Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Bưởi Diễn

Ngày đăng: 02/08/2024, 21:30

Quy Trình trồng và chăm sóc bưởi diễn 1. Giới thiệu chung Giống có nguồn gốc từ bưởi Đoan Hùng, được đưa về trồng đầu tiên tại xã Phú Diễn – huyện Từ Liêm – TP Hà Nội. Giống có quả tròn, vỏ quả nhẵn, khi chín màu vàng cam; khối lượng trung bình từ 0,8 – 1kg; tỷ lệ phần ăn được từ 55 – 60%; số hạt trung bình khoảng 50 – 70 hạt; múi và vách múi dễ tách rời nhau. Thịt quả màu vàng xanh, ăn giòn, ngọt, độ brix 12 -14 %. Với vườn cây từ 7 tuổi trở nên, năng suất đạt từ 25 – 28 tấn/ha trong điều kiện chăm sóc trung bình. Thời gian thu hoạch muộn hơn bưởi Đoan Hùng, thường trước tết nguyên đán khoảng 15 – 20 ngày. Hiện tại, cây bưởi Diễn được trồng ở khá nhiều vùng sinh thái khác nhau như: Hà Tây, Hưng Yên, Bắc Giang và ngày càng khẳng định tính ưu việt của giống so với các giống bản địa. 2. Một số yêu cầu ngoại cảnh * Yêu cầu về nhiệt độ Nhiệt độ bình quân năm thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây bưởi là 12 – 390C. Nhiệt độ thấp nhất gây chết là – 8 đến – 110C, bưởi có thể chống chịu được khi nhiệt độ lên đến 480C. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng của bưởi là 23 – 290C. Những vùng có nhiệt độ bình quân năm trên 200C và tổng tích ôn từ 2.500 – 3.5000C đều có thể trồng được bưởi. Với yêu cầu như trên, điều kiện nhiệt độ tại Vân Đồn nằm trong ngưỡng thích hợp cho phát triển bưởi. * Yêu cầu về nước và chế độ ẩm Lượng mưa trung bình năm thích hợp cho trồng bưởi là 1.250 – 1.850 mm. Bưởi yêu cầu lượng mưa phân bố đều trong năm hơn lượng mưa lớn nhưng tập trung vào một số ít tháng. Bưởi cần nhiều nước ở thời kỳ bật mầm, phân hoá mầm hoa, ra hoa và quả phát triển. Bưởi không chịu được úng, ẩm độ đất thích hợp là 70 – 80%. * Yêu cầu về đất đai Vùng trồng bưởi phải đất phải có tầng canh tác dày ít nhất 0,6 – 1m; thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, đất tơi xốp, thông thoáng và thoát nước tốt. Đất phải giầu mùn, hàm lượng các chất dinh dưỡng phải đạt mức trung bình trở lên (hàm lượng mùn từ 2 – 3%; N tổng số: 0,1 – 0,15%; P2O5 dễ tiêu từ 5 – 7mg/100g; K2O dễ tiêu từ 7 – 10mg/100g; Ca, Mg: 3 – 4mg/100g). pH KCl đất thích hợp nhất cho cây trồng bưởi là từ 5,5 – 6,0 song cũng có thể trồng được bưởi khi pH KCl từ 4,0 – 8,5 nhưng phải có biện pháp cải tạo đất. * Yêu cầu về ánh sáng Cường độ ánh sáng thích hợp cho trồng bưởi là 10.000 – 15.000 Lux (tương ứng với ánh sáng lúc 8 giờ sáng và 16 giờ chiều). Cần bố trí mật độ trồng dày hợp lý có được ánh sáng tán xạ, tránh được giám quả. * Yêu cầu về các yếu tố khác Vùng trồng bưởi thích hợp cần tránh những vùng có độ dốc lớn (trên 150), đất nhiễm phèn, mặn, những vùng có sương muối, gió bão… gây hại. 3. Kỹ thuật trồng a) Tiêu chuẩn giống trồng Cây giống phải được nhân từ cây mẹ đầu dòng tuyển chọn và phải đạt tiêu chuẩn ngành 10 TCN – 2001, cụ thể: cây giống sản xuất bằng phương pháp ghép phải được tạo hình cơ bản trong vườn ươm, có ít nhất 2 cành cấp 1 và không nhiều quá 3 cành. Đường kính cành ghép cách điểm ghép đạt từ 0,5 – 0,7 cm; dài từ 50 cm trở lên; có bộ lá xanh tốt, không sâu, bệnh. b) Chọn đất trồng và chuẩn bị đất trồng * Chọn đất: có tầng dầy từ 1 m trở lên, kết cấu xốp để giữ mầu, và thoát nước tốt, giàu mùn. Độ dốc của đất từ 3 – 200 (tốt nhất là 3 – 80 ). * Chuẩn bị đất trồng Bao gồm: phát quang, san mặt bằng; thiết kế vườn trồng; đào hố; bón phân lót và lấp hố; các công việc khác như làm đường, mương rãnh tưới tiêu nước, – Phát quang và san ủi mặt bằng Đối với những đồi rừng chuyển sang trồng cây ăn quả nói chung và trồng bưởi Diễn đều phải phát quang, thậm chí phải đánh bỏ toàn bộ rễ cây rừng và san ủi tạo mặt phẳng tương đối để cho việc thiết kế vườn được dễ dàng. Trừ những nơi đất quá dốc ( từ khoảng 100 trở lên ) sẽ áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, nghĩa là chỉ phát quang, dãy cỏ, san lấp những chỗ quá gồ ghề sau đó thiết kế và đào hố trồng cây, còn ở những nơi đất không quá dốc hoặc bằng, sau khi phát quang, san ủi sơ bộ có thể dùng cày máy hoặc cày trâu cày bừa một lượt để vừa sạch cỏ vừa tạo cho bề mặt vườn tơi xốp ngăn được sự bốc hơi nước của vườn sau khi bị phát quang. Đối với các loại đất chuyển đổi khác sang trồng bưởi Diễn cũng cần phải dọn sạch và tạo lại mặt bằng trước khi thiết kế. – Thiết kế vườn trồng + Tuỳ theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn trồng một cách phù hợp. Đối với đất bằng hoặc có độ dốc từ 3 – 50 nên bố trí cây theo kiểu hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tam giác (kiểu nanh sấu). Đất có độ dốc từ 5 – 100 phải trồng cây theo đường đồng mức, khoảng cách của hàng cây là khoảng cách của đường đồng mức. Ở độ dốc 8 – 100 nên thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang đơn giản, dưới 80 có thể áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, trên 100 phải thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang kiên cố. + Đối với vườn diện tích nhỏ dưới 1ha không cần phải thiết kế đường giao thông, song với diện tích lớn hơn thậm chí tới 5 – 10 ha cần phải phân thành từng lô nhỏ có diện tích từ 0,5 đến 1ha/lô và có đường giao thông rộng để có thể vận chuyển vật tư phân bón và sản phẩm thu hoạch bằng xe cơ giới, đặc biệt đối với đất dốc cần phải bố trí đường lên, xuống và đường liên đồi. Độ dốc của đường lên đồi không quá 100. + Bố trí mật độ, khoảng cách Mật độ trồng phụ thuộc vào và khả năng đầu tư thâm canh. Thông thường đối với bưởi Diễn trồng với khoảng cách 5 m ´ 4 m (tương ứng với 500 cây/ ha). Đối với những vùng đất tốt hoặc có điều kiện đầu tư thâm canh và áp dụng các biện pháp đốn tỉa hàng năm có thể bố trí mật độ dày hơn (600 cây/ha). Ở những vùng đất dốc, hàng cây được bố trí theo đường đồng mức và khoảng cách giữa 2 đường đồng mức là khoảng cách giữa 2 hình chiếu của cây. Khoảng cách cây được xác định như nhau trên cùng một đường đồng mức, đường đồng mức dài hơn thì có số cây nhiều hơn. – Đào hố trồng và bón lót + Kích thước hố rộng 0,8 – 1 m sâu 0,8 – 1 m. Đất xấu cần đào rộng hơn. + Bón phân lót cho 1 hố: Bót lót cho mỗi hố 30 – 50 kg phân chuồng hoai (hoặc 5 – 7 kg phân vi sinh) + 1 kg supelân + bón vôi đủ điều chỉnh pH đất về ngưỡng thích hợp (từ 6 – 6,5). Toàn bộ lượng phân lót trên được trộn đều với tầng đất mặt và lấp hố. Lượng đất lấp hố cao hơn bề mặt hố từ 7 – 10 cm, dùng cọc thiết kế vườn đánh dấu tâm hố. Hố cần phải chuẩn bị trước khi trồng ít nhất 1 tháng. c) Trồng cây * Thời vụ trồng và cách trồng – Trong điều kiện sinh thái huyện Vân Đồn thời vụ trồng tốt nhất vào tháng 2, 3 (có thể trồng vào tháng 8,9). – Cách trồng: Đào 1 hố nhỏ chính giữa hố trồng, đặt cây vào hố lấp đất vừa bằng cổ rễ hoặc cao hơn 2- 3 cm. Không được lấp quá sâu, trồng xong phải tưới ngay và dùng cỏ mục ủ gốc (lưu ý phải cách gốc từ 10- 15 cm để tránh sâu bệnh xâm nhập). * Chăm sóc sau khi trồng – Tưới nước Thường xuyên giữ ẩm trong vòng 20 ngày đến 1 tháng để cây hoàn toàn bén rễ và phục hồi. Sau đó tuỳ thời tiết nắng mưa để chống hạn hoặc chống úng cho cây. Trước khi thu hoạch 1 tháng ngừng tưới nước. Về lượng nước tưới và số lần tưới phải dựa vào khả năng giữ nước của đất, lượng bốc hơi và lượng mưa để quyết định, phương pháp tưới có thể là tưới bề mặt hoặc tưới nhỏ giọt, mỗi lần bón phân cần phải tưới nước để phân có thể hoà tan tạo điều kiện cho cây hấp thụ tốt hơn. – Cắt tỉa tạo hình + Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ chưa mang quả: Việc cắt tỉa được tiến hành ngay từ khi trồng. Để có được dạng hình hợp lý (hình bán cầu), cần thực hiện theo các bước sau: Tạo cành cấp 1 : Khi cây con đạt chiều cao 45 – 50 cm, cần bấm ngọn để tạo cành cấp 1. Chỉ để lại 3 – 4 cành cấp 1 phân bố tương đối đều về các hướng. Các cành cấp 1 này thường chọn cành khoẻ, ít cong queo, cách nhau 7 – 10 cm trên thân chính và tạo với thân chính một góc xấp xỉ 450 – 600 để khung tán đều và thoáng. Tạo cành cấp 2 : Khi cành cấp 1 dài 25 – 30 cm, ta bấm ngọn để tạo cành cấp 2. Thông thường trên cành cấp 1 chỉ giữ lại 3 cành cấp 2 phân bố hợp lý về góc độ và hướng. Tạo cành cấp 3: Cành cấp 3 là những cành tạo quả và mang quả cho những năm sau. Các cành này phải khống chế để chúng không giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác nhau giúp cây quang hợp được tốt. + Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ mang quả Cắt tỉa sau thu hoạch: Được tiến hành sau khi thu hoạch quả. Cắt tỉa tất cả các cành sâu bệnh, cành chết, cành vượt, những cành quá dày, cắt tỉa bớt cành cấp 1(nếu số cành cấp 1/cây quá dày) sao cho cây có bộ khung tán cân đối. Đối với cành thu, cắt bỏ những cành yếu, mọc quá dày. Cắt tỉa vụ xuân: Được tiến hành vào giữa tháng 1 đến giữa tháng 3 hàng năm: Cắt bỏ những cành xuân chất lượng kém, cành sâu bệnh, cành mọc lộn xộn trong tán, những chùm hoa nhỏ, dầy, dị hình. Cắt tỉa vụ hè: được tiến hành từ tháng 4 đến hết tháng 6: Cắt bỏ những cành hè mọc quá dày hoặc yếu, cành sâu bệnh, tỉa bỏ những quả nhỏ, dị hình. – Bón phân Bón phân cho bưởi Diễn tuỳ thuộc vào tuổi cây và sản lượng hàng năm, nền đất cụ thể. Cây từ 1- 3 năm sau khi trồng (cây chưa có quả – giai đoạn kiến thiết cơ bản). Mỗi năm bón 4 lần vào tháng 2, tháng 5 tháng 8 và tháng 11. Lượng phân bón ở mỗi lần như sau: + Đợt bón tháng 2: Bón 100% phân hữu cơ + 40% đạm + 40% kali + Đợt bón tháng 5: 30% đạm + 30% kali + Đợt bón tháng 8: 30% đạm + 30% kali + Đợt bón tháng 11: 100% lân + 100% vôi Lượng bón mỗi cây: Năm trồng Phân hữu cơ (kg) Đạm urê (gam/cây) Lân supe (gam) Kaliclo rua (gam) Vôi bột (kg) Năm thứ 1 30 300 500 110 1 Năm thứ 2 30 500 800 330 1 Năm thứ 3 50 860 1.200 460 1 Trong thời kỳ cho quả, lượng phân bón được thiết lập dựa trên năng suất của vụ trước. Có thể tham khảo bảng hướng dẫn sau: Năng suất thu hoạch vụ trước Lượng bón Phân hữu cơ (kg/cây) Đạm Urê (g/cây) Lân Supe (g/cây) Kaliclorua (g/cây) 20 kg/năm 30 650 830 410 40 kg/năm – 1.100 1.400 680 60 kg/năm 50 1.300 1.700 820 100 kg/năm – 1.750 2.250 1.090 120 kg/năm 70 2.200 2.800 1.360 Thời vụ bón: Toàn bộ lượng phân được chia làm 3 lần bón trong năm. Lần 1: Bón thúc hoa: (tháng 2): 40% đạm urê + 30% kaliclorua Lần 2: Bón thúc quả: (tháng 4 – 5): 20% đạm urê + 30% kaliclorua Lần 3: Bón sau thu hoạch: (tháng 11 – 12): 100% phân hữu cơ + 100% phân lân + 40% đạm urê, 40% kaliclorua. Cách bón: Bón phân hữu cơ: đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng 30 – 40 cm, sâu 20 – 25 cm, rải phân, lấp đất và tưới nước giữ ẩm. Hoặc có thể đào 3 rãnh theo hình vành khăn xung quanh tán để bón, năm sau bón tiếp phần còn lại. Bón phân vô cơ: khi đất ẩm chỉ cần rải phân lên mặt đất theo hình chiếu của tán cách xa gốc 20 – 30 cm, sau đó tưới nước để hoà tan phân. Khi trời khô hạn cần hoà tan phân trong nước để tưới hoặc rải phân theo hình chiếu của tán, xới nhẹ đất và tưới nước. 4. Một số biện pháp chăm sóc khác * Biện pháp kích thích ra hoa Khoanh vỏ: vào cuối tháng 11, đầu tháng 12, khi lá đã thành thục, chọn những cây sinh trưởng khoẻ, lá xanh đen tiến hành khoanh vỏ. Khoanh toàn bộ số cành cấp 1. Phương pháp là dùng dao sắc khoanh bỏ hết lớp vỏ đến phần gỗ với chiều rộng vết khoanh 0,2 – 0,3 cm theo hình xoắn ốc 1,5 – 2 vòng, tuyệt đối không dùng liềm, cưa. Xử lý thuốc trừ nấm bệnh cho vết khoanh. * Biện pháp tăng khả năng đậu quả + Trước khi nở hoa: dùng các loại phân bón lá: Atonic, Mastrer – Grow, kích phát tố thiên nông (theo chỉ dẫn trên bao bì) phun 2 lần, lần 1 khi mới xuất hiện nụ, lần 2 cách lần 1 là 15 ngày. + Sau khi đậu quả: khi quả non có đường kính 1 – 2 cm, phun Atonic, Mastrer – Grow, kích phát tố thiên nông 2 – 3 lần với nồng chỉ dẫn, các lần phun cách nhau 10 – 15 ngày. 5. Một số loại sâu bệnh hại chính Trong điều kiện cụ thể tại Đầm Hà, cần lưu ý phòng trừ các đối tượng sâu bệnh hại sau: * Sâu hại Bưởi * Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citriella): – Đặc điểm gây hại: Phá hoại ở thời kỳ vườn ươm và cây nhỏ 3 – 4 năm đầu mới trồng. Trên cây tập trung phá hoại thời kỳ lộc non, nhất là lộc xuân. Trưởng thành đẻ trứng vào búp lá non, sâu non nở ra ăn lớp biều bì lá, tạo thành đường ngoằn ngèo, có phủ sáp trắng, lá xoăn lại, cuối đường cong vẽ trên mặt lá có sâu non bằng đầu kim. Sâu phá hoại mạnh ở tất cả các tháng trong năm (mạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 10). – Phòng trừ: Phun thuốc diệt sâu 1 – 2 lần cho mỗi đợt lộc non bằng: Decis 2,5EC 0,1 – 0,15%; Trebon 0,1 – 0,15%; Polytrin 50EC 0,1 – 0,2%. * Sâu đục thân (Chelidonium argentatum), đục cành (Nadezhdiella cantori): – Đặc điểm gây hại: Con trưởng thành đẻ trứng vào các kẽ nứt trên thân, cành chính. Sâu non nở ra đục vào phần gỗ tạo ra các lỗ đục, trên vết đục xuất hiện lớp phân mùn cưa đùn ra. – Phòng trừ: + Bắt diệt trưởng thành (Xén tóc) + Phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non + Sau thu hoạch (tháng 11 – 12) quét vôi vào gốc cây để diệt trứng + Phun các loại thuốc xông hơi như Ofatox 400 EC 0,1%; Supracide 40ND 0,2% sau sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu. * Nhện hại: – Đặc điểm gây hại: + Nhện đỏ (Panonychus citri) : Phát sinh quanh năm hại lá là chính, chủ yếu vào vụ đông xuân. Nhện đỏ rất nhỏ, màu đỏ thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo đi. Trên lá nơi nhện tụ tập thường nhìn trên mặt lá thấy những vùng tròn lá bị bạc hơn so với chỗ lá không có nhện và hơi phồng lên nhăn nheo. + Nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus) : Phát sinh chủ yếu ở trong những thời kỳ khô hạn kéo dài và ít ánh sáng (trời âm u hoặc cây bị che bóng bởi các cây khác). Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu vàng sáng ở dưới mặt lá. – Phòng trừ: Để chống nhện (nhện đỏ và nhện trắng) dùng thuốc Comite, Ortus 50EC, Pegasus 250 pha nồng độ 0,1 – 0,2% phun ướt cả mặt dưới lá và phun lúc cây đang ra lộc non để phòng. Nếu đã bị nhện phá hại phải phun kép 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày bằng những thuốc trên hoặc phố trộn 2 loại với nhau hoặc với dầu khoáng trừ sâu. * Rệp hại : Chủ yếu hại trên các lá non, cành non, lá bị xoắn rộp lên, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen. – Đặc điểm gây hại: + Rệp cam: Chủ yếu gây hại trên các cành non, lá non. Lá bị xoăn, rộp lên. Rệp tiết ra chất nhờn (gọi là sương mật) hấp dẫn kiến và nấm muội đen. + Rệp sáp (Planococcus citri) : Trên mình phủ 1 lớp bông hoặc sáp màu trắng, hình gậy, hình vảy ốc, có thể màu hồng hoặc màu xám nâu. Những vườn cam hoặc cây cam ở gần ruộng mía thường hay bị từ mía lan sang. – Phòng trừ: Dùng Sherpa 25EC hoặc Trebon pha với nồng độ 0,1 – 0,2% phun 1 – 2 lần ở thời kì lá non. Khi xuất hiện rệp, muốn trị có hiệu quả cần pha thêm vào thuốc 1 ít xà phòng để có tác dụng phá lớp sáp phủ trên người rệp làm cho thuốc dễ thấm. * Bệnh hại bưởi * Bệnh loét (Xanthomonas campestris) Đặc điểm gây hại: Bệnh gây hại ở thời kì vườn ươm và cây mới trồng 1 – 3 năm, ở thời kỳ cây cho thu hoạch bệnh gây hại cả trên lá bánh tẻ, cành, quả non. Trên lá thấy xuất hiện các vết bệnh không định hình, mới mầu xanh vàng, sau chuyển thành màu nâu xung quanh có quầng vàng. Gặp điều kiện ẩm ướt gây thối rụng lá, gặp điều kiện khô gây khô giòn vết bệnh làm giảm quang hợp. Gây hại nặng trong điều kiện nóng, ẩm (vụ xuân hè). * Bệnh sẹo (Ensinoe fawcetti Bit. et Jenk) Triệu chứng gây hại: Vết bệnh thường có mầu nâu nhạt nhô lên khỏi bề mặt lá. Có thể lốm đốm hoặc dày đặc trên mặt lá, hình tròn, bề mặt vết bệnh sần sùi, gồ ghề. Nếu bệnh xuất hiện trên cành sẽ nhìn thấy các đám sần sùi giống như ghẻ lở, màu vàng hoặc nâu. Cành bị nhiều vết bệnh sẽ khô và chết. Bệnh đặc biệt gây hại nặng trong điều kiện nống và ẩm ( vụ xuân hè). – Phòng trừ: + Cắt bỏ lá bệnh, thu gom đem tiêu huỷ + Phun thuốc: Boocđo 1 – 2% hoặc thuốc Kasuran 0,2%. – Cách pha thuốc boocđô (pha cho 1bình 10 lít): + Dùng 0,1 kg Sunfat đồng + 0,2 kg vôi đã tôi (nồng độ 1/100), nếu nồng độ 2% thì lượng sunfat đồng và vôi tăng gấp đôi. + Lấy 7 lít nước pha với đồng sunfat, 3 lít còn lại pha với vôi, lọc bỏ cặn bã, sau đó lấy dung dịch đồng loãng đổ vào nước vôi đặc vừa đổ vừa quấy cho tan đều sẽ được dung dịch boocđô. * Bệnh chảy gôm (Phytophthora citriphora): – Đặc điểm gây hại: Bệnh thường phát sinh ở phần sát gốc cây cách mặt đất khoảng 20 – 30 cm trở xuống cổ rễ và rễ. Giai đoạn đầu bệnh mới phát sinh thường vỏ cây bị những vết nứt và chảy nhựa (gôm). Bóc lớp vỏ ra, ở phần gỗ bị hại có màu xám và nhìn thấy những mạch sợi đen hoặc nâu chạy dọc theo thớ gỗ. Bệnh nặng lớp vỏ bị hại thối rữa (giống như bị dội nước sôi) và tuột khỏi thân cây, phần gỗ bên trong có màu đen xám. Nếu tất cả xung quanh phần cổ rễ bị hại, cây có thể bị chết ngay, còn bị một phần thì cây bị vàng úa, sinh trưởng kém, bới sâu xuống đất có thể thấy nhiều rẽ cũng bị thối. – Phòng trừ: Đẽo sạch lớp vỏ và phần gỗ bị bệnh, dùng Boocđô 2% phun trên cây và quét trực tiếp vào chỗ bị hại, nếu bệnh đã lan xuống rễ phải đào chặt bỏ những rễ bị bệnh rồi xử lý bằng boocđô. Có thể dùng các loại thuốc khác như Aliette 80NP, Benlat C nồng độ 0,2 – 0,3% để phun và xử lý vết bệnh. * Bệnh Greening: – Đặc điểm gây hại: Cây có múi nói chung và bưởi nói riêng có thể nhiễm bệnh Greening vào bất kỳ giai đoạn nào từ thời kỳ vườn ươm tới khi cây 10 năm tuổi. Tuy nhiên, bưởi ít nhiễm bệnh Greening hơn các giống cam quýt khác. Triệu chứng cho thấy: trước khi những lá non trở thành mầu xanh thì trở nên vàng, cứng lại và mất mầu. Mô giữa các gân lá chuyển xanh vàng hoặc hơi vàng và có đường vân. Đầu tiên các đọt và lá non bị bệnh sâu đó có thể biểu hiện trên cả tán. Cùng thời gian đó lá xanh và lá già chuyển xang mầu vàng từ sống lá và gân lá. Các lá bị nhiễm bệnh có thể bị rụng sớm, trong một vài tháng hoặc và năm tất cả các cành cây bị khô đi và tàn lụi. – Phòng trừ: + Sử dụng cây giống sạch bệnh + Trồng sen ổi để xua đuổi rày chổng cánh. + Phun thuốc phòng trừ môi giới truyền bệnh (Rầy chổng cánh) + Cắt bỏ tất cả các cành bị bệnh đem đốt + Bón phân cân đối tăng sức đề kháng và chống chịu của cây * Các bệnh do virus và viroid: Trên bưởi còn 2 loại bệnh khá nguy hiểm gây hại: bệnh vàng lá (do virus Tristeza gây hạ) và bệnh Exocortis (do viroids gây hại). Các bệnh này không chữa trị được bằng các loại thuốc hoá học như trên mà phải phòng trị bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, bắt đầu từ khâu nhân giống sạch bệnh tới các kỹ thuật canh tác, vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ môi giới truyền bệnh vv 6. Thu hoạch và bảo quản – Thời điểm thu hoạch: Thu hoạch khi vỏ quả chuyển từ màu xanh chuyển xang mầu vàng; – Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh khi thu hái: Thu hoạch quả vào những ngày trời tạnh ráo, thu hoạch vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát, tránh thu hoạch vào giữa trưa hoặc trời quá nóng. – Kỹ thuật thu hái: Cần phải có thang chuyên sử dụng cho thu hoạch quả và sử dụng kéo để cắt chùm quả sau đó lau sạch, phân loại, cho vào thùng hoặc sọt tre có lót giấy hoặc xốp, để nơi thoáng mát và đem đi tiêu thụ. . Quy Trình trồng và chăm sóc bưởi diễn 1. Giới thiệu chung Giống có nguồn gốc từ bưởi Đoan Hùng, được đưa về trồng đầu tiên tại xã Phú Diễn – huyện Từ Liêm – TP. đổi khác sang trồng bưởi Diễn cũng cần phải dọn sạch và tạo lại mặt bằng trước khi thiết kế. – Thiết kế vườn trồng + Tuỳ theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn trồng một cách. và cách trồng – Trong điều kiện sinh thái huyện Vân Đồn thời vụ trồng tốt nhất vào tháng 2, 3 (có thể trồng vào tháng 8,9). – Cách trồng: Đào 1 hố nhỏ chính giữa hố trồng, đặt cây vào hố lấp

Quy Trình Trồng Bưởi Diễn An Toàn

– Vụ xuân: Trồng tháng 2 – 4 – Vụ thu đông: Trồng tháng 8 -10 2. Giống – Nguồn giống: Sử dụng các giống chất lượng cao, có nguồn gốc rõ ràng được cung ứng từ các cơ sở có uy tín. – Lượng cây giống: 500 cây/ha (đối với bưởi chiết) hoặc 400 cây (đối với bưởi ghép). 3. Làm đất, trồng cây 3.1. Kỹ thuật làm đất. – Đất trồng phải đảm bảo đủ điều kiện cho sản xuất rau quả toàn theo qui định. – Đất phù hợp cho bưởi diễn là đất thịt nhẹ, cát pha, phù sa có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, giầu mùn, pH từ 6,0 – 6,5. – Đào hố trồng cây với kích thước: 0,8 x 0,8 x 0,6 m. Sau khi bón phân lót dùng đất vét rãnh hoặc đất phù sa đắp ụ trên mặt hố cao 20 – 30cm, đường kính 0,8 – 1,0m. Công việc này phải thực hiện trước khi trồng từ 10 – 15 ngày. 3.2. Trồng cây – Kỹ thuật trồng: Dùng cuốc moi giữa hố lớn hơn bầu cây, đặt cây vào chỉnh cho cây đứng thẳng, mặt bầu cao bằng mặt ụ, lấp đất và ấn chặt xung quanh. Dùng mùn rác, cỏ khô ủ gốc và tưới đẫm sau khi trồng. Trong tháng đầu cần tưới đủ ẩm định kỳ 2 – 3 ngày/lần để bộ rễ phát triển tốt. Chú ý: Không làm đứt rễ, vỡ bầu (với cây chiết trồng xong cắm 2 cọc chéo 2 bên và dùng dây mềm buộc chặt để tránh long gốc khi có gió to). – Mật độ trồng: + Bưởi chiết: Mật độ trồng là 4m x 5 m (tương đương khoảng 500 cây/ha) + Bưởi ghép: Mật độ trồng là 5m x 5 m (tương đương khoảng 400 cây/ha) 4. Bón phân Sử dụng phân bón hợp lý, cân đối theo nhu cầu sinh trưởng của cây, ưu tiên phân hữu cơ đã ủ hoai mục, tuyệt đối không dùng phân tươi, nước phân tươi, nước giải tươi để bón và tưới cho bưởi diễn. 4.1. Bón lót trước khi trồng: Lượng bón và phương pháp bón như sau:

Loại phân Lượng bón Tỷ lệ bón (%) Ghi chú (kg/ha) (kg/hố) Phân hữu cơ ủ hoai mục 10.000 20 100 Trộn đều phân bón với đất rồi bón trước khi trồng cây từ 10 – 15 ngày. Phân hữu cơ vi sinh 5.000 10 100 Super lân. 500 1,0 100 Kali sulfat 250 0,5 100 NPK 1.000 2,0 100 4.2. Bón thúc hàng năm (áp dụng cho bưởi đã cho thu hoạch): Lượng bón và phương pháp bón như sau: Thời gian Giai đoạn sinh trưởng Mục đích bón Lượng phân bón (kg/cây) Phương pháp bón Phân hữu cơ ủ hoai mục Urê Super lân Kali sun phat Hữu cơ vi sinh Tháng 12 – 1 Ngay sau thu hoạch hoặc bón trước thu 15 – 20 ngày Phục hồi cây sau thu hoạch 20 – 25 0,5 2,0 0,3 5,0 Đào rãnh rộng 15 – 20 cm, sâu 30cm theo tán cây. Rải đều phân xuống rãnh lấp đất kín Tháng 2 – 3 Quả non rụng rốn Thúc quả non – 0,3 1,5 0,5 10 – Nếu khô hạn: Hòa phân tưới theo hình chiếu của tán cây. – Nếu mưa ẩm: Rắc phân trực tiếp theo tán cây. – Tốt nhất là đào rãnh theo tán cây để bón. Tháng 4 -5 Quả nhỏ Thúc quả non, chống rụng quả sinh lý. – 0,5 1,5 1,0 5,0 Tương tự như đợt tháng 2 -3. Tháng 8 – 9 Quả lớn Thúc quả lớn – – 1,5 1,5 5,0 – Đào rãnh theo tán cây là tốt nhất. – Có thể hòa nước tưới hoặc rắc trực tiếp trên mặt đất.

* Chú ý: Ngoài sử dụng phân bón vào đất, phân bón lá cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Trong thời kỳ cây nuôi quả (tháng 5 – 9), nếu cây có biểu hiện sinh trưởng kém thì nên phun phân bón lá khoảng 1 tháng/1 lần để nuôi dưỡng bộ lá. 5. Kỹ thuật chăm sóc, cắt tỉa tạo tán, vệ sinh đồng ruộng. 5.1. Chăm sóc. – Thường xuyên làm cỏ và tưới nước giữ ẩm cho cây. Chỉ sử dụng nguồn nước đủ tiêu chuẩn theo qui định (nguồn nước sông, hồ lớn, nước ngầm và nước giếng khoan đã qua xử lý). Tuyệt đối không sử dụng nguồn nước ô nhiễm (nước thải Công nghiệp, nước thải từ các Bệnh viện, khu dân cư tập trung, trang trại chăn nuôi, lò giết mổ gia súc, ao tù đọng, nước thải sinh hoạt, …) để tưới cho bưởi diễn. – Trong các đợt bón thúc, làm cỏ cần kết hợp với tỉa lá già, lá bệnh, cắt tỉa cành tăm, cành vô hiệu đem tiêu hủy. Đảm bảo giữ cho bộ tán cây phát triển đều và thoáng. – Sau khi cây đậu quả cần tiến hành tỉa bớt những quả ra đầu tiên và những quả nhỏ, quả kẹ ra sau cùng, chỉ để số lượng quả vừa phải theo độ lớn của cây. Chú ý không để quá nhiều quả sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng cây. 5.2. Kỹ thuật cắt tỉa, tạo tán: Kỹ thuật cát tỉa tạo tán nên tập trung vào 3 thời kỳ chính sau: – Sau thu hoạch: Là thời kỳ đốn tỉa mạnh nhất để diều chỉnh tán cây. Cắt bỏ các cành già, cành vô hiệu, cành bị sâu bệnh để chuẩn bị cho ra hoa. – Cắt tỉa lộc thu: Thực hiện vào tháng 8 – 9 (khi lộc thu còn non, từ 3 – 4cm). Tỉa bớt lộc thu, chir để lại mỗ cành 1 -2 lộc thu to khỏe để định hình cành mang quả năm sau và cắt bỏ hết các cành vượt. – Khống chế và tỉa bổ lộc đông: + Phòng lộc đông: Từ cuối tháng 10 dương lịch đến tháng 1 năm sau. Cần hạnh chế chăm sóc vườn, đặc biệt không tưới ẩm để phòng lộc đông và đón sinh trưởng xuân. + Loại bỏ lộc đông: Nếu lộc đông ra thì cần loại bỏ bằng 1 trong các biện pháp sau: . Cắt tỉa lộc đông (nếu cây còn nhỏ), lưu ý phải cắt sát gốc. . Có thể dùng Eetylen phun trực tiếp vào lộc đông để làm héo lộc. Ngoài các thời gian đốn tỉa trên cần thường xuyên vệ sinh tỉa bỏ các cành tăm, cành vô hiệu (chủ yếu là cành hè), để làm thông thoáng tán cây. 6. Phòng trừ sâu bệnh Cây bưởi Diễn là cây ăn quả lâu năm, có nhiều giai đoạn sinh trưởng khác nhau trong năm. Tùy từng giai đoạn sinh trưởng và tình hình sâu bệnh phát sinh để thực hiện các biện pháp phòng trừ hợp lý. 6.1. Biện pháp canh tác, thủ công, sinh học: – Sử dụng phân bón hợp lý cân đối giữa N,P,K để tăng sức chống chịu của cây trồng hạn chế sự gây hại của sâu bệnh. – Cắt tỉa thông thoáng vườn cây nhằm hạn chế nguồn sâu bệnh gây hại – Thường xuyên kiểm tra ruộng vườn để phát hiện kịp thời các đối tượng sâu bệnh hại. – Dùng biện pháp thủ công: Ngắt bỏ lá bị bệnh hại, rệp gây hại, bắt giết sâu non, trưởng thành khi mật độ sâu thấp. Riêng đối với sâu đục cành có thể phòng trừ bằng cách. + Tìm và cắt bỏ những cành non bị héo (mới có sâu đục) đem tiêu hủy. + Nếu phát hiện thấy lỗ đục trên cây, cành lớn có thể dùng dây thép nhỏ hoặc gai mây luồn theo vết đục trên cây vào diệt sâu non. – Sử dụng bẫy bả protein để bắt trưởng thành ruồi đục quả trong giai đoạn cho quả. 6.2. Biện pháp sử dụng thuốc BVTV. a .Giai đoạn lộc xuân, ra hoa – đậu quả (tháng 1- 4): – Chú ý các đối tượng: Sâu vẽ bùa, rệp vẩy đen, nhện hại, rầy chổng cánh, bọ trĩ, bệnh loét, … – Xử lý thuốc hóa học thế hệ mới, thuốc nguồn gốc sinh học khi mật độ sâu bệnh cao. + Sâu vẽ bùa: Phun khi cây ra lộc non mới nhú (dài 1, 5 – 2 cm), mỗi đợt lộc phun 02 lần: mới ra lộc và lộc rộ bằng các loại thuốc có hoạt chất Abamectin (Kuraba 3.6EC, Catex 1.8EC, Reasgant 2WG, Song Mã 24,5EC, Soka 24.5EC, Abatox 1.8EC, Brightin 4.0EC…), hoạt chất Emamectin benzoate (Silsau super 3EC, Susupes 1.9EC, Tasieu 2WG…), hoạt chất Lufenuron (Match 050EC,…), hoạt chất Matrine (Agri-one 1SL, Sokupi 0.36SL…), hoạt chất Petroleum spray oil (Dầu khoáng DC 98.8EC…). + Rệp vẩy đen: Xử lý thuốc khi 20% lá bị hại cấp 1- 2 bằng các loại thuốc có hoạt chất Chlorantraniliprole (DupontTM Prevathon 5SC, DupontTM Prevathon 30WDG, …), hoạt chất Abamectin (Kuraba 3.6EC, Catex 1.8EC, Reasgant 2WG, Song Mã 24,5EC, Soka 24.5EC, Abatox 1.8EC, Brightin 4.0EC…), hoạt chất Thiamethoxam (Actara 25WG…), hoạt chất Spinetoram (Radiant 60SC…).. + Nhện hại: Đối với nhện đỏ phun phòng trừ khi mật độ 3 – 5 con/lá. Đối với nhện trắng gây rám quả thì phun phòng trừ khi quả mới hình thành và phun nhắc lại sau 7 ngày bằng các loại thuốc có hoạt chất Emamectin benzoate (Rolam 50WP, Silsau super 5WP, Dylan 2EC,…), hoạt chất Abamectin (Kuraba 3.6EC, Catex 1.8EC….), + Rầy chổng cánh: Phòng trừ khi 10 – 15% số chồi (búp) có rầy non hại cấp 1 – 2 hoặc mật độ rầy trưởng thành cao, xử lý bằng các loại thuốc có hoạt chất Thiamethoxam ( Actara 25WWG, Fortaras 25WG, …), phun dầu khoáng DC – Tronplus 980EC, Catex 1.8EC , SK, … + Bọ trĩ hại hoa: Phun khi mật độ bọ trĩ từ 3 -5 con/hoa trở lên xử lý bằng các loại thuốc có hoạt chất Abamectin (Kuraba 3.6EC, Reasgant 2WG, Soka 24.5EC, Brightin 4.0EC…), hoạt chất Emamectin benzoate (Susupes 1.9EC, Tasieu 2WG, Angun 5EC,…), hoạt chất Lufenuron (Match 050EC, …), + Bệnh loét: Phun khi cây mới ra lộc non, sau tắt hoa và thời kỳ quả non bằng thuốc có hoạt chất Copper Oxychloride + Steptomycin (Batocide 12WP,…), hoạt chất Fosetyl Aluminium (Alliette 800WG, Juliet 80WWP, …), hoạt chất Copper Hydroxide (Champion 37.5SC, DuPontTM KocideÒ 46.1WG…) . b .Giai đoạn lộc hè – quả (tháng 5- 6): – Các đối tượng cần chú ý: Sâu vẽ bùa, rệp, rầy chổng cánh, nhện đỏ, sâu đục thân cành, bệnh loét, … – Phương pháp phòng trừ các đối tượng này tương tự như giai đoạn trước. c .Giai đoạn lộc thu – quả (tháng 7- 9): – Các đối tượng sâu bệnh cần chú ý: Sâu vẽ bùa, rệp, rầy chổng cánh, nhện đỏ, sâu đục thân cành, bệnh loét. – Biện pháp phòng trừ: Tương tự các giai đoạn trước. d .Giai đoạn lộc đông – thu hoạch (tháng 10 – 12): – Các đối tượng sâu bệnh cần chú ý: Sâu vẽ bùa, rệp, nhện đỏ. – Biện pháp phòng trừ: Tương tự các giai đoạn trước. Chú ý: Khi sử dụng thuốc BVTV phải tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng và đảm bảo đủ thời gian cách ly trước khi thu hoạch theo hướng dẫn trên nhãn thuốc. 7. Thu hoạch. Khi vỏ quả bắt đâù chuyển sang mầu vàng tiến hành thu hoạch tỉa dần (quả to trước, quả bé sau). Chú ý cắt cao cuống để lại 2 – 3 lá bảo quản nơi khô mát trước khi đóng gói đưa đi tiêu thụ. Dụng cụ thu hoạch đảm bảo hợp vệ sinh.

Quy Trình Kĩ Thuật Chăm Sóc Cây Bưởi Diễn Đạt Hiệu Quả Cao

Bài Viết Chọn Lọc

1- Kỹ thuật xử lý bưởi Diễn ra hoa tập trung, hạn chế phát sinh phát triển lộc Đông

1.1 Khoanh vỏ cây (tiện vỏ cây) 1.1.1 Mục đích, yêu cầu +Làm đứt phần vỏ (libe) của cây, ngăn chặn “tạm thời” khả năng vận chuyển dinh dưỡng từ bộ rễ lên các bộ phận trên mặt đất qua đó hạn chế quá trình phát sinh, phát triển lộc Đông. + Đưa cây vào trạng thái ngủ nghỉ, chuẩn bị bước sang thời kỳ phân hóa mầm hoa. + Làm tăng chất lượng quả (quả ngọt hơn) nếu xử lý đúng thời điểm (trước thu hoạch 10-15 ngày). (*) 1.1.2 Thời điểm khoanh vỏ Việc khoanh vỏ trên bưởi là một biện pháp “bất khả kháng”. Tuy nhiên nếu không khoanh vỏ thì khả năng phát sinh mầm lộc đông rất cao, khó đưa cây vào trạng thái ngủ nghỉ. Những năm rét đến sớm (nhiệt độ đủ thấp), mưa kết thúc sớm (điều kiện hanh khô) là điều kiện thuận lợi cho cây bước vào thời kỳ ngủ nghỉ, hạn chế sinh trưởng sinh dưỡng. Thông thường khi cây có múi nói chung đã qua thời kỳ ngủ nghỉ thì khả năng phân hóa mầm hoa đồng đều, tập trung là rất cao. Do đó tùy vào điều kiện thời tiết và tình trạng sinh trưởng của cây (xét tại thời điểm trước thu hoạch 15-20 ngày và ngay sau khi thu hoạch) để chúng ta có quyết định khoanh vỏ hay không. Khoanh vỏ đôi khi ảnh hưởng đến sức sinh trưởng và sức bền của cây, ảnh hưởng đến khả năng giữ quả non ở đầu vụ. Thực tế cho thấy với những năm rét đến sớm, ít mưa (mưa kết thúc sớm) thì hầu như không cần tác động biện pháp khoanh vỏ cây mà chỉ cần cải tạo đất xung quanh vùng rễ cây sinh trưởng (cuốc xới làm đứt một phần rễ non xung quanh hình chiếu tán của cây). Bởi chính điều kiện thời tiết (nhiệt độ thấp) sẽ làm cây sinh trưởng phát triển chậm lại, nói cách khác là điều kiện tự nhiên (nhiệt độ thấp, ẩm không khí thấp, khô hanh) sẽ đưa cây vào trạng thái tạm ngừng sinh trưởng một thời gian ngắn (ức chế sinh trưởng sinh dưỡng, chuẩn bị chuyển sang sinh trưởng sinh thực) lúc này các chất dinh dưỡng từ đất (qua bộ rễ) sẽ hạn chế đưa lên các bộ phận trên mặt đất (thân, lá) do đó làm giảm khả năng phát sinh, phát triển lộc Đông, đưa cây vào trạng thái “ngủ nghỉ”. Muốn bưởi Diễn ra hoa đồng đều, tập trung, tỷ lệ đậu quả cao thì cần phải tạo cho cây có một khoảng thời gian nhất định để “ngủ nghỉ đông” do vậy không nên thu hoạch quá muộn vừa ảnh hưởng đến chất lượng quả, vừa ảnh hưởng đến khả năng phân hóa mầm hoa sau này. Tuy nhiên với những năm rét muộn (ấm nóng, độ ẩm cao), mưa kết thúc muộn bưởi Diễn sẽ phát triển không theo quy luật mùa vụ: Lộc phát sinh sớm và tập trung nhiều tại thời điểm trước khi thu hoạch 15-30 ngày, điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng phân hóa mầm hoa (mất đợt hoa 1, mất mùa ở vụ kế tiếp) đồng thời làm giảm chất lượng quả nghiêm trọng (bưởi nhạt, tép khô, quả to, vỏ dày, màu sắc vỏ quả xấu, độ đồng đều kém, quả chín muộn…). Chính vì vậy chúng ta cần phải can thiệp các biện pháp kỹ thuật tác động đồng thời như khoanh vỏ kết hợp với chặt rễ. Thời điểm khoanh vỏ: tùy tình trạng của cây để đưa ra thời điểm thích hợp Quan sát sức sinh trưởng của cây và diễn tiến của thời tiết trong phạm vi 10-15 ngày kế tiếp. Nếu cây sinh trưởng mạnh có dấu hiệu phát triển lộc đông, bộ lá cây xanh dày bóng, bản lá (phiến lá) to bất thường cộng thêm thời tiết ấm kéo dài, độ ẩm cao thì nên tiến hành khoanh vỏ các cành cấp 1, chọn lọc cành khỏe để khoanh, cành nhỏ, yếu thì để lại, không nên khoanh tất cả số cành cấp 1 trên cây (chống sốc dinh dưỡng). Sau khi thu hoạch có thể kiểm tra lại một lần nữa nếu thấy cần thiết thì khoanh tiếp đợt 2. Lưu ý việc khoanh vỏ trước thu hoạch cần phải cẩn thận, khoanh đúng kỹ thuật nếu không sẽ làm rụng quả. Với những cây mang nhiều quả, khả năng phát triển lộc ở mức trung bình, có thể kiểm soát được thì nên để sau khi thu hoạch mới khoanh vỏ, nếu không sẽ ảnh hưởng đến khả năng mang quả của cây (rụng quả trước thời điểm thu hoạch). Như vậy biện pháp khoanh vỏ áp dụng sớm hay muộn tùy thuộc vào sức sinh trưởng và năng suất quả của từng cây, đặc biệt là điều kiện thời tiết khí hậu. Những năm rét muộn, mưa kéo dài, độ ẩm cao thường xuyên liên tục…cần chủ động khoanh vỏ sớm kể cả đối với cây đang mang quả. Tựu chung lại khi khoanh vỏ cần lưu ý những vấn đề sau đây: + Với cây đang mang nhiều quả, khi thực hiện biện pháp khoanh vỏ sớm có thể làm quả rụng. Để khắc phục tình trạng này bà con nên áp dụng khoanh từng phần (chọn lọc từng cành). Với những cành sinh trưởng mạnh, lá xanh, dày, nhiều cành vượt, cành mang ít quả nên khoanh sớm. + Với những cây mang ít quả hoặc năm trước bị mất mùa cần tiến hành cắt tỉa tạo tán thông thoáng theo hướng tán mở (ánh sáng có thể chiếu vào trong tán), hạn chế sâu bệnh, tăng sức đề kháng cho cây. Sau đó tiến hành khoanh vỏ sớm hơn so với những cây sai quả. + Chọn lọc từng cây để khoanh vỏ, việc khoanh vỏ thường áp dụng với cây khỏe, sinh trưởng mạnh, với những cây yếu cần xem xét trước khi khoanh hoặc khoanh 60-80% số cành trên cây. 1.1.3 Kỹ thuật khoanh vỏ Khi khoanh vỏ nên khoanh theo kiểu một vòng tròn khép kín 360o và chỉ làm đứt phần vỏ với một khoảng rộng vừa đủ tùy theo đường kính thân, cành (khoanh vừa chạm gỗ, không ăn sâu vào gỗ). Nếu bắt buộc phải khoanh 2 vòng liên tiếp thì vòng nọ cách vòng kia 15-20cm, khoanh xong tuyệt đối không bóc vỏ. Nếu cây có nhiều cành cấp 1, bộ lá dày, có màu xanh đen, biểu hiện sinh trưởng mạnh thì khoanh từng cành cấp 1 (khi khoanh có thể để lại cành nhỏ và yếu nhất), có thể khoanh luôn đồng thời 2 vòng, mỗi vòng cách nhau 15-20cm. Nếu cây phát triển bình thường, sinh trưởng không quá mạnh thì khoanh một vòng (thực hiện khoanh 1 vòng duy nhất trên cành). Khi khoanh chú ý vết khoanh gọn, không bị nát phần vỏ, vết khoanh không quá rộng, không quá hẹp, đảm bảo vết khoanh liền nhanh khi cần thiết. Khoanh vỏ xong, dùng SHELLAC SUGER 1000 quét trực tiếp vết khoanh. Tác dụng điều tiết sinh trưởng, hạn chế Lộc phát triển và nấm bệnh xâm nhập qua vết khoanh vỏ đồng thời chống sốc dinh dưỡng sau khi khoanh vỏ cây. Khi vết khoanh đã khô, dùng băng keo màu đen cuốn chặt vết khoanh. 1.2 Chặt rễ, xử lý bộ rễ, cải tạo đất vùng rễ 1.2.1 Mục đích + Loại bỏ hoocmone Cytokinin có trong phần rễ non của cây qua đó ức chế phát sinh lộc đông, tạo điều kiện ngủ nghỉ (ủ mầm hoa), thúc đẩy ra hoa đồng đều, tập trung thành từng đợt. + Loại bỏ một phần nấm bệnh tồn tại trên phần rễ non, lông hút của cây (phần rễ này làm việc khá nhiều trong một năm do đó thường xuyên phát sinh nguồn bệnh). + Kích thích quá trình phát sinh, phát triển rễ tôm (rễ hút mới) của cây ở vụ kế tiếp, tăng cường khả năng hấp thụ dinh dưỡng nuôi hoa, quả, hạn chế rụng quả sinh lý, giảm tỷ lệ khô quả, tăng chất lượng quả. Lưu ý: Nên kết hợp giữa khoanh vỏ và chặt rễ nếu cây sinh trưởng quá mạnh, thời tiết ấm kéo dài, mưa kết thúc muộn, theo dõi sâu sát tình trạng phát triển của cây, chủ động kìm hãm quá trình phát triển Lộc Đông. 1.2.2 Thời điểm chặt rễ + Với cây bưởi tơ: làm sớm từ trung tuần tháng 10 đến 10 -15 tháng 11 âm lịch, thời gian tiến hành sớm hay muộn tùy sức sinh trưởng của cây và điều kiện thời tiết. + Với cây bưởi kinh doanh, cây đang mang quả: Sau thu hoạch, cắt tỉa tạo tán thông thoáng (tán mở), loại bỏ cành tăm, cành vượt, cành sâu bệnh sau đó tiến hành chặt rễ ngay, không nên xử lý quá muộn, đặc biệt với những năm có mưa kéo dài và rét muộn. 1.2.3 Kỹ thuật chặt rễ Thông thường để đạt hiệu quả cao người làm vườn cần chủ động theo dõi sức sinh trưởng của cây, điều kiện thời tiết qua đó đưa ra những biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp cho từng cây. Các kỹ thuật tác động cơ giới cần được áp dụng linh động, đôi khi cần kết hợp một vài biện pháp kỹ thuật đồng thời mới đem lại hiệu quả cao. Có hai phương án để bà con lựa chọn: Phương án 1: trước khi thu hoạch 10-15 ngày, tiến hành khoanh vỏ trước. Sau khi thu hoạch, cắt tỉa tạo tán thông thoáng sau đó chặt rễ sau (cuốc sâu, rộng 30-35cm). Phương pháp này áp dụng khi cây đang mang nhiều quả (sai quả), khoanh vỏ trước thu hoạch sẽ làm chất lượng quả tăng lên(quả ngọt hơn). Các bước khoanh vỏ nên làm nhẹ nhàng, cẩn thận, khoanh vỏ vào ngày nắng, khô. Khi khoanh chú ý chỉ khoanh đứt phần vỏ, vừa chạm gỗ, không ăn sâu vào gỗ. Khoanh vỏ không đúng kỹ thuật, khoanh quá sâu sẽ gây rụng quả nếu gặp điều kiện thời tiết bất lợi. Đối với những cây sinh trưởng quá mạnh nên khoanh chọn lọc từng cành cấp 1 và khoanh 70-90% số cành trên cây, để lại cành nhỏ và yếu. Phương án 2: Với cây mang ít quả, cây bưởi tơ hoặc cây bị mất mùa có thể kết hợp khoanh vỏ và chặt rễ cùng một thời điểm để hãm lộc đông hiệu quả hơn, đồng thời tạo cho cây bước vào ngủ nghỉ sớm, có thời gian ủ mầm hoa, sau này mầm hoa phân hóa đồng đều và khỏe mạnh. Những năm có mưa kết kéo dài và rét muộn (ẩm và ấm kéo dài) bà con nên tiến hành làm sớm vào khoảng cuối tháng 10 đến trước 20-25/11 âm lịch. Đồng thời chủ động thu hoạch Bưởi sớm hơn, trước 15-25/11 âm lịch (với bưởi Diễn muộn). Kỹ thuật chặt rễ và xử lý rễ: Trước khi cuốc rễ cần tiến hành cắt tỉa tạo cho tán thông thoáng Bước 1: Cuốc sâu, rộng 20-35cm theo hình chiếu tán của cây, khi cuốc những nhát cuốc đầu tiên nếu thấy mật độ rễ xuất hiện với số lượng ít cần phải cuốc sâu dần vào bên trong theo hướng từ ngoài vào phía gốc, khi nào thấy các rễ non, rễ cám, rễ tơ bị đứt là đạt yêu cầu (toàn bộ phần rễ non mép ngoài tán cần phải loại bỏ). Sau đó xiết nước (không tưới nước, tạo khô hạn cho cây). Lưu ý nếu tại thời điểm cuốc rễ, nếu đất còn ẩm cần phải tạo rãnh sâu giữa các hàng, giữa các cây để hơi nước thoát nhanh, đất càng khô nhanh càng tốt. Sau đó dùng các loại thuốc trừ nấm khuẩn đặc hiệu phun trực tiếp vào phần rễ vừa chặt, phòng trị nấm khuẩn gây bệnh hại bộ rễ. Sau 2-3 ngày dùng vôi bón xung quanh gốc (phần đã cuốc), lượng ít hay nhiều phụ thuộc tính chất đất từng vùng. Để đạt hiệu quả cao nên sử dụng thuốc trừ nấm khuẩn đặc hiệu, chọn lọc những dòng sản phẩm không độc hại, thân thiện với môi trường và không làm kìm hãm quá trình phát sinh, phát triển của bộ rễ. Các sản phẩm trừ nấm khuẩn gây bệnh đặc hiệu: AKH SUPER, NANO BẠC SUPER, NANO OXYCLORUA ĐỒNG, NANO HỢP KIM BẠC ĐỒNG,…các dòng SP này được sản xuất và ứng dụng công nghệ cao, sản phẩm sạch, không độc hại, khuyến cáo nên sử dụng thay thế cho các loại thuốc BVTV hóa học (thường làm chai đất và tồn dư kim loại nặng khá lâu trong đất, khó phân giải). Sau khi cuốc rễ, dùng nước vôi đặc quét lên xung quanh gốc cây, hạn chế côn trùng (xén tóc đẻ trứng và nở thành ấu trùng), chúng thường tồn tại ở những kẽ hở của vỏ thân cây, sau này nở thành sâu non gây hại các bộ phận thân, cành còn non (sâu đục thân). Bước 2: Không nên lấp đất ngay, để phơi khô đất xung quanh vùng rễ từ 10-20 ngày. Mục đích của việc làm này là để bộ rễ cây thông thoáng, tăng khả năng trao đổi khí, diệt mầm bệnh xung quanh gốc. Bước 3: Sau khi phơi 15-20 ngày, quan sát nếu cây có dấu hiệu chậm sinh trưởng thì lấp đất, tiến hành bón lót hỗn hợp phân sau: + Dùng 10-40kg phân chuồng hữu cơ ủ hoai mục (lượng nhiều hay ít tùy tuổi cây, năng suất quả). + Dùng 1-1,5kg phân lân (lân đơn – P2O5), lượng phân ít hay nhiều tùy thuộc vào tuổi cây, năng suất thực thu. Lượng phân bón trên trộn đều với đất xung quanh gốc rồi lấp lại, bón cách xa 10-20cm phần rễ đã chặt đứt (đây là phương pháp bón nhử, mục đích làm tăng cường khả năng phát sinh – phát triển rễ mới, rễ tôm ở năm sau). Sau 7-10 ngày bón thêm đậu tương nghiền lên trên mặt (1-3kg/cây, tùy tuổi cây) xung quanh hình chiếu của tán cây và phủ một lớp đất bột lên phần đậu tương vừa bón. Bón lót đầy đủ cân đối dinh dưỡng đa, trung, vi lượng, sau 1-1,5 tháng cây mới có khả năng hấp thu dinh dưỡng. Thời kỳ cây hấp thu được dinh dưỡng bón lót phải trùng vào thời kỳ ra hoa đậu quả, nuôi quả non. Nếu sau khi xử lý cuốc rễ kết hợp khoanh vỏ mà gặp ngay điều kiện thời tiết bất lợi (thời tiết cực đoan_nhiệt độ xuống thấp đột ngột), cây bị sâu bệnh…sẽ làm ra tăng khả năng phát sinh hoa dị hình, đồng thời àm giảm tỷ lệ đậu quả, khó giữ quả. Lưu ý chung: + Nếu đất bề mặt bị dí chặt nên xới nhẹ bề mặt xung quanh dưới gốc cây, tạo thuận lợi cho quá trình trao đổi khí với bộ rễ. + Không nên bón trực tiếp vào phần rễ vừa chặt, cần phải trộn với đất trước khi lấp. + Nếu bón vôi nên rắc trực tiếp vào phần rãnh vừa cuốc đất lên. Cách thời điểm bón phân hữu cơ, lân khoảng 15-20 ngày (không bón đồng thời lân và vôi, thường sẽ bị kết tủa, chuyển thành dạng khó tiêu, khó tan). + Trong thời gian chặt rễ, khoanh vỏ cần áp dụng các biện pháp xiết nước triệt để (không tưới nước). + Sau khi cuốc rễ cần phải xử lý rễ bằng các chế phẩm phòng trị nấm khuẩn gây bệnh. 2- Chăm sóc bưởi Diễn thời kỳ ra hoa, đậu quả, nuôi quả và phát triển quả 2.1 Yêu cầu kỹ thuật + Hoa không cần quá sai, hoa phải phân bố đồng đều về các phía, tỷ lệ hoa hữu hiệu cao, ít hoa dị hình. Tỷ lệ đậu quả cao, cây sai quả, trọng lượng quả trung bình 400-800g/quả là đạt yêu cầu, không nên để quả quá to, vỏ dày, tép khô, phát triển mất cân đối. + Chùm hoa phân hóa trên cành mẹ năm sau phải được nuôi từ lộc hè và lộc thu năm trước (vào tháng 5-6 năm trước). + Mầm hoa và hoa phân hóa đúng thời vụ, không quá sớm, không quá muộn. Nếu hoa phát triển muộn thường sẽ gặp những đợt mưa ẩm kéo dài ở đầu vụ làm hoa thối hỏng, rụng hàng loạt (trường hợp này xảy ra khi thu hoạch quá muộn). Những năm mưa kéo dài, rét muộn thường thấy lộc hoa hoặc lộc đông phát sinh, phát triển mạnh (tháng 10-11 âm lịch), hoa ra thời điểm này có thể đậu quả ngay sau 1-2 tuần tuy nhiên các đợt quả này thường không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng vì vậy bà con cần loại bỏ sớm. Do đó để ngăn chặn tình trạng ra hoa sớm, đậu quả không đúng thời vụ (trong năm, vào tháng 11 âm lịch) bà con cần thường xuyên kiểm tra vườn, sức sinh trưởng của từng cây để chủ động đưa ra các biện pháp kỹ thuật tác động với mục đích kìm hãm lộc đông hoặc lộc hoa phát sinh quá sớm (tháng 12 âm lịch). Lưu ý: Tất cả các chùm hoa đậu quả trước lập xuân đều nên loại bỏ sớm, vì quả sẽ không đạt tiêu chuẩn chất lượng. Bưởi thường ra nhiều đợt hoa, nếu đợt hoa 1 gặp điều kiện bất lợi từ thời tiết(mưa ẩm kéo dài ở đầu vụ) sẽ làm suy giảm sức sống của hạt phấn, hạt phấn bị chết, nấm bệnh phát triển mạnh làm thối rụng hoa hàng loạt. Ngay sau đó ít ngày nếu gặp điều kiện thời tiết thuận lợi bưởi Diễn sẽ phát sinh, phát triển đợt hoa kế tiếp (hoa 2) tuy nhiên những đợt hoa tiếp theo (hoa 3-4) thường không cho chất lượng quả cao, nếu để sẽ ảnh hưởng tới vụ sau. 2.2 Những nguyên nhân dẫn đến rụng hoa, quả non Thời kỳ ra hoa đến hoa nở rộ nếu gặp mưa nhiều, ẩm cao, trời âm u, thiếu ánh sáng, nhiệt độ xuống thấp sẽ thúc đẩy nấm khuẩn gây bệnh phát sinh, phát triển mạnh gây bệnh thối nhũn hoa, suy giảm chức năng hạt phấn, bệnh diễn biến nặng gây rụng hoa hàng loạt. Ngoài ra trong nước mưa có hàm lượng acid cao(H+) làm hạt phấn hỏng, nhụy mất chức năng sinh lý. Khi điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp theo hướng bất lợi như mưa ẩm kéo dài, thời tiết âm u, thiếu ánh sáng sẽ thúc đẩy quá trình hình thành “tầng rời” làm cho cuống hoa teo lại dẫn đến hoa và quả non rụng hàng loạt, rất khó kiểm soát, có nhiều chùm hoa rụng 100% số quả. Vậy tại sao trong điều kiện thời tiết bất lợi như đã nêu ở trên lại dẫn đến hiện tượng teo cuống, hình thành tầng rời sau vài ngày và như thế hiện tượng rụng quả sẽ chỉ là vấn đề thời gian. Có thể chỉ ra các nguyên nhân gây nên hiện tượng rụng hoa, quả non như sau: + Nguyên nhân thứ nhất: Điều kiện bất lợi của thời tiết, kèm theo sự phát triển mạnh của nấm khuẩn gây bệnh khiến cho chức năng sinh lý của hoa bị suy giảm. Khi hoa không còn giữ vai trò di truyền nói cách khác không còn khả năng thụ phấn, thụ tinh thì chúng sẽ bị loại thải và việc hình thành tầng rời là điều tất yếu để loại bỏ những chùm hoa không còn sức sống, không còn khả năng đậu quả. + Nguyên nhân thứ hai: Do hoa ra quá sai, sức chịu đựng của cây có hạn đặc biệt trong điều kiện bất lợi (nhiệt độ thấp, thừa ẩm) sẽ làm cho bộ rễ thường xuyên phải chịu một áp lực nuôi quả, thân, cành, lá… đấy là chưa kể đến tình trạng bộ rễ, nếu bị nghẹt rễ, thừa ẩm, thiếu oxi thì khả năng rụng hoa, quả non còn khó kiểm soát hơn rất nhiều (vì khi mưa nhiều, đất thừa ẩm khả năng thiếu oxi trong đất luôn luôn ở tình trạng báo động). Do đó việc hình thành tầng rời để loại bớt một phần “cơ thể” để duy sức sống, sự tồn tại của cây cũng là điều bình thường theo quy luật thích nghi của thực vật hai lá mầm. + Nguyên nhân thứ ba: Trong nước mưa thường có hàm lượng acid nhất định(H+). Chính hàm lượng acid dù nhỏ này (tích tiểu thành đại) làm cho nhóm tế bào vỏ quả bị acid hóa (cháy quả) từ đó quả không thể phát triển tiếp được (đứng quả), sau một thời gian ngắn chúng cũng sẽ bị rụng. Ngoài ra lượng acid trong mưa cũng làm cho Canxi trong tế bào tầng rời giảm mạnh (chúng bị hòa tan, bị di chuyển thành những ion linh động). Mà Canxi là một nguyên tố dinh dưỡng trung lượng quan trọng cần bổ sung và không thể thiếu ở thời kỳ ra hoa đậu quả đối với bất kỳ cây ăn quả thân gỗ nào. Canxi được xem là một chất keo “xi măng” liên kết chặt chẽ các tế bào tầng rời khiến chúng trở lên bền vững hơn. Do vậy ở thời kỳ phân hóa mầm hoa đến hoa rộ, đậu quả non các nhà vườn cần phải chú ý bổ sung hàm lượng Canxi dễ tiêu kết hợp với các yếu tố vi lượng khác sao cho cân đối phù hợp. Đa số các đạng canxi hiện nay trên thị trường được bán dưới dạng phân bón lá có hỗn hợp với một số thành phần trung, vi lượng khác tuy nhiên các dạng canxi này hầu hết tồn tại dưới dạng ion (Ca2+), khi phun qua lá các ion Ca2+ này thường bị oxi hóa hoặc bị các acid yếu như acid H2CO3 làm kết tủa ở dạng không tan, khó hấp thu(dạng bất động). Chính vì vậy nhiều bà con trong quá trình chăm sóc cây ăn quả vẫn bổ sung Canxi nhưng lại không đạt được hiệu quả cao, quả non vẫn rụng, vẫn hình thành tầng rời. Do đó khi bổ sung Canxi cho cây nhất là giai đoạn ra hoa, đậu quả các nhà vườn nên bổ sung các dạng dễ hấp thu, các dạng có tính chất giải phóng Canxi (Ca2+) liên tục ở mọi điều kiện cho dù là điều kiện thời tiết không thuận lợi như thế mới bổ sung kịp thời Canxi cho cây, giúp cây vượt qua được các điều kiện thời tiết bất lợi về thời tiết. Và Canxi Nano đáp ứng được các yêu cầu khắt khe đó. Hiện nay có 2 dạng Canxi Nano, hai dạng này vừa bổ sung canxi dễ tiêu, vừa có khả năng trung hòa mưa acid làm giảm hiện tượng acid hóa hoa và quả non. Nano – canxi cacbonate có hoạt tính hóa học cao nên dễ phản ứng để trung hòa axit ngay cả ở môi trường axit yếu pH = 5-6. Nano canxi cacbonate sử dụng trong phân bón lá làm tăng hiệu suất của quá trình quang hợp và bổ sung canxi cho qua bộ lá của cây. Khi ở kích thước nano mét các hạt Nano-CaCO3 bám vào kẽ lá và phân hủy trong môi trường khí CO2 (H2CO3) tự nhiên đồng thời giải phóng khí CO2 tăng đến 40% tại kẽ lá tạo nguyên nguồn nguyên liệu (CO2) dồi dào cho quá trình quang hợp và bổ sung canxi cho cây trồng: Nano-CaCO3 + H2CO3 = Ca+2 + 2CO2↑ + H2O + Nguyên nhân thứ tư: Thời tiết âm u kéo dài, thiếu ánh sáng sẽ làm cho “độ đóng mở” của khí khổng bị ảnh hưởng theo chiều hướng không thuận lợi cho quá trình quang hợp, như thế quá trình hấp thu khí CO2 của cây bị cản trở. Tất cả những điều này sẽ làm giảm hiệu suất quang hợp của cây. Khi hiệu suất quang hợp giảm sẽ kéo theo quá trình vận chuyển, tích lũy dinh dưỡng về cơ quan dự trữ (hoa, quả) giảm theo làm cho hoa, quả non thiếu dinh dưỡng cục bộ gây ra hiện tượng chậm hoặc ngừng sinh trưởng quả từ đó góp phần tạo nên hiện tượng rụng hoa, quả non. + Nguyên nhân thứ năm: Do chăm sóc không đúng kỹ thuật, bón phân không cân đối đầy đủ đặc biệt thừa dinh dưỡng đa lượng sẽ dẫn tới đẩy quả (rụng quả). Bưởi Diễn cùng với cam đường là một loại cây có múi cực kỳ khó tính. Ở thời ra hoa, đậu quả (rụng hết cánh hoa) nếu thừa dinh dưỡng hoặc bổ sung qua lá dinh dưỡng không cân đối sẽ dẫn đến mất cân bằng sinh trưởng – phát triển: ra tăng (ưu tiên) quá trình sinh trưởng sinh dưỡng, giảm đột ngột (ức chế) quá trình sinh trưởng sinh thực dẫn đến rụng quả hàng loạt(dinh dưỡng nuôi quả không được ưu tiên). + Nguyên nhân thứ sáu: Do phương pháp nhân giống. Thực tế nghiên cứu và theo dõi cho thấy với những giống Diễn được trồng bằng cành chiết thì tỷ lệ đậu quả và giữ quả cao hơn do với Diễn ghép (xét trong điều kiện cùng giống, cùng điều kiện tự nhiên). Theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng giống Diễn ghép tuy ban đầu có lợi thế là bộ rễ to khỏe nhưng trong quá trình sinh trưởng và phát triển đặc biệt ở thời kỳ ra hoa đậu quả chúng thường có xu hướng sinh trưởng khó “hòa hợp” (đẩy nhau) do cơ thể được ghép từ 2 nguồn cá thể khác nhau cho nên chúng thường xảy ra hiện tượng biến nạp gene nói cách khác sự dung hòa giữa 2 cá thể trong cùng một cây thường khó hơn và phải trải qua nhiều năm. Giống chiết được tách nguyên bộ gen 2n của cây mẹ và không xảy ra tình trạng đẩy nhau nào nên về mặt di truyền sẽ ổn định hơn qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển. Như vậy trong kỹ thuật chăm sóc bưởi Diễn nói chung bà con cần phải nắm rõ và hiểu biết những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng rụng quả non để có biện pháp phòng ngừa chủ động. 2.3 Khắc phục hiện tượng bưởi Diễn đậu quả nhưng không phát triển hoặc chậm phát triển Rất nhiều nhà vườn có kỹ thuật chăm sóc tốt, chủ động trong các khâu phòng trừ sâu bệnh, cây tương đối khỏe, đẹp. Tuy nhiên sau thời kỳ hoa rộ, rụng cánh hoa và đậu quả non đôi khi thấy hiện tượng quả đã đậu nhưng sau một vài ngày mãi không thấy quả phát triển, hiện tượng này còn gọi là “đứng quả” nói cách khác cây “bỏ quả” trong điều kiện bất khả kháng. Chỉ sau một vài ngày quả sẽ bị teo đi (bề mặt quả không còn nhẵn bóng) và rụng (do hình thành tầng rời cuống, cuống thắt eo, nhỏ lại). Đặc biệt thời khi gặp tiết âm u, mưa ẩm nhiều, thiếu ánh sáng thì hiện tượng quả chậm phát triển hay gần như không thấy phát triển diễn ra phức tạp hơn, khó kiểm soát và rụng hàng loạt cả cuống trong sau 3-7 ngày. Như vậy hiện tượng bưởi Diễn bị “đứng quả” tại thời điểm rụng hết cánh hoa là một vấn đề cần quan tâm trong quá trình chăm sóc, bởi nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời thì quá trình rụng quả non chỉ là vấn đề thời gian (diễn ra sớm hay muộn). Vậy nguyên nhân và cách khắc phục như thế nào? Nguyên nhân thứ nhất: Do sâu bệnh phát sinh, phát triển mạnh, nhà vườn không kiểm soát được (đặc biệt là nấm khuẩn gây bệnh kết hợp với bộ lá bị rệp muội). Thời kỳ ra hoa, đậu quả bưởi Diễn rất mẫn cảm với sâu bệnh (dễ bị sâu bệnh tấn công). Sâu bệnh gây hại bộ rễ, lá khiến cây trồng không thể hấp thu dinh dưỡng kịp thời nuôi các bộ phận trên mặt đất (hoa, quả non…) đồng thời gây cản trở quá trình quang hợp, tích lũy dinh dưỡng nuôi quả. Nói cách khác khi bị sâu bệnh cây trồng nói chung thường có phản ứng tự vệ, lúc này chúng tập trung toàn bộ “sức lực” để chống lại sâu bệnh cho nên dinh dưỡng về quả tạm thời bị ngưng (gián đoạn), dinh dưỡng nuôi quả bị thiếu kết hợp với mất cân bằng giữa các yếu tố dinh dưỡng là điều kiện cản trở quá trình phát triển quả, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời thì việc quả chậm lớn hoặc ngừng lớn và sau đó rụng cả cuống trong chỉ là vấn đề thời gian. Nguyên nhân thứ hai: Do mất cân bằng dinh dưỡng làm gia tăng sự đối kháng giữa các nhóm dinh dưỡng, tạo nên sự không thuận lợi cho quá trình quang hợp của cây. Gây nên hiện tượng rối loạn sinh lý cây trồng. Nguyên nhân thứ ba: Do bộ rễ bị nghẹt trong điều kiện độ ẩm bão hòa liên tục. Khi thiếu oxi các phản ứng sinh lý của cây trồng (hô hấp) bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Quá trình hô hấp yếm khí (thiếu oxi) diễn ra thường xuyên sẽ làm cây bị “đuối lực”, sức đề kháng và sức chống chịu kém. Nói cách khác khi quá trình hô hấp của bộ rễ bị ảnh hưởng do thiếu oxi thì năng lượng (ATP) của cây trồng được tạo ra từ quá trình hô hấp bị giảm sút đồng thời sản sinh ra những hợp chất hữu cơ gây ngộ độc cho cây. Khi thiếu năng lượng từ quá trình hô hấp thì các bộ phận trên mặt đất (hoa, quả,…) không có nguồn dưỡng chất nuôi chúng nên gây ra tình trạng chậm phát triển hoặc ngừng hẳn. Nguyên nhân thứ tư: Do sự bất lợi của điều kiện thời tiết(mưa nhiều, ẩm cao, thiếu ánh sáng) làm cản trở quá trình quang hợp của cây. Khi hiệu suất quang hợp giảm đồng nghĩa với việc dinh dưỡng tích lũy về quả bị hạn chế. Do đó quả phát triển rất chậm hoặc ngừng hẳn ngay sau khi rụng cánh hoa. Chúng ta đã biết quang hợp là quá trình tổng hợp các chất vô đơn giản cơ từ tự nhiên thành các hợp chất hữu cơ phức tạp rồi chuyển về các cơ quan dự trữ như củ, quả. Điều kiện để quá trình quang hợp xảy ra là bộ lá phải khỏe mạnh (có diệp lục), thuận lợi đón ánh sáng, có ánh sáng trực xạ, có khí CO2, khí khổng phải mở liên tục khi có ánh sáng trực xạ…Tuy nhiên trong điều kiện thời tiết âm u, thiếu ánh sáng, mật độ cây quá dày thì quá trình quang hợp bị cản trở. Như vậy thời kỳ này cần tăng cường khả năng hấp thụ ánh sáng của bộ lá, cung cấp đầy đủ và thuận lợi nguyên liệu cho quá trình quang hợp của cây, nhằm thúc đẩy quá trình quang hợp. Giải pháp cụ thể như sau: Chúng ta đã biết quang hợp là quá trình chuyển hóa năng lượng “mặt trời” thành năng lượng hóa học “dự trữ” cần thiết cho cây. Những ngày mưa ẩm, thời tiết âm u, khi đó cường độ ánh sáng yếu, khả năng hấp thụ ánh sáng vào lá kém do đó hiệu suất quang hợp bị giảm sút. Nano Bạc làm tăng khả năng hấp thụ ánh sáng qua lá do đó tăng hiệu suất quang hợp. Vậy cơ chế xảy ra như thế nào? Quang phổ mặt trời là liên tục, do đó sự hấp thụ ánh sáng của các sắc tố quang hợp là gián đoạn mạnh nhất là tại vùng ánh sáng tím, xanh và đỏ. Theo tính chất vật lý của hạt nano Bạc chúng ta thấy các hạt nano bạc hấp thụ ánh sáng trong dải sóng 390 – 420 nm nên khi đó tại bước sóng này cường độ ánh sáng được hấp thụ tăng cường. Như vậy các hạt nano bạc, ngoài tác dụng diệt nấm khuẩn, nó còn làm tăng cường khả năng hấp thụ ánh sáng cho bộ lá qua đó nâng cao hiệu suất quang hợp, tăng cường vận chuyển dinh dưỡng về các cơ quan dự trữ. Thúc đẩy quá trình phát triển của quả, hạn chế hiện tượng “bỏ quả”, góp phần ngăn chặn từ xa quá trình hình thành tầng rời cuống hoa – cuống quả, hạn chế rụng hoa, quả sinh lý. Ba là: Bổ sung Canxi nano dễ hấp thu cho cây, hạn chế tác hại của mưa acid, tăng cường cung cấp nguyên liệu quang hợp cho cây tại bề mặt lá thông qua việc sử dụng Nano Canxi Cacbonate (N – CaCO3). Nano canxi cacbonate có hoạt tính hóa học cao nên dễ phản ứng để trung hòa axit ngay cả ở môi trường axit yếu pH = 5-6. Nano canxi cacbonate sử dụng khi phun qua lá làm tăng hiệu suất quang hợp đồng thời bổ sung canxi cho cây qua bộ lá. Khi ở kích thước nano mét các hạt Nano-CaCO3 bám vào kẽ lá và phân hủy trong môi trường khí CO2 tự nhiên (H2CO3) đồng thời giải phóng khí CO2 tăng đến 40% tại kẽ lá tạo nguyên nguồn nguyên liệu quang hợp (CO2) dồi dào cho quá trình quang hợp và bổ sung canxi cho cây trồng: Nano-CaCO3 + H2CO3 = Ca+2 + 2CO2↑ + H2O Trong phản ứng hóa học trên: Canxi sau khi được giải phóng được cung cấp trực tiếp cho cây trồng qua các lỗ khí khổng của lá, quá trình này diễn ra liên tục do đó cây trồng sẽ không bị thiếu hụt, cuống hoa – cuống quả được bổ sung kịp thời cho nên chúng sẽ trở lên “dai hơn”, bền vững hơn (do Canxi được coi như là một chất kết dính giữa các tế bào, giúp cho các tế bào liên kết chặt chẽ với nhau hơn). Khác với các dòng phân bón lá bổ sung trực tiếp Canxi dạng Ca2+, dạng Ca2+ này khi phun trên lá dưới tác động của các yếu tố môi trường nó sẽ bị oxi hóa và chuyển thành dạng Canxi khó tan, khó tiêu, cây trồng không hấp thu được: Trong không khí, kèm theo hơi nước Ca2+ được chuyển thành CaCO3: Theo cơ chế trên khi lượng Ca2+ bị kết tủa hết thì cây trồng sẽ không hấp thu được Canxi gây ra hiện tượng thiếu hụt Canxi cục bộ do đó các tế bào dễ bị tách rời nhau, liên kết lỏng lẻo hơn, tầng rời được hình thành ngay sau đó và dẫn đến hiện tượng rụng hoa, quả sinh lý hàng loạt, khó kiểm soát (đặc biệt khi gặp điều kiện thời tiết bất lợi thì quá trình này diễn ra nhanh hơn). Tuy nhiên dạng Canxi nano, Canxi nano cacbonate thì không như vậy. Khi chúng được phun trên lá, dưới điều kiện tự nhiên các dạng hạt Nano Canxi giải phóng liên tục các ion Ca2+, giúp khí khổng của bộ lá có nhiều cơ hội hấp thu hơn (tỷ lệ hấp thu Canxi rất cao), làm tăng hiệu suất hấp thu Ca2+ cho nên ít khi xảy ra tình trạng thiếu hụt canxi. Tóm lại để hạn chế tình trạng rụng non quả sinh lý, khắc phục hiện tượng quả chậm lớn hoặc không lớn chúng ta phải tác động các biện pháp kỹ thuật sau: + Tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển, phòng trị sâu bệnh chủ động hại rễ nhất là Nấm, Vi khuẩn và Tuyến trùng hại rễ, bổ sung cân đối các dạng khoáng dễ tiêu theo nhu cầu của cây qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển khác nhau(không thừa, không thiếu), cải tạo đất, giúp đất tơi xốp thoáng khí, giàu mùn, tránh để pH quá cao hay quá thấp, am hiểu các kỹ thuật bón phân, hiểu biết về sự đối kháng giữa các nhóm dinh dưỡng thiết yếu từ đó có các giải pháp bón phân cân đối đầy đủ. Ví Dụ: không bón lân và vôi cùng nhau điều này sẽ tạo ra các hợp chất khó tan, cây khó hấp thu lân. Hạn chế sử dụng các loại phân gây chua đất, bởi khi pH thấp (đất chua) sẽ thúc đẩy hình thành các kim loại nặng gây ngộ độc rễ, ảnh hưởng đến khả năng hấp thu dinh dưỡng và nước. Ưu tiên bón các loại phân hữu cơ sinh học, cây có thể hấp thu từ từ, ít dùng các nhóm phân NPK tổng hợp tan nhanh ở thời kỳ cây đang ra hoa, đậu quả điều này sẽ gây sốc dinh dưỡng dẫn đến hiện tượng đẩy quả non… + Điều chỉnh mật độ trồng phù hợp, cắt tỉa tạo tán thông thoáng, phòng trừ sâu bệnh cho tất cả các bộ phận trên mặt đất. Thời kỳ cây ra hoa đậu quả non cần hạn chế phun các loại thuốc hóa học có độc tính mạnh. Tạo điều kiện thuận lợi nhất để bộ lá đón được ánh sáng nhiều nhất, thúc đẩy và nâng cao hiệu suất quang hợp(Thông qua việc sử dụng Nano Bạc 500-1000ppm). + Cung cấp đầy đủ các dạng nguyên liệu dễ hấp thu tại chỗ cho quá trình quang hợp, cân đối bổ sung thêm các nhóm dinh dưỡng trung lượng, vi lượng (Ca, Mg, Zn, Cu, Bo, Si, Mn…). Lưu ý chỉ cần bổ sung lượng rất nhỏ, nếu thừa rễ gây ngộ độ cây. Khuyến cáo trong thời kỳ phân hóa mầm hoa – phát triển nụ – đậu quả chỉ cần bổ sung các nhóm dinh dưỡng trên với nồng độ phun qua lá giao động từ 0,02 – 10ppm là đủ, các chất kích thích tăng trưởng như Auxin, Gibberellin với nồng độ từ 40-120ppm, tùy thời kỳ sinh trưởng. + Thời kỳ này cần điều tiết vườn cây sao cho không được thừa ẩm, không thiếu ẩm đồng thời nên sử dụng các dòng sản phẩm chống mưa acid (acid hóa quả non). Kết hợp sử dụng Nano Canxi từ thời kỳ cây phát triển nụ đến hoa nở rộ (chủ động làm tăng tính bền vững của cuống hoa, cuống quả, chống rụng quả sinh lý ngay từ giai đoạn đầu). 2.4 Chăm sóc bưởi Diễn thời kỳ ra hoa, đậu quả Yêu cầu kỹ thuật thời kỳ hoa rộ: Ra hoa tập trung, hoa to khỏe, không cần quá sai, không bị thối nhũn hoa, không bị dính cánh hoa. Hoa bị thâm đen, thối hỏng sẽ rụng hoàn toàn sau một vài ngày. Thời kỳ này cần quản lý sâu bệnh chủ động, phòng là chính, không để sâu bệnh phát triển mạnh. Yêu cầu kỹ thuật thời kỳ đậu quả: Tỷ lệ thụ phấn, thụ tinh cao, quả đều, không cần sai quả, quả nhẵn bóng, có màu xanh tự nhiên (như trên hình). CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CHĂM SÓC: Thứ nhất: Thời kỳ ngủ nghỉ, ủ mầm hoa: phòng trừ chủ động sâu bệnh, đặc biệt là nhện đỏ, rệp sáp, rệp muội và các nhóm côn trùng trích hút khác, thời kỳ này không bổ sung dinh dưỡng qua lá. Thứ hai: Thời kỳ phân hóa mầm hoa đến phát triển nụ + Dùng 3-5ml chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái. + Dùng 30-50ml AKH SUPER500T + 30-50ml Chế phẩm Nano BẠC – ĐỒNG 1000ppm kết hợp với 20-30ml Nano Oxyclorua đồng 10.000ppm + Dùng 5-10 ml SHELLAC SUGER 1500 – 1800 (bổ sung nano canxi và nano kẽm dễ hấp thu, giúp cuống hoa dai và bền vững hơn). Hỗn hợp các chế phẩm trên pha với bình 15-20 lít phun dạng sương mù, phun lướt, đều 2 mặt lá. Phun định kỳ 7 ngày/lần cho đến khi nụ phát triển hoàn toàn(nụ màu trắng, chuẩn bị nở hoa). Tác dụng: Thúc đẩy mầm hoa phát triển to khỏe, ngăn chặn từ xa các yếu tố hình thành tầng rời, tăng sức đề kháng cho cây, phòng trị nấm khuẩn phát triển ngay từ giai đoạn khởi phát. Lưu ý kết hợp phòng trừ nhện, rệp… Thứ ba: Thời kỳ hoa nở rộ Thời kỳ này dài hay ngắn phụ thuộc thời tiết và kỹ thuật chăm sóc trước đó, hoa nở càng tập trung, tỷ lệ đậu quả càng cao, khả năng giữ quả rất tốt. Yêu cầu kỹ thuật của thời kỳ này là phòng trị nấm khuẩn gây bệnh thối nhũn, thúc đẩy quang hợp, bổ sung trung lượng, vi lượng dễ hấp thu, tiếp tục ngăn chặn hình thành tầng rời, chống rụng hoa sinh lý. Chú ý phòng trừ nhện đỏ, rệp muội, rệp sáp… Sử dụng phun hỗn hợp các chế phẩm sau đây: + Dùng 50ml AKH SUPER500T + 50-100ml Chế phẩm Nano BẠC – ĐỒNG 1000ppm kết hợp với 30-50ml Nano Oxyclorua đồng 10.000ppm + Dùng 10 ml SHELLAC SUGER 1500 – 1800 (bổ sung nano canxi và nano kẽm dễ hấp thu, giúp cuống hoa dai và bền vững hơn). + Dùng 20-30ml Nano Canxi cacbonate 15.000ppm(chống acid hóa cuống hoa, tăng cường hấp thu CO2 cho cây để quang hợp xảy ra với hiệu suất cao nhất). + Dùng 20ml Kani nitrat chelate, Silic nano (ức chế quá trình rụng quả, hạn chế nấm phát triển) Hỗn hợp trên pha với bình 15-20 lít, phun dạng mù như các thời kỳ trước(phun 1 lần) Lưu ý: nếu không mưa có thể áp dụng phun 1 lần, tuy nhiên nếu mưa ẩm kéo dài trên 3 ngày thì khẩn trương phun Nano canxi cacbonate chống acid hóa cuống hoa(3 ngày/lần). Thứ tư: Thời kỳ rụng cánh hoa(đạt 30-50% trở lên): Sử dụng phun hỗn hợp các chế phẩm sau đây: + Dùng 1000ml Nano h��p kim Bạc – Đồng kết hợp 1000ml Nano Oxyclorua đồng pha với 50-100lít nước phun ẩm đều lên quả non. + Dùng 10-20 ml SHELLAC SUGER 1500 – 1800 pha với 15 lít nước (bổ sung nano canxi và nano kẽm dễ hấp thu, giúp cuống hoa dai và bền vững hơn) + Dùng 20-30ml Nano Canxi cacbonate (chống acid hóa, tăng cường hấp thu CO2 cho cây để quang hợp xảy ra với hiệu suất cao nhất, hạn chế đứng quả, chậm phát triển quả). Cần lưu ý khi bưởi trong thời kỳ ra hoa, đậu quả non(vừa rụng cánh hoa) không nên bón thúc phân bón hóa học dễ tan qua rễ, nếu bón thời kỳ này quả non mới đậu rất dễ bị rụng (đẩy quả), khó kiểm soát. Khi quả phát triển ổn định mới bón phân qua rễ, bổ sung dinh dưỡng cho cây một cách từ từ, tránh sốc dinh dưỡng gây rụng quả non. Thứ năm: Thời kỳ phát triển quả – quả có kích thước bằng hạt đậu tương trở đi + Bón bổ sung qua lá: Dùng chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái (5ml pha với 15 lít nước) kết hợp với Shellac suger 1900, Nano Bạc Đồng 1000ppm. Phun định kỳ 10-15 ngày một lần cho đến khi quả phát triển ổn định. + Bổ sung dinh dưỡng qua rễ: Dùng đậu tương nghiền nhỏ kết hợp với lân đơn (bón nhẹ), nếu cây phát triển kém bổ sung thêm NPK 16-16-8-13S(bón nhẹ, chia làm 2 lần). Lượng sử dụng để bón bổ sung qua rễ phụ thuộc vào tuổi cây và năng suất thực thu vụ trước, sức sinh trưởng của cây ở thời điểm hiện tại. Đậu tương có thể bón vào tháng 2-3 và 5-6 âm lịch(Lưu ý: cân nhắc khi sử dụng phân NPK tổng hợp). Cách bón qua rễ: Rắc trải đều lên bề mặt tính từ hình chiếu tán của cây trở vào phía gốc, cách gốc một khoảng rộng tùy tuổi cây (không bón ngay sát gốc). 3-Thúc lộc phát triển và nuôi Lộc thành cành mẹ (mang quả cho năm sau) Để hạn chế hiện tượng bưởi Diễn ra quả cách năm, bà con cần thúc một đợt lộc hè và lộc thu nuôi chúng thành thục thành cành mẹ để cho quả vào vụ kế tiếp. Những cành mang quả của năm nay thường khó có thể ra tiếp quả và nuôi quả ở vụ tiếp theo. Do vậy cần chuẩn bị cho cây những cành mẹ đủ tiêu chuẩn để năm sau không bị mất mùa. Thời điểm thúc lộc: khi quả bắt đầu vào nước, tháng 5-6 âm lịch. Khi quả đã “vào nước” thì sự phát triển lộc hè sẽ gần như không ảnh hưởng nhiều đến quá trình phát triển quả (ít xảy ra hiện tượng rụng quả như thời kỳ quả non) nếu cây không bị sâu bệnh và không thiếu dinh dưỡng cục bộ. Để thúc lộc chúng ta cần làm đồng thời các công việc sau: + Làm sạch cỏ dại xung quanh gốc, nếu bề mặt đất bị dí chặt dùng dụng cụ chuyên dùng xới nhẹ bề mặt, làm tăng khả năng trao đổi khí của bộ rễ, tạo thông thoáng, hạn chế mất dinh dưỡng khi bón phân qua gốc. Lưu ý không được làm đứt nhiều rễ. + Bón phân hữu cơ hoai mục kết hợp với NPK tổng hợp (bón trên bề mặt hoặc xẻ thành rãnh để bón). Bón nhẹ chia làm 2 lần (vào tháng 5-6 và 7-8 âm lịch). Lượng phân bón ít hay nhiều phụ thuộc vào tuổi của cây và sức sinh trưởng của cây. + Dùng chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái phun qua lá: 5ml pha với 10-15 lít nước phun đều hai mặt lá, mỗi đợt lộc(hè/thu) phun 2-3 lần, mỗi lần cách nhau 7-10 ngày. Chế phẩm Vườn Sinh Thái bổ sung dinh dưỡng qua lá, thúc mầm lộc phát triển tập trung ngay từ giai đoạn đầu. + Sau khi phun chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái 2-3 ngày dùng Shellac suger 1900-2000HA phun đều 2 mặt lá kết hợp phun đậm xung quanh gốc: mỗi đợt lộc phun 1-2 lần, làm tăng khả năng quang hợp của bộ lá, tăng khả năng vận chuyển dinh dưỡng về quả để nuôi quả phát triển cân đối. + Chủ động phòng trừ sâu bệnh theo quá trình phát triển của các đợt lộc (ngay từ khi lộc non mới xuất hiện). Kết thúc lộc Thu tuyệt đối không cung cấp dinh dưỡng đa lượng cho cây đặc biệt là đạm, mà thời kỳ này cần theo dõi vườn bưởi để chủ động phòng hiện tượng sinh trưởng Lộc Đông quá mạnh (kìm hãm lộc Đông phát triển), cho các cành mẹ bước vào ngủ nghỉ để chuẩn bị cho quá trình phân hóa mầm hoa ở vụ tiếp theo sau khi đã thu hoạch quả. Chế phẩm nano bạc đồng plus và nano đồng oxyclorua chuyên dùng đặc trị bệnh loét cam, ghẻ sẹo, xì gôm chảy nhựa mủ, bệnh Greening, bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi Chúc bà con thành công !

Nguồn: Nanobacsuper

Quy Trình Quản Lý Cây Trồng Tổng Hợp Trên Cây Bưởi Diễn

Quy trình quản lý cây trồng tổng hợp trên cây bưởi Diễn

Năm: 2011

Mã: FV-QU-HD-1210-10-VVH

1. Giới thiệu chung

  Giống có nguồn gốc từ bưởi Đoan Hùng, được đưa về trồng đầu tiên tại xã Phú Diễn – huyện Từ Liêm – TP Hà Nội. Giống có quả tròn, vỏ quả nhẵn, khi chín màu vàng cam; khối lượng trung bình từ 0,8 – 1kg; tỷ lệ phần ăn được từ 55 – 60%; số hạt trung bình khoảng 50 – 70 hạt; múi và vách múi dễ tách rời nhau. Thịt quả màu vàng xanh, ăn giòn, ngọt, độ brix 12 -14 %. Với vườn cây từ 7 tuổi trở nên, năng suất đạt từ 25 – 28 tấn/ha trong điều kiện chăm sóc trung bình. Thời gian thu hoạch muộn hơn bưởi Đoan Hùng, thường trước tết nguyên đán khoảng 15 – 20 ngày. Hiện tại, cây bưởi Diễn được trồng ở khá nhiều vùng sinh thái khác nhau như: Hà Tây, Hưng Yên, Bắc Giang và ngày càng khẳng định tính ưu việt của giống so với các giống bản địa.

2. Một số yêu cầu ngoại cảnh

* Yêu cầu về nhiệt độ

Nhiệt độ bình quân năm thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây bưởi là 12 – 390C. Nhiệt độ thấp nhất gây chết là – 8 đến – 110C, bưởi có thể chống chịu được khi nhiệt độ lên đến 480C. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng của bưởi là 23 – 290C. Những vùng có nhiệt độ bình quân năm trên 200C và tổng tích ôn từ 2.500 – 3.5000C đều có thể trồng được bưởi. 

Với yêu cầu như trên, điều kiện nhiệt độ tại Vân Đồn nằm trong ngưỡng thích hợp cho phát triển bưởi.

* Yêu cầu về nước và chế độ ẩm

Lượng mưa trung bình năm thích hợp cho trồng bưởi là 1.250 – 1.850 mm. Bưởi yêu cầu lượng mưa phân bố đều trong năm hơn lượng mưa lớn nhưng tập trung vào một số ít tháng. Bưởi cần nhiều nước ở thời kỳ bật mầm, phân hoá mầm hoa, ra hoa và  quả phát triển.  Bưởi không chịu được úng, ẩm độ đất thích hợp là 70 – 80%.

* Yêu cầu về đất đai

Vùng trồng bưởi phải đất phải có tầng canh tác dày ít nhất 0,6 – 1m; thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, đất tơi xốp, thông thoáng và thoát nước tốt. Đất phải giầu mùn, hàm lượng các chất dinh dưỡng phải đạt mức trung bình trở lên (hàm lượng mùn từ 2 – 3%; N tổng số: 0,1 – 0,15%; P2O5 dễ tiêu từ 5 – 7mg/100g; K2O dễ tiêu từ 7 – 10mg/100g; Ca, Mg: 3 – 4mg/100g).

pH KCl đất thích hợp nhất cho cây trồng bưởi là từ  5,5 – 6,0 song cũng có thể trồng được bưởi khi pH KCl từ 4,0 – 8,5 nhưng phải có biện pháp cải tạo đất.

* Yêu cầu về ánh sáng

Cường độ ánh sáng thích hợp cho trồng bưởi là 10.000 – 15.000 Lux (tương ứng với ánh sáng lúc 8 giờ sáng và 16 giờ chiều). Cần bố trí mật độ trồng dày hợp lý có được ánh sáng tán xạ, tránh được giám quả.

* Yêu cầu về các yếu tố khác

Vùng trồng bưởi thích hợp cần tránh những vùng có độ dốc lớn (trên 150), đất nhiễm phèn, mặn, những vùng có sương muối, gió bão… gây hại.

3. Kỹ thuật trồng

a) Tiêu chuẩn giống trồng

Cây giống phải được nhân từ cây mẹ đầu dòng tuyển chọn và phải đạt tiêu chuẩn ngành 10 TCN – 2001, cụ thể: cây giống sản xuất bằng phương pháp ghép phải được tạo hình cơ bản trong vườn ươm, có ít nhất 2 cành cấp 1 và không nhiều quá 3 cành. Đường kính cành ghép cách điểm ghép đạt từ 0,5 – 0,7 cm; dài từ 50 cm trở lên; có bộ lá xanh tốt, không sâu, bệnh.

b) Chọn đất trồng và chuẩn bị đất trồng 

* Chọn đất: có tầng dầy từ 1 m trở lên, kết cấu xốp để giữ mầu, và thoát nước tốt, giàu mùn. Độ dốc của đất từ 3 – 200 (tốt nhất là 3 – 80 ).   

* Chuẩn bị đất trồng

Bao gồm: phát quang, san mặt bằng; thiết kế vườn trồng; đào hố; bón phân lót và lấp hố; các công việc khác như làm đường, mương rãnh tưới tiêu nước,…

   - Phát quang và san ủi mặt bằng

Đối với những đồi rừng chuyển sang trồng cây ăn quả nói chung và trồng bưởi Diễn đều phải phát quang, thậm chí phải đánh bỏ toàn bộ rễ cây rừng và san ủi tạo mặt phẳng tương đối để cho việc thiết kế vườn được dễ dàng. Trừ những nơi đất quá dốc ( từ khoảng 100 trở lên ) sẽ áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, nghĩa là chỉ phát quang, dãy cỏ, san lấp những chỗ quá gồ ghề sau đó thiết kế và đào hố trồng cây, còn ở những nơi đất không quá dốc hoặc bằng, sau khi phát quang, san ủi sơ bộ có thể dùng cày máy hoặc cày trâu cày bừa một lượt để vừa sạch cỏ vừa tạo cho bề mặt vườn tơi xốp ngăn được sự bốc hơi nước của vườn sau khi bị phát quang.

Đối với các loại đất chuyển đổi khác sang trồng bưởi Diễn cũng cần phải dọn sạch  và tạo lại mặt bằng trước khi thiết kế.

   - Thiết kế vườn trồng

+ Tuỳ theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn trồng một cách phù hợp. Đối với đất bằng hoặc có độ dốc từ 3 – 50 nên bố trí cây theo kiểu hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tam giác (kiểu nanh sấu). Đất có độ dốc từ 5 – 100 phải trồng cây theo đường đồng mức, khoảng cách của hàng cây là khoảng cách của đường đồng mức. Ở độ dốc 8 – 100  nên thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang đơn giản, dưới 80 có thể áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, trên 100 phải thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang kiên cố.

+ Đối với vườn diện tích nhỏ dưới 1ha không cần phải thiết kế đường giao thông, song với diện tích lớn hơn thậm chí tới 5 – 10 ha cần phải phân thành từng lô nhỏ có diện tích từ 0,5 đến 1ha/lô và có đường giao thông rộng để có thể vận chuyển vật tư phân bón và sản phẩm thu hoạch bằng xe cơ giới, đặc biệt đối với đất dốc cần phải bố trí đường lên, xuống và đường liên đồi. Độ dốc của đường lên đồi không quá 100.

+ Bố trí mật độ, khoảng cách

Mật độ trồng phụ thuộc vào và khả năng đầu tư thâm canh. Thông thường đối với bưởi Diễn trồng với khoảng cách 5 m  4 m (tương ứng với 500 cây/ ha).  Đối với những vùng đất tốt hoặc có điều kiện đầu tư thâm canh và áp dụng các biện pháp đốn tỉa hàng năm có thể bố trí mật độ dày hơn (600 cây/ha). 

Ở những vùng đất dốc, hàng cây được bố trí theo đường đồng mức và khoảng cách giữa 2 đường đồng mức là khoảng cách giữa 2 hình chiếu của cây. Khoảng cách cây được xác định như nhau trên cùng một đường đồng mức, đường đồng mức dài hơn thì có số cây nhiều hơn.

     - Đào hố trồng và bón lót 

+ Kích thước hố rộng  0,8 – 1 m sâu 0,8 – 1 m. Đất xấu cần đào rộng hơn.

+ Bón phân lót cho 1 hố: 

Bót lót cho mỗi hố 30 – 50 kg phân chuồng hoai (hoặc 5 – 7 kg phân vi sinh) + 1 kg supelân + bón vôi đủ điều chỉnh pH đất về ngưỡng thích hợp (từ 6 – 6,5). Toàn bộ lượng phân lót trên được trộn đều với tầng đất mặt và lấp hố. Lượng đất lấp hố cao hơn bề mặt hố từ 7 – 10 cm, dùng cọc thiết kế vườn đánh dấu tâm hố. Hố cần phải chuẩn bị trước khi trồng ít nhất 1 tháng.

c) Trồng cây 

* Thời vụ trồng và cách trồng

– Trong điều kiện sinh thái huyện Vân Đồn thời vụ trồng tốt nhất vào tháng 2, 3 (có thể trồng vào tháng 8,9). 

   - Cách trồng: Đào 1 hố nhỏ chính giữa hố trồng, đặt cây vào hố lấp đất vừa bằng cổ rễ hoặc cao hơn 2- 3 cm. Không được lấp quá sâu, trồng xong phải tưới ngay và dùng cỏ mục ủ gốc (lưu ý phải cách gốc từ 10- 15 cm để tránh sâu bệnh xâm nhập).

* Chăm sóc sau khi trồng 

        – Tưới nước

Thường xuyên giữ ẩm trong vòng 20 ngày đến 1 tháng để cây hoàn toàn bén rễ và phục hồi. Sau đó tuỳ thời tiết nắng mưa để chống hạn hoặc chống úng cho cây. Trước khi thu hoạch 1 tháng ngừng tưới nước.

Về lượng nước tưới và số lần tưới phải dựa vào khả năng giữ nước của đất, lượng bốc hơi và lượng mưa để quyết định, phương pháp tưới có thể là tưới bề mặt hoặc tưới nhỏ giọt,… mỗi lần bón phân cần phải tưới nước để phân có thể hoà tan tạo điều kiện cho cây hấp thụ tốt hơn.

       - Cắt tỉa tạo hình

+ Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ chưa mang quả: Việc cắt tỉa được tiến hành ngay từ khi trồng. Để có được dạng hình hợp lý (hình bán cầu), cần thực hiện theo các bước sau: 

Tạo cành cấp 1: Khi cây con đạt chiều cao 45 – 50 cm, cần bấm ngọn để tạo cành cấp 1. Chỉ để lại 3 – 4 cành cấp 1 phân bố tương đối đều về các hướng. Các cành cấp 1 này thường chọn  cành khoẻ, ít cong queo, cách nhau 7 – 10 cm trên thân chính và tạo với thân chính một góc xấp xỉ 450 – 600 để khung tán đều và thoáng.

Tạo cành cấp 2: Khi cành cấp 1 dài 25 – 30 cm, ta bấm ngọn để tạo cành cấp 2. Thông thường trên cành cấp 1 chỉ giữ lại 3 cành cấp 2 phân bố hợp lý về góc độ và hướng.

Tạo cành cấp 3: Cành cấp 3 là những cành tạo quả và mang quả cho những năm sau. Các cành này phải khống chế để chúng không giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác nhau giúp cây quang hợp được tốt.

       +  Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ mang quả 

       Cắt tỉa sau thu hoạch: Được tiến hành sau khi thu hoạch quả. Cắt tỉa tất cả các cành sâu bệnh, cành chết, cành vượt, những cành quá dày, cắt tỉa bớt cành cấp 1(nếu số cành cấp 1/cây quá dày) sao cho cây có bộ khung tán cân đối. Đối với cành thu, cắt bỏ những cành yếu, mọc quá dày. 

       Cắt tỉa vụ xuân: Được tiến hành vào giữa tháng 1 đến giữa tháng 3 hàng năm: Cắt bỏ những cành xuân chất lượng kém, cành sâu bệnh, cành mọc lộn xộn trong tán, những chùm hoa nhỏ, dầy, dị hình.

       Cắt tỉa vụ hè: được tiến hành từ tháng 4 đến hết tháng 6: Cắt bỏ những cành hè mọc quá dày hoặc yếu, cành sâu bệnh, tỉa bỏ những quả nhỏ, dị hình.

     - Bón phân

Bón phân cho bưởi Diễn tuỳ thuộc vào tuổi cây và sản lượng hàng năm, nền đất cụ thể. Cây từ 1- 3 năm sau khi trồng (cây chưa có quả – giai đoạn kiến thiết cơ bản). Mỗi năm bón 4 lần vào tháng 2, tháng 5 tháng 8 và tháng 11. Lượng phân bón ở mỗi lần như sau:

+ Đợt bón tháng 2: Bón 100% phân hữu cơ + 40% đạm + 40% kali 

+ Đợt bón tháng 5: 30% đạm + 30% kali

+ Đợt bón tháng 8: 30% đạm + 30% kali

+  Đợt bón tháng 11: 100% lân + 100% vôi

Lượng bón mỗi cây:

Năm trồng

Phân hữu cơ (kg)

Đạm urê (gam/cây)

Lân supe (gam)

Kaliclo rua (gam)

Vôi bột (kg)

Năm thứ 1

30

300

500

110

1

Năm thứ 2

30

500

800

330

1

Năm thứ 3

50

860

1.200

460

1

Trong thời kỳ cho quả, lượng phân bón được thiết lập dựa trên năng suất của vụ trước. Có thể tham khảo bảng hướng dẫn sau:

Năng suất thu  hoạch vụ trước

Lượng bón

Phân hữu cơ (kg/cây)

Đạm Urê (g/cây)

Lân Supe       (g/cây)

Kaliclorua (g/cây)

20 kg/năm

30

650

830

410

40 kg/năm

1.100

1.400

680

60 kg/năm

50

1.300

1.700

820

100 kg/năm

1.750

2.250

1.090

120 kg/năm

70

2.200

2.800

1.360

Thời vụ bón: Toàn bộ lượng phân được chia làm 3 lần bón trong năm.

Lần 1: Bón  thúc hoa: (tháng 2): 40% đạm urê + 30%  kaliclorua

Lần 2: Bón thúc quả: (tháng 4 – 5): 20%  đạm urê + 30% kaliclorua

Lần 3: Bón sau thu hoạch: (tháng 11 – 12): 100% phân hữu cơ  + 100% phân lân + 40%  đạm urê, 40%  kaliclorua.

Cách bón:

Bón phân hữu cơ: đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng  30 – 40 cm, sâu 20 – 25 cm, rải phân, lấp đất và tưới nước giữ ẩm. Hoặc có thể đào 3 rãnh  theo hình vành khăn xung quanh tán để bón, năm sau bón tiếp phần còn lại.

Bón phân vô cơ: khi đất ẩm chỉ cần rải phân lên mặt đất theo hình chiếu của tán cách xa gốc 20 – 30 cm, sau đó tưới nước để hoà tan phân. Khi trời khô hạn cần hoà tan phân trong nước để tưới hoặc rải phân theo hình chiếu của tán, xới nhẹ đất và tưới nước.

4. Một số biện pháp chăm sóc khác

* Biện pháp kích thích ra hoa

Khoanh vỏ: vào cuối tháng 11, đầu tháng 12, khi lá đã thành thục, chọn những cây sinh trưởng khoẻ, lá xanh đen tiến hành khoanh vỏ. Khoanh toàn bộ số cành cấp 1. Phương pháp là dùng dao sắc khoanh bỏ hết lớp vỏ đến phần gỗ với chiều rộng vết khoanh 0,2 – 0,3 cm theo hình xoắn ốc 1,5 – 2 vòng, tuyệt đối không dùng liềm, cưa. Xử lý thuốc trừ nấm bệnh cho vết khoanh.

* Biện pháp tăng khả năng đậu quả

+ Trước khi nở hoa: dùng các loại phân bón lá: Atonic, Mastrer – Grow, kích phát tố thiên nông (theo chỉ dẫn trên bao bì) phun 2 lần, lần 1 khi mới xuất hiện nụ, lần 2 cách lần 1 là 15 ngày.

+ Sau khi đậu quả: khi quả non có đường kính 1 – 2 cm, phun Atonic, Mastrer – Grow, kích phát tố thiên nông 2 – 3 lần với nồng  chỉ dẫn, các lần phun cách nhau 10 – 15 ngày. 

5. Một số loại sâu bệnh hại chính 

Trong điều kiện cụ thể tại Đầm Hà, cần lưu ý phòng trừ các đối tượng sâu bệnh hại sau:

* Sâu hại Bưởi

• Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citriella):

– Đặc điểm gây hại: 

Phá hoại ở thời kỳ vườn ươm và cây nhỏ 3 – 4 năm đầu mới trồng. Trên cây tập trung phá hoại thời kỳ lộc non, nhất là lộc xuân. Trưởng thành đẻ trứng vào búp lá non, sâu non nở ra ăn lớp biều bì lá, tạo thành  đường ngoằn ngèo, có phủ sáp trắng, lá xoăn lại, cuối đường cong vẽ trên mặt lá có sâu non bằng đầu kim. Sâu phá hoại mạnh ở tất cả các tháng trong năm (mạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 10).

– Phòng trừ: Phun thuốc diệt sâu 1 – 2 lần cho mỗi đợt lộc non bằng: Decis 2,5EC 0,1 – 0,15%; Trebon 0,1 – 0,15%; Polytrin 50EC 0,1 – 0,2%.

• Sâu đục thân (Chelidonium argentatum), đục cành (Nadezhdiella cantori):

– Đặc điểm gây hại:

Con trưởng thành đẻ trứng vào các kẽ nứt trên thân, cành chính. Sâu non nở ra đục vào phần gỗ tạo ra các lỗ đục, trên vết đục xuất hiện lớp phân mùn cưa đùn ra.

– Phòng trừ:

+ Bắt diệt trưởng thành (Xén tóc)

+ Phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non 

+ Sau thu hoạch (tháng 11 – 12)  quét vôi vào gốc cây để diệt trứng

+ Phun các loại thuốc xông hơi như Ofatox 400 EC 0,1%; Supracide 40ND 0,2% sau sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu.

• Nhện hại:

– Đặc điểm gây hại:

+ Nhện đỏ (Panonychus citri): Phát sinh quanh năm hại lá là chính, chủ yếu vào vụ đông xuân. Nhện đỏ rất nhỏ, màu đỏ thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo đi. Trên lá nơi nhện tụ tập thường nhìn trên mặt lá thấy những vùng tròn  lá bị bạc hơn so với chỗ lá không có nhện và hơi phồng lên nhăn nheo. 

+ Nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus): Phát sinh chủ yếu ở trong những thời kỳ khô hạn kéo dài và ít ánh sáng (trời âm u hoặc cây bị che bóng bởi các cây khác). Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu vàng sáng ở dưới mặt lá.

– Phòng trừ: Để chống nhện (nhện đỏ và nhện trắng) dùng thuốc Comite, Ortus 50EC, Pegasus 250 pha nồng độ 0,1 – 0,2% phun ướt cả mặt dưới lá và phun lúc cây đang ra lộc non để phòng. Nếu đã bị nhện phá hại phải phun kép 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày bằng những  thuốc trên hoặc phố trộn 2 loại với nhau hoặc với dầu khoáng trừ sâu.

• Rệp hại: Chủ yếu hại trên các lá non, cành non, lá bị xoắn rộp lên, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen.

– Đặc điểm gây hại: 

+ Rệp cam: Chủ yếu gây hại trên các cành non, lá non. Lá bị xoăn, rộp lên. Rệp tiết ra chất nhờn (gọi là sương mật) hấp dẫn kiến và nấm muội đen.

+ Rệp sáp (Planococcus citri): Trên mình phủ 1 lớp  bông hoặc sáp màu trắng, hình gậy, hình vảy ốc, có thể màu hồng hoặc màu xám nâu. Những  vườn cam hoặc cây cam ở gần ruộng mía thường hay bị từ mía lan sang.

– Phòng trừ: Dùng Sherpa 25EC hoặc Trebon pha với nồng độ 0,1 – 0,2%  phun 1 – 2 lần ở thời kì lá non. Khi xuất hiện rệp, muốn trị có hiệu quả cần pha thêm vào thuốc 1 ít xà phòng để có tác dụng phá lớp sáp phủ trên người rệp làm cho thuốc dễ thấm.

* Bệnh hại bưởi

• Bệnh loét (Xanthomonas campestris)

Đặc điểm gây hại: Bệnh gây hại ở thời kì vườn ươm và cây mới trồng 1 – 3 năm, ở thời kỳ cây cho thu hoạch bệnh gây hại cả trên lá bánh tẻ, cành, quả non. Trên lá thấy xuất hiện các vết bệnh không định hình, mới mầu xanh vàng, sau chuyển thành màu nâu xung quanh có quầng vàng. Gặp điều kiện ẩm ướt gây thối rụng lá, gặp điều kiện khô gây khô giòn vết bệnh làm giảm quang hợp. Gây hại nặng trong điều kiện nóng, ẩm (vụ xuân hè).

• Bệnh sẹo (Ensinoe fawcetti Bit. et Jenk)

Triệu chứng gây hại: Vết bệnh thường có mầu nâu nhạt nhô lên khỏi bề mặt lá. Có thể lốm đốm hoặc dày đặc trên mặt lá, hình tròn, bề mặt vết bệnh sần sùi, gồ ghề. Nếu bệnh xuất hiện trên cành sẽ nhìn thấy các đám sần sùi giống như ghẻ lở, màu vàng hoặc nâu. Cành bị nhiều vết bệnh sẽ khô và chết. Bệnh đặc biệt gây hại nặng trong điều kiện nống và ẩm ( vụ xuân hè).

– Phòng trừ:

+ Cắt bỏ lá bệnh, thu gom đem tiêu huỷ

+ Phun thuốc: Boocđo 1 – 2% hoặc thuốc Kasuran 0,2%.

– Cách pha thuốc boocđô (pha cho 1bình 10 lít):

+ Dùng 0,1 kg Sunfat đồng + 0,2 kg vôi đã tôi (nồng độ 1/100), nếu nồng độ 2% thì lượng sunfat đồng và vôi tăng gấp đôi.

+ Lấy 7 lít nước pha với đồng sunfat, 3 lít còn lại pha với vôi, lọc bỏ cặn bã, sau đó lấy dung dịch đồng loãng đổ vào nước vôi đặc vừa đổ vừa quấy cho tan đều sẽ được dung dịch boocđô.

• Bệnh chảy gôm (Phytophthora citriphora):

– Đặc điểm gây hại:

Bệnh thường phát sinh ở phần sát gốc cây cách mặt đất khoảng 20 – 30 cm trở xuống cổ rễ và rễ.

Giai đoạn đầu bệnh mới phát sinh thường vỏ cây bị những vết nứt và chảy nhựa (gôm). Bóc lớp vỏ ra, ở phần gỗ bị hại có màu xám và nhìn thấy những mạch sợi đen hoặc nâu chạy dọc theo thớ gỗ.

Bệnh nặng lớp vỏ bị hại thối rữa (giống như bị dội nước sôi) và tuột khỏi thân cây, phần gỗ bên trong có màu đen xám. Nếu tất cả xung quanh phần cổ rễ bị hại, cây có thể bị chết ngay, còn bị một phần thì cây bị vàng úa, sinh trưởng kém, bới sâu xuống đất có thể thấy nhiều rẽ cũng bị thối.

– Phòng trừ:

Đẽo sạch lớp vỏ và phần gỗ bị bệnh, dùng Boocđô 2% phun trên cây và quét trực tiếp vào chỗ bị hại, nếu bệnh đã lan xuống rễ phải đào chặt bỏ những rễ bị bệnh rồi xử lý bằng boocđô.

Có thể dùng các loại thuốc khác như Aliette 80NP, Benlat C nồng độ 0,2 – 0,3% để phun và xử lý vết bệnh.

• Bệnh Greening:

– Đặc điểm gây hại: Cây có múi nói chung và bưởi nói riêng có thể nhiễm bệnh Greening vào bất kỳ giai đoạn nào từ  thời kỳ vườn ươm tới khi cây 10 năm tuổi. Tuy nhiên, bưởi ít nhiễm bệnh Greening hơn các giống cam quýt khác. Triệu chứng cho thấy: trước khi những lá non trở thành mầu xanh thì trở nên vàng, cứng lại và mất mầu. Mô giữa các gân lá chuyển xanh vàng hoặc hơi vàng và có đường vân. Đầu tiên các đọt và lá non bị bệnh sâu đó có thể biểu hiện trên cả tán. Cùng thời gian đó  lá xanh và lá già chuyển xang mầu vàng từ sống lá và gân lá. Các lá bị nhiễm bệnh có thể  bị rụng sớm, trong một vài tháng hoặc và năm tất cả các cành cây bị khô đi và tàn lụi.

– Phòng trừ:

+ Sử dụng cây giống sạch bệnh

+ Trồng sen ổi để xua đuổi rày chổng cánh.

+ Phun thuốc phòng trừ môi giới truyền bệnh (Rầy chổng cánh)

+ Cắt bỏ tất cả các cành bị bệnh đem đốt

+ Bón phân cân đối tăng sức đề kháng và chống chịu của cây

• Các bệnh do virus và viroid: Trên bưởi còn 2 loại bệnh khá nguy hiểm gây hại: bệnh vàng lá (do virus Tristeza gây hạ) và bệnh Exocortis (do viroids gây hại). Các bệnh này không chữa trị được bằng các loại thuốc hoá học như trên mà phải phòng trị bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, bắt đầu từ khâu nhân giống sạch bệnh tới các kỹ thuật canh tác, vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ môi giới truyền bệnh vv…

6. Thu hoạch và bảo quản

– Thời điểm thu hoạch: Thu hoạch khi vỏ quả chuyển từ màu xanh chuyển xang mầu vàng; 

– Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh khi thu hái: Thu hoạch quả vào những ngày trời tạnh ráo, thu hoạch vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát, tránh thu hoạch vào giữa trưa hoặc trời quá nóng. 

– Kỹ thuật thu hái: Cần phải có thang chuyên sử dụng cho thu hoạch quả và sử dụng kéo để cắt chùm quả sau đó lau sạch, phân loại, cho vào thùng hoặc sọt tre có lót giấy hoặc xốp, để nơi thoáng mát và đem đi tiêu thụ.

Quy Trình Kĩ Thuật Chăm Sóc Cây Bưởi Diễn Đạt Hiệu Quả Cao – Agriculture

1.1 Khoanh vỏ cây (tiện vỏ cây)

1.1.1 Mục đích, yêu cầu

+ Làm đứt phần vỏ (libe) của cây, ngăn chặn “tạm thời” khả năng vận chuyển dinh dưỡng từ bộ rễ lên các bộ phận trên mặt đất qua đó hạn chế quá trình phát sinh, phát triển lộc Đông.

+ Đưa cây vào trạng thái ngủ nghỉ, chuẩn bị bước sang thời kỳ phân hóa mầm hoa.

+ Làm tăng chất lượng quả (quả ngọt hơn) nếu xử lý đúng thời điểm (trước thu hoạch 10-15 ngày). (*)

1.1.2 Thời điểm khoanh vỏ

Việc khoanh vỏ trên bưởi là một biện pháp “bất khả kháng”. Tuy nhiên nếu không khoanh vỏ thì khả năng phát sinh mầm lộc đông rất cao, khó đưa cây vào trạng thái ngủ nghỉ. Những năm rét đến sớm (nhiệt độ đủ thấp), mưa kết thúc sớm (điều kiện hanh khô) là điều kiện thuận lợi cho cây bước vào thời kỳ ngủ nghỉ, hạn chế sinh trưởng sinh dưỡng.

Thông thường khi cây có múi nói chung đã qua thời kỳ ngủ nghỉ thì khả năng phân hóa mầm hoa đồng đều, tập trung là rất cao. Do đó tùy vào điều kiện thời tiết và tình trạng sinh trưởng của cây (xét tại thời điểm trước thu hoạch 15-20 ngày và ngay sau khi thu hoạch) để chúng ta có quyết định khoanh vỏ hay không. Khoanh vỏ đôi khi ảnh hưởng đến sức sinh trưởng và sức bền của cây, ảnh hưởng đến khả năng giữ quả non ở đầu vụ.

Thực tế cho thấy với những năm rét đến sớm, ít mưa (mưa kết thúc sớm) thì hầu như không cần tác động biện pháp khoanh vỏ cây mà chỉ cần cải tạo đất xung quanh vùng rễ cây sinh trưởng (cuốc xới làm đứt một phần rễ non xung quanh hình chiếu tán của cây).

Bởi chính điều kiện  thời tiết (nhiệt độ thấp) sẽ làm cây sinh trưởng phát triển chậm lại, nói cách khác là điều kiện tự nhiên (nhiệt độ thấp, ẩm không khí thấp, khô hanh) sẽ đưa cây vào trạng thái tạm ngừng sinh trưởng một thời gian ngắn (ức chế sinh trưởng sinh dưỡng, chuẩn bị chuyển sang sinh trưởng sinh thực) lúc này các chất dinh dưỡng từ đất (qua bộ rễ) sẽ hạn chế đưa lên các bộ phận trên mặt đất (thân, lá) do đó làm giảm khả năng phát sinh, phát triển lộc Đông, đưa cây vào trạng thái “ngủ nghỉ”.

Muốn bưởi Diễn ra hoa đồng đều, tập trung, tỷ lệ đậu quả cao thì cần phải tạo cho cây có một khoảng thời gian nhất định để “ngủ nghỉ đông” do vậy không nên thu hoạch quá muộn vừa ảnh hưởng đến chất lượng quả, vừa ảnh hưởng đến khả năng phân hóa mầm hoa sau này.

Tuy nhiên với những năm rét muộn (ấm nóng, độ ẩm cao), mưa kết thúc muộn bưởi Diễn sẽ phát triển không theo quy luật mùa vụ: Lộc phát sinh sớm và tập trung nhiều tại thời điểm trước khi thu hoạch 15-30 ngày, điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng phân hóa mầm hoa (mất đợt hoa 1, mất mùa ở vụ kế tiếp) đồng thời làm giảm chất lượng quả nghiêm trọng (bưởi nhạt, tép khô, quả to, vỏ dày, màu sắc vỏ quả xấu, độ đồng đều kém, quả chín muộn…).

Chính vì vậy chúng ta cần phải can thiệp các biện pháp kỹ thuật tác động đồng thời như khoanh vỏ kết hợp với chặt rễ.

Thời điểm khoanh vỏ: tùy tình trạng của cây để đưa ra thời điểm thích hợp

Thứ nhất: khoanh vỏ trước khi thu hoạch 10-15 ngày.

Quan sát sức sinh trưởng của cây và diễn tiến của thời tiết trong phạm vi 10-15 ngày kế tiếp. Nếu cây sinh trưởng mạnh có dấu hiệu phát triển lộc đông, bộ lá cây xanh dày bóng, bản lá (phiến lá) to bất thường cộng thêm thời tiết ấm kéo dài, độ ẩm cao thì nên tiến hành khoanh vỏ các cành cấp 1, chọn lọc cành khỏe để khoanh, cành nhỏ, yếu thì để lại, không nên khoanh tất cả số cành cấp 1 trên cây (chống sốc dinh dưỡng).

Sau khi thu hoạch có thể kiểm tra lại một lần nữa nếu thấy cần thiết thì khoanh tiếp đợt 2. Lưu ý việc khoanh vỏ trước thu hoạch cần phải cẩn thận, khoanh đúng kỹ thuật nếu không sẽ làm rụng quả.

Thứ hai: Khoanh vỏ ngay sau khi thu hoạch

Với những cây mang nhiều quả, khả năng phát triển lộc ở mức trung bình, có thể kiểm soát được thì nên để sau khi thu hoạch mới khoanh vỏ, nếu không sẽ ảnh hưởng đến khả năng mang quả của cây (rụng quả trước thời điểm thu hoạch).

Như vậy biện pháp khoanh vỏ áp dụng sớm hay muộn tùy thuộc vào sức sinh trưởng và năng suất quả của từng cây,  đặc biệt là điều kiện thời tiết khí hậu. Những năm rét muộn, mưa kéo dài, độ ẩm cao thường xuyên liên tục…cần chủ động khoanh vỏ sớm kể cả đối với cây đang mang quả. Tựu chung lại khi khoanh vỏ cần lưu ý những vấn đề sau đây:

+ Với cây đang mang nhiều quả, khi thực hiện biện pháp khoanh vỏ sớm có thể làm quả rụng. Để khắc phục tình trạng này bà con nên áp dụng khoanh từng phần (chọn lọc từng cành). Với những cành sinh trưởng mạnh, lá xanh, dày, nhiều cành vượt, cành mang ít quả nên khoanh sớm.

+ Với những cây mang ít quả hoặc năm trước bị mất mùa cần tiến hành cắt tỉa tạo tán thông thoáng theo hướng tán mở (ánh sáng có thể chiếu vào trong tán), hạn chế sâu bệnh, tăng sức đề kháng cho cây. Sau đó tiến hành khoanh vỏ sớm hơn so với những cây sai quả.

+ Chọn lọc từng cây để khoanh vỏ, việc khoanh vỏ thường áp dụng với cây khỏe, sinh trưởng mạnh, với những cây yếu cần xem xét trước khi khoanh hoặc khoanh 60-80%  số cành trên cây.

1.1.3 Kỹ thuật khoanh vỏ

Khi khoanh vỏ nên khoanh theo kiểu một vòng tròn khép kín 360o và chỉ làm đứt phần vỏ với một khoảng rộng vừa đủ tùy theo đường kính thân, cành (khoanh vừa chạm gỗ, không ăn sâu vào gỗ). Nếu bắt buộc phải khoanh 2 vòng liên tiếp thì vòng nọ cách vòng kia 15-20cm, khoanh xong tuyệt đối không bóc vỏ.

Nếu cây có nhiều cành cấp 1, bộ lá dày, có màu xanh đen, biểu hiện sinh trưởng mạnh thì khoanh từng cành cấp 1 (khi khoanh có thể để lại cành nhỏ và yếu nhất), có thể khoanh luôn đồng thời 2 vòng, mỗi vòng cách nhau 15-20cm.

Nếu cây phát triển bình thường, sinh trưởng không quá mạnh thì khoanh một vòng (thực hiện khoanh 1 vòng duy nhất trên cành). Khi khoanh chú ý vết khoanh gọn, không bị nát phần vỏ, vết khoanh không quá rộng, không quá hẹp, đảm bảo vết khoanh liền nhanh khi cần thiết.

Khoanh vỏ xong, dùng SHELLAC SUGER 1000 quét trực tiếp vết khoanh. Tác dụng điều tiết sinh trưởng, hạn chế Lộc phát triển và nấm bệnh xâm nhập qua vết khoanh vỏ đồng thời chống sốc dinh dưỡng sau khi khoanh vỏ cây. Khi vết khoanh đã khô, dùng băng keo màu đen cuốn chặt vết khoanh.

1.2 Chặt rễ, xử lý bộ rễ, cải tạo đất vùng rễ

1.2.1 Mục đích

+ Loại bỏ hoocmone Cytokinin có trong phần rễ non của cây qua đó ức chế phát sinh lộc đông, tạo điều kiện ngủ nghỉ (ủ mầm hoa), thúc đẩy ra hoa đồng đều, tập trung thành từng đợt.

+ Loại bỏ một phần nấm bệnh tồn tại trên phần rễ non, lông hút của cây (phần rễ này làm việc khá nhiều trong một năm do đó thường xuyên phát sinh nguồn bệnh).

+ Kích thích quá trình phát sinh, phát triển rễ tôm (rễ hút mới) của cây ở vụ kế tiếp, tăng cường khả năng hấp thụ dinh dưỡng nuôi hoa, quả, hạn chế rụng quả sinh lý, giảm tỷ lệ khô quả, tăng chất lượng quả.

Lưu ý: Nên kết hợp giữa khoanh vỏ và chặt rễ nếu cây sinh trưởng quá mạnh, thời tiết ấm kéo dài, mưa kết thúc muộn, theo dõi sâu sát tình trạng phát triển của cây, chủ động kìm hãm quá trình phát triển Lộc Đông.

1.2.2 Thời điểm chặt rễ

+ Với cây bưởi tơ: làm sớm từ trung tuần tháng 10 đến 10 -15 tháng 11 âm lịch, thời gian tiến hành sớm hay muộn tùy sức sinh trưởng của cây và điều kiện thời tiết.

+ Với cây bưởi kinh doanh, cây đang mang quả: Sau thu hoạch, cắt tỉa tạo tán thông thoáng (tán mở), loại bỏ cành tăm, cành vượt, cành sâu bệnh sau đó tiến hành chặt rễ ngay, không nên xử lý quá muộn, đặc biệt với những năm có mưa kéo dài và rét muộn.

1.2.3 Kỹ thuật chặt rễ

Thông thường để đạt hiệu quả cao người làm vườn cần chủ động theo dõi sức sinh trưởng của cây, điều kiện thời tiết qua đó đưa ra những biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp cho từng cây. Các kỹ thuật tác động cơ giới cần được áp dụng linh động, đôi khi cần kết hợp một vài biện pháp kỹ thuật đồng thời mới đem lại hiệu quả cao. Có hai phương án để bà con lựa chọn:

Phương án 1: trước khi thu hoạch 10-15 ngày, tiến hành khoanh vỏ trước. Sau khi thu hoạch, cắt tỉa tạo tán thông thoáng sau đó chặt rễ sau (cuốc sâu, rộng 30-35cm). Phương pháp này áp dụng khi cây đang mang nhiều quả (sai quả), khoanh vỏ trước thu hoạch sẽ làm chất lượng quả tăng lên(quả ngọt hơn). Các bước khoanh vỏ nên làm nhẹ nhàng, cẩn thận, khoanh vỏ vào ngày nắng, khô. Khi khoanh chú ý chỉ khoanh đứt phần vỏ, vừa chạm gỗ, không ăn sâu vào gỗ. Khoanh vỏ không đúng kỹ thuật, khoanh quá sâu sẽ gây rụng quả nếu gặp điều kiện thời tiết bất lợi. Đối với những cây sinh trưởng quá mạnh nên khoanh chọn lọc từng cành cấp 1 và khoanh 70-90% số cành trên cây, để lại cành nhỏ và yếu.

Phương án 2: Với cây mang ít quả, cây bưởi tơ hoặc cây bị mất mùa có thể kết hợp khoanh vỏ và chặt rễ cùng một thời điểm để hãm lộc đông hiệu quả hơn, đồng thời tạo cho cây bước vào ngủ nghỉ sớm, có thời gian ủ mầm hoa, sau này mầm hoa phân hóa đồng đều và khỏe mạnh.

Những năm có mưa kết kéo dài và rét muộn (ẩm và ấm kéo dài) bà con nên tiến hành làm sớm vào khoảng cuối tháng 10 đến trước 20-25/11 âm lịch. Đồng thời chủ động thu hoạch Bưởi sớm hơn, trước 15-25/11 âm lịch (với bưởi Diễn muộn).

Kỹ thuật chặt rễ và xử lý rễ: Trước khi cuốc rễ cần tiến hành cắt tỉa tạo cho tán thông thoáng

Bước 1: Cuốc sâu, rộng  20-35cm theo hình chiếu tán của cây, khi cuốc những nhát cuốc đầu tiên nếu thấy mật độ rễ xuất hiện với số lượng ít cần phải cuốc sâu dần vào bên trong theo hướng từ ngoài vào phía gốc, khi nào thấy các rễ non, rễ cám, rễ tơ bị đứt là đạt yêu cầu (toàn bộ phần rễ non mép ngoài tán cần phải loại bỏ). Sau đó xiết nước (không tưới nước, tạo khô hạn cho cây).

Lưu ý nếu tại thời điểm cuốc rễ, nếu đất còn ẩm cần phải tạo rãnh sâu giữa các hàng, giữa các cây để hơi nước thoát nhanh, đất càng khô nhanh càng tốt. Sau đó dùng các loại thuốc trừ nấm khuẩn đặc hiệu phun trực tiếp vào phần rễ vừa chặt, phòng trị nấm khuẩn gây bệnh hại bộ rễ. Sau 2-3 ngày dùng vôi bón xung quanh gốc (phần đã cuốc), lượng ít hay nhiều phụ thuộc tính chất đất từng vùng. Để đạt hiệu quả cao nên sử dụng thuốc trừ nấm khuẩn đặc hiệu, chọn lọc những dòng sản phẩm không độc hại, thân thiện với môi trường và không làm kìm hãm quá trình phát sinh, phát triển của bộ rễ. Các sản phẩm trừ nấm khuẩn gây bệnh đặc hiệu: AKH SUPER, NANO BẠC SUPER, NANO OXYCLORUA ĐỒNG, NANO HỢP KIM BẠC ĐỒNG,…các dòng SP này được sản xuất và ứng dụng công nghệ cao, sản phẩm sạch, không độc hại, khuyến cáo nên sử dụng thay thế cho các loại thuốc BVTV hóa học (thường làm chai đất và tồn dư kim loại nặng khá lâu trong đất, khó phân giải).

Sau khi cuốc rễ, dùng nước vôi đặc quét lên xung quanh gốc cây, hạn chế côn trùng (xén tóc đẻ trứng và nở thành ấu trùng), chúng thường tồn tại ở những kẽ hở của vỏ thân cây, sau này nở thành sâu non gây hại các bộ phận thân, cành còn non (sâu đục thân).

Bước 2: Không nên lấp đất ngay, để phơi khô đất xung quanh vùng rễ từ 10-20 ngày. Mục đích của việc làm này là để bộ rễ cây thông thoáng, tăng khả năng trao đổi khí, diệt mầm bệnh xung quanh gốc.

Bước 3: Sau khi phơi 15-20 ngày, quan sát nếu cây có dấu hiệu chậm sinh trưởng thì lấp đất, tiến hành bón lót hỗn hợp phân sau:

+ Dùng 10-40kg phân chuồng hữu cơ ủ hoai mục (lượng nhiều hay ít tùy tuổi cây, năng suất quả).

+ Dùng 1-1,5kg phân lân (lân đơn – P2O5), lượng phân ít hay nhiều tùy thuộc vào tuổi cây, năng suất thực thu.

Lượng phân bón trên trộn đều với đất xung quanh gốc rồi lấp lại, bón cách xa 10-20cm phần rễ  đã chặt đứt (đây là phương pháp bón nhử, mục đích làm tăng cường khả năng phát sinh – phát triển rễ mới, rễ tôm  ở năm sau).

Sau 7-10 ngày bón thêm đậu tương nghiền lên trên mặt (1-3kg/cây, tùy tuổi cây) xung quanh hình chiếu của tán cây và phủ một lớp đất bột lên phần đậu tương vừa bón. Bón lót đầy đủ cân đối dinh dưỡng đa, trung, vi lượng, sau 1-1,5 tháng cây mới có khả năng hấp thu dinh dưỡng. Thời kỳ cây hấp thu được dinh dưỡng bón lót phải trùng vào thời kỳ ra hoa đậu quả, nuôi quả non. Nếu sau khi xử lý cuốc rễ kết hợp khoanh vỏ mà gặp ngay điều kiện thời tiết bất lợi (thời tiết cực đoan_nhiệt độ xuống thấp đột ngột), cây bị sâu bệnh…sẽ làm ra tăng khả năng phát sinh hoa dị hình, đồng thời àm giảm tỷ lệ đậu quả, khó giữ quả.

Lưu ý chung:

+ Nếu đất bề mặt bị dí chặt nên xới nhẹ bề mặt xung quanh dưới gốc cây, tạo thuận lợi cho quá trình trao đổi khí với bộ rễ.

+ Không nên bón trực tiếp vào phần rễ vừa chặt, cần phải trộn với đất trước khi lấp.

+ Nếu bón vôi nên rắc trực tiếp vào phần rãnh vừa cuốc đất lên. Cách thời điểm bón phân hữu cơ, lân khoảng 15-20 ngày (không bón đồng thời lân và vôi, thường sẽ bị kết tủa, chuyển thành dạng khó tiêu, khó tan).

+ Trong thời gian chặt rễ, khoanh vỏ  cần áp dụng các biện pháp xiết nước triệt để (không tưới nước).

+ Sau khi cuốc rễ cần phải xử lý rễ bằng các chế phẩm phòng trị nấm khuẩn gây bệnh.

2- Chăm sóc bưởi Diễn thời kỳ ra hoa, đậu quả, nuôi quả và phát triển quả

2.1 Yêu cầu kỹ thuật

+ Hoa không cần quá sai, hoa phải phân bố đồng đều về các phía, tỷ lệ hoa hữu hiệu cao, ít hoa dị hình. Tỷ lệ đậu quả cao, cây sai quả, trọng lượng quả trung bình 400-800g/quả là đạt yêu cầu, không nên để quả quá to, vỏ dày, tép khô, phát triển mất cân đối.

+ Chùm hoa phân hóa trên cành mẹ năm sau phải được nuôi từ lộc hè và lộc thu năm trước (vào tháng 5-6 năm trước).

+ Mầm hoa và hoa phân hóa đúng thời vụ, không quá sớm, không quá muộn. Nếu hoa phát triển muộn thường sẽ gặp những đợt mưa ẩm kéo dài ở đầu vụ làm hoa thối hỏng, rụng hàng loạt (trường hợp này xảy ra khi thu hoạch quá muộn). Những năm mưa kéo dài, rét muộn thường thấy lộc hoa hoặc lộc đông phát sinh, phát triển mạnh (tháng 10-11 âm lịch), hoa ra thời điểm này có thể đậu quả ngay sau 1-2 tuần tuy nhiên các đợt quả này thường không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng vì vậy bà con cần loại bỏ sớm. Do đó để ngăn chặn tình trạng ra hoa sớm, đậu quả không đúng thời vụ (trong năm, vào tháng 11 âm lịch) bà con cần thường xuyên kiểm tra vườn, sức sinh trưởng của từng cây để chủ động đưa ra các biện pháp kỹ thuật tác động với mục đích kìm hãm lộc đông hoặc lộc hoa phát sinh quá sớm (tháng 12 âm lịch).

Lưu ý: Tất cả các chùm hoa đậu quả trước lập xuân đều nên loại bỏ sớm, vì quả sẽ không đạt tiêu chuẩn chất lượng. Bưởi thường ra nhiều đợt hoa, nếu đợt hoa 1 gặp điều kiện bất lợi từ thời tiết(mưa ẩm kéo dài ở đầu vụ) sẽ làm suy giảm sức sống của hạt phấn, hạt phấn bị chết, nấm bệnh phát triển mạnh làm thối rụng hoa hàng loạt. Ngay sau đó ít ngày nếu gặp điều kiện thời tiết thuận lợi bưởi Diễn sẽ phát sinh, phát triển đợt hoa kế tiếp (hoa 2) tuy nhiên những đợt hoa tiếp theo (hoa 3-4) thường không cho chất lượng quả cao, nếu để sẽ ảnh hưởng tới vụ sau.

2.2 Những nguyên nhân dẫn đến rụng hoa, quả non

Thời kỳ ra hoa đến hoa nở rộ nếu gặp mưa nhiều, ẩm cao, trời âm u, thiếu ánh sáng, nhiệt độ xuống thấp sẽ thúc đẩy nấm khuẩn gây bệnh phát sinh, phát triển mạnh gây bệnh thối nhũn hoa, suy giảm chức năng hạt phấn, bệnh diễn biến nặng gây rụng hoa hàng loạt.

Ngoài ra trong nước mưa có hàm lượng acid cao(H+) làm hạt phấn hỏng, nhụy mất chức năng sinh lý. Khi điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp theo hướng bất lợi như mưa ẩm kéo dài, thời tiết âm u, thiếu ánh sáng sẽ thúc đẩy quá trình hình thành “tầng rời” làm cho cuống hoa teo lại dẫn đến hoa và quả non rụng hàng loạt, rất khó kiểm soát, có nhiều chùm hoa rụng 100% số quả. Vậy tại sao trong điều kiện thời tiết bất lợi như đã nêu ở trên lại dẫn đến hiện tượng teo cuống, hình thành tầng rời sau vài ngày và như thế hiện tượng rụng quả sẽ chỉ là vấn đề thời gian.

Có thể chỉ ra các nguyên nhân gây nên hiện tượng rụng hoa, quả non như sau:

+ Nguyên nhân thứ nhất: Điều kiện bất lợi của thời tiết, kèm theo sự phát triển mạnh của nấm khuẩn gây bệnh khiến cho chức năng sinh lý của hoa bị suy giảm. Khi hoa không còn giữ vai trò di truyền nói cách khác không còn khả năng thụ phấn, thụ tinh thì chúng sẽ bị loại thải và việc hình thành tầng rời là điều tất yếu để loại bỏ những chùm hoa không còn sức sống, không còn khả năng đậu quả.

+ Nguyên nhân thứ hai: Do hoa ra quá sai, sức chịu đựng của cây có hạn đặc biệt trong điều kiện bất lợi (nhiệt độ thấp, thừa ẩm) sẽ làm cho bộ rễ thường xuyên phải chịu một áp lực nuôi quả, thân, cành, lá… đấy là chưa kể đến tình trạng bộ rễ, nếu bị nghẹt rễ, thừa ẩm, thiếu oxi thì khả năng rụng hoa, quả non còn khó kiểm soát hơn rất nhiều (vì khi mưa nhiều, đất thừa ẩm khả năng thiếu oxi trong đất luôn luôn ở tình trạng báo động). Do đó việc hình thành tầng rời để loại bớt một phần “cơ thể” để duy sức sống, sự tồn tại của cây cũng là điều bình thường theo quy luật thích nghi của thực vật hai lá mầm.

+ Nguyên nhân thứ ba: Trong nước mưa thường có hàm lượng acid nhất định(H+). Chính hàm lượng acid dù nhỏ này (tích tiểu thành đại) làm cho nhóm tế bào vỏ quả bị acid hóa (cháy quả) từ đó quả không thể phát triển tiếp được (đứng quả), sau một thời gian ngắn chúng cũng sẽ bị rụng.

Ngoài ra lượng acid trong mưa cũng làm cho Canxi trong tế bào tầng rời giảm mạnh (chúng bị hòa tan, bị di chuyển thành những ion linh động). Mà Canxi là một nguyên tố dinh dưỡng trung lượng quan trọng cần bổ sung và không thể thiếu ở thời kỳ ra hoa đậu quả đối với bất kỳ cây ăn quả thân gỗ nào. Canxi được xem là một chất keo “xi măng” liên kết chặt chẽ các tế bào tầng rời khiến chúng trở lên bền vững hơn. Do vậy ở thời kỳ phân hóa mầm hoa đến hoa rộ, đậu quả non các nhà vườn cần phải chú ý bổ sung hàm lượng Canxi dễ tiêu kết hợp với các yếu tố vi lượng khác sao cho cân đối phù hợp. Đa số các đạng canxi hiện nay trên thị trường được bán dưới dạng phân bón lá có hỗn hợp với một số thành phần trung, vi lượng khác tuy nhiên các dạng canxi này hầu hết tồn tại dưới dạng ion (Ca2+), khi phun qua lá các ion Ca2+ này thường bị oxi hóa hoặc bị các acid yếu như acid H2CO3 làm kết tủa ở dạng không tan, khó hấp thu(dạng bất động). Chính vì vậy nhiều bà con trong quá trình chăm sóc cây ăn quả vẫn bổ sung Canxi nhưng lại không đạt được hiệu quả cao, quả non vẫn rụng, vẫn hình thành tầng rời. Do đó khi bổ sung Canxi cho cây nhất là giai đoạn ra hoa, đậu quả các nhà vườn nên bổ sung các dạng dễ hấp thu, các dạng có tính chất giải phóng Canxi (Ca2+) liên tục ở mọi điều kiện cho dù là điều kiện thời tiết không thuận lợi như thế mới bổ sung kịp thời Canxi cho cây, giúp cây vượt qua được các điều kiện thời tiết bất lợi về thời tiết. Và Canxi Nano đáp ứng được các yêu cầu khắt khe đó. Hiện nay có 2 dạng Canxi Nano, hai dạng này vừa bổ sung canxi dễ tiêu, vừa có khả năng trung hòa mưa acid làm giảm hiện tượng acid hóa hoa và quả non. Nano – canxi cacbonate có hoạt tính hóa học cao nên dễ phản ứng để trung hòa axit ngay cả ở môi trường axit yếu pH = 5-6. Nano canxi cacbonate sử dụng trong phân bón lá làm tăng hiệu suất của quá trình quang hợp và bổ sung canxi cho qua bộ lá của cây. Khi ở kích thước nano mét các hạt Nano-CaCO3 bám vào kẽ lá và phân hủy trong môi trường khí CO2 (H2CO3) tự nhiên đồng thời giải phóng khí CO2 tăng đến 40% tại kẽ lá tạo nguyên nguồn nguyên liệu (CO2) dồi dào cho quá trình quang hợp và bổ sung canxi cho cây trồng:

Nano-CaCO3  +  H2CO3 = Ca+2  +  2CO2↑  +  H2O

+ Nguyên nhân thứ tư: Thời tiết âm u kéo dài, thiếu ánh sáng sẽ làm cho “độ đóng mở” của khí khổng  bị ảnh hưởng theo chiều hướng không thuận lợi cho quá trình quang hợp, như thế quá trình hấp thu khí CO2 của cây bị cản trở. Tất cả những điều này sẽ làm giảm hiệu suất quang hợp của cây. Khi hiệu suất quang hợp giảm sẽ kéo theo quá trình vận chuyển, tích lũy dinh dưỡng về cơ quan dự trữ (hoa, quả) giảm theo làm cho hoa, quả non thiếu dinh dưỡng cục bộ gây ra hiện tượng chậm hoặc ngừng sinh trưởng quả từ đó góp phần tạo nên hiện tượng rụng hoa, quả non.

+ Nguyên nhân thứ năm: Do chăm sóc không đúng kỹ thuật, bón phân không cân đối đầy đủ đặc biệt thừa dinh dưỡng đa lượng sẽ dẫn tới đẩy quả (rụng quả). Bưởi Diễn cùng với cam đường là một loại cây có múi cực kỳ khó tính. Ở thời ra hoa, đậu quả (rụng hết cánh hoa) nếu thừa dinh dưỡng hoặc bổ sung qua lá dinh dưỡng không cân đối sẽ dẫn đến mất cân bằng sinh trưởng – phát triển: ra tăng (ưu tiên) quá trình sinh trưởng sinh dưỡng, giảm đột ngột (ức chế) quá trình sinh trưởng sinh thực dẫn đến rụng quả hàng loạt(dinh dưỡng nuôi quả không được ưu tiên).

+ Nguyên nhân thứ sáu: Do phương pháp nhân giống. Thực tế nghiên cứu và theo dõi cho thấy với những giống Diễn được trồng bằng cành chiết thì tỷ lệ đậu quả và giữ quả cao hơn do với Diễn ghép (xét trong điều kiện cùng giống, cùng điều kiện tự nhiên). Theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng giống Diễn ghép tuy ban đầu có lợi thế là bộ rễ to khỏe nhưng trong quá trình sinh trưởng và phát triển đặc biệt ở thời kỳ ra hoa đậu quả chúng thường có xu hướng sinh trưởng khó “hòa hợp” (đẩy nhau) do cơ thể được ghép từ 2 nguồn cá thể khác nhau cho nên chúng thường xảy ra hiện tượng biến nạp gene nói cách khác sự dung hòa giữa 2 cá thể trong cùng một cây thường khó hơn và phải trải qua nhiều năm. Giống chiết được tách nguyên bộ gen 2n của cây mẹ và không xảy ra tình trạng đẩy nhau nào nên về mặt di truyền sẽ ổn định hơn qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển.

Như vậy trong kỹ thuật chăm sóc bưởi Diễn nói chung bà con cần phải nắm rõ và hiểu biết những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng rụng quả non để có biện pháp phòng ngừa chủ động.

2.3 Khắc phục hiện tượng bưởi Diễn đậu quả nhưng không phát triển hoặc chậm phát triển

Rất nhiều nhà vườn có kỹ thuật chăm sóc tốt, chủ động trong các khâu phòng trừ sâu bệnh, cây tương đối khỏe, đẹp. Tuy nhiên sau thời kỳ hoa rộ, rụng cánh hoa và đậu quả non đôi khi thấy hiện tượng quả đã đậu nhưng sau một vài ngày mãi không thấy quả phát triển, hiện tượng này còn gọi là “đứng quả” nói cách khác cây “bỏ quả” trong điều kiện bất khả kháng. Chỉ sau một vài ngày quả sẽ bị teo đi (bề mặt quả không còn nhẵn bóng) và rụng (do hình thành tầng rời cuống, cuống thắt eo, nhỏ lại). Đặc biệt thời khi gặp tiết âm u, mưa ẩm nhiều, thiếu ánh sáng thì hiện tượng quả chậm phát triển hay gần như không thấy phát triển diễn ra phức tạp hơn, khó kiểm soát và rụng hàng loạt cả cuống trong sau 3-7 ngày.  Như vậy hiện tượng bưởi Diễn bị “đứng quả” tại thời điểm rụng hết cánh hoa là một vấn đề cần quan tâm trong quá trình chăm sóc, bởi nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời thì quá trình rụng quả non chỉ là vấn đề thời gian (diễn ra sớm hay muộn). Vậy nguyên nhân và cách khắc phục như thế nào?

Trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu nguyên nhân gây ra hiện tượng này qua đó đưa ra các biện pháp kỹ thuật chăm sóc kịp thời

Nguyên nhân thứ nhất: Do sâu bệnh phát sinh, phát triển mạnh, nhà vườn không kiểm soát được (đặc biệt là nấm khuẩn gây bệnh kết hợp với bộ lá bị rệp muội).

Thời kỳ ra hoa, đậu quả bưởi Diễn rất mẫn cảm với sâu bệnh (dễ bị sâu bệnh tấn công). Sâu bệnh gây hại bộ rễ, lá khiến cây trồng không thể hấp thu dinh dưỡng kịp thời nuôi các bộ phận trên mặt đất (hoa, quả non…) đồng thời gây cản trở quá trình quang hợp, tích lũy dinh dưỡng nuôi quả. Nói cách khác khi bị sâu bệnh cây trồng nói chung thường có phản ứng tự vệ, lúc này chúng tập trung toàn bộ “sức lực” để chống lại sâu bệnh cho nên dinh dưỡng về quả tạm thời bị ngưng (gián đoạn), dinh dưỡng nuôi quả bị thiếu kết hợp với mất cân bằng giữa các yếu tố dinh dưỡng là điều kiện cản trở quá trình phát triển quả, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời thì việc quả chậm lớn hoặc ngừng lớn và sau đó rụng cả cuống trong chỉ là vấn đề thời gian.

Nguyên nhân thứ hai: Do mất cân bằng dinh dưỡng làm gia tăng sự đối kháng giữa các nhóm dinh dưỡng, tạo nên sự không thuận lợi cho quá trình quang hợp của cây. Gây nên hiện tượng rối loạn sinh lý cây trồng.

Nguyên nhân thứ ba: Do bộ rễ bị nghẹt trong điều kiện độ ẩm bão hòa liên tục. Khi thiếu oxi các phản ứng sinh lý của cây trồng (hô hấp) bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Quá trình hô hấp yếm khí (thiếu oxi) diễn ra thường xuyên sẽ làm cây bị “đuối lực”, sức đề kháng và sức chống chịu kém. Nói cách khác khi quá trình hô hấp của bộ rễ bị ảnh hưởng do thiếu oxi thì năng lượng (ATP) của cây trồng  được tạo ra từ quá trình hô hấp bị giảm sút đồng thời sản sinh ra những hợp chất hữu cơ gây ngộ độc cho cây. Khi thiếu năng lượng từ quá trình hô hấp thì các bộ phận trên mặt đất (hoa, quả,…) không có nguồn dưỡng chất nuôi chúng nên gây ra tình trạng chậm phát triển hoặc ngừng hẳn.

Nguyên nhân thứ tư: Do sự bất lợi của điều kiện thời tiết(mưa nhiều, ẩm cao, thiếu ánh sáng) làm cản trở quá trình quang hợp của cây. Khi hiệu suất quang hợp giảm đồng nghĩa với việc dinh dưỡng tích lũy về quả bị hạn chế. Do đó quả phát triển rất chậm hoặc ngừng hẳn ngay sau khi rụng cánh hoa.

Chúng ta đã biết quang hợp là quá trình tổng hợp các chất vô đơn giản cơ từ tự nhiên thành các hợp chất hữu cơ phức tạp rồi chuyển về các cơ quan dự trữ như củ, quả. Điều kiện để quá trình quang hợp xảy ra là bộ lá phải khỏe mạnh (có diệp lục), thuận lợi đón ánh sáng, có ánh sáng trực xạ, có khí CO2, khí khổng phải mở liên tục khi có ánh sáng trực xạ…Tuy nhiên trong điều kiện thời tiết âm u, thiếu ánh sáng, mật độ cây quá dày thì quá trình quang hợp bị cản trở. Như vậy thời kỳ này cần tăng cường khả năng hấp thụ ánh sáng của bộ lá, cung cấp đầy đủ và thuận lợi nguyên liệu cho quá trình quang hợp của cây, nhằm thúc đẩy quá trình quang hợp.

Giải pháp cụ thể như sau:

Một là: Trồng với mật độ thưa, cây thông thoáng, cắt tỉa cây theo hướng tán mở ở đỉnh sao cho ánh sáng có thể chiếu trực tiếp vào trong tán. Đồng thời bổ sung cân đối đầy đủ dinh dưỡng cho lá, chú ý cân đối các yếu tố trung lượng, vi lượng, tạo cho lá có sức đề kháng tốt nhất. Nếu đã trồng cây với mật độ dày, trong thời kỳ ra hoa đậu quả non cần bố trí thắp đèn có ánh sáng vàng, tăng cường thắp đèn vào những ngày mưa ẩm kéo dài, ánh sáng yếu. Có thể thắp kéo dài tới 20-21h đêm trong những ngày mưa ẩm, thời tiết âm u. Trong vườn cần bố trí các bóng đèn sao cho bộ lá nhận được ánh sáng nhiều nhất, hơi ẩm thoát ra nhanh nhất. Việc thắp đèn không những tạo cho lá hấp thu ánh sáng tốt mà còn hạn chế sâu bệnh phát triển và giải thoát hơi ẩm nhanh…

Hai là: Tăng cường khả năng hấp thụ ánh sáng cho bộ lá thông qua việc phun chế phẩm Nano Bạc Super 500ppm qua lá, định kỳ 5-10 ngày/lần.

Chúng ta đã biết quang hợp là quá trình chuyển hóa năng lượng “mặt trời” thành năng lượng hóa học “dự trữ” cần thiết cho cây. Những ngày mưa ẩm, thời tiết âm u, khi đó cường độ ánh sáng yếu, khả năng hấp thụ ánh sáng vào lá kém do đó hiệu suất quang hợp bị giảm sút. Nano Bạc làm tăng khả năng hấp thụ ánh sáng qua lá do đó tăng hiệu suất quang hợp.

Vậy cơ chế xảy ra như thế nào?

Quang phổ mặt trời là liên tục, do đó sự hấp thụ ánh sáng của các sắc tố quang hợp là gián đoạn mạnh nhất là tại vùng ánh sáng tím, xanh và đỏ. Theo tính chất vật lý của hạt nano Bạc chúng ta thấy các hạt nano bạc hấp thụ ánh sáng trong dải sóng 390 – 420 nm nên khi đó tại bước sóng này cường độ ánh sáng được hấp thụ tăng cường.

Như vậy các hạt nano bạc, ngoài tác dụng diệt nấm khuẩn, nó còn làm tăng cường khả năng hấp thụ ánh sáng cho bộ lá qua đó nâng cao hiệu suất quang hợp, tăng cường vận chuyển dinh dưỡng về các cơ quan dự trữ. Thúc đẩy quá trình phát triển của quả, hạn chế hiện tượng “bỏ quả”, góp phần ngăn chặn từ xa quá trình hình thành tầng rời cuống hoa – cuống quả, hạn chế rụng hoa, quả sinh lý.

Ba là: Bổ sung Canxi nano dễ hấp thu cho cây, hạn chế tác hại của mưa acid, tăng cường cung cấp nguyên liệu quang hợp cho cây tại bề mặt lá thông qua việc sử dụng Nano Canxi Cacbonate (N – CaCO3).

Nano canxi cacbonate có hoạt tính hóa học cao nên dễ phản ứng để trung hòa axit ngay cả ở môi trường axit yếu pH = 5-6. Nano canxi cacbonate sử dụng khi phun qua lá làm tăng hiệu suất quang hợp đồng thời bổ sung canxi cho cây qua bộ lá. Khi ở kích thước nano mét các hạt Nano-CaCO3 bám vào kẽ lá và phân hủy trong môi trường khí CO2 tự nhiên (H2CO3) đồng thời giải phóng khí CO2 tăng đến 40% tại kẽ lá tạo nguyên nguồn nguyên liệu quang hợp (CO2) dồi dào cho quá trình quang hợp và bổ sung canxi cho cây trồng:

Nano-CaCO3  +  H2CO3 = Ca+2  +  2CO2↑  +  H2O

Trong phản ứng hóa học trên: Canxi sau khi được giải phóng được cung cấp trực tiếp cho cây trồng qua các lỗ khí khổng của lá, quá trình này diễn ra liên tục do đó cây trồng sẽ không bị thiếu hụt, cuống hoa – cuống quả được bổ sung kịp thời cho nên chúng sẽ trở lên “dai hơn”, bền vững hơn (do Canxi được coi như là một chất kết dính giữa các tế bào, giúp cho các tế bào liên kết chặt chẽ với nhau hơn). Khác với các dòng phân bón lá bổ sung trực tiếp Canxi dạng Ca2+, dạng Ca2+ này khi phun trên lá dưới tác động của các yếu tố môi trường nó sẽ bị oxi hóa và chuyển thành dạng Canxi khó tan, khó tiêu, cây trồng không hấp thu được:

Trong không khí, kèm theo hơi nước Ca2+ được chuyển thành CaCO3:

Theo cơ chế trên khi lượng Ca2+  bị kết tủa hết thì cây trồng sẽ không hấp thu được Canxi gây ra hiện tượng thiếu hụt Canxi cục bộ do đó các tế bào dễ bị tách rời nhau, liên kết lỏng lẻo hơn, tầng rời được hình thành ngay sau đó và dẫn đến hiện tượng rụng hoa, quả sinh lý hàng loạt, khó kiểm soát (đặc biệt khi gặp điều kiện thời tiết bất lợi thì quá trình này diễn ra nhanh hơn). Tuy nhiên dạng Canxi nano, Canxi nano cacbonate thì không như vậy. Khi chúng được phun trên lá, dưới điều kiện tự nhiên các dạng hạt Nano Canxi giải phóng liên tục các ion Ca2+, giúp khí khổng của bộ lá có nhiều cơ hội hấp thu hơn (tỷ lệ hấp thu Canxi rất cao), làm tăng hiệu suất hấp thu Ca2+ cho nên ít khi xảy ra tình trạng thiếu hụt canxi.

Tóm lại để hạn chế tình trạng rụng non quả sinh lý, khắc phục hiện tượng quả chậm lớn hoặc không lớn chúng ta phải tác động các biện pháp kỹ thuật sau:

+ Tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển, phòng trị sâu bệnh chủ động hại rễ nhất là Nấm, Vi khuẩn và Tuyến trùng hại rễ, bổ sung cân đối các dạng khoáng dễ tiêu theo nhu cầu của cây qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển khác nhau(không thừa, không thiếu), cải tạo đất, giúp đất tơi xốp thoáng khí, giàu mùn, tránh để pH quá cao hay quá thấp, am hiểu các kỹ thuật bón phân, hiểu biết về sự đối kháng giữa các nhóm dinh dưỡng thiết yếu từ đó có các giải pháp bón phân cân đối đầy đủ.

Ví Dụ: không bón lân và vôi cùng nhau điều này sẽ tạo ra các hợp chất khó tan, cây khó hấp thu lân. Hạn chế sử dụng các loại phân gây chua đất, bởi khi pH thấp (đất chua) sẽ thúc đẩy hình thành các kim loại nặng gây ngộ độc rễ, ảnh hưởng đến khả năng hấp thu dinh dưỡng và nước. Ưu tiên bón các loại phân hữu cơ sinh học, cây có thể hấp thu từ từ, ít dùng các nhóm phân NPK tổng hợp tan nhanh ở thời kỳ cây đang ra hoa, đậu quả điều này sẽ gây sốc dinh dưỡng dẫn đến hiện tượng đẩy quả non…

+ Điều chỉnh mật độ trồng phù hợp, cắt tỉa tạo tán thông thoáng, phòng trừ sâu bệnh cho tất cả các bộ phận trên mặt đất. Thời kỳ cây ra hoa đậu quả non cần hạn chế phun các loại thuốc hóa học có độc tính mạnh. Tạo điều kiện thuận lợi nhất để bộ lá đón được ánh sáng nhiều nhất, thúc đẩy và nâng cao hiệu suất quang hợp(Thông qua việc sử dụng Nano Bạc 500-1000ppm).

+ Cung cấp đầy đủ các dạng nguyên liệu dễ hấp thu tại chỗ cho quá trình quang hợp, cân đối bổ sung thêm các nhóm dinh dưỡng trung lượng, vi lượng (Ca, Mg, Zn, Cu, Bo, Si, Mn…). Lưu ý chỉ cần bổ sung lượng rất nhỏ, nếu thừa rễ gây ngộ độ cây. Khuyến cáo trong thời kỳ phân hóa mầm hoa – phát triển nụ – đậu quả chỉ cần bổ sung các nhóm dinh dưỡng trên với nồng độ phun qua lá giao động từ 0,02 – 10ppm là đủ, các chất kích thích tăng trưởng như Auxin, Gibberellin với nồng độ từ 40-120ppm, tùy thời kỳ sinh trưởng.

+ Thời kỳ này cần điều tiết vườn cây sao cho không được thừa ẩm, không thiếu ẩm đồng thời nên sử dụng các dòng sản phẩm chống mưa acid (acid hóa quả non). Kết hợp sử dụng Nano Canxi từ thời kỳ cây phát triển nụ đến hoa nở rộ (chủ động làm tăng tính bền vững của cuống hoa, cuống quả, chống rụng quả sinh lý ngay từ giai đoạn đầu).

2.4 Chăm sóc bưởi Diễn thời kỳ ra hoa, đậu quả

Yêu cầu kỹ thuật thời kỳ hoa rộ: Ra hoa tập trung, hoa to khỏe, không cần quá sai, không bị thối nhũn hoa, không bị dính cánh hoa. Hoa bị thâm đen, thối hỏng sẽ rụng hoàn toàn sau một vài ngày. Thời kỳ này cần quản lý sâu bệnh chủ động, phòng là chính, không để sâu bệnh phát triển mạnh.

Yêu cầu kỹ thuật thời kỳ đậu quả: Tỷ lệ thụ phấn, thụ tinh cao, quả đều, không cần sai quả, quả nhẵn bóng, có màu xanh tự nhiên (như trên hình).

CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CHĂM SÓC:

Thứ nhất: Thời kỳ ngủ nghỉ, ủ mầm hoa: phòng trừ chủ động sâu bệnh, đặc biệt là nhện đỏ, rệp sáp, rệp muội và các nhóm côn trùng trích hút khác, thời kỳ này không bổ sung dinh dưỡng qua lá.

Thứ hai: Thời kỳ phân hóa mầm hoa đến phát triển nụ

+ Dùng 3-5ml chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái.

+ Dùng 30-50ml AKH SUPER500T + 30-50ml Chế phẩm Nano BẠC – ĐỒNG 1000ppm kết hợp với 20-30ml Nano Oxyclorua đồng 10.000ppm

+ Dùng 5-10 ml SHELLAC SUGER 1500 – 1800 (bổ sung nano canxi và nano kẽm dễ hấp thu, giúp cuống hoa dai và bền vững hơn).

Hỗn hợp các chế phẩm trên pha với bình 15-20 lít phun dạng sương mù, phun lướt, đều 2 mặt lá. Phun định kỳ 7 ngày/lần cho đến khi nụ phát triển hoàn toàn(nụ màu trắng, chuẩn bị nở hoa).

Tác dụng: Thúc đẩy mầm hoa phát triển to khỏe, ngăn chặn từ xa các yếu tố hình thành tầng rời, tăng sức đề kháng cho cây, phòng trị nấm khuẩn phát triển ngay từ giai đoạn khởi phát. Lưu ý kết hợp phòng trừ nhện, rệp…

Thứ ba: Thời kỳ hoa nở rộ

Thời kỳ này dài hay ngắn phụ thuộc thời tiết và kỹ thuật chăm sóc trước đó, hoa nở càng tập trung, tỷ lệ đậu quả càng cao, khả năng giữ quả rất tốt. Yêu cầu kỹ thuật của thời kỳ này là phòng trị nấm khuẩn gây bệnh thối nhũn, thúc đẩy quang hợp, bổ sung trung lượng, vi lượng dễ hấp thu, tiếp tục ngăn chặn hình thành tầng rời, chống rụng hoa sinh lý. Chú ý phòng trừ nhện đỏ, rệp muội, rệp sáp…

Sử dụng phun hỗn hợp các chế phẩm sau đây:

+ Dùng 50ml AKH SUPER500T + 50-100ml Chế phẩm Nano BẠC – ĐỒNG 1000ppm kết hợp với 30-50ml Nano Oxyclorua đồng 10.000ppm

+ Dùng 10 ml SHELLAC SUGER 1500 – 1800 (bổ sung nano canxi và nano kẽm dễ hấp thu, giúp cuống hoa dai và bền vững hơn).

+ Dùng 20-30ml Nano Canxi cacbonate 15.000ppm(chống acid hóa cuống hoa, tăng cường hấp thu CO2 cho cây để quang hợp xảy ra với hiệu suất cao nhất).

+ Dùng 20ml Kani nitrat chelate, Silic nano (ức chế quá trình rụng quả, hạn chế nấm phát triển)

Hỗn hợp trên pha với bình 15-20 lít, phun dạng mù như các thời kỳ trước(phun 1 lần)

Lưu ý: nếu không mưa có thể áp dụng phun 1 lần, tuy nhiên nếu mưa ẩm kéo dài trên 3 ngày thì khẩn trương phun Nano canxi cacbonate chống acid hóa cuống hoa(3 ngày/lần).

Thứ tư: Thời kỳ rụng cánh hoa(đạt 30-50% trở lên):

Sử dụng phun hỗn hợp các chế phẩm sau đây:

+ Dùng 1000ml Nano h��p kim Bạc – Đồng kết hợp 1000ml Nano Oxyclorua đồng pha với 50-100lít nước phun ẩm đều lên quả non.

+ Dùng 10-20 ml SHELLAC SUGER 1500 – 1800 pha với 15 lít nước (bổ sung nano canxi và nano kẽm dễ hấp thu, giúp cuống hoa dai và bền vững hơn)

+ Dùng 20-30ml Nano Canxi cacbonate (chống acid hóa, tăng cường hấp thu CO2 cho cây để quang hợp xảy ra với hiệu suất cao nhất, hạn chế đứng quả, chậm phát triển quả).

Cần lưu ý khi bưởi trong thời kỳ ra hoa, đậu quả non(vừa rụng cánh hoa) không nên bón thúc phân bón hóa học dễ tan qua rễ, nếu bón thời kỳ này quả non mới đậu rất dễ bị rụng (đẩy quả), khó kiểm soát. Khi quả phát triển ổn định mới bón phân qua rễ, bổ sung dinh dưỡng cho cây một cách từ từ, tránh sốc dinh dưỡng gây rụng quả non.

Thứ năm: Thời kỳ phát triển quả – quả có kích thước bằng hạt đậu tương trở đi

+ Bón bổ sung qua lá: Dùng chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái (5ml pha với 15 lít nước) kết hợp với Shellac suger 1900, Nano Bạc Đồng 1000ppm. Phun định kỳ 10-15 ngày một lần cho đến khi quả phát triển ổn định.

+ Bổ sung dinh dưỡng qua rễ: Dùng đậu tương nghiền nhỏ kết hợp với lân đơn (bón nhẹ), nếu cây phát triển kém bổ sung thêm NPK 16-16-8-13S(bón nhẹ, chia làm 2 lần). Lượng sử dụng để bón bổ sung qua rễ phụ thuộc vào tuổi cây và năng suất thực thu vụ trước, sức sinh trưởng của cây ở thời điểm hiện tại. Đậu tương có thể bón vào tháng 2-3 và 5-6 âm lịch(Lưu ý: cân nhắc khi sử dụng phân NPK tổng hợp).

Cách bón qua rễ: Rắc trải đều lên bề mặt tính từ hình chiếu tán của cây trở vào phía gốc, cách gốc một khoảng rộng tùy tuổi cây (không bón ngay sát gốc).

Lưu ý chung: ở thời kỳ cây đang mang quả non cây rất cần dinh dưỡng tập trung nuôi quả do đó cần hạn chế tối đa cây phát triển lộc Xuân (các biện pháp kỹ thuật cần làm trước đó). Đầu mùa xuân cây trồng nói chung thường có xu hướng đâm chồi nảy lộc là bình thường tuy nhiên cần điều tiết dinh dưỡng sao cho thời điểm ra hoa đậu quả non không trùng với thời điểm cây mới phát sinh lộc. Khi gặp điều kiện bất lợi về thời tiết, trên cây mang lộc xuân (ở tỷ lệ cao) thì quả non rất dễ bị rụng, khó kiểm soát. Do lúc này dinh dưỡng tập trung về nuôi lộc, bỏ quả. Tất nhiên hiện tượng rụng quả sinh lý là bình thường ở các cây ăn quả nói chung tuy nhiên chúng ta phải chủ động kiểm soát và điều tiết ở ngưỡng rụng sinh lý cho phép. Trong quá trình chăm sóc Bưởi trước thời kỳ ra hoa, đậu quả nên ưu tiên sử dụng các loại phân bón cung cấp dinh dưỡng cho cây từ từ, bền vững, không thừa hay thiếu dinh dưỡng.

3-Thúc lộc phát triển và nuôi Lộc thành cành mẹ (mang quả cho năm sau)

Để hạn chế hiện tượng bưởi Diễn ra quả cách năm, bà con cần thúc một đợt lộc hè và lộc thu nuôi chúng thành thục thành cành mẹ để cho quả vào vụ kế tiếp. Những cành mang quả của năm nay thường khó có thể ra tiếp quả và nuôi quả ở vụ tiếp theo. Do vậy cần chuẩn bị cho cây những cành mẹ đủ tiêu chuẩn để năm sau không bị mất mùa.

Thời điểm thúc lộc: khi quả bắt đầu vào nước, tháng 5-6 âm lịch.

Khi quả đã “vào nước” thì sự phát triển lộc hè sẽ gần như không ảnh hưởng nhiều đến quá trình phát triển quả (ít xảy ra hiện tượng rụng quả như thời kỳ quả non) nếu cây không bị sâu bệnh và không thiếu dinh dưỡng cục bộ.

 Để thúc lộc chúng ta cần làm đồng thời các công việc sau:

+ Làm sạch cỏ dại xung quanh gốc, nếu bề mặt đất bị dí chặt dùng dụng cụ chuyên dùng xới nhẹ bề mặt, làm tăng khả năng trao đổi khí của bộ rễ, tạo thông thoáng, hạn chế mất dinh dưỡng khi bón phân qua gốc. Lưu ý không được làm đứt nhiều rễ.

+ Bón phân hữu cơ hoai mục kết hợp với NPK tổng hợp (bón trên bề mặt hoặc xẻ thành rãnh để bón). Bón nhẹ chia làm 2 lần (vào tháng 5-6 và 7-8 âm lịch). Lượng phân bón ít hay nhiều phụ thuộc vào tuổi của cây và sức sinh trưởng của cây.

+ Dùng chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái phun qua lá: 5ml pha với 10-15 lít nước phun đều hai mặt lá, mỗi đợt lộc(hè/thu) phun 2-3 lần, mỗi lần cách nhau 7-10 ngày. Chế phẩm Vườn Sinh Thái bổ sung dinh dưỡng qua lá, thúc mầm lộc phát triển tập trung ngay từ giai đoạn đầu.

+ Sau khi phun chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái 2-3 ngày dùng Shellac suger 1900-2000HA phun đều 2 mặt lá kết hợp phun đậm xung quanh gốc: mỗi đợt lộc phun 1-2 lần, làm tăng khả năng quang hợp của bộ lá, tăng khả năng vận chuyển dinh dưỡng về quả để nuôi quả phát triển cân đối.

+ Chủ động phòng trừ sâu bệnh theo quá trình phát triển của các đợt lộc (ngay từ khi lộc non mới xuất hiện).

Lưu ý chung:  Ở các thời kỳ nuôi lộc đặc biệt là lộc Thu, cần bổ sung dinh dưỡng cân đối đầy đủ qua lá và rễ, không bón thừa dinh dưỡng đặc biệt là đạm. Điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng quả và khả năng hãm lộc Đông sau này. Ở giai đoạn lộc Thu trở đi ưu tiên sử dụng Kali.

Kết thúc lộc Thu tuyệt đối không cung cấp dinh dưỡng đa lượng cho cây đặc biệt là đạm, mà thời kỳ này cần theo dõi vườn bưởi để chủ động phòng hiện tượng sinh trưởng Lộc Đông quá mạnh (kìm hãm lộc Đông phát triển), cho các cành mẹ bước vào ngủ nghỉ để chuẩn bị cho quá trình phân hóa mầm hoa ở vụ tiếp theo sau khi đã thu hoạch quả.

Chế phẩm nano bạc đồng plus và nano đồng oxyclorua chuyên dùng đặc trị bệnh loét cam, ghẻ sẹo, xì gôm chảy nhựa mủ, bệnh Greening, bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi

Chúc bà con thành công !

Nguồn: Nanobacsuper