Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Đinh Lăng / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Kỹ Thuật Trồng Cây Đinh Lăng Lấy Củ. Cách Trồng Cây Đinh Lăng Cho Củ To

Cây đinh lăng là một loại cây thường dùng để làm thuốc trị bệnh cũng như làm gia vị cho các món ăn như gỏi cá, thịt chó và nhiều món khác.

Loại cây này có thể tận dụng được nhiều bộ phận khác nhau, tất cả đều có giá trị nhưng giá trị nhất đó là bộ củ của nó. Giá một bộ củ rẻ nhất cũng phải từ 200.000 đồng/loại 2kg. Những củ có tuổi đời 8-10 năm thì giá hàng triệu.

Cách trồng cây đinh lăng lấy củ

1. Chọn giống cây đinh lăng

Đinh lăng có rất nhiều giống khác nhau nhưng nếu trồng để lấy củ bà con nên chọn loại Đinh lăng nếp có lả nhỏ và xoăn, vỏ cây nhẵn, củ to. Năng suất cây sẽ chất lượng và cao hơn. Loại đinh năng này có khả năng phát triển mạnh, thích hợp cho việc trồng trọt, kinh doanh.

Khi chọn giống không nên chọn cây quá già hoặc quá non. Mua được cây giống thì sẽ dễ chăm sóc còn hơn hoặc dùng cành đinh lăng, chặt thành nhiều đoạn từ 2-30cm, tránh để dập 2 đầu.

2. Đất trồng cây đinh lăng

Cây đinh lăng là cây có khả năng chịu hạn và không thể chịu được ngập úng. Chúng phát triển tốt ở vùng đất pha cát, tơi xốp, có độ ẩm trung bình. Trong kinh doanh cây đinh lăng, trồng diện tích lớn bà con phải cày đất tơi xốp, đánh luống cao 20cm, rộng 50cm. Nếu trồng ở vùng đất đồi núi thì phải làm hốc sâu 20cm, đường kính hố 40cm để đặt cây giống vào.

Thời vụ tốt nhất để trồng đinh lăng từ tháng 1-4. Nếu trồng vào mùa hè thì cần giâm cành cho ra rễ trước khi đặt xuống đất trồng.

3. Kỹ thuật trồng đinh lăng

Trồng đinh lăng có thể áp dụng nhiều cách khác nhau, giâm trực tiếp vào các bầu đất nilong hoặc cấy trên đất cát vàng đều có thể sinh trưởng được. Mỗi 1ha nên trông khoảng 40.000 đến 50.000 cây.

Khi trồng bà con trồng cây giống cách nhau 50cm, nghiêng theo chiều luống. Khi trồng xong phủ rơm rạ hoặc bèo tây lên mặt luống để giữ độ ẩm và tạo mùn cho đất. Trường hợp đất khô cằn thì cần tưới nước tạo ẩm bơm ngập 2/3 luống, tưới nước đẫm khoảng 25 ngày để đất tơi xốp.

Chú ý không được để cây ngập úng sẽ dễ chết. Khi đất đủ ẩm thì khơi thông rãnh để nước chảy đi, ngày mưa lớn cũng phải thoát nước hiệu quả, tránh thối hom giống, bầu giống.

Ngoài cách trồng theo diện tích lớn, đào hố thì bà con có thể trồng thẳng hàng hoặc tạo hình dáng vừa thu dược liệu vừa làm cảnh.

Để cây phát triển tốt thì bà con cần bón lót 10- 15 tấn phân chuồng/ha, 400- 500 kg phân NPK/ha.

Trong năm đầu tiên cần cung cấp phân bón để thúc đẩy cây sinh trưởng tốt nhất. Cây cần bón thúc 8kg urê/sào, rắc trực tiếp vào luống cây và lấp đất lên. Khi cây lên tươi tốt thì cần tỉa bớt cành nhỏ, cành con để tập trung dinh dưỡng cho thân và cành lớn. Bón thúc vào năm thứ 2 6 tấn/ha phân chuồng và 300 kg NPK+100 kg kali. Lưu ý cần vun đất phủ kín gốc cây đinh lăng để cây có điều kiện phát triển mạnh nhất, bộ rễ có được nhiều chất dinh dưỡng để phát triển.

Cây đinh lăng có khả năng thích nghi khá lớn, chịu hạn, ít sâu bệnh. Hầu như trong suốt quá trình chăm sóc không phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, cây tự phát triển tự nhiên. Tuy nhiên, với kỹ thuật để lấy củ to thì bà con không nên để nhiều cành mà chỉ để 1 đến 2 cành là được. Tập trung phân bón dưỡng chất vào bộ củ của cây.

5. Thu hoạch cây đinh lăng

Tất cả các bộ phận của cây đinh lăng đều có tác dụng chữa bệnh. Tuy nhiên, đinh lăng phải trồng từ 2 năm trở ra mới cho thu hoạch. Khi thu hoạch bà con ngắt lá trước sau đó đến thân và rễ. Rễ và thân khi thu hoạch cần rửa sạch đất cát, cắt rời rễ lớn, hong gió một ngày cho ráo nước (giúp bóc vỏ dễ hơn). Những rễ to thì nên bóc vỏ để riêng.

Lá thu hoạch sấy khô để bảo quản. Thân lá dùng để làm thuốc bổ tăng cân, tăng co bóp tử cung. Rễ làm thuốc bổ tăng lực, tiêu hóa kém, phụ nữ sau sinh ít sữa, chữa ho ra máu, kiết lỵ … Rễ càng to thì càng có giá trị.

Chúc bà con thành công!

Trồng cây đinh lăng không tốn nhiều công chăm sóc, nhất là ít bị sâu bệnh nên khá nhàn. Chưa kể thu hoạch đinh lăng lúc nào cũng được, càng lâu càng có giá trị không lo bi mất giá. Chính vì vậy,đầu tư vào cây đinh lăng bà con chắc chắn sẽ thu được nguồn lợi lớn, lâu dài.

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Đinh Lăng

Kỹ thuật trồng

1. Giống:

 Đinh lăng có 2 loại: – Đinh lăng lá nhuyễn (sử dụng để làm thuốc và ăn sống). – Đinh lăng lá to (sử dụng chủ yếu trong trang trí hoa kiểng). Trồng bằng cách giâm cành: Trên những cây đinh lăng sinh trưởng mạnh (cây khoảng 6 – 8 năm tuổi sau khi trồng), không sâu bệnh hại để chọn những cành khoẻ, cành bánh tẻ (không già, không non) – cành vừa hoá nâu, sau đó cắt từng khoảng dài 7 – 10 cm để làm giống cho vụ sau. Bằng cách như sau: – Bước 1: Chuẩn bị cây giống (những đoạn cây giống vừa nêu trên). – Bước 2: Hỗn hợp trong bầu đất gồm: tro trấu, phân chuồng hoai mục và đất với tỉ lệ 1:1:1. – Bước 3: Nhúng vào dung dịch  – Bước 4: Ghim cây giống lên bầu đất đã chuẩn bị, độ nghiêng của cây so với mặt bầu khoảng 45

0

. – Bước 5: Sau khi ghim khoảng 3 tháng cây ra rễ, có thể đem ra ruộng (vườn) trồng, tưới nước để giữ ẩm. Tiến hành cắt bỏ bớt lá (nếu cần). Trong tuần đầu tiên, tưới nước ngày 2 lần. Sau đó tưới nước 1 lần/ngày. 10 ngày sau khi giâm sử dụng phân 

2. Thời vụ: 

Cây đinh lăng có thể trồng quanh năm, tốt nhất là đầu mùa mưa.

3. Đất

  – Cây đinh lăng rất dễ trồng, thích hợp trên nhiều vùng đất nhưng đất không bị nhiều phèn và mặn là được. Tốt nhất là trồng trên đất thịt nhiều bùn, thoát nước tốt. – Đào lỗ với kích thước chiều sâu x đường kính: 7 x 4 cm, kích thước lỗ đào vừa với kích thước  bịch trồng.  – Cây cách cây: 40 cm; hàng cách hàng 50 cm.

4. Bón phân 

(lượng phân tính cho 1.000 mét vuông)

Giai đoạn trồng mới:

Phân chuồng hoai mục: 300 kg  + 5 kg  Trồng kinh doanh: (3 – 4 tháng bón phân 1 lần).

Năm thứ 1:

– Phân  – Phân NPK (16-16-8): 40 kg

Năm thứ 2:

– Phân  – Phân 

N

: 40 kg Các năm tiếp theo, lượng phân cũng như năm thứ 2 nhưng cần bổ sung thêm các loại phân bón qua lá để tăng thêm hàm lượng vi lượng cho cây. Cần tỉa cành, tạo tán cho cây để cải thiện tiểu khí hậu trong vườn.

5 Chăm sóc, thu hoạch

: – Vệ sinh vườn, tránh có cạnh tranh dinh dưỡng với cây, hạn chế sâu bệnh. – Tưới nước 1 ngày/lần. – Trong quá trình thu hoạch cây kết hợp với cắt tỉa, tạo cây có bộ khung tán đẹp, vườn thông thoáng.

6 Phòng trừ sâu bệnh:

Cây đinh lăng tương đối ít bị sâu bệnh hại tấn công. Nếu có thì các đối tượng sâu bệnh hại trên cây chủ yếu như: Sâu cuốn lá, sâu xanh, sử dụng các loại thuốc vi sinh Biocin luân phiên với thuốc 

7 Thu hoạch:

– Thu hoạch đinh lăng bằng cách cắt cành. – Sau khi trồng khoảng 3 năm thì chúng ta có thể thu hoạch đợt đầu. – Các đợt tiếp theo sau khoảng 5 – 6 tháng.

Bài viết được cập nhật bởi:

Th.S TRẦN VĂN TUYẾN – Công ty Vinhthinh Biostadt JSC

Cây đinh lăng có nguồn gốc từ vùng đảo Polynesie (Thái Bình Dương), thuộc họ Araliaceae, chi Polyscias Forst và Forst.f, chi này gần 100 loài trên thế giới phân bố rải rác ở vùng nhiệt đới và vùng cận nhiệt đới, nhiều nhất ở vùng đảo Thái Bình Dương (Võ Văn Chi và Trần Hợp, 1999). Ở Việt Nam, hiện có hơn 10 loài đinh lăng, đa số đinh lăng trồng hiện nay được sử dụng để làm cảnh, chỉ có vài loài được sử dụng làm thuốc, loài đinh lăng được sử dụng làm thuốc phổ biến nhất là Polyscias fruticosa L.Harms. Đây là loài có nhiều tác dụng dược lý giống Nhân Sâm (Phạm Hoàng Hộ, 2000). Bộ (ordo): Apiales, họ (familia): Araliaceae (Ngũ gia bì hay Nhân Sâm), phân họ (subfamilia): Aralioideae, chi (genus): Polyscias, loài (species): P. fruticosa, tên hai phần : Polyscias fruticosa (L.) Harms, 1894, tên thông thường: Đinh Lăng lá nhỏ, Nam dương lâm.Đinh lăng có 2 loại:- Đinh lăng lá nhuyễn (sử dụng để làm thuốc và ăn sống).- Đinh lăng lá to (sử dụng chủ yếu trong trang trí hoa kiểng).Trồng bằng cách giâm cành:Trên những cây đinh lăng sinh trưởng mạnh (cây khoảng 6 – 8 năm tuổi sau khi trồng), không sâu bệnh hại để chọn những cành khoẻ, cành bánh tẻ (không già, không non) – cành vừa hoá nâu, sau đó cắt từng khoảng dài 7 – 10 cm để làm giống cho vụ sau. Bằng cách như sau:- Bước 1: Chuẩn bị cây giống (những đoạn cây giống vừa nêu trên).- Bước 2: Hỗn hợp trong bầu đất gồm: tro trấu, phân chuồng hoai mục và đất với tỉ lệ 1:1:1.- Bước 3: Nhúng vào dung dịch Wokozim lỏng (kích thích ra rễ) đã pha sẵn nồng độ (25ml/1lít nước).- Bước 4: Ghim cây giống lên bầu đất đã chuẩn bị, độ nghiêng của cây so với mặt bầu khoảng 45- Bước 5: Sau khi ghim khoảng 3 tháng cây ra rễ, có thể đem ra ruộng (vườn) trồng, tưới nước để giữ ẩm.Tiến hành cắt bỏ bớt lá (nếu cần). Trong tuần đầu tiên, tưới nước ngày 2 lần. Sau đó tưới nước 1 lần/ngày. 10 ngày sau khi giâm sử dụng phân Wokozim lỏng (1ml/lít nước) để phun. Sau đó 3 tuần, sử dụng phân NPK + Wokozim hạt để bổ sung cho cây.Cây đinh lăng có thể trồng quanh năm, tốt nhất là đầu mùa mưa.- Cây đinh lăng rất dễ trồng, thích hợp trên nhiều vùng đất nhưng đất không bị nhiều phèn và mặn là được. Tốt nhất là trồng trên đất thịt nhiều bùn, thoát nước tốt.- Đào lỗ với kích thước chiều sâu x đường kính: 7 x 4 cm, kích thước lỗ đào vừa với kích thước bịch trồng.- Cây cách cây: 40 cm; hàng cách hàng 50 cm.(lượng phân tính cho 1.000 mét vuông)Phân chuồng hoai mục: 300 kg + 5 kg Wokozim hạt. Trồng kinh doanh: (3 – 4 tháng bón phân 1 lần).- Phân Wokozim : 5 kg.- Phân NPK (16-16-8): 40 kg- Phân Wokozim : 10 kg.- Phân PK 20-15-17 + TE : 40 kgCác năm tiếp theo, lượng phân cũng như năm thứ 2 nhưng cần bổ sung thêm các loại phân bón qua lá để tăng thêm hàm lượng vi lượng cho cây. Cần tỉa cành, tạo tán cho cây để cải thiện tiểu khí hậu trong vườn.- Vệ sinh vườn, tránh có cạnh tranh dinh dưỡng với cây, hạn chế sâu bệnh.- Tưới nước 1 ngày/lần.- Trong quá trình thu hoạch cây kết hợp với cắt tỉa, tạo cây có bộ khung tán đẹp, vườn thông thoáng.Cây đinh lăng tương đối ít bị sâu bệnh hại tấn công. Nếu có thì các đối tượng sâu bệnh hại trên cây chủ yếu như: Sâu cuốn lá, sâu xanh, sử dụng các loại thuốc vi sinh Biocin luân phiên với thuốc Tricel 48EC , Sherpa, Sherzol, SecSaigon.- Thu hoạch đinh lăng bằng cách cắt cành.- Sau khi trồng khoảng 3 năm thì chúng ta có thể thu hoạch đợt đầu.- Các đợt tiếp theo sau khoảng 5 – 6 tháng.

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Đinh Lăng

Trồng và chăm sóc cây đinh lăng đúng kỹ thuật

1. Lựa chọn giống

Hiện nay có hai loại giống cây đinh lăng là loại lá nhỏ và loại lá to. So sánh về giá trị thì loại cây lá nhỏ vượt trội hoàn toàn với loài lá to nên khi lựa giống cần chọn giống lá nhỏ và xoăn, vỏ cây nhẵn, củ to, rễ mềm, vỏ bì dày.

– Cành giâm: Để cây phát triển tốt nhất thì nên lự chọn những cành bánh tẻ và giâm cành vào bầu. Khi tiến hành giâm phải dùng dao hoặc kéo sắc cắt vát 45 0 thành từng đoạn với chiều dài cành giâm khoảng 15-20 cm hoặc 40-50 cm; đường kính 1,0 -1,5 cm tùy thuộc vào lượng cành giống và mục đích sử dụng.

Lưu ý: Khi giâm cành cần cắt bớt lá và trước khi cắm vào bầu cần nhúng qua dung dịch kích thích ra rễ để cây phát triển nhanh hơn.

– Kỹ thuật làm bầu: Nên lựa chọn loại đất tươi xốp, có đủ chất dinh dưỡng trong quá trình giâm.

Vỏ bầu thường được dùng là túi ni lông chọc thủng góc, cạnh có kích thước tùy vào độ lướn của cành được giâm.

Nên dùng lưới đen để che nắng và ni lông để che mưa cho bầu cây trong thời gian đầu khi mới bắt đầu giâm.

Thường bổ sung độ ẩm của bầu cây bằng cách phun sương.

Sau khoảng thời gian 30 – 40 ngày thì lá già bắt đầu rụng thì cần đưa bầu cây ra phơi nắng.

Phơi năng 10 – 15 ngày thì lá già đã rụng hết và chồi cây bắt đầu ra thì đã có thể đem trồng.

là loài cây dễ sống và thích nghi được với các vùng khí hậu khác nhau. Nhưng để đảm bảo cây sống và phát triển thì nên trồng vào mùa xuân khi nhiệt độ mát mẻ.

a. Chuẩn bị đất trồng:

Cây đinh lăng có thể sống được tại các khu vực đất khác nhau những tốt nhất là trên đất pha cát, tơi xốp và thoát nước tốt.

Có thể trồng theo luống và đào rãnh sâu để chủ động trong việc thoát nước.

b. Phân bón

Nên bón phân lót trước khi đem cây ra trồng, khi trồng không được đặt trực tiếp bầu cây lên trên phân. Phân lót được ưu tiên là phân gia súc hoai mục kết hợp phân kali.

c. Kỹ thuật trồng:

Khi trồng thì cần đặt cây chính giữa hố, miền bầu ngang với mặt đất rồi nhẹ nhàng ven đất cao ở gốc để tránh đọng nước.

Giữ độ ẩm của đất bằng cách phủ rơm hoặc bèo tây lên mặt luống.

Khi trồng cần cắt bỏ lớp nilong vỏ bầu để rễ cây phát triển tốt nhất.

4. Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh

Công việc chăm sóc cây sau khi trồng là cự kì quan trọng. Có thể là cây sẽ sống những nếu không được quan tâm thì cây rất dễ bị các loại vi khuẩn hay sâu bệnh tấn công.

Trong thời gian đầu khi trồng thì cần thường xuyên bón phân theo tỷ lệ 1 – 2 lần/tháng. Tỷ lệ này sẽ ít lại khi cây lớn hơn.

Thường xuyên tưới nước để tạo độ ẩm cho đất.

Trồng được 2 năm tuổi trở đi, nên cắt bỏ bớt cành và lá thừa vào khoảng tháng 4 và tháng 9 hàng năm. Mỗi gốc chỉ nên để 1 -2 cành to để dinh dưỡng tập trung nuôi củ. Thường xuyên dọn cỏ sạch sẽ trong vườn, tránh để cỏ rậm rạp vừa cạnh tranh dinh dưỡng với cây, vừa là nơi cư trú, lan truyền mầm bệnh.

Chăm sóc cây bằng các thuốc trừ sâu để tránh bị xám, rầy, rệp sáp, sâu ăn lá, nấm bệnh tấn công.

Nên có các biện pháp diệt chuột để tránh tình trạng chuột cắn gốc cây.

Một cây đinh lăng bình thường sẽ được thu hoạch tử 3-5 năm. Trong quá trình thu hoạch cần theo dõi những thân cây tốt để tiếp tục nhân giống.

Nguồn: Cây Giống Vĩnh Phúc.

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Đinh Lăng Lấy Củ

Cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa) thuộc họ Ngũ gia bì, trồng không quá khó. Loài cây này là một loại dược liệu quý bởi con người có thể sử dụng được toàn bộ cây từ rễ, củ, cành và lá để làm thuốc trị Bệnh, bồi bổ sức khỏe và làm gia vị cho các món ăn như gỏi cá, thịt chó…

Kỹ thuật trồng cây đinh lăng không quá phức tạp

Đinh lăng thuộc loại cây nhỏ, cao khoảng 0,8-1,5m, thường được trồng làm cây cảnh trước nhà hoặc chùa, miếu. Cây có lá kép, mọc so le, lá 3 lần xẻ lông Chim, mép khía có răng cưa. Hoa nhỏ màu t Rắn g, mọc thành tán. Quả dẹt, dài 3-4mm, dày khoảng 1mm. Lá đinh lăng phơi khô, nấu lên có mùi thơm đặc trưng, dân gian gọi nôm na là mùi “thuốc bắc”. Lá tươi không có mùi thơm này.

Đinh lăng là cây sống nhiều năm, ưa ẩm, ưa sáng nhưng cũng chịu hạn, chịu bóng nhưng không chịu úng ngập. Cây có biên độ sinh thái rộng, phân bố trên khắp các vùng sinh thái, có thể phát triển trên nhiều loại đất nhưng tốt nhất là đất pha cát. Cây phát triển mạnh khi nhiệt độ dưới 25 độ C (từ giữa thu đến cuối xuân).

Đây là loài đang sử dụng nhiều nhất: đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Baill), đinh lăng trổ( Đinh lăng viền bạc), đinh lăng lá to (Đinh lăng ráng Polyscias filicifolia (Merr) Baill, đinh lăng đĩa (Polyscias scutellarius (Burm f) Merr), đinh lăng rang (lá 2 lần kép, thân màu xám trắng, tên gọi khác là Polyscias serrata Balf).

Theo dân gian, đinh lăng lá nhỏ có hai loại chính: Đinh lăng nếp và đinh lăng tẻ, kỹ thuật trồng loài cây này không quá khó

Đinh lăng nếp là loại lá nhỏ, xoăn, thân nhẵn, củ to, rễ nhiều và mềm, vỏ bì dày cho năng suất cao và chất lượng tốt, đây là loại hay được chọn để làm giống. Đinh lăng tẻ là loại lá sẻ thùy to, vỏ thân xù xì, màu xanh nhạt, củ nhỏ, rễ ít và cứng, vỏ bì mỏng, năng suất thấp. Loại này người dân không nên trồng.

Đinh lăng là loại cây chịu hạn, không ưa đọng nước, phát triển tốt ở vùng đất pha cát, tơi xốp, có độ ẩm trung bình. Khi trồng đại trà, diện rộng, người dân phải cày bừa làm đất tơi, lên luống cao 20cm, rộng 50cm. Nếu ở vùng đồi, người trồng phải cuốc hốc sâu 20cm, đường kính hố 40cm. Đinh lăng trồng bằng cách giâm cành và có thể trồng được cả bốn mùa nhưng tốt nhất là giữa xuân.

Cây đinh lăng đem lại hiệu quả kinh tế cao

Thời vụ: Người nông dân nên trồng vào mùa xuân, từ tháng 1-4. Vào mùa hè, cây được trồng cần phải giâm hom giống 20-25 ngày cho ra rễ mới đem trồng. Người trồng có thể giâm cành bằng cách đem hom cắm xuống đống cát để trong bóng mát, khoảng cách trồng: 40 x 50 cm hoặc 50×50 cm. Mật độ của cây là khoảng 40.000 đến 50.000 cây/ha.

Phân bón và kỹ thuật bón phân

Bón lót: Mỗi hecta, người dân nên bón lót 10- 15 tấn phân chuồng, 400- 500 kg phân NPK, bón toàn bộ lượng phân lót, tránh bón sát và hôm giống.

Bón thúc: Ở năm đầu, vào tháng 6 sau khi trồng, cây cần được bón thúc 8kg urê/sào bằng cách rắc vào má luống rồi lấp kín. Cuối năm thứ 2, vào tháng 9 sau đợt tỉa cành, cây nên được bón thêm phân chuồng 6 tấn/ha và 300 kg NPK+100 kg kali. Ngoài ra người trồng cần bón thúc vào mùa thu, vun đất phủ kín phân bón để cây có điều kiện phát triển mạnh vào năm sau

Người trồng đặt hom giống cách nhau 50cm, đặt nghiêng hom theo chiều luống, giữa các hom bón lót bằng phân chuồng 4kg/sào và 20kg phân NPK (tránh bỏ phân sát hom giống), sau đó lấp hom, để hở đầu hom trên mặt đất 5cm. Khi trồng xong, người dân nên phủ rơm rạ hoặc bèo tây lên mặt luống để giữ độ ẩm và tạo mùn cho đất tơi xốp. Nếu đất khô, người nông dân phải bơm nước ngập 2/3 luống hoặc tưới nước đảm bảo độ ẩm cho đất trong vòng 25 ngày nhưng không được để ngập nước, nếu trời mưa liên tục phải thoát nước ngay để tránh thối hom giống. Có hai cách trồng.

Một là kết hợp làm cảnh và thu dược liệu: Người dân có thể trồng thành từng hốc hoặc từng hàng thẳng tắp hoặc theo hình dáng tuỳ thích (hình thoi, vòng tròn, vòng ô voan…)

Trồng từng hốc: Người trồng đào hốc có đường kính 1m, sâu 35-40cm, lót đáy hố bằng miếng PE hay nilon cũ (để rễ cây tập trung trong hố, khi thu hoạch sẽ lấy gọn cả bộ rễ một cách dễ dàng). Sau đó, người dân trộn đất với phân chuồng hoai mục (10kg) cho đầy hố, nén đất xuống rồi trồng cây đã ươm vào, ba cây một hố theo hình tam giác đều, cây cách cây 50cm. Cây cần được tưới nước và ấn chặt đất xung quanh gốc, người chăm nên vun đất tạo thành vồng có rãnh thoát nước xung quanh. Nếu có, bèo tây ủ vào gốc để giữ ẩm là tốt nhất.

Trồng theo hàng thẳng hoặc tạo hình dáng: Bước đầu tiên là người trồng đào băng rộng 40cm, sâu 35-40cm, lót nilon cũ hoặc PE cũ xuống đáy và trồng cây như trên (không đặt cây theo hình tam giác đều mà chỉnh theo hàng thẳng hoặc hình dáng định trồng).

Hai là trồng trên diện tích lớn: Người nông dân cần làm luống rộng 60cm, cao 35-40cm, bổ hốc thành hai hàng lệch nhau, cây cách cây 50cm. Bước tiếp theo là người dân cho phân hoai mục xuống, lấp đất mỏng, đặt cây đã ươm vào trồng, tưới nước rồi ấn chặt đất quanh gốc. Nếu cây được trồng trên đất dốc, người trồng phải làm luống theo đường đồng mức để tránh trôi màu, hạn chế thoát nước nhanh sau khi mưa.

Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh

Đinh lăng là cây phát triển quanh năm, chịu hạn, ít sâu bệnh. Hầu như không cần sử dụng thuốc BVTV. Từ năm thứ 2 trở đi, người chăm cần tỉa bớt lá và cành, mỗi năm 2 đợt vào tháng 4 và tháng 9. Mỗi gốc chỉ nên để 1-2 cành to.

Đinh Lăng là cây phát triển quanh năm, chịu hạn và ít bị sâu bệnh hại. Giai đoạn đầu mới trồng, cây thường bị sâu xám cắt lá mầm và ăn vỏ thân, giai đoạn cây phát triển mạnh hầu như không bị sâu hại.

Tất cả các bộ phận của cây đều có công dụng trong y học

Trong giai đoạn đầu, người trồng cần chú ý phòng từ kịp thời tránh ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây. Người chăm bón có thể dùng thuốc hoặc bắt sâu bằng tay vào sáng sớm hoặc chiều muộn. Ngoài ra, người dân có thể dùng một số loại thuốc phòng trừ sâu xám như sau: Dùng thuốc đơn TP-Pentin 18EC, Basudin 50EC; Shecpain 36EC, Gottoc 250EC hoặc phối hợp hai loại thuốc khác nhau: Diptere 80WP + Karate 2,5EC, Sevin 40% + Sherpa 25EC, Ganoi 95SP + Abamectin 36EC, Regent 800WG + Sokupi 0,36AS… hoặc dùng một trong các loại thuốc sâu dạng hạt, bột như: Basudin 10H, Vibasu 10G, Furadan 3G, Regent 3G… trộn một phần thuốc với 10 phần đất bột khô rắc vào quanh gốc cây khi cấy trồng có tác dụng phòng trừ sâu xám rất tốt.

Thu hái, chế biến, bảo quản

Lá: Khi chăm sóc, người trồng cần tỉa bớt lá chỗ quá dầy. Khi thu vỏ rễ, vỏ thân , người thu nên thu hoạch lá trước, sau đó mới chọn hom giống. Lá thu được đem hong gió cho khô là tốt nhất (âm can), cuối cùng sấy cho thật khô.

Vỏ rễ, vỏ thân: Người nông dân có thể thu hoạch vào cuối thu năm thứ 2 (cây trồng 5 năm có năng suất vỏ rễ vỏ thân cao nhất). Rễ và thân câycần được rửa sạch đất cát, cắt rời rễ lớn, hong gió một ngày cho ráo nước (giúp bóc vỏ dễ hơn) để riêng từng loại vỏ thân, vỏ rễ sau khi bóc. Rễ nhỏ có đường kính dưới 10mm không nên bóc vỏ, loại đường kính dưới 5mm nên để riêng. Rễ cần được phơi, sấy liên tục đến khi khô giòn.

Phân loại: Loại I là vỏ, rễ cây loại có đường kính (lúc tươi) từ 10mm trở lên. Loại II là vỏ thân và vỏ rễ có đường kính dưới 10mm (vỏ thân gần gốc dày trên 2mm). Loại III là các loại rễ và vỏ thân mỏng dưới 2mm.