Quy Trình Sản Xuất Các Chế Phẩm Sinh Học / Top 10 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Sản Xuất Chế Phẩm Sinh Học Xử Lý Vỏ Cà Phê Ở Quy Mô Nhỏ

Quy trình này là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp cơ sở: “Nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học sử dụng trong xử lý vỏ quả cà phê làm phân bón cho cây trồng“ do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên chủ trì. Đề tài này được thực hiện từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 12 năm 2010.

Tên quy trình: Quy trình sản xuất chế phẩm sinh học xử lý vỏ cà phê ở quy mô nhỏ

Tên đơn vị soạn thảo: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên – Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Các tác giả: Đào Thị Lan Hoa, Cù Thị Dần, Nguyễn Thị Vân, Nguyễn Thị Thiên Trang, Nguyễn Thị Tiến Sỹ, Nguyễn Xuân Hòa, Võ Thị Kim Oanh, và cộng sự.

Tên cơ quan ban hành: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên

QUY TRÌNH SẢN XUẤT CHẾ PHẨM SINH HỌC XỬ LÝ VỎ CÀ PHÊ Ở QUY MÔ NHỎ

1.1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

Quy trình này được áp dụng để sản xuất chế phẩm sinh học xử lý vỏ cà phê ở quy mô nhỏ tại các cơ sở nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật.

1.2. Cơ sở xây dựng quy trình

Quy trình được xây dựng, đúc kết dựa trên kết quả của đề tài và tham khảo tài liệu về sản xuất chế phẩm sinh học.

1.3. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật

Quy trình dễ áp dụng, có khả năng áp dụng ở các đơn vị có đầy đủ điều kiện về nhân lực và trang thiết bị nghiên cứu vi sinh vật.

– Các chủng vi sinh vật được WASI chọn lọc:

+ 6 ký hiệu mẫu xạ khuẩn ( Streptomyces spp.): SPC13, SPC29, SPC41, SPC72, SPC82, SVC18

+ 5 ký hiệu mẫu nấm ( Aspergillus spp.): NP7, NV4, NV5, NV6, NV19

+ 4 ký hiệu mẫu vi khuẩn ( Bacillus spp.): VP8, VV18, VV26, VV36

2.2. Trang thiết bị, dụng cụ

– Trang thiết bị phục vụ nghiên cứu vi sinh vật: nồi hấp, tủ cấy, tủ định ôn, tủ bảo quản mẫu, kính hiển vi, cân kỹ thuật, máy đo pH, máy lắc…

– Dụng cụ: đĩa petri, ống nghiệm, bình tam giác, chai thủy tinh duran, que cấy, dao scapel, pipet điện tử, thùng gỗ, bạt

Từ các chủng vi sinh vật gốc được chọn lọc, bao gồm: 6 ký hiệu mẫu xạ khuẩn, 5 ký hiệu mẫu nấm mốc, 4 ký hiệu mẫu vi khuẩn. Đây là các mẫu có đặc tính sinh học tốt: Các ký hiệu xạ khuẩn có hoạt độ enzyme cao, có khả năng sinh trưởng tốt, chịu được nhiệt độ 50 oC, thích ứng pH 4 – 7; Các ký hiệu mẫu nấm và vi khuẩn có hoạt tính cellulase cao, có khả năng chịu nhiệt độ 70 o C và thích ứng pH 4 – 7.

Tiến hành nhân sinh khối các chủng vi sinh vật gốc trên môi trường đặc chuyên tính tương ứng trên đĩa petri. Xạ khuẩn được nuôi cấy trên môi trường xạ khuẩn trong thời gian từ 10 – 15 ngày. Nấm mốc được nuôi cấy trên môi trường PDA từ 5 – 7 ngày. Vi khuẩn được nuôi cấy trên môi trường vi khuẩn từ 5 – 7 ngày.

Tiến hành nhân sinh khối lỏng riêng biệt các chủng xạ khuẩn, nấm mốc và vi khuẩn trên các môi trường tương ứng với khoảng thời gian 3 ngày. Sau đó các chủng này tiếp tục được nhân sinh khối trên môi trường lỏng hỗn hợp trong thời gian 3 – 5 ngày. Hỗn hợp dịch nuôi cấy sẽ được trộn vào cơ chất (bắp cám trấu) đã được hấp khử trùng và ủ trong vòng 5 ngày. Trong thời gian này cần tiến hành đảo trộn cơ chất hàng ngày. Chất phụ gia được sử dụng là than bùn đã được hấp khử trùng, sẽ được trộn vào hỗn hợp cơ chất và ủ 1 ngày. Sau đó tiến hành phơi, đảo cho khô ở nhiệt độ phòng. Khi chế phẩm khô, tiến hành kiểm tra chất lượng và đóng gói, bảo quản và sử dụng để xử lý vỏ cà phê làm phân bón cho cây trồng.

Sơ đồ quy trình sản xuất chế phẩm sinh học xử lý vỏ cà phê ở quy mô nhỏ

Quy Trình Sản Xuất Chế Phẩm Sinh Học Dùng Để Phòng Trừ Và Hạn Chế Bệnh Phát Sáng Trong Nuôi Trồng Thủy Sản

           Nhóm virus Vibrio sp. là tác nhân gây bện ở một số đối tượng nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là những dạng nhiễm vi khuẩn phát sáng thường thấy ở các trại sản xuất hoặc ươm thủy sản. Thái Lan có quy trình sản xuất chế phẩm sinh học Super biotech, bao gồm các công đoạn: nhân giống vi khuẩn Bacillus sp. cấp 1,2 chuyển sang môi trường lỏng, đông khô hoặc chuyển sang môi trường bột có chất mang. Tuy nhiên, do chủng vi khuẩn Bacillus sp. này không phù hợp với điều kiện Việt Nam do điều kiện sinh thái khác khau, biến động nhiệt độ trong vùng nuôi, dẫn đến hiệu quả sử dụng chế phẩm không cao.

 Tôm bị bệnh phát sáng. Ảnh: st.

          Sáng chế đề xuất chế phẩm sinh học dùng để phòng trừ và hạn chế bệnh phát sáng trong nuôi trồng thủy sản phù hợp với điều kiện Việt Nam. Trong đó, giống vi sinh vật sử dụng được chọn lựa từ các chủng vi sinh vật bản địa, đặc thù có khả năng kháng lại sự phát triển và lây lan của các Vibrio sp. Chúng là chủng vi khuẩn lactic (106) và chủng Bacillus (BT) phân lập được từ các đầm nuôi trồng thủy sản, có khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh V.parhaemolytivis, V.cholera và V.havery… Các chủng phân lập được này có khả năng sinh kháng sinh phổ rộng trong các điều kiện sinh thái khác nhau, đồng thời có khả năng phân giải mạnh các chất hữu cơ dư thừa trong ao nuôi.

          Sử dụng sản phẩm nêu trên giúp cho người nuôi trồng thủy sản phòng ngừa được bệnh và hạn chế được sự lây lan của bệnh. Sản phẩm thân thiện với môi trường và không gây tác dụng phụ, đảm bảo cho quá trình nuôi trồng thủy sản sạch và an toàn.

Mọi ý kiến thắc mắc, quan tâm của độc giả về sáng chế/GPCN nêu trên xin liên lạc với: 

Viện Nghiên cứu sáng chế và Khai thác công nghệ – Bộ Khoa học và Công nghệ

Ứng Dụng Chế Phẩm Sinh Học Trong Sản Xuất Nông Nghiệp

Ngày nay, các thành tựu của công nghệ sinh học ứng dụng vào nông nghiệp đã trở nên phổ biến nhằm thay thế việc sử dụng thuốc hóa học, hóa chất, kháng sinh trong phòng, trừ dịch bệnh. Đồng thời, để phát triển bền vững nền nông nghiệp, việc sản xuất các thực phẩm sạch, bảo vệ môi trường và sức khỏe người tiêu dùng việc sử dụng chế phẩm sinh học trong trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản đã chứng minh được ưu điểm vượt trội, đem lại nhiều lợi ích cho bà con nông dân như giảm chi phí sản xuất, tăng chất lượng và năng suất, giảm mạnh ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và không gây ô nhiễm môi trường sinh thái. Trong bà này, chúng tôi giới thiệu một số sản phẩm sinh phẩm Trung tâm Công nghệ sinh học TP.HCM. Một số sản phẩm phân hữu cơ và CPSH của Trung tâm CNSH TP.HCM

Lĩnh vựcSản phẩm

Công dụng chính

1.

2.

Phân bón lá có thành phần chủ yếu là dịch chiết từ trùn quế tươi với hàm lượng acid amine cao bổ sung thêm các khoáng chất đa lượng và vi lượng thiết yếu.

Thành phần: Dung dịch nền chiết xuất từ trùn quế tươi với hàm acid amine cao (Aspartic acid – 2.000 ppm; Leucine – 1.200 ppm; Alanine – 1.000 ppm; Glutamic acid – 1.000 ppm; Valine – 800 ppm). Đa lượng: N – 5.0 %; P – 1.0 %; K – 3.0 %. Vi lượng: B – 200 ppm; Zn – 200 ppm; Mg – 120 ppm; Ca – 120 ppm; Fe – 100 ppm

3.

Chứa vi khuẩn cố định đạm và vi khuẩn phân giải lân

Cố định đạm tự do trong không khí, tạo thêm nguồn đạm hữu cơ cho cây trồng.

Chuyển lân từ dạng khó tan thành dạng dễ tan cho cây dễ hấp thụ

Giảm lượng phân đạm và phân hóa học bón vào đất

Có khả năng tổng hợp các chất kích thích sinh trưởng thực vật, giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt.

4.

Chứa nấm Purpureocillium lilacinum

Diệt trừ tuyến trùng gây hại rễ cây trồng

Phun trực tiếp vào đất, gốc cây hoặc trộn chung với phân hữu cơ

5.

Nguồn dinh dưỡng rất thích hợp cho cây mai, hoa kiểng, bonsai, phong lan, rau màu…

Giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, tăng năng suất, mang lại hiệu quả kinh tế cao

Dung dịch nền thủy phân từ bánh dầu đậu phộng chứa nhiều loại acid amine hàm lượng cao (aspartic acid 2200ppm, glutamic acid 2200ppm, glycine 1000ppm, serine 1000ppm, lysine 800ppm, valine 600ppm, leucine 600ppm, alanine 500ppm, …), N – 3,42%; P2O5 – 1,59%; K2O – 2,52%; và một số vitamine, vi lượng khác.

6.

Phân giải nhanh các chất thải trong chăn nuôi, giúp làm giảm mùi hôi, hạn chế sản sinh khí độc gây ảnh hưởng đến sức khỏe người chăn nuôi.

Hạn chế sự phát triển của vi sinh vật gây hạị, góp phần giảm chi phí thú ý, tăng hiệu quả chăn nuôi.

Phòng Sản xuất thử nghiệm

Quy Trình Sản Xuất Giá Đỗ Sạch Sử Dụng Chế Phẩm A2

Giá đỗ được sản xuất từ hạt đậu xanh, được xem là một loại rau mầm có hàm lượng dinh dưỡng cao. Trong giá đỗ có chứa nhiều vitamin và khoáng chất (Protein, Vitamin C, Acid Folic, Enzyme…). Giá đỗ ngày nay còn được sử dụng trong ăn kiêng, một chén giá đỗ chứa khoảng 26 Kalo, 3gr protein, 6gr carbonhydrate và 2gr chất béo. Giá đỗ cũng được xem là một chất dinh dưỡng có thể ngăn ngừa ung thư do trong thành phần có những enzyme có thể kháng lại carcinogens (các tác nhân gây ung thư). Ngoài ra giá đỗ cũng có chức năng tăng cường miễn dịch vì có chứa một số enzyme có hoạt tính chống ô xy hóa (antioxidants). Tuy nhiên để đảm bảo dinh dưỡng của giá đỗ không bị mất đi khi chế biến giá đỗ kết hợp với gan lợn không nên xào lẫn hoặc ăn hai thứ cùng lúc, vì chất đồng (Cu) trong gan sẽ khiến vitamin C trong giá bị ôxy hóa, làm giảm chất lượng dinh dưỡng của giá đỗ.

Làm giá đỗ không khó tuy nhiên để giá đỗ đạt sản lượng cao, chất lượng tốt thì các kỹ thuật cũng như kinh nghiệm là điều rất cần thiết khi sản xuất với sản lượng lớn mang tính chất kinh doanh. Trong quá trình sản xuất giá đỗ người ta thường gặp phải một số vấn đề không mong muốn như: hạt nẩy mầm không đều, thân mầm phát triển chậm, mầm giá nhỏ và ngắn không đều, thường bị thối hoặc thâm thân mầm giá, đôi khi bị nhớt giá, khi ra giá có mùi hôi khó chịu, thời gian bảo quản ngắn dẫn đến chất lượng kém và sản lượng ra giá thấp…

Phần 2: Nguyên nhân làm cho giá có sản lượng thấp, chất lượng không cao

Nguyên nhân thứ nhất: Do chất lượng hạt không đảm bảo, hạt để quá lâu, quá trình bảo quản hạt không tốt, hạt hút ẩm hoặc bị côn trùng gây hại làm giảm lượng dinh dưỡng trong phôi hạt. Hạt đậu xanh dùng để sản xuất giá đỗ cần đảm bảo những tiêu chuẩn sau: hạt mẩy, đều hạt, không bị sâu mọt, không bị nép lửng, không nhiễm nấm mốc, được bảo quản cẩn thận, không để quá lâu.

Nguyên nhân thứ hai: Do quá trình ngâm hạt chưa đúng kỹ thuật và không phù hợp với điều kiện sản xuất. Trong quá trình ngâm hạt thì yếu tố thời gian ngâm hạt rất quan trọng.

Thời gian ngâm hạt phụ thuộc vào những yếu tố sau:

Một là: Phương pháp ủ hạt. Phương pháp ủ hạt ở đây chính là phương thức sản xuất. Tức là ủ bằng các dụng cụ truyền thống tự chế (lu, vại, thùng…) hay ủ bằng máy tự động, bán tự động. Ủ bằng máy thường cho chất lượng mầm giá đồng đều hơn, sự phát sinh mùi ít hơn tuy nhiên đôi khi vẫn gặp tình trạng giá bị nhớt, thâm đen phần đầu mầm.

Hai là: Thời gian ngâm hạt phụ thuộc vào từng giống, chất lượng và thời gian bảo quản hạt giống. Nếu chất lượng hạt giống tốt (hạt mẩy, đồng đều) thì thời gian ngâm là ngắn hơn. Hạt giống để quá lâu cần giảm thời gian ngâm hạt, bởi hạt để trong thời gian dài thì chất lượng hạt đã giảm phần nào, đồng thời sự ngủ nghỉ của hạt gần như không còn. Do vậy thời gian ngâm hạt cần điều chỉnh ngắn hơn.Về sinh lý thực vật mà nói một số hạt giống có thời gian ngủ nghỉ bắt buộc người ta thường tăng thời gian ngâm hạt và bổ sung thêm GA 3 để phá vỡ “sự ngủ nghỉ” của hạt từ đó thúc đẩy quá trình nảy mầm.

Ba là: Thời gian ngâm hạt phụ thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu. Trong điều kiện ẩm độ cao, nhiệt độ cao cần giảm thời gian ngâm hạt, bởi ở điều kiện này hạt hô hấp rất mạnh và nhanh, cần nhiều ôxi (sự thông thoáng) nếu ngâm quá dài trong nước hạt sẽ bị thiếu ôxi, khi thiếu ôxi hạt hô hấp yếm khí, quá trình cung cấp năng lượng cho hạt nảy mầm bị cản trở dẫn đến tỷ lệ nảy mầm không cao, không đồng đều. Ngược lại trong điều kiện lạnh, khô nên ngâm hạt trong nước ấm, với thời gian dài hơn để tạo thuận lợi cho quá trình hô hấp của hạt xảy ra hoàn toàn. Khi nhiệt độ xuống thấp (mùa đông) các phản ứng hóa sinh trong hạt diễn ra chậm hơn do đó cần ngâm hạt với thời gian dài hơn.

Thực tế ôxi trong nước thường thấp hơn nhiều so với trong không khí, do vậy ngâm hạt liên tục trong nước sẽ ảnh hưởng đến khả năng hô hấp của hạt, quá trình hô hấp của thực vật nói chung rất cần ôxi. Vì vậy để tăng sản lượng giá, chất lượng giá ở giai đoạn ngâm hạt đôi khi cần áp dụng phương pháp ngâm phân đoạn mục đích là để tăng khả năng tiếp xúc của hạt với không khí (ôxi). Phương pháp này thực chất là giảm hô hấp yếm khí (hô hấp vô hiệu). Chẳng hạn nếu tổng thời gian ngâm hạt là 6(h) thì ta chia làm 3 giai đoạn ngâm: cứ ngâm 1-1,5(h) lại vớt hạt để ráo nước 10-15 phút, sau đó lặp lại 2 lần như trên. Phương pháp này tốn công nhưng lại tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nảy mầm của hạt, thân mầm giá mập hơn, giảm phát sinh mùi, giảm độ nhớt của giá.

Tóm lại không nên ngâm hạt trong nước với thời gian quá dài, hay quá ngắn điều này có thể ảnh hưởng tới khả năng nảy mầm của hạt, sức sống và sự vươn dài của mầm sau này, thêm nữa là mầm giá có thể phát sinh mùi hôi khó chịu do sự phát triển của nấm khuẩn gây mùi và hoạt động hô hấp yếm khí của hạt.

Nguyên nhân thứ ba: Do chất lượng nước sử dụng để ngâm hạt và ủ hạt không đảm bảo. Nước quá “mềm” thiếu khoáng chất như Ca 2+, Mg 2+, Cu 2+ … đặc biệt là nhiễm nấm khuẩn là nguyên nhân trực tiếp làm nhớt giá, giảm độ cứng giòn của giá. Ngoài ra khi giá bị nhớt kèm theo sự phát sinh, phát triển mạnh của nấm khuẩn gây mùi hôi làm giá đỗ mất mùi thơm đặc trưng. Đặc biệt nếu ăn sống giá đỗ bị nhiễm nấm khuẩn sẽ không tốt cho sức khỏe đường ruột, đôi khi gây tiêu chảy cho người sử dụng.

Nguyên nhân thứ tư: Do sự tích tụ của nấm khuẩn gây bệnh trong các dụng cụ chuyên dùng ủ hạt đặc biệt là nấm gây thối và đen đầu thân mầm. Nấm khuẩn gây bệnh thường phát sinh ở thời kỳ ngâm hạt và phát triển mạnh ở thời kỳ ủ hạt (3-4 ngày). Do dụng cụ chuyên dùng sản xuất giá đỗ không được khử trùng thường xuyên, dẫn đến tích tụ nấm khuẩn gây bệnh làm cho giá hay bị thối và đen đầu thân mầm, sau khi ra giá thời gian bảo quản không được lâu, chất lượng giá xuống rất nhanh khi đem ra thị trường bán.

Nguyên nhân thứ năm: Do sự sinh nhiệt trong khi ủ giá và quá trình tưới – rửa giá không phù hợp. Trong thời kỳ ủ hạt nếu tra hạt với mật độ quá dày, điều kiện bên trong khoang ủ không thông thoáng, kém sự lưu thông khí dẫn đến khả năng hô hấp của hạt không được thuận lợi (thiếu ôxi là điều kiện tạo ra quá trình hô hấp vô hiệu) đồng thời quá trình hô hấp của hạt thường sinh nhiệt làm bên trong khoang ủ giá nóng lên. Tất cả điều này làm cho sự phát triển kéo dài của mầm giá bị cản trở dẫn đến mầm giá không đồng đều, thân mầm nhỏ và yếu, ở ngày cuối trước khi ra giá thường có mùi hôi, giá mềm, không cứng giòn, mất màu trắng, khi đem ra ngoài thường hay bị thâm, thối nhanh. Vì vậy trong quá trình ủ giá cần chú ý tưới nước cho giá (mục đích làm giảm nhiệt độ trong khoang ủ) kết hợp với rửa giá có bổ sung chế phẩm A2 nhằm khắc phục những vấn đề nêu trên.

Phần 3: Giải pháp toàn diện để Giá Đỗ có sản lượng cao và chất lượng tốt

Giá đỗ chất lượng cao là gì ?

Làm giá đỗ rất đơn giản tuy nhiên làm thế nào để sản xuất ra một sản lượng lớn mang tính chất kinh doanh hàng hóa mà vẫn đảm bảo chất lượng tốt, năng suất cao, bền vững lại là vấn đề đang được nhiều người quan tâm.

Như vậy qua phân tích trên có thể thấy muốn sản xuất giá đỗ với sản lượng lớn, chất lượng cao không hề đơn giản. Để sản xuất giá bền vững và hiệu quả kinh tế người sản xuất cần đạt được 2 tiêu chí về chất lượng và sản lượng như sau:

+ Tiêu chí về sản lượng: Cứ 1kg hạt đậu xanh sản xuất tối thiểu được 7-8kg mầm giá thành phẩm.

+ Tiêu chí về chất lượng: mầm giá trắng đều, đường kính 2-3mm, chiều dài giá tùy thị hiếu người tiêu dùng(4-5-7cm). Quan trọng hơn cả là giá có độ giòn, có mùi thơm đặc trưng, không bị nhớt, không có mùi hôi khó chịu, giá không bị thâm thối khi bán ngoài thị trường, thời gian bảo quản kéo dài và đặc biệt giá đỗ thành phẩm không được nhiễm nấm khuẩn gây bệnh. Nếu giá nhiễm nấm khuẩn vừa làm giảm chất lượng giá đỗ vừa gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.

(Những nội dung phân tích trên đã được nghiên cứu trong thực nghiệm và đúc kết thực tế ở những vùng sản xuất giá đỗ, rau mầm khác nhau tại Việt Nam)

Ks. Phạm Công Khải – Chúc bà con thành công