Quy Trình Làm Chế Phẩm Sinh Học / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Nuôi Thỏ Thịt Làm Giàu Bằng Chế Phẩm Sinh Học

Việc sử dụng Chế phẩm sinh học vào trong nuôi thỏ là 1 giải pháp chăn nuôi hiện đại, giúp người nuôi thỏ hạn chế được bệnh dịch, tối ưu được chi phí và nâng cao được hiệu quả kinh tế.

Trong các dòng chế phẩm sinh học được sử dụng trong Chăn nôi, Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái được xem như là một hỗn hợp các chất dinh dưỡng tổng hợp cao cấp có vai trò bổ sung trực tiếp dinh dưỡng thiết yếu cho quá trình phát triển của Thỏ.

GS.TS Nguyễn Lân Hùng khẳng định vai trò của Chế phẩm sinh học trong chăn nuôi

Thỏ là loại động vật gậm nhấm có khả năng sinh sản nhanh lại dễ nuôi, thức ăn của thỏ đa dạng với nhiều loại thức ăn khác nhau như cỏ, lá cây tự nhiên, các loại thức ăn hỗn hợp tự chế như cám ngô-khoai-sắn, các loại thức ăn giàu đạm như cám công nghiệp với tỷ lệ đạm khoảng 8-21%.Tùy theo loại thức ăn mà chúng ta có cách sử dụng chế phẩm Vườn Sinh Thái khác nhau. Cụ thể:

1. Sử dụng thức ăn Xanh

Thức ăn xanh cho Thỏ gồm các sản phẩm của cây trồng, cỏ tự nhiên, lá tự nhiên, lá sắn dây, cỏ voi, VA 06(những loại thức ăn này nên trồng thành một vùng nguyên liệu để tiện chăm sóc, thu hái).Dùng 1ml chế phẩm Vườn Sinh Thái pha với 2 lít nước sạch phun lướt và đều cho các loại cây trồng lấy lá cho Thỏ ăn. Sau khi phun 1-2 ngày thì thu hái cho thỏ ăn. Cách làm này vừa làm tăng năng suất sinh vật học của cây trồng làm thức ăn cho thỏ vừa tạo ra loại thức ăn có chất lượng cao cho thỏ.Nếu không phun được cho các loại cây trồng làm thức ăn cho thỏ bà con có thể thu hái, chọn lọc thức ăn Xanh tập trung vào một khu vực, vệ sinh sạch sẽ sau đó dùng 1ml chế phẩm Vườn Sinh Thái pha với 0,2 lít nước rồi phun đều cho 2-3kg thức ăn xanh (cỏ, lá).

Bảng A: Khẩu phần ăn của thỏ 1 ngày đêm như sau

XEM THÊM ► Bí quyết Chăn nuôi hiệu quả trong giai đoạn khủng hoảng bão giá ! VƯỜN SINH THÁI

HỖ TRỢ VÀ TƯ VẤN KỸ THUẬT MIỄN PHÍ 0962686348

Tự Học Làm Chế Phẩm Sinh Học Amino

Chế Phẩm Sinh Học là những sản phẩm được điều chế ra từ sinh học với những mục đích khác nhau, ở Việt Nam Chế phẩm sinh học được sản xuất phục vụ cho nhu cầu nông nghiệp mà chúng ta có thể hay bắt gặp như: Phân sinh học, thuốc trừ sâu sinh học phục vụ cho cây trồng, đệm lót sinh học cho chăn nuôi…

Ở bài viết này chúng tôi giới thiệu cho các bạn cách làm chế phẩm sinh học amino phục vụ lợi ích cho cây trồng trong cải thiện chất lượng đất. Bà con chú ý đọc và theo dõi:

Vài lưu ý khi làm chế phẩm sinh học:

1. Không nên dùng đường trắng để làm vì sau khi chế biến, trong đường trắng còn lại rất ít vitamin và khoáng chất. Do đó nên chọn đường nâu hay mật đường.

2. Không dùng nước có chứa chlorine (Cl) khi điều chế các chế phẩm sinh học vì chlorine có tính sát khuẩn nên sẽ diệt luôn các vi sinh có lợi. Nếu dùng nước máy nên để khoảng 12-24 giờ để bay bớt chlorine.

3. Không dùng vật liệu thủy tinh hoặc kim loại để điều chế hay lưu trữ chế phẩm sinh học vì khí sinh ra có thể gây nổ bình, đồng thời các chế phẩm có môi trường acid có thể gây ăn mòn kim loại.

4. Các chế phẩm thường có mùi thơm hơi chua, môi trường acid có pH dưới 4. Nếu chế phẩm có mùi hôi và pH cao thì nó đã hỏng, không xài được.

5. Vào mùa nóng, quá trình làm chế phẩm thường diễn ra nhanh hơn so với mùa lạnh, nên cần để ý điều này.

6. Luôn chừa một khoảng không gian khoảng 1/3 hay 1/4 hũ chứa trong quá trình điều chế và lưu trữ các chế phẩm sinh học.

Các nguyên liệu làm chế phẩm amino

Nguyên liệu: gạo (nên chọn loại gạo rẻ tiền) hoặc một nguồn giàu carbohydrate; đường nâu hoặc mật đường (rỉ đường – thứ thu được từ bả mía ép hay có màu nâu đen giống nước màu kho cá); khay gỗ (thường dùng khay có kích thước 40*40 cm, cao khoảng 7-8 cm).

Cách thực hiện:

Nấu gạo thành cơm chín, trải thành một lớp 2-3 cm trong khay, không nén chặt nhằm tạo diện tích lớn nhất để vi sinh vật phát triển. Dùng giấy niêm phong lại cho chặt, đảm bảo không bị thụng xuống chạm vào lớp cơm trong khay. Tìm nơi có tán tre hoặc tán cây rậm rạp (thường là nơi tập trung nhiều vi sinh vật nhất), đào một hố nông bằng khoảng 1/2 chiều cao khay gỗ, cho khay chứa cơm đã chuẩn bị vào, dùng lá mục, cành khô gần ngay tại đó phủ sao cho kín, nếu sợ mưa có thể phủ lên một lớp nilon. Sau 3-4 ngày (mùa nóng) hoặc 5-6 ngày (mùa lạnh), lớp cơm trong khay gỗ sẽ bị bao phủ bởi một lớp mốc trắng, đôi khi có lẫn một số mốc khác màu vào. Thu lấy lớp cơm chứa mốc trắng (không nên hoặc hạn chế dùng đến phần cơm chứa các mốc màu khác vì các vi sinh vật có hại có thể lẫn vào) đem trộn với mật đường hoặc đường nâu theo tỷ lệ khối lượng 1:1, cho vào đầy khoảng 2/3 một hũ chứa sạch, dùng giấy báo niêm phong lại, để nơi râm mát trong khoảng 7 ngày. Sau thời gian này, đem chắt lọc lấy phần IMO lỏng (có thể thu được rất ít) cho vào một hũ chứa khác, dùng giấy niêm phong lại. IMO lỏng thu được gọi là IMO-2, còn IMO ban đầu (phần cơm chứa mốc trắng) gọi là IMO-1. Một số nơi khi làm bước trộn cơm mốc với đường có thể thêm một lượng nước sạch bằng 3 lần lượng hỗn hợp cơm + đường, sau khi lọc sẽ thu được sản phẩm gọi tắt là BIM.

Ứng dụng:

Dùng IMO: 100-250 mL IMO-2/16 L nước, phun ẩm cho đất hàng tuần. Dùng 2 mL IMO-2/1 L nước, phun ẩm cho đống ủ compost, giúp ngăn mùi hôi và làm quá trình ủ diễn ra nhanh hơn.

Dùng BIM: 15-30 mL BIM/1 gallon nước (1 gallon = 3.78 L) phun ẩm cho lá và đất. Đối với đống ủ compost, dùng BIM pha loãng với nước theo tỷ lệ thể tích 1:1000 hoặc 1:500 phun ẩm cho đống ủ.

Tiến hành:

IMO-3,4,5: nên tiến hành làm các IMO thứ cấp trên mặt đất, ở nơi mát mẻ, không làm trên nền bê tông.

Pha loãng IMO-2 hoặc BIM theo tỷ lệ thể tích 1:1000 trộn với cám sao cho đạt độ ẩm khoảng 65-70% (dùng tay cầm một nắm cám, bóp chặt, thấy cám vo lại thành cục và nước rỉ ra một vài giọt là được), trải cám thành một lớp cao khoảng 30-40 cm, dùng rơm rạ hoặc một tấm bạt phủ kín. Trong quá trình ủ, khi thấy nhiệt độ cao hơn 45 độ C thì nên tiến hành đảo đống ủ để nhiệt độ hạ xuống (nhiệt độ quá cao sẽ làm chết các vi sinh vật có ích). Tiến hành ủ như vậy cho đến khi nhiệt độ trở lại bình thường là hoàn tất. Đây gọi là IMO-3.

Dùng IMO-3 trộn với đất theo tỷ lệ khối lượng 1:1, trải thành lớp dày khoảng 20 cm, phủ bạt hoặc rơm lên để khoảng 1 ngày để vi sinh vật phân bố đều khắp đống ủ. Nếu thấy hỗn hợp bị khô thì dùng IMO-2 loãng làm ẩm. Đây gọi là IMO-4. Đất đem dùng nên là đất kết hợp từ rừng, trang trại, đồng lúa, …

Trộn IMO-4 với phân gà theo tỷ lệ 1:1 về khối lượng, chất đống cao khoảng 80-90 cm, phủ kín lại tiến hành ủ trong khoảng 7 ngày. Sản phẩm thu được gọi là IMO-5, là một nguồn phân bón hữu cơ hầu như không còn mùi hôi, có thể đem bón trực tiếp cho cây trồng.

Tự Làm Chế Phẩm Sinh Học Diệt Rầy

Hiệu lực trừ rầy của chế phẩm sinh học trong vụ ĐX với mật độ rầy từ 450 – 550 con/m2, đạt 61,78%, vụ HT với mật độ rầy từ 250 – 400 con/m2, đạt 55,07%.

Nghệ An hằng năm gieo trồng 2 vụ lúa với khoảng 180.000 ha lúa nước nên việc phòng trừ các đối tượng gây hại trên lúa như rầy nâu, rầy xanh đuôi đen, rầy lưng trắng luôn được quan tâm hàng đầu.

Rầy không chỉ gây hại trực tiếp cho cây lúa mà còn là vật trung gian truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và rầy lưng trắng môi giới truyền bệnh lùn sọc đen phương Nam (hiện chưa có thuốc đặc trị).

Từ trước đến nay, để phòng trừ rầy bảo vệ lúa, các địa phương đều phải sử dụng các loại thuốc BVTV độc hại. Vì thế ngoài việc diệt trừ đối tượng gây hại, thuốc BVTV hóa học còn tiêu diệt luôn cả thiên địch có lợi trên đồng ruộng và gây ô nhiễm môi trường, dư lượng tồn dư trong sản phẩm còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người, vật nuôi.

Trước tình hình đó, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã nghiên cứu ứng dụng thành công thuốc BVTV bằng CNSH từ loài nấm xanh (hay còn gọi là nấm Lục Cương, nấm cứng xanh) thuộc ngành nấm bất toàn, bộ nấm Đĩa (Melanconiales), họ nấm Đĩa (Melanconiaceae), có tên khoa học là Metarhizium anisopliae var. Trong đó, một số tỉnh, TP như Sóc Trăng, Cần Thơ, Tiền Giang… đã dùng nấm xanh phòng trừ rầy cho hiệu quả cao và hiện đã nhân rộng ra nhiều tỉnh, thành phố.

Tại Nghệ An, từ năm 2011 đến nay, để hỗ trợ bà con nông dân ứng dụng nấm xanh phòng trừ rầy hại lúa theo hướng sinh học, an toàn, bền vững, nâng cao giá trị sản phẩm và từng bước hạn chế sử dụng thuốc BVTV hóa học, Trung tâm Bảo vệ tài nguyên & môi trường rừng (Hội KHKT Lâm nghiệp Nghệ An) đã đầu tư kinh phí, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật và triển khai nghiên cứu ứng dụng nấm xanh và bước đầu đạt được kết quả.

Trong năm 2011, đội ngũ cán bộ của Trung tâm đã bắt đầu triển khai công tác nghiên cứu nhân nuôi nấm xanh. Từ mẫu rầy bị bệnh nấm xanh thu thập được ngoài đồng ruộng, Trung tâm đã phân lập và tuyển chọn được giống thuần (giống gốc Na1).

Từ đó, nhân nuôi nấm sinh khối trên môi trường cấp II, cấp III bằng một số công thức môi trường khác nhau, nhờ đó đã lựa chọn được hai môi trường nhân nuôi nấm xanh đảm bảo chất lượng tốt.

Năm 2012 và 2013, Trung tâm chính thức đưa chế phẩm Metar-Na ra đồng ruộng khảo nghiệm trên cả 2 vụ ĐX và HT tại huyện Hưng Nguyên với liều lượng 3 kg + 320 lít nước/ha và phun 2 lần/vụ. Phun lần 1 vào giai đoạn lúa đẻ nhánh rộ, phun lần 2 vào giai đoạn lúa đòng già khi rầy tuổi nhỏ (tuổi 1 – 3). Hiệu lực trừ rầy trong vụ ĐX với mật độ rầy từ 450 – 550 con/m2, đạt 61,78%, vụ HT với mật độ rầy từ 250 – 400 con/m2, đạt 55,07%.

Qua nghiên cứu, SX và ứng dụng thực tế trong 3 năm qua, Trung tâm Bảo vệ tài nguyên & môi trường rừng Nghệ An đã xây dựng được quy trình SX nấm xanh đơn giản, rẻ tiền, sẵn có, rất phù hợp với hộ gia đình, nhóm hộ, HTX… Trung tâm tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương ứng dụng quy trình tự làm nấm xanh để quản lý rầy hại lúa.

Trung tâm tiếp tục khảo nghiệm chế phẩm Metar-Na trên diện rộng, tại hai huyện Đô Lương và Quỳnh Lưu. Nhưng tăng liều lượng nấm lên 4 kg + 400 lít nước/ha. Kết quả, hiệu lực trừ rầy tại mô hình xóm Toàn Mỹ, xã Hòa An, huyện Quỳnh Lưu (mật rầy từ 1.500 – 2.600 con/m2) đạt 74,98%; tại mô hình xóm 7 xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương (mật độ rầy từ 1.400 – 2.900 con/m2) đạt 78,14%.

Điều đáng mừng là vụ ĐX 2013 trên diện tích đã khảo nghiệm không có rầy xuất hiện. Bước sang vụ HT mật độ rầy có phát sinh rải rác, nhưng nơi cao nhất cũng chỉ từ 17 – 155 con/m2.

Từ các mô hình khảo nghiệm trên, nhưng Trung tâm đã điều chỉnh theo hướng giữ nguyên liều lượng chế phẩm 3 kg/ha + 400 lít nước, phun bằng bình bơm tay đeo vai để phun chế phẩm kỹ hơn tăng khả năng tiếp xúc của nấm với rầy để tăng hiệu quả trừ rầy lên mức cao hơn.

Tại các mô hình khảo nghiệm chế phẩm được sử dụng đều dạng nấm tươi (khi hoàn thành quá trình nuôi cấy, đủ tiêu chuẩn là đem sử dụng – nuôi trong túi nilon từ 10 – 14 ngày sau khi cấy giống gốc) nên có ưu điểm là khả năng gây bệnh cho rầy nhanh, mạnh, nhất là khi điều kiện thời tiết phù hợp.

Điều đáng mừng là việc sử dụng chế phẩm nấm xanh để phòng trừ rầy hại lúa tại các mô hình đều không sử dụng thêm bất cứ loại thuốc BVTV nào nên các loài thiên địch trên ruộng mô hình như nhện ăn thịt (Lycosa pseudoannulata), nhện lùn (Atypena formosana); bọ rùa đỏ (Micraspis sp), bọ rùa vàng (M.crocea), bọ rùa 6 chấm (Menochilus sexmaculatus), bọ rùa 8 chấm (Harmonia octomaculata); nhóm bọ xít có bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis), bọ xít nước (Mesovelia vitigera, bọ xít nước gọng vó (Limnogonus fossarum)… phát triển mạnh đã góp phần tích cực vào việc tiêu diệt làm giảm mật độ rầy trên đồng ruộng và trở thành “những người bạn hữu ích của nhà nông”.

Nguyễn Văn Hội/ chúng tôi

Quy Trình Chăm Sóc Vườn Ươm Cây Ăn Quả Bằng Chế Phẩm Sinh Học

Giúp cây giống nhanh nảy mầm, tăng tỷ lệ sống đối với cây ghép Tăng khả năng hình thành Callus và khả năng ra rễ đối với cây chiết Tạo điều kiện cho cây con sinh trưởng phát triển tốt ở giai đoạn đầu Làm tăng sức đề kháng của cây con, giúp cây con nhanh hồi xanh khi đem ra trồng đại trà Tiết kiệm thời gian và chi phí trong quá trình thâm canh.

Cách sử dụng Chế phẩm sinh học VƯỜN SINH THÁI cho vườn ươm

1. Xử lý đất trồng và phân bón lót

– Xử lý đất: Sau khi làm đất lên luống, dùng 10mlchế phẩm VƯỜN SINH THÁI pha 10 lít nước hoặc 10ml chế phẩm pha với 5 lít nước sạch (nếu đất xấu) phun đều 1 lượt lên diện tích đất ươm giống. Phun 2 lần mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày.

– Xử lý phân bón lót: Đối với các loại phân bón lót như phân chuồng, phân xanh, lân…dùng 15ml chế phẩm pha với 3 – 5 lít nước phun đều lên đống phân đã trộn và ủ ít nhất một tháng trước khi bón lót.

3. Thời kỳ cây con Xử lý giá thể làm bầu: sau khi đã trộn đều các thành phần trong giá thể làm bầu (trấu hun, đất bột mịn, lân, phân hữu cơ đã ủ hoai mục, các hóa chất xử lý vi sinh vật và côn trùng gây hại…) trải đều giá thể ra nền dùng 5ml chế phẩm VƯỜN SINH THÁI pha 10 lít nước phun và trộn đều, làm như vậy 2 lần mỗi lần cách nhau ít nhất 1- 2 ngày và duy trì độ ẩm thích hợp, sau 2 – 4 ngày cho giá thể vào bầu. Khi cây có lá thật, hệ rễ bắt đầu phát triển, dùng 5ml chế phẩm VƯỜN SINH THÁI pha với 10 – 15 lít nước sạch phun đều 1 lượt. Phun lần thứ 2 cách thời điểm ra ngôi cây con (đem cây con trồng vào bầu) khoảng 7 – 10 ngày.

4. Thời kỳ chăm sóc vườn ươm (cây con trong bầu): Thời kỳ này cây con rất mất cảm với nhiệt độ và độ ẩm do đó phải duy trì độ ẩm và che mát cho cây con sinh trưởng phát triển tốt. Sau khi cây con bén rễ hồi xanh dùng 5mlchế phẩm VƯỜN SINH THÁI hòa với 10 – 15 lít nước phun đều 1 lượt. Cách 8 – 12 ngày phun 1 lượt cho đến khi đem trồng đại trà.

VƯỜN SINH THÁI