 – 0,7 cm; dài từ 50 cm trở lên; có bộ lá xanh tốt, không sâu, bệnh.

b) Chọn đất trồng và chuẩn bị đất trồng 

* Chọn đất: có tầng dầy từ 1 m trở lên, kết cấu xốp để giữ mầu, và thoát nước tốt, giàu mùn. Độ dốc của đất từ 3 – 200 (tốt nhất là 3 – 80 ).   

* Chuẩn bị đất trồng

Bao gồm: phát quang, san mặt bằng; thiết kế vườn trồng; đào hố; bón phân lót và lấp hố; các công việc khác như làm đường, mương rãnh tưới tiêu nước,…

   - Phát quang và san ủi mặt bằng

Đối với những đồi rừng chuyển sang trồng cây ăn quả nói chung và trồng bưởi Diễn đều phải phát quang, thậm chí phải đánh bỏ toàn bộ rễ cây rừng và san ủi tạo mặt phẳng tương đối để cho việc thiết kế vườn được dễ dàng. Trừ những nơi đất quá dốc ( từ khoảng 100 trở lên ) sẽ áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, nghĩa là chỉ phát quang, dãy cỏ, san lấp những chỗ quá gồ ghề sau đó thiết kế và đào hố trồng cây, còn ở những nơi đất không quá dốc hoặc bằng, sau khi phát quang, san ủi sơ bộ có thể dùng cày máy hoặc cày trâu cày bừa một lượt để vừa sạch cỏ vừa tạo cho bề mặt vườn tơi xốp ngăn được sự bốc hơi nước của vườn sau khi bị phát quang.

Đối với các loại đất chuyển đổi khác sang trồng bưởi Diễn cũng cần phải dọn sạch  và tạo lại mặt bằng trước khi thiết kế.

   - Thiết kế vườn trồng

+ Tuỳ theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn trồng một cách phù hợp. Đối với đất bằng hoặc có độ dốc từ 3 – 50 nên bố trí cây theo kiểu hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tam giác (kiểu nanh sấu). Đất có độ dốc từ 5 – 100 phải trồng cây theo đường đồng mức, khoảng cách của hàng cây là khoảng cách của đường đồng mức. Ở độ dốc 8 – 100  nên thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang đơn giản, dưới 80 có thể áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, trên 100 phải thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang kiên cố.

+ Đối với vườn diện tích nhỏ dưới 1ha không cần phải thiết kế đường giao thông, song với diện tích lớn hơn thậm chí tới 5 – 10 ha cần phải phân thành từng lô nhỏ có diện tích từ 0,5 đến 1ha/lô và có đường giao thông rộng để có thể vận chuyển vật tư phân bón và sản phẩm thu hoạch bằng xe cơ giới, đặc biệt đối với đất dốc cần phải bố trí đường lên, xuống và đường liên đồi. Độ dốc của đường lên đồi không quá 100.

+ Bố trí mật độ, khoảng cách

Mật độ trồng phụ thuộc vào và khả năng đầu tư thâm canh. Thông thường đối với bưởi Diễn trồng với khoảng cách 5 m  4 m (tương ứng với 500 cây/ ha).  Đối với những vùng đất tốt hoặc có điều kiện đầu tư thâm canh và áp dụng các biện pháp đốn tỉa hàng năm có thể bố trí mật độ dày hơn (600 cây/ha). 

Ở những vùng đất dốc, hàng cây được bố trí theo đường đồng mức và khoảng cách giữa 2 đường đồng mức là khoảng cách giữa 2 hình chiếu của cây. Khoảng cách cây được xác định như nhau trên cùng một đường đồng mức, đường đồng mức dài hơn thì có số cây nhiều hơn.

     - Đào hố trồng và bón lót 

+ Kích thước hố rộng  0,8 – 1 m sâu 0,8 – 1 m. Đất xấu cần đào rộng hơn.

+ Bón phân lót cho 1 hố: 

Bót lót cho mỗi hố 30 – 50 kg phân chuồng hoai (hoặc 5 – 7 kg phân vi sinh) + 1 kg supelân + bón vôi đủ điều chỉnh pH đất về ngưỡng thích hợp (từ 6 – 6,5). Toàn bộ lượng phân lót trên được trộn đều với tầng đất mặt và lấp hố. Lượng đất lấp hố cao hơn bề mặt hố từ 7 – 10 cm, dùng cọc thiết kế vườn đánh dấu tâm hố. Hố cần phải chuẩn bị trước khi trồng ít nhất 1 tháng.

c) Trồng cây 

* Thời vụ trồng và cách trồng

– Trong điều kiện sinh thái huyện Vân Đồn thời vụ trồng tốt nhất vào tháng 2, 3 (có thể trồng vào tháng 8,9). 

   - Cách trồng: Đào 1 hố nhỏ chính giữa hố trồng, đặt cây vào hố lấp đất vừa bằng cổ rễ hoặc cao hơn 2- 3 cm. Không được lấp quá sâu, trồng xong phải tưới ngay và dùng cỏ mục ủ gốc (lưu ý phải cách gốc từ 10- 15 cm để tránh sâu bệnh xâm nhập).

* Chăm sóc sau khi trồng 

        – Tưới nước

Thường xuyên giữ ẩm trong vòng 20 ngày đến 1 tháng để cây hoàn toàn bén rễ và phục hồi. Sau đó tuỳ thời tiết nắng mưa để chống hạn hoặc chống úng cho cây. Trước khi thu hoạch 1 tháng ngừng tưới nước.

Về lượng nước tưới và số lần tưới phải dựa vào khả năng giữ nước của đất, lượng bốc hơi và lượng mưa để quyết định, phương pháp tưới có thể là tưới bề mặt hoặc tưới nhỏ giọt,… mỗi lần bón phân cần phải tưới nước để phân có thể hoà tan tạo điều kiện cho cây hấp thụ tốt hơn.

       - Cắt tỉa tạo hình

+ Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ chưa mang quả: Việc cắt tỉa được tiến hành ngay từ khi trồng. Để có được dạng hình hợp lý (hình bán cầu), cần thực hiện theo các bước sau: 

Tạo cành cấp 1: Khi cây con đạt chiều cao 45 – 50 cm, cần bấm ngọn để tạo cành cấp 1. Chỉ để lại 3 – 4 cành cấp 1 phân bố tương đối đều về các hướng. Các cành cấp 1 này thường chọn  cành khoẻ, ít cong queo, cách nhau 7 – 10 cm trên thân chính và tạo với thân chính một góc xấp xỉ 450 – 600 để khung tán đều và thoáng.

Tạo cành cấp 2: Khi cành cấp 1 dài 25 – 30 cm, ta bấm ngọn để tạo cành cấp 2. Thông thường trên cành cấp 1 chỉ giữ lại 3 cành cấp 2 phân bố hợp lý về góc độ và hướng.

Tạo cành cấp 3: Cành cấp 3 là những cành tạo quả và mang quả cho những năm sau. Các cành này phải khống chế để chúng không giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác nhau giúp cây quang hợp được tốt.

       +  Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ mang quả 

       Cắt tỉa sau thu hoạch: Được tiến hành sau khi thu hoạch quả. Cắt tỉa tất cả các cành sâu bệnh, cành chết, cành vượt, những cành quá dày, cắt tỉa bớt cành cấp 1(nếu số cành cấp 1/cây quá dày) sao cho cây có bộ khung tán cân đối. Đối với cành thu, cắt bỏ những cành yếu, mọc quá dày. 

       Cắt tỉa vụ xuân: Được tiến hành vào giữa tháng 1 đến giữa tháng 3 hàng năm: Cắt bỏ những cành xuân chất lượng kém, cành sâu bệnh, cành mọc lộn xộn trong tán, những chùm hoa nhỏ, dầy, dị hình.

       Cắt tỉa vụ hè: được tiến hành từ tháng 4 đến hết tháng 6: Cắt bỏ những cành hè mọc quá dày hoặc yếu, cành sâu bệnh, tỉa bỏ những quả nhỏ, dị hình.

     - Bón phân

Bón phân cho bưởi Diễn tuỳ thuộc vào tuổi cây và sản lượng hàng năm, nền đất cụ thể. Cây từ 1- 3 năm sau khi trồng (cây chưa có quả – giai đoạn kiến thiết cơ bản). Mỗi năm bón 4 lần vào tháng 2, tháng 5 tháng 8 và tháng 11. Lượng phân bón ở mỗi lần như sau:

+ Đợt bón tháng 2: Bón 100% phân hữu cơ + 40% đạm + 40% kali 

+ Đợt bón tháng 5: 30% đạm + 30% kali

+ Đợt bón tháng 8: 30% đạm + 30% kali

+  Đợt bón tháng 11: 100% lân + 100% vôi

Lượng bón mỗi cây:

Năm trồng

Phân hữu cơ (kg)

Đạm urê (gam/cây)

Lân supe (gam)

Kaliclo rua (gam)

Vôi bột (kg)

Năm thứ 1

30

300

500

110

1

Năm thứ 2

30

500

800

330

1

Năm thứ 3

50

860

1.200

460

1

Trong thời kỳ cho quả, lượng phân bón được thiết lập dựa trên năng suất của vụ trước. Có thể tham khảo bảng hướng dẫn sau:

Năng suất thu  hoạch vụ trước

Lượng bón

Phân hữu cơ (kg/cây)

Đạm Urê (g/cây)

Lân Supe       (g/cây)

Kaliclorua (g/cây)

20 kg/năm

30

650

830

410

40 kg/năm

1.100

1.400

680

60 kg/năm

50

1.300

1.700

820

100 kg/năm

1.750

2.250

1.090

120 kg/năm

70

2.200

2.800

1.360

Thời vụ bón: Toàn bộ lượng phân được chia làm 3 lần bón trong năm.

Lần 1: Bón  thúc hoa: (tháng 2): 40% đạm urê + 30%  kaliclorua

Lần 2: Bón thúc quả: (tháng 4 – 5): 20%  đạm urê + 30% kaliclorua

Lần 3: Bón sau thu hoạch: (tháng 11 – 12): 100% phân hữu cơ  + 100% phân lân + 40%  đạm urê, 40%  kaliclorua.

Cách bón:

Bón phân hữu cơ: đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng  30 – 40 cm, sâu 20 – 25 cm, rải phân, lấp đất và tưới nước giữ ẩm. Hoặc có thể đào 3 rãnh  theo hình vành khăn xung quanh tán để bón, năm sau bón tiếp phần còn lại.

Bón phân vô cơ: khi đất ẩm chỉ cần rải phân lên mặt đất theo hình chiếu của tán cách xa gốc 20 – 30 cm, sau đó tưới nước để hoà tan phân. Khi trời khô hạn cần hoà tan phân trong nước để tưới hoặc rải phân theo hình chiếu của tán, xới nhẹ đất và tưới nước.

4. Một số biện pháp chăm sóc khác

* Biện pháp kích thích ra hoa

Khoanh vỏ: vào cuối tháng 11, đầu tháng 12, khi lá đã thành thục, chọn những cây sinh trưởng khoẻ, lá xanh đen tiến hành khoanh vỏ. Khoanh toàn bộ số cành cấp 1. Phương pháp là dùng dao sắc khoanh bỏ hết lớp vỏ đến phần gỗ với chiều rộng vết khoanh 0,2 – 0,3 cm theo hình xoắn ốc 1,5 – 2 vòng, tuyệt đối không dùng liềm, cưa. Xử lý thuốc trừ nấm bệnh cho vết khoanh.

* Biện pháp tăng khả năng đậu quả

+ Trước khi nở hoa: dùng các loại phân bón lá: Atonic, Mastrer – Grow, kích phát tố thiên nông (theo chỉ dẫn trên bao bì) phun 2 lần, lần 1 khi mới xuất hiện nụ, lần 2 cách lần 1 là 15 ngày.

+ Sau khi đậu quả: khi quả non có đường kính 1 – 2 cm, phun Atonic, Mastrer – Grow, kích phát tố thiên nông 2 – 3 lần với nồng  chỉ dẫn, các lần phun cách nhau 10 – 15 ngày. 

5. Một số loại sâu bệnh hại chính 

Trong điều kiện cụ thể tại Đầm Hà, cần lưu ý phòng trừ các đối tượng sâu bệnh hại sau:

* Sâu hại Bưởi

• Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citriella):

– Đặc điểm gây hại: 

Phá hoại ở thời kỳ vườn ươm và cây nhỏ 3 – 4 năm đầu mới trồng. Trên cây tập trung phá hoại thời kỳ lộc non, nhất là lộc xuân. Trưởng thành đẻ trứng vào búp lá non, sâu non nở ra ăn lớp biều bì lá, tạo thành  đường ngoằn ngèo, có phủ sáp trắng, lá xoăn lại, cuối đường cong vẽ trên mặt lá có sâu non bằng đầu kim. Sâu phá hoại mạnh ở tất cả các tháng trong năm (mạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 10).

– Phòng trừ: Phun thuốc diệt sâu 1 – 2 lần cho mỗi đợt lộc non bằng: Decis 2,5EC 0,1 – 0,15%; Trebon 0,1 – 0,15%; Polytrin 50EC 0,1 – 0,2%.

• Sâu đục thân (Chelidonium argentatum), đục cành (Nadezhdiella cantori):

– Đặc điểm gây hại:

Con trưởng thành đẻ trứng vào các kẽ nứt trên thân, cành chính. Sâu non nở ra đục vào phần gỗ tạo ra các lỗ đục, trên vết đục xuất hiện lớp phân mùn cưa đùn ra.

– Phòng trừ:

+ Bắt diệt trưởng thành (Xén tóc)

+ Phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non 

+ Sau thu hoạch (tháng 11 – 12)  quét vôi vào gốc cây để diệt trứng

+ Phun các loại thuốc xông hơi như Ofatox 400 EC 0,1%; Supracide 40ND 0,2% sau sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu.

• Nhện hại:

– Đặc điểm gây hại:

+ Nhện đỏ (Panonychus citri): Phát sinh quanh năm hại lá là chính, chủ yếu vào vụ đông xuân. Nhện đỏ rất nhỏ, màu đỏ thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo đi. Trên lá nơi nhện tụ tập thường nhìn trên mặt lá thấy những vùng tròn  lá bị bạc hơn so với chỗ lá không có nhện và hơi phồng lên nhăn nheo. 

+ Nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus): Phát sinh chủ yếu ở trong những thời kỳ khô hạn kéo dài và ít ánh sáng (trời âm u hoặc cây bị che bóng bởi các cây khác). Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu vàng sáng ở dưới mặt lá.

– Phòng trừ: Để chống nhện (nhện đỏ và nhện trắng) dùng thuốc Comite, Ortus 50EC, Pegasus 250 pha nồng độ 0,1 – 0,2% phun ướt cả mặt dưới lá và phun lúc cây đang ra lộc non để phòng. Nếu đã bị nhện phá hại phải phun kép 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày bằng những  thuốc trên hoặc phố trộn 2 loại với nhau hoặc với dầu khoáng trừ sâu.

• Rệp hại: Chủ yếu hại trên các lá non, cành non, lá bị xoắn rộp lên, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen.

– Đặc điểm gây hại: 

+ Rệp cam: Chủ yếu gây hại trên các cành non, lá non. Lá bị xoăn, rộp lên. Rệp tiết ra chất nhờn (gọi là sương mật) hấp dẫn kiến và nấm muội đen.

+ Rệp sáp (Planococcus citri): Trên mình phủ 1 lớp  bông hoặc sáp màu trắng, hình gậy, hình vảy ốc, có thể màu hồng hoặc màu xám nâu. Những  vườn cam hoặc cây cam ở gần ruộng mía thường hay bị từ mía lan sang.

– Phòng trừ: Dùng Sherpa 25EC hoặc Trebon pha với nồng độ 0,1 – 0,2%  phun 1 – 2 lần ở thời kì lá non. Khi xuất hiện rệp, muốn trị có hiệu quả cần pha thêm vào thuốc 1 ít xà phòng để có tác dụng phá lớp sáp phủ trên người rệp làm cho thuốc dễ thấm.

* Bệnh hại bưởi

• Bệnh loét (Xanthomonas campestris)

Đặc điểm gây hại: Bệnh gây hại ở thời kì vườn ươm và cây mới trồng 1 – 3 năm, ở thời kỳ cây cho thu hoạch bệnh gây hại cả trên lá bánh tẻ, cành, quả non. Trên lá thấy xuất hiện các vết bệnh không định hình, mới mầu xanh vàng, sau chuyển thành màu nâu xung quanh có quầng vàng. Gặp điều kiện ẩm ướt gây thối rụng lá, gặp điều kiện khô gây khô giòn vết bệnh làm giảm quang hợp. Gây hại nặng trong điều kiện nóng, ẩm (vụ xuân hè).

• Bệnh sẹo (Ensinoe fawcetti Bit. et Jenk)

Triệu chứng gây hại: Vết bệnh thường có mầu nâu nhạt nhô lên khỏi bề mặt lá. Có thể lốm đốm hoặc dày đặc trên mặt lá, hình tròn, bề mặt vết bệnh sần sùi, gồ ghề. Nếu bệnh xuất hiện trên cành sẽ nhìn thấy các đám sần sùi giống như ghẻ lở, màu vàng hoặc nâu. Cành bị nhiều vết bệnh sẽ khô và chết. Bệnh đặc biệt gây hại nặng trong điều kiện nống và ẩm ( vụ xuân hè).

– Phòng trừ:

+ Cắt bỏ lá bệnh, thu gom đem tiêu huỷ

+ Phun thuốc: Boocđo 1 – 2% hoặc thuốc Kasuran 0,2%.

– Cách pha thuốc boocđô (pha cho 1bình 10 lít):

+ Dùng 0,1 kg Sunfat đồng + 0,2 kg vôi đã tôi (nồng độ 1/100), nếu nồng độ 2% thì lượng sunfat đồng và vôi tăng gấp đôi.

+ Lấy 7 lít nước pha với đồng sunfat, 3 lít còn lại pha với vôi, lọc bỏ cặn bã, sau đó lấy dung dịch đồng loãng đổ vào nước vôi đặc vừa đổ vừa quấy cho tan đều sẽ được dung dịch boocđô.

• Bệnh chảy gôm (Phytophthora citriphora):

– Đặc điểm gây hại:

Bệnh thường phát sinh ở phần sát gốc cây cách mặt đất khoảng 20 – 30 cm trở xuống cổ rễ và rễ.

Giai đoạn đầu bệnh mới phát sinh thường vỏ cây bị những vết nứt và chảy nhựa (gôm). Bóc lớp vỏ ra, ở phần gỗ bị hại có màu xám và nhìn thấy những mạch sợi đen hoặc nâu chạy dọc theo thớ gỗ.

Bệnh nặng lớp vỏ bị hại thối rữa (giống như bị dội nước sôi) và tuột khỏi thân cây, phần gỗ bên trong có màu đen xám. Nếu tất cả xung quanh phần cổ rễ bị hại, cây có thể bị chết ngay, còn bị một phần thì cây bị vàng úa, sinh trưởng kém, bới sâu xuống đất có thể thấy nhiều rẽ cũng bị thối.

– Phòng trừ:

Đẽo sạch lớp vỏ và phần gỗ bị bệnh, dùng Boocđô 2% phun trên cây và quét trực tiếp vào chỗ bị hại, nếu bệnh đã lan xuống rễ phải đào chặt bỏ những rễ bị bệnh rồi xử lý bằng boocđô.

Có thể dùng các loại thuốc khác như Aliette 80NP, Benlat C nồng độ 0,2 – 0,3% để phun và xử lý vết bệnh.

• Bệnh Greening:

– Đặc điểm gây hại: Cây có múi nói chung và bưởi nói riêng có thể nhiễm bệnh Greening vào bất kỳ giai đoạn nào từ  thời kỳ vườn ươm tới khi cây 10 năm tuổi. Tuy nhiên, bưởi ít nhiễm bệnh Greening hơn các giống cam quýt khác. Triệu chứng cho thấy: trước khi những lá non trở thành mầu xanh thì trở nên vàng, cứng lại và mất mầu. Mô giữa các gân lá chuyển xanh vàng hoặc hơi vàng và có đường vân. Đầu tiên các đọt và lá non bị bệnh sâu đó có thể biểu hiện trên cả tán. Cùng thời gian đó  lá xanh và lá già chuyển xang mầu vàng từ sống lá và gân lá. Các lá bị nhiễm bệnh có thể  bị rụng sớm, trong một vài tháng hoặc và năm tất cả các cành cây bị khô đi và tàn lụi.

– Phòng trừ:

+ Sử dụng cây giống sạch bệnh

+ Trồng sen ổi để xua đuổi rày chổng cánh.

+ Phun thuốc phòng trừ môi giới truyền bệnh (Rầy chổng cánh)

+ Cắt bỏ tất cả các cành bị bệnh đem đốt

+ Bón phân cân đối tăng sức đề kháng và chống chịu của cây

• Các bệnh do virus và viroid: Trên bưởi còn 2 loại bệnh khá nguy hiểm gây hại: bệnh vàng lá (do virus Tristeza gây hạ) và bệnh Exocortis (do viroids gây hại). Các bệnh này không chữa trị được bằng các loại thuốc hoá học như trên mà phải phòng trị bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, bắt đầu từ khâu nhân giống sạch bệnh tới các kỹ thuật canh tác, vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ môi giới truyền bệnh vv…

6. Thu hoạch và bảo quản

– Thời điểm thu hoạch: Thu hoạch khi vỏ quả chuyển từ màu xanh chuyển xang mầu vàng; 

– Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh khi thu hái: Thu hoạch quả vào những ngày trời tạnh ráo, thu hoạch vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát, tránh thu hoạch vào giữa trưa hoặc trời quá nóng. 

– Kỹ thuật thu hái: Cần phải có thang chuyên sử dụng cho thu hoạch quả và sử dụng kéo để cắt chùm quả sau đó lau sạch, phân loại, cho vào thùng hoặc sọt tre có lót giấy hoặc xốp, để nơi thoáng mát và đem đi tiêu thụ.

Cách Trồng Bưởi Diễn Và Chăm Sóc Cây Bưởi Diễn Cho Năng Suất Cao Nhất

Đặc điểm của giống bưởi Diễn

Bưởi Diễn không chỉ hấp dẫn người tiêu dùng bởi lớp vỏ mỏng vàng ươm và những múi bưởi mọng nước, khi ăn có vị ngọt, thanh mát. Điểm khác biệt nhất của bưởi Diễn với các loại bưởi khác là hương thơm lan tỏa khiến người gửi cảm thấy thoải mái và dễ chịu. Chỉ cần bạn để trong nhà 2 hoặc 3 quả bưởi là căn nhà của bạn sẽ tràn ngập mùi hương thơm của bưởi. Bưởi Diễn chính gốc thường có trái không to, chỉ khoảng vài lạng hoặc hơn 1kg/quả. Da bưởi trơn, quả bưởi cầm chắc tay, múi bưởi tách rời màu trắng, mọng nước và chứa đầy đủ chất dinh dưỡng. Về mặt kinh tế thì bưởi Diễn cũng cho năng suất kinh tế cao. Mỗi 1 vụ cây bưởi Diễn cho thu hoạch khoảng 50 đến 70 quả. Chất lượng bưởi ổn định và cao hơn so với giống bưởi khác như bưởi đỏ Tân Lạc và bưởi đỏ Luận Văn.

Cách trồng và nhân giống Bưởi Diễn

Lựa chọn giống bưởi Diễn

Để bưởi Diễn cho năng suất cao thì bạn cần phải lựa chọn giống cây khỏe mạnh – đây là khâu quan trọng nhất. Vì thế, bạn cần lựa chọn những cây bưởi Diễn tại vườn hoặc những nơi uy tín để đảm bảo giống cây trồng tốt nhất. Bên cạnh đó, bạn nên lựa chọn những cây bưởi Diễn cao khỏe, kích thước trên 30cm trở nên, lá không bị sâu bệnh và bộ rễ phát triển.

Đất trồng cây

Đất phù hợp trồng bưởi Diễn là đất giàu dinh dưỡng hoặc đất pha cát tươi xốp, phải đảm bảo độ pH từ 5 đến 6.5. Đất trồng cần phải sạch sẽ, cao ráo và những nơi không có nhiều gió để làm hoa hoặc quả bị rụng.

Mật độ trồng bưởi Diễn

Tùy thuộc vào từng diện tích vườn của người dân sẽ điều chỉnh mật độ trồng bưởi Diễn sao cho phù hợp. Để cây phát triển tốt thì nên trồng với khoảng cách từ 3m – 3.5m.

Chuẩn bị hố trồng bưởi Diễn

Trước khi trồng bưởi Diễn thì bạn cần phải đào hố trồng trước 1 tháng. Sau khi đào hố trồng xong thì bạn nên bón phân NPK và phân hoại mục rồi vun đất xuống cách 15cm – 20cm mặt hố. 1 tháng sau thì bạn nên tiến hành trồng bưởi Diễn, rồi vun đất ấn chặt vào gốc cây. Bạn ấn càng chặt càng tốt để giữ cây không bị nghiêng hoặc đổ, dẫn đến chết cây. Cuối cùng tưới đẫm nước cho gốc cây 1 lần/ ngày, sau đó, 4 ngày sau mới cần phải tưới nước. Nếu bạn thực hiện cách trồng bưởi Diễn trên sẽ thu được năng suất cao.

Cách chăm sóc cây bưởi Diễn sau khi trồng

Cắt tỉa cành và tạo tán bưởi Diễn

Sau khi trồng cây thì cũng không thể bỏ qua những kiến thức để chăm sóc cây bưởi Diễn để cây có thể phát triển tốt nhất và cho năng suất cao. Việc tỉa cành khô héo, bị sâu bệnh định kỳ sẽ giúp cây thoáng đãng hơn. Ngoài ra, bạn cũng nên thường xuyên dọn cỏ và vun xới đất để giúp cây phát triển tốt.

Bón phân cho cây bưởi Diễn

Bưởi Diễn là một loại cây cho năng suất trái cao và rất dễ phát triển. Vì thế, bạn cần bón phân định kỳ để cung cấp đầy đủ nguồn dinh dưỡng cho cây, để cây phát triển trổ hoa và tạo quả. Do đó, trước khi trồng bạn nên lót phân trước để cây phát triển tốt, ra hoa tạo quả. Sau khi thu hoạch bưởi Diễn xong thì bạn cũng cần lót phân đạm và phân NPK theo định kỳ 10:3.

Ngoài việc tưới nước, bón phân định kỳ cho cây bưởi Diễn ra, để cây phát triển tốt thì nên phòng trừ sâu bệnh. Thường xuyên kiểm tra cây bưởi Diễn từ lúc mới trồng đến lúc sinh trưởng để phát hiện sâu bệnh trong thời gian sớm nhất. Nếu bạn phát hiện sâu bệnh gây hại cho cây bưởi Diễn thì có thể loại bỏ bằng tay cắt tỉa lá hoặc cành bị sâu bệnh tấn công. Ngoài ra, bạn có thể sử dụng thuốc diệt sâu bệnh để phun cho cây.

Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Bưởi Tại Tuyên Quang

– Chọn đất trồng bưởi trong vùng quy hoạch phát triển bưởi tập trung của tỉnh Tuyên Quang.

Cây bưởi rất phù hợp với loại đất cát pha, đất phù sa, đất thịt nhẹ đến trung bình, tầng canh tác dày từ 1m trở lên, giàu mùn, thoát nước tốt, gần nguồn nước tưới, độ pH đất thích hợp từ 5,5 – 6,5,

– Vụ xuân trồng từ tháng 2 đến tháng 4.

– Vụ thu trồng từ tháng 8 đến tháng 10.

Có thể mở rộng thời vụ trồng nếu cây ghép hoặc cành chiết đã được sử lý giâm trong bầu to ổn định và phát triển tốt.

Tùy vào từng giống bưởi, loại đất, địa hình, và điều kiện thâm canh để xác định mật độ trồng bưởi cho thích hợp.

– Đối với đất bằng, đất có độ dốc dưới 5 o, thiết kế trồng theo băng, theo hàng; bố trí trồng nanh sấu. Khoảng cách cây 5 m x 5 m, mật độ 400 cây/ha.

– Đối với khu đất dễ bị úng, cần thiết kế hệ thống mương thoát nước đảm bảo tiêu úng kịp thời. Khoảng cách trồng cây 6m x 5m, mật độ 335 cây/ha.

– Đất đồi thường bị hạn, nên thiết kế trồng theo đường đồng mức, có rãnh giữ nước. Khoảng cách 6m x 6 m, mật độ 280 cây/ha.

1.4. Làm đất, đào hố

– Trước khi trồng khoảng 2 tháng tiến hành làm đất. Phát dọn thực bì, cày bừa kỹ để làm sạch cỏ, gốc và rễ cây tạp.

– Thiết kế vị trí trồng cây so le (nanh sấu). Đào hố theo kích thước: 60cm x 60 cm x 60 cm, khi đào lớp đất mặt để riêng, lớp đất dưới để riêng một bên. Phơi đất từ 20 – 25 ngày, sau đó bón trộn đều phân lót, lấp hố trước khi trồng từ 25 đến 30 ngày để hạn chế nguồn sâu, bệnh hại.

– Bón phân lót trước khi trồng 1 tháng, lượng phân bón cho 1 hố như sau: Phân hữu cơ hoai mục 30 – 40 kg; phân lân 1 kg; phân đạm Urê 0,1 đến 0,15 kg; phân kali 0,15 đến 0,2 kg; vôi bột 1 kg.

– Cách bón: Lấy vôi bột trộn đều với lớp đất phía đáy hố (khoảng 1/3 hố), dùng toàn bộ lượng phân bón lót trộn đều với lớp đất mặt và đổ vào hố, sau đó bổ sung đất màu vun cao hơn mặt đất từ 5 – 10cm (trộn phân, lấp hố trước khi trồng 25 – 30 ngày).

* Cách ủ phân chuồng, phân xanh hoai mục: Là biện pháp cần thiết trước khi trộn phân lấp hố, vì trong phân chuồng tươi thường có lẫn hạt cỏ dại và nhiều ấu trùng, bào tử của nấm, xạ khuẩn, vi khuẩn, tuyến trùng gây bệnh. Ủ phân vừa có tác dụng sử dụng nhiệt độ tương đối cao trong quá trình phân hủy chất hữu cơ để tiêu diệt hạt cỏ dại và mầm mống côn trùng, nấm bệnh hại cây vừa thúc đẩy phân hủy chất hữu cơ, đẩy nhanh quá trình khoáng hóa để khi bón vào đất phân hữu cơ có thể nhanh chóng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây.

Để cây trồng phát triển tốt, hiệu quả kinh tế cao, giảm thiểu mầm mống sâu bệnh gây hại cho cây, phân hữu cơ trước khi sử dụng phải được ủ hoai mục.

+ Nguyên liệu gồm: (bổ sung mem Trichoderma)

– Phân chuồng: 400 – 500 kg (phân trâu, bò, lợn, gà…)

– Cây phân xanh, vỏ trấu, rơm rạ, bèo…: 400 – 500 kg

+ Cách ủ: Trộn đều các nguyên liệu đã nêu ở trên. Sau đó hòa men (nấm) Trichoderma tưới đều vào nguyên liệu đến khi độ ẩm trong đống lớn hơn 60%. (để đống ủ đạt độ ẩm tiêu chuẩn, bà con nắm chặt 1 nắm nguyên liệu thấy nước rỉ ra ở kẽ tay là đạt). Sau đó dùng bạt, ny lon phủ kín để gữi nhiệt và che mưa nắng . Sau 4 – 6 ngày, nhiệt độ trong đống ủ có thể đạt 60 đến 70 0 C, các loài vi sinh vật phân giải chất hữu cơ phát triển nhanh, mạnh, tạo nhiệt độ trong đống ủ cao làm ức chế sự nảy mầm của hạt cỏ cũng như tiêu diệt các loại vi sinh vật có hại trong phân chuồng.

– Sau 15 – 20 ngày tiến hành đảo trộn phân từ trên xuống, từ ngoài vào trong cho đều. Tiếp tục đánh thành đống, phủ bạt kín và để ủ khoảng 25 – 30 ngày là có thể sử dụng tốt cho cây.

Tạo 1 lỗ giữa hố trồng có độ sâu và rộng hơn bầu cây (độ sâu, rộng tùy theo bầu cây giống), xé bỏ vỏ bao ngoài bầu cây rồi đặt nhẹ cây vào giữa tâm hố, khi trồng nên đặt thẳng đối với cây ghép hoặc cây chiết có nhánh phân bố đều; đặt nghiêng đối với cây ít cành nhánh, giúp mầm ngủ mọc lên để tạo cành cấp 1, trồng thẳng hàng và lấp đất nhỏ, ấn nhẹ xung quanh bầu cây, không được để phân tiếp xúc trực tiếp với rễ cây, lấp đất cao hơn cổ rễ từ 2 – 3 cm, dùng tay ấn nhẹ lớp đất quanh bầu từ ngoài vào trong, không ấn trực diện lên mặt bầu cây dẫn đến vỡ bầu, đứt rễ.

Trồng xong cắm cọc, dùng dây mềm buộc thân cây vào cọc để cố định cây (tránh các tác động làm lay gốc đứt rễ) và tưới đẫm nước cho cây ngay sau khi thực hiện các bước trên, những ngày sau tưới nước vừa đủ và phủ cỏ hoặc rơm rạ quanh gốc để giữ ẩm cho cây

– Trồng giặm: Trong những tháng đầu sau trồng, thường xuyên theo dõi vườn cây, nếu thấy cây bị chết, cây sinh trưởng chậm, còi cọc, sâu bệnh gây hại nặng, cần loại bỏ và trồng thay thế ngay.

– Trồng xen: Có thể trồng xen cây ổi để xua đuổi rầy chổng cánh hạn chế sự truyền bệnh greening (vàng lá gân xanh). Khi cây còn nhỏ có thể bố trí trồng xen các cây họ đậu để chống sói mòn, rửa trôi, làm tốt đất và tăng thu nhập.

– Xới đất làm cỏ: Xới đất làm cỏ xung quanh gốc theo hình chiếu của tán cây, kết hợp bón bổ sung phân theo định kỳ, không nên làm cỏ trắng vườn, chủ động phát cỏ (thủ công hoặc cơ giới) ở phần đất ngoài tán cây để giữ ẩm và tránh xói mòn đất (không nên dùng chất hóa học diệt cỏ để phun trừ cỏ dại, sẽ ảnh hưởng rất lớn cho bộ rễ của cây, gây độc hại cho con người và ảnh hưởng đến môi trường).

Đối với cây mới trồng cần tưới nước đảm bảo giữ ẩm đất thường xuyên. Đối với vườn bưởi ở thời kỳ kinh doanh dùng nưới tưới khi nắng hạn kéo dài trong các tháng 01, 02 và tháng 11, 12 hàng năm. Khi tưới cần tưới ngấm xung quanh vồng tán; trong năm, cần áp dụng các biện pháp giữ ẩm cho đất (dùng rơm rạ, thân lá cây họ đậu dải đều lên mặt đất, cách gốc cây từ 0,3 đến 0,5m hoặc trồng cây họ đậu để che phủ đất).

Vườn cây luôn phải được thoát nước tốt, không ngập úng hoặc đọng nước sẽ gây thối rễ và tạo điều kiện cho nấm bệnh xâm nhập và gây hại.

* Có thể sử dụng các loại phân tổng hợp NPK và phân vi sinh để bón nhằm thúc đẩy sự phát triển của cây và cải tạo đất.

– Bón phục hồi cây: Sau khi thu hoạch quả vào khoảng tháng 9 đến tháng 11 (tùy theo từng giống bưởi và thời gian thu hoạch quả), bón 100% phân chuồng + Lân + Vôi + 10% đạm + 20% Kali.

– Bón thúc lần 1(thúc hoa, quả non): Vào tháng 1, tháng 2 với lượng: 30% phân đạm + 30% phân kali.

– Bón thúc lần 2: Vào tháng 4, với lượng: 25% phân đạm + 25% phân kali.

– Bón thúc lần 3: Vào tháng 6, bón toàn bộ lượng phân còn lại.

Phân chuồng + lân, vôi đào rãnh vòng theo hình chiếu tán cây, rộng 20-40 cm, sâu 25-40 cm bón phân vào rãnh rồi lấp đất. Đạm và Kali rắc đều quanh tán, xăm nhẹ, tưới đủ nước làm tan phân.

Công việc tỉa tạo tán trong thời kỳ kiến thiết cơ bản sẽ quyết định bộ khung tán cây sau này phát triển cân đối và khỏe, nên phải thực hiện thường xuyên; với cây trồng bằng ghép mắt, ghép đoạn cành phải tiến hành ngay từ trong vườn ươm. Chú ý: Loại bỏ kịp thời các chồi mọc phía dưới mắt ghép.

2. Tạo cành

Thời kỳ kiến thiết cơ bản của vườn cây, cần cắt tỉa tạo hình, loại bỏ những cành nhỏ gầy yếu, mọc không đúng vị trí, cành sâu bệnh để tạo bộ khung cành cấp 1, cấp 2 vững chắc, tán cân đối, loại bỏ kịp thời những chồi mọc phía dưới của mắt ghép. Mỗi cây nên để từ 3-4 cành cấp I, phân đều các hướng; tính từ mối ghép đến chỗ phân cành cấp I khoảng từ 25- 30 cm, góc cành cấp I so với trục thân từ 35-40o.

Mỗi cành cấp I nên để 2-3 cành cấp II, từ chỗ phân cành chính đến chỗ phân cành cấp II đầu tiên có độ dài khoảng từ 40-60 cm, góc tạo giữa cành cấp I và cấp II từ 30-35 o. Cành cấp III không hạn chế số lượng nhưng cần khống chế về chiều dài cành không quá 50cm, đồng thời loại bỏ các cành mọc quá dầy, yếu.

3. Tỉa cành

Thời kỳ cho quả, thường xuyên cắt tỉa những cành khô, cành bị sâu bệnh, cành gãy, cành vượt, cành phía trong tán, để tạo sự thông thoáng và phân bố đều ánh sáng.

Sau khi thu hoạch tiến hành tỉa loại bỏ những cành đã cho quả nhưng già cỗi, đoạn cuống ở cành đã mang quả, cành sâu bệnh, cành yếu, cành nằm bên trong tán, cành đan chéo nhau, cành tăm hương… trong thời gian cây mang quả cũng cần thường xuyên loại bỏ những cành vượt.