Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Dâu Tây / Top 7 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cây Dâu Tây

1. Đặc điểm thực vật học:

Thân: Thuộc loại cây thân thảo, sống đa niên, thân ngắn với nhiều lá mọc rất gần nhau. Chồi nách được mọc từ nách lá, tuỳ vào điều kiện môi trường và đặc tính ra hoa của từng giống, các chồi nách có thể phát triển thành thân nhánh, thân bò hoặc phát hoa.

Lá: Lá có hình dạng, cấu trúc, độ dày và lượng lông tơ thay đổi tùy theo giống. Hầu hết các giống dâu tây đều có lá kép với 3 lá chét, một số giống có lá kép với 4 hoặc 5 lá chét. Mép lá có răng cưa. Cuống lá dài, cuống lá thường có màu trắng khi lá còn non và chuyển sang màu đỏ của đất khi lá già.

Hoa: Phân chia thành nhiều nhánh, mỗi nhánh có một hoa. Hoa có 5 cánh tràng mỏng, màu trắng, hơi tròn. Hoa lưỡng tính, có 25-30 nhị và 50-500 nhụy. Dâu tây là loài giao phấn nhưng thông qua hình thức tự thụ phấn để gia tăng tần suất các gen mong muốn và tạo ra một số loài.

Quả: là một loại quả giả do đế hoa phình to, quả thật nằm ở bên ngoài quả giả. Quả có hình bầu dục, quả non có màu xanh lục, khi quả chín, quả có màu hồng hoặc màu đỏ tuỳ từng giống. Quả Dâu tây có mùi thơm, vị ngọt lẫn vị chua.

Rễ: Hệ thống rễ chùm, rễ phát triển ở độ sâu cách mặt đất khoảng 30cm.

2. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh:

Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển từ 18-22 0 C. Ánh sáng cần thiết cho cây dâu tây sinh trưởng và phát triển, cường độ ánh sáng mạnh thì mới sinh trưởng mạnh, thiếu ánh sáng thường ảnh hưởng đến khả năng ra hoa kết quả. Độ ẩm cần thiết cho sự phát triển của cây dâu tây trên 84%, ẩm độ không khí cao và mưa kéo dài thường gây bệnh cho cây. Cây dâu tây thích hợp với loại đất thịt nhẹ, hàm lượng chất hữu cơ cao, đất giữ ẩm nhưng thoát nước tốt. Đất có hàm lượng chất hữu cơ cao sẽ giúp cho cây dâu tây phát triển tốt, đạt năng suất cao và kéo dài thời gian thu hoạch quả.

Phần II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc:

1. Giống: Hiện nay, tại Lâm Đồng dâu tây sử dụng 2 cơ cấu giống chính là giống ngoài trời: Giống Mỹ đá, Mỹ thơm (Pajero), Langbiang… và giống trong nhà mái che: Giống Newzealand và giống Akihime.

Tiêu chuẩn lựa chọn giống xuất vườn:

Giống cây dâu tây hiện nay chủ yếu nhân giống vô tính theo 2 cách:

Cấy mô: Cây con sẽ đạt được tiêu chuẩn tốt, độ đồng điều cao, phát huy ưu điểm của giống, sức sống khỏe, năng suất cao, sạch bệnh.

Tách cây con từ ngó cây mẹ: Phương pháp này dễ làm, chủ động nhưng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của cây mẹ. Cây con không đạt tiêu chuẩn và sức sống như cây cấy mô. Chỉ nên lấy cây con từ tách ngó cây mẹ dưới 01 năm tuổi thì mới đảm bảo chất lượng giống.

Giống trồng từ ngó: 66% và Giống trồng từ cây mô: 34%

2. Chuẩn bị đất: Chọn đất thịt nhẹ, cao ráo, thoát nước tốt. Cây dâu tây là đối tượng của nhiều loại sâu, bệnh, do đó biện pháp chọn đất, làm đất, xử lý đất phải chú trọng đúng mức để hạn chế nguồn bệnh ban đầu lây lan từ đất.

Vệ sinh đồng ruộng thu dọn tất cả tàn dư cây trồng trước, làm đất xử lý vôi và các loại thuốc sâu, thuốc bệnh.

3. Trồng và chăm sóc:

Luống trồng cao 20-25cm ở vùng đất thấp; 15-20cm ở vùng đất cao.

Trong nhà nylon: Trồng hàng 3 kiểu nanh sấu, luống rãnh 1,2m-1,3m; cây x cây: 35-40 cm, mật độ 40.000-45.000 cây/ha.

Ngoài trời: Trồng hàng 3 kiểu nanh sấu, luống rảnh 1,2m-1,3m, cây x cây: 40-45cm. mật độ 35.000-40.000 cây/ha. Với khí hậu Đà Lạt nếu trồng mật độ dày sẽ dễ phát triển bệnh cây.

Trồng phải đặc cây thẳng với mặt đất, đào lỗ đủ sâu để lấp hết bầu rễ của cây, tránh làm vỡ bầu cây con.

– Ngắt chùm hoa, cắt tỉa ngó: Để cây sinh trưởng mạnh và ổn định trong giai đoạn đầu nên ngắt bỏ chùm hoa bói đầu tiên để tăng cường sinh trưởng và ức chế phát dục.

Trong giai đoạn thu hoạch, để trái lớn đều nên cân đối giữa khả năng phát triển của khung tán và số lượng hoa trái trên cây nếu nụ, hoa, trái ra nhiều cần tỉa bỏ những nụ, hoa, trái dị dạng và sâu bệnh.

Nếu không tận dụng ngó để nhân giống thì nên cắt bỏ toàn bộ ngó.

Giai đoạn đầu khi thân lá cây chưa phủ luống có thể để ngó với khoảng cách 15 cm (5-6 ngó/cây). Để tăng cường sinh trưởng cây ban đầu, hạn chế ngó đâm rễ phụ trên luống.

– Tỉa thân lá: Đảm bảo mật độ phân tán cây dâu cân đối nên để từ 3-4 thân/gốc. Do đặc điểm của giống, chế độ phân bón, thời tiết, chăm sóc khả năng phân tán, ra lá sẽ khác nhau. Tỉa bớt các lá già, sâu bệnh, lá bị che khuất tầng dưới. Chú ý không nên tỉa quá nhiều sẽ mất khả năng quang hợp của cây. Các bộ phận của cây sau khi cắt tỉa cần phải tiêu huỷ ở xa vườn trồng.

– Che phủ đất: Dùng tấm nhựa để che phủ mặt luống trồng dâu. Phương pháp này có các ưu điểm như sau: Giữ ẩm cho luống trồng, gia tăng nhiệt độ cho luống trồng (phủ nhựa đen) phù hợp cho sinh trưởng cây dâu đồng thời hạn chế một số nấm bệnh, cách ly trái tiếp xúc với đất hạn chế bệnh thối trái. Hạn chế cỏ dại và rửa trôi phân bón.

Hiện nay có 3 cách che phủ luống được áp dụng: Dùng nhựa PE (thích hợp cho trồng dâu trong nhà nylon). Dùng cỏ khô, tro trấu. Dùng cỏ khô kết hợp với lưới nylon trắng.

Tuy nhiên việc che phủ đất tại vùng đất thấp thường phát sinh sên nhớt.

Tưới nước: Sử dụng nguồn nước không bị ô nhiễm, nước giếng khoan, nước suối đầu nguồn, không sử dụng nước thải, nước ao tù, ứ đọng lâu ngày.

Đối với cây dâu nếu ẩm độ đất và ẩm độ không khí cao đều bất lợi đến sinh trưởng, cũng như sâu bệnh phát triển, tối ưu nhất với cây dâu là thiết kế hệ thống tưới ngầm, nhỏ giọt.

– Dàn che: Hiện có 2 kiểu canh tác cây dâu tây là trong nhà che nylon và ngoài trời, sản xuất cây dâu trong dàn che có ưu điểm như:

Hạn chế bệnh cây trong mùa mưa, tuy nhiên nếu thiết kế dàn che không đảm bảo chiều cao, thông gió không tốt thì độ ẩm sẽ tăng và bệnh sẽ phát triển mạnh đồng thời nhiệt độ sẽ gia tăng đột ngột tại một số thời điểm trong ngày ảnh hưởng đến sinh lý của cây.

Hạn chế ngập úng đất, ẩm độ gia tăng và rửa trôi phân bón khi mưa kéo dài hay mưa lớn trong vụ hè thu.

– Phòng ngừa dị dạng trái: Thời kỳ kết trái đầu tiên nếu phát hiện quả dị dạng lập tức hải bỏ và giảm bón lượng đạm.

Giai đoạn hoa nở rộ tránh phun xịt thuốc sâu bệnh với nồng độ cao.

4. Phân bón và cách bón phân:

Phân bón: Lượng phân bón cho 1 ha:

Phân chuồng hoai: 40-50m 3; vôi: 1.500kg; hữu cơ vi sinh: 1.000-2.000 kg;

Phân hóa học (lượng nguyên chất): 100kg N-120kg P 2O 5-120kg K 2O; MgSO 4: 40kg; Boric: 80kg.

Đổi lượng phân hóa học nguyên chất qua phân đơn tương đương.

Ure: 217kg; super lân: 750 kg; KCl: 200kg.

Bón vôi 2 đợt/năm: Đợt 1: Bón lót 1000 kg; Đợt 2: 06 tháng sau khi trồng bón bổ sung 500 kg.

Lượng phân định kỳ bón năm thứ nhất là 10 lần, nếu 02 tháng bón 01 lần thì sử dụng lượng gấp đôi. Nếu sử dụng phân đơn thì mỗi đợt bón phân định kỳ có thể bón 20 kg ure, 20 kg kali. Acid Boric và MgSO 4 phun xịt định kỳ qua lá.

Chu kỳ kinh doanh của cây dâu thu hoạch trái kéo dài đến 02 năm hoặc hơn. Nếu dâu tây trên 01 năm tuổi chức năng sinh lý của rễ kém ảnh hưởng đến hấp thụ dinh dưỡng, nên bổ sung phân qua lá, định kỳ 10-15 ngày xịt 01 lần.

Bón phân theo nguyên tắc bón ít nhưng bón nhiều lần trong năm. Lượng phân theo khuyến cáo như trên đối với bón định kỳ có thể tăng hay giảm tùy thuộc vào sức sinh trưởng, phát dục, giai đoạn bội thu, chu kỳ ra trái của cây dâu.

Phần III. Sâu hại và biện pháp phòng trừ:

1. Nhện đỏ: Tetranycus Urticae

– Triệu chứng: tấn công mặt dưới lá, làm cho lá non bị chuyển sang màu vàng, là bị khô do cạn kiệt về dinh dưỡng, nhện tấn công lên hoa làm cho nhị hoa bị chết không kết quả được.

– Đặc điểm gây hại: Cả trưởng thành và ấu trùng đều sống tập trung ở mặt dưới phiến lá của những lá non đang chuyển dần sang giai đoạn bánh tẻ.

Nhện gây hại bằng cách chích hút dịch của mô tế bào lá làm cho mặt trên của lá bị vàng loang lổ từng đám, hơi nâu ở phía dưới lá. Ta có thể thấy một lớp mạng nhện nhỏ, mịn ở mặt dưới của lá. Nếu gặp điều kiện thuận lợi nhện sinh sản rất nhanh, mật độ có thể lên đến vài chục con trên một lá, làm cho từng mảng lá bị vàng, khô cháy.

Hoa và trái cũng bị nhện gây hại. Nhện đỏ hút chất dinh dưỡng trong trái làm cho trái bị vàng, sạm và nứt khi trái lớn. hoa có thể bị thui, rụng.

– Đặc điểm hình thái và quy luật phát sinh:

Nhện đỏ có kích thước cơ thể rất nhỏ, lấm tấm như cám, mắt thường khó phát hiện. nhện trưởng thành dài 0,5-1mm, màu hồng, đỏ nhạt, hình cầu (con cái), con đực nhỏ hơn, mình hình bầu dục, hơi nhọn lại ở đuôi, hai đốt cuối màu đỏ chói, trên mình và thân có nhiều lông cứng. Giai đoạn trưởng thành thường kéo dài từ 10-14 ngày.

Con trưởng thành đẻ trứng rời rạc ở mặt dưới phiến lá. Qua kính lúp sẽ thấy trứng hình tròn, lúc mới đẻ có màu trắng hồng, sau đó hoàn toàn chuyển sang màu hồng.

Trứng sau khi đẻ khoảng 4-5 ngày sẽ nở thành nhện non. Ấu trùng có màu xanh lợt, lúc mới nở chỉ có 6 chân, từ tuổi 2 trở đi cho đến khi trưởng thành chúng có 8 chân. Giai đoạn ấu trùng khoảng 6-9 ngày. Mỗi con cái đẻ 1 lần từ 50-100 trứng.

Nhện đỏ thường phát sinh và gây hại nặng trong mùa khô nóng hoặc những thời gian bị hạn trong mùa mưa.

Nhện đỏ lan truyền nhờ gió, nhờ những sợi tơ, mạng nhện mà chúng tạo ra

– Phòng trừ: Dùng thiên địch, thuốc trừ nhện Nissorun, Comite, Ortus, Oramíte,…

– Đặc điểm hình thái: Trưởng thành nhỏ, màu vàng xám, trứng được đẻ trong mô ở các bộ phận non của cây, bọ trĩ cái đẻ trứng được 40-50 trứng.

Bọ trĩ non màu vàng nhạt, sống gây hại chung với bọ trĩ trưởng thành. Bọ trĩ thuộc loại côn trùng biến thái trung gian, bọ trĩ non chuyển sang giai đoạn nhộng giả có thể ở trong lá khô hay vỏ cây, nhưng chủ yếu vẫn là ở trong đất.

Vòng đời của bọ trĩ là 17-20 ngày, một năm có thể có khoảng 20 thế hệ bọ trĩ hoàn thành chu kỳ phát triển.

– Đặc điểm gây hại quy luật phát sinh: Bọ trĩ gây hại chủ yếu trên hoa làm cho quả bị nhỏ, biến dạng. Ngoài ra chúng còn hại lá, búp non và thân, chích hút nhựa làm cây suy kiệt, giảm năng suất thu hoạch. Hoa bị hại chuyển màu nâu. Tuy nhiên trái non vẫn tiếp tục lớn nhưng có màu vàng đồng. Những trái bị triệu chứng này thường nhỏ và cứng, đồng thời những hạt trên bề mặt trái dâu bị lồi ra, bề mặt trái dâu bị rạn và có màu đồng. Nếu cây bị nhiễm nhẹ thì cây bên cạnh không bị ảnh hưởng, nếu cây và trái chín bị nhiễm quá nặng thì bọ trĩ sẽ chuyển sang tấn công những cây bên cạnh và có thể lây lan trên khắp vườn dâu.

– Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Bón phân đầy đủ, cân đối, tỉa bớt lá già, thu gom tiêu hủy tàn dư.

– Đặc điểm hình thái và quy luật phát sinh: Vỏ ốc mỏng, có 4 đến 5 vòng xoắn, màu sắc thay đổi nhưng thường màu xám hạt dẻ nhạt, hay nâu có những vệt hay đốm vàng. Thân ốc mềm và nhớt màu nâu xám, thu hết vào bên trong vỏ khi không hoạt động. Khi hoạt động sên thò đầu và chân ra khỏi vỏ, đầu có 2 đôi râu vòi. Các râu vòi có thể thu rút vào trong đầu. Sên thuộc loai động vật ăn cỏ, ăn vào ban đêm, chúng ăn nhiều loại cây cỏ khác nhau.

– Đặc điểm gây hại: Ốc sên thường xuyên có mặt trên đồng ruộng, nhưng khi trời nắng thì chúng ẩn nấp ở nơi có bóng mát và ẩm ướt như lá chết, nilon, đá để đẻ trứng. Vào ban đêm hoặc vào những ngày mưa ốc sên và nhớt bò ra ngoài để gây hại. Những vết tổn thương này làm giảm đáng kể giá trị của trái và tạo điều kiện để nấm bệnh xâm nhập và phát triển.

– Biện pháp phòng trừ: Luôn giữ vườn dâu thông thoáng, tránh ẩm độ không khí cao trên ruộng. Trong quá trình canh tác tỉa lá, thu trái nếu phát hiện sên, nhớt phải thu bắt. Thu gom toàn bộ gạch, đá…trên ruộng để hạn chế nơi cư trú của các loài sên nhớt. Sử dụng can nhựa có hòa các chất như bả bia hoặc sữa chua để bẫy sên nhớt trên vườn dâu.

Hiện nay, chưa có thuốc BVTV đăng ký để trừ sên nhớt hại dâu tây.

Phần IV. Bệnh hại và biện pháp phòng trừ:

1. Bệnh rối loạn sinh lý trên cây dâu tây:

a. Thời tiết: Nếu trời lạnh nhị hoa sẽ bị chết dẫn đến hoa có màu nâu, nếu thời tiết quá lạnh hoa sẽ bị chết, một số hoa đã thụ phấn sống sót làm cho hoa bị biến dạng. Vào mùa lạnh, khi nhiệt độ quá thấp, tế bào bị đông đá, phần gốc hóa nâu, cây sinh trường kém và mẫn cảm với sâu bệnh.

b. Cường độ sáng cao, tế bào sẽ bị chết, trên lá có những dấu hình tròn.

c. Mưa đá gây dập lá, hoa, quả, tạo cơ hội cho nấm bệnh xâm nhập, cây bị tổn thương lớn, tạo ra nhiều vết nâu trên lá do cây bị xước.

d. Rối loạn dinh dưỡng:

– Đạm: Lúc đầu cây đầu cần nhu cầu đạm rất lớn, nếu thiếu đạm lá, quả sẽ nhỏ, cây cho ra ít ngó, lá già chuyển sang màu cam hoặc đỏ, là non nhỏ và có màu xanh nhạt. Thừa đạm làm giảm chất lượng của quả, cây dễ bị nhiễm bệnh.

Phân tích mẫu đất và dựa vào tình hình sinh trưởng, triệu chứng của cây để điều chỉnh đạm cho phù hợp.

– Kali: Cây thiếu kali là bị héo, lá già bị khô, quả dễ bị thối.

Dùng Bicarbonate kali phun lên là có thể phòng ngừa bệnh và cung cấp thêm kali cho cây; Cung cấp thường xuyên phân kali cho cây như KNO 3, K 2SO 4.

– Boron: Thiếu Bo là một trong những nguyên nhân dẫn đến trái dâu nhỏ hơn bình thường và dị dạng vì một vài chỗ trên trái bị teo lại và không phát triển. Mùi vị của trái gần như bình thường nhưng không có giá trị về mặt kinh tế.

Vi lượng Bo rất quan trọng trong quá trình thụ phấn. Khi một hay nhiều hoa cái không được thụ phấn thì mô quả ở chỗ đó sẽ không phát triển và làm cho trái bị dị dạng. Boron có chức năng quan trọng đối với bộ rễ, vì vậy thiếu hụt Boron có thể làm cho cây dâu không hấp thu tốt các chất dinh dưỡng.

– Canxi: Khi lá còn non và chưa trải ra, đầu mút của lá đã bị hoại tử và khô, vì vậy khi lá lớn lên đầu mút bị xoắn lại nhưng những phần khác của lá vẫn phát triển bình thường khỏe mạnh. Những cây dâu phát triển quá nhanh thường gây cản trở cho việc hấp thu canxi từ đất, mặt dù lượng canxi trong đất rất dồi dào. Khí hậu khô, lạnh và nhiều mây gây cản trở rất nhiều đến việc hấp thụ canxi của cây.

– Thuốc trừ cỏ: Dùng thuốc trừ cỏ không đúng thuốc, đúng liều cây sẽ bị chết, nên dùng thuốc trừ cỏ có chọn lọc, thuốc tiền nảy mầm hoặc hậu nảy mầm.

e. Bệnh bạch tạng (Physiological)

– Triệu chứng: khi trái dâu chin, trên trái dâu xuất hiện những mảng màu trắng, làm giảm giá trị thẩm mỹ và hương vị dâu. Hơn thế nữa những mảng trắng làm tăng nguy cơ xâm nhập của nấm gây thối trái.

2. Các loại bệnh hại:

a. Bệnh xì mủ lá: ( Xanthomonas fragaria)

– Triệu chứng: Vết bệnh là những đốm nhỏ sũng nước ban đầu xuất hiện dưới bề mặt lá. Lá có màu xanh tái khi đưa ra ánh sáng mặt trời. Sau đó các lá bị bệnh có thể bị khô héo và chết.

Quá trình nhiễm bệnh: Vi khuẩn lan từ cây này sang cây khác, từ lá già sang lá non do sự bắn toé nước khi trời mưa hoặc do tưới tiêu. Vi khuẩn xâm nhập qua cửa khí khổng của lá. Để nhận biết bệnh, vào sáng sớm lật mặt lá lên, ta có thể nhìn thấy chất dịch màu trắng như mủ chảy ra từ vết bệnh. Bệnh gây hại các giai đoạn sinh trưởng của cây.

– Biện pháp phòng trừ: Sử dụng cây giống từ những vườn ươm sạch bệnh.

Sau khi đã ngắt tỉa những lá bị bệnh phải tiến hành thu gom để tiêu huỷ hoặc đốt, chôn xa ruộng dâu để diệt trừ triệt để những mầm bệnh còn sót lại trên đồng ruộng.

Hạn chế sử dụng hệ thống tưới phun mưa, sử dụng lớp phủ rơm cỏ khô để hạn chế sự bắn toé nước khi trời mưa, giữ cho ruộng dâu luôn khô ráo và có phương pháp tưới hợp lý (nếu có điều kiện nên áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt).

Nếu thực hiện một cách nghiêm túc các biện pháp trên ta có thể khống chế bệnh một cách dễ dàng, ngay cả trong trường hợp cây bị nhiễm bệnh nặng.

b. Bệnh đốm đỏ: ( Mycosphaerella fragariae)

– Triệu chứng: Ban đầu trên lá xuất hiện những đốm tròn màu tía, có thể nhìn thấy trên bề mặt lá. Đốm tròn lan rộng từ 3-6mm. Ở trung tâm đốm có màu xám trắng, hoại tử, có quầng màu tím bao quanh đốm bệnh. Ta có thể nhìn thấy những đốm đỏ ở mặt dưới của lá nhưng màu nhạt hơn. Bệnh gây hại các giai đoạn sinh trưởng của cây.

Quá trình nhiễm bệnh: Những bào tử trưởng thành gây hại ở cây bệnh có thể lây qua cây mới do sự bắn toé nước khi tưới phun mưa hoặc khi trời mưa to. Khí hậu ấm và ẩm thuận lợi cho bệnh đốm đỏ phát triển.

– Biện pháp phòng trừ: Tỉa các phần bị bệnh và bị chết của cây, tiêu huỷ chúng bằng cách đốt hoặc chôn ở xa ruộng dâu.

Dùng cỏ khô phủ đất để giảm sự bắn toé nước khi trời mưa nặng hạt. Tránh làm bắn toé nước khi dùng hệ thống tưới phun mưa. Tưới nhỏ giọt là biện pháp tốt để kiểm soát bệnh này.

c. Bệnh phấn trắng: ( Sphaerotheca macularis)

– Triệu chứng: Ban đầu vết bệnh xuất hiện một lớp bột trắng, ta có thể nhìn thấy sau mặt lá, nhưng trên mặt lá thân, hoa, và trái cũng có thể bị nhiễm bệnh. Lá bệnh có khuynh hướng cuốn tròn lên phía trên và để lộ sau mặt lá một lớp bột màu trắng. Những vùng bị nhiễm bệnh thường sẽ héo khô và chết.

– Quá trình nhiễm bệnh: Những vùng bị nhiễm bệnh có thể phân tán một số lượng lớn mầm bệnh và theo gió và lây lan qua những cây khoẻ mạnh.

Nấm tự hình thành không phụ thuộc vào ẩm độ, ngay cả trong điều kiện khô ráo, nấm vẫn có thể xuất hiện. Loại nấm này thường gặp nhiều ở nhà kính và dàn che nilon hơn là canh tác ngoài trời. Nấm phấn trắng lây lan rất nhanh và gây thất thu lớn đến sản lượng dâu và chất lượng trái. Bệnh gây hại các giai đoạn sinh trưởng của cây nhưng ảnh hưởng nhiều ở thời kỳ cây đã ra hoa, kết trái.

– Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh đồng ruộng, ngắt tỉa thường xuyên các thân lá bị bệnh đem tiêu huỷ ở xa ruộng. Sử dụng nguồn giống sạch bệnh, luân canh với các cây trồng không phải là ký chủ của bệnh phấn trắng.

Dàn che dâu phải cao, thông gió, lên luống cao tránh úng vào mùa mưa.

Không trồng mật độ dày, tăng cường phân kali cho cây.

d. Bệnh mốc xám: Thối trái do Botrytis cinerea

– Triệu chứng: Nấm Botrytis chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn quả chín, trong điều kiện ẩm ướt bệnh có thể gây hại nghiêm trọng. Biểu hiện đầu tiên là những đốm nâu sáng xuất hiện, sau đó lan rộng cả trái và phủ một lớp mốc xám.

Hoa và trái non cũng có thể bị nhiễm bệnh và làm cho trái bị khô. Nhiệt độ tích trữ trái dâu đã thu hoạch càng cao thì mầm bệnh nhanh chóng lây lan.

– Quá trình nhiễm bệnh: Mầm bệnh có thể xuất phát từ lá, trái bị nhiễm bệnh còn xót lại trên ruộng và lây lan bởi gió, ngoài ra mầm bệnh cũng có thể đến từ bên ngoài ruộng nhưng điều đó không quan trọng.

Bệnh mốc xám phát triển rất mạnh trong điều kiện ẩm độ không khí cao và bề mặt luống ẩm ướt trong điều kiện thời tiết mùa mưa.

– Biện pháp phòng trừ. Thu dọn tất cả các tàn dư của cây bệnh đốt hoặc chôn xa đồng ruộng. Sử dụng màn phủ bằng rơm hoặc lưới để ngăn trái không tiếp xúc với đất trồng hoặc sự ẩm ướt.

Chọn đất trồng cao ráo, thoát nước tốt, lên luống cao. Bón cân đối NPK, tăng cường Kali trong vụ mưa. Luân canh và xử lý đất trước khi trồng.

Hạn chế sử dụng hệ thống tưới phun mưa, không tưới vào buổi giữa trưa hoặc xế chiều vì thời gian này duy trì sự ẩm ướt sẽ kéo dài. Giữ cho bề mặt luống dâu luôn được khô ráo. Trái đã thu hoạch nên bảo quản ở nhiệt độ 2-4 0 C để ngăn chặn sự sinh trưởng của nấm bệnh.

Lưu ý: Trong thời gian ẩm độ đất và ẩm độ không khí cao phải rút ngắn thời gian giữa 2 lần phun từ 3-4 ngày xử lý 1 lần mới có khả năng hạn chế được bệnh. Phun kỹ vào các chùm trái, giai đoạn hoa nở rộ tránh phun xịt thuốc với nồng độ cao sẽ làm trái dị dạng. Trong vùng đã bị kháng thuốc thì phải thay đổi và sử dụng luân phiên các loại thuốc trừ nấm khác nhau. Dưới điều kiện mưa nhiều và kéo dài thì nấm bệnh rất khó kiểm soát.

e. Bệnh cao su: Thối trái do Phytophthora cactorum

– Triệu chứng: Cả trái non và trái chín đều bị biến màu. Trái xanh dễ bị cứng và chuyển sang màu nâu. Trái già chuyển sang màu trắng tái, màu đỏ hoặc hơi nâu và hơi mềm. Trái bị bệnh trở nên khô, teo nhỏ lại và dai như cao su.

Triệu chứng đặc biệt của bệnh này là trái bị mất hương, vị có mùi khó chịu. Trái bị bệnh có mùi dầu nhớt xe và có vị đắng.

– Quá trình nhiễm bệnh: Nấm có trong đất và xâm nhập lên trái do sự bắn tóe nước khi trời mưa hoặc tưới nước hoặc do trái tiếp xúc với đất trồng.

Bệnh lây lan và phát triển nhanh vào mùa mưa và ẩm độ không khí cao.

– Biện pháp phòng trừ: Để kiểm soát bệnh này, cần phải kiểm soát lượng nước. Cách ngăn chặn, phòng ngừa rẻ tiền và hiệu quả là dùng màng phủ. Màng phủ cỏ khô và rơm là tốt nhất. Nhưng lớp màn phủ phải đủ dày để trái không bị tiếp xúc với đất trồng và không bị ảnh hưởng bởi sự bắn tóe nước. Biện pháp tốt nhất là phủ một lớp cỏ hoặc rơm khô lên bề mặt đất trồng sau đó phủ một lớp lưới lên trên lớp cỏ. Biện pháp này giúp cho trái dâu được khô ráo, không những ngăn ngừa được bệnh cao su mà còn ngăn ngừa được nhiều bệnh khác.

g. Bệnh đốm đen ( Colletotrichum acutatum)

– Triệu chứng: Khi trái chín, xuất hiện những đốm tròn có màu nâu. Những đốm tròn sạm màu và sau đó biến thành màu đen hoàn toàn. Nếu trái bị nhiễm bệnh trước khi chín thì toàn bộ trái sẽ bị đen và héo.

Trong quá trình vận chuyển, tích trữ, nguồn bệnh vẫn tiếp tục lây lan làm cho trái bị hư hỏng nặng hơn. Đây là vấn đề đáng quan tâm.

– Quá trình nhiễm bệnh: Những ngó dâu đã bị nhiễm bệnh ngay từ lúc trồng thường không thấy xuất hiện triệu chứng bệnh. Trong ruộng dâu, nấm bệnh có thể lây lan do sự bắn tóe nước khi tưới hoặc do trời mưa nặng hạt hoặc do quá trình chăm sóc cắt tỉa và thu hái. Cây có quá nhiều đạm cũng rất dễ nhiễm bệnh.

h. Bệnh thối đen rễ dâu tây

– Triệu chứng gây hại: Thường bắt đầu ngay trong năm đầu tiên cho quả. Các tổn thương sẽ biểu hiện rõ nhất trong khu vực đất thấp hoặc nơi có sự thoát nước kém. Cây bị bệnh tăng trưởng kém, thiếu sức sống, còi cọc. Cây sẽ bị khủng hoảng nước do nhu cầu nước trong quá trình sinh trưởng cao, trong hoặc sau khi cho quả rộ, hay bị hạn hán.

Trên lá: Lúc đầu lá bị đỏ như luộc từ ngoài rìa lá vào sau khô quắt, rũ làm cây héo hết lá.

Rễ bị thâm đen, ở giữa mạch lybe của trung trụ bị thối lan rộng dần.

Thân bị bệnh cắt ngang thân phần gỗ lúc đầu chuyển sang màu nâu vàng, khi cây héo và chết vết thâm lan rộng hết phần lõi và chuyển sang nâu đậm.

Những cây bị bệnh thối rễ thường tạo điều kiện cho các loại nấm bệnh khác phát triển và gây hại cuống lá, lá và quả.

Thường sẽ có một hoặc nhiều chủng loại nấm tấn công gây hại. Kết quả bước đầu phân tích, tác nhân gây hại tại Đà Lạt là loại nấm Pythium spp và Fusarium spp. Những yếu tố môi trường thuận lợi cho thối đen gốc bao gồm đất thoát nước kém, tổn thương do nhiệt độ thấp, sự mất cân bằng dinh dưỡng và ảnh hưởng của thuốc diệt cỏ, bệnh sẽ trở nên phức tạp và khó kiểm soát.

Phần V. Phòng trừ dịch hại tổng hợp

Áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM

1. Biện pháp canh tác kỹ thuật: Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, cắt tỉa các lá già vàng úa tiêu hủy, luân canh cây trồng khác họ, chọn giống khỏe, sức đề kháng sâu bệnh tốt, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

Bón phân cân đối và hợp lý, tăng cường sử dụng phân hữu cơ sinh học, vi sinh. Chăm sóc theo yêu cầu sinh lý của cây. Kiểm tra đồng ruộng phát hiện và kịp thời có biện pháp quản lý thích hợp đối với sâu, bệnh

Thực hiện ghi chép nhật ký đồng ruộng

2. Biện pháp sinh học: Hạn chế sử dụng các loại thuốc hóa học có độ độc cao để bảo vệ các loài ong ký sinh của ruồi đục lá, các loài thiên địch bắt mồi như nhện, bọ đuôi kìm…Sử dụng các chế phẩm sinh học trừ sâu bệnh

3. Biện pháp vật lý: Sử dụng bẫy màu vàng, bôi các chất bám dính: dùng nhựa thông (Colophan) nấu trộn với nhớt xe theo tỉ lệ 4/6, bẫy Pheromone dẫn dụ côn trùng

Có thể sử dụng lưới ruồi cao từ 1,5-1,8m che chắn xung quanh vườn hạn chế ruồi đục lá, sâu, côn trùng gây hại bay từ vườn khác sang

4. Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc phải cân nhắc kỹ theo nguyên tắc 4 đúng (đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng, đúng thuốc) và nhớ đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc trước khi dùng. Phun khi bệnh chớm xuất hiện

Chỉ sử dụng thuốc BVTV khi thật cần thiết và theo các yêu cầu sau:

+ Không sử dụng loại thuốc cấm sử dụng cho rau

+ Chọn các thuốc có hàm lượng hoạt chất thấp, ít độc hại với thiên địch, các động vật khác và con người

+ Ưu tiên sử dụng các thuốc sinh học (thuốc vi sinh và thảo mộc)

Phần VI. Thu hoạch, phân loại và xử lý bảo quản sau thu hoạch:

Dâu tây không chín thêm sau khi thu hoạch, do đó, để đạt chất lượng tốt nhất nên thu hoạch dâu tây khi quả đã chín (trái đã chuyển sang màu đỏ đều).

Phân loại và đóng gói dâu tây theo yêu cầu của khách hàng, tốt nhất đóng dâu trong các hộp đặc biệt, tránh để các trái dâu tiếp xúc và cọ xát lẫn nhau.

Trái dâu tây không bảo quản được lâu và chỉ nên bảo quản trong vài ngày, khi thu hoạch xong tốt nhất phải bảo quản và vận chuyển trong điều kiện lạnh.

Trái dâu tây rất dễ bị giập nát khi thu hoạch và vận chuyển phải chú ý thao tác nhẹ nhàng, tránh giập nát.

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Dâu Nuôi Tằm

Quy trình kỹ thuật trồng Dâu nuôi Tằm, Nguồn: Ks. Vũ Đức Ban và Ths. Nguyễn Thị Min.

I. Tổng quan – Trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa là nghề có truyền thống lâu đời ở Việt Nam. Trải qua hàng ngàn năm với bao thăng trầm nghề trồng dâu, nuôi tằm ở nước ta vẫn tồn tại và phát triển. Với chi phí đầu tư cho trồng dâu, nuôi tằm không cao, một lần trồng có thể thu hoạch 15 – 20 năm. Cây dâu lại không kén đất, nó có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau như: đất bãi ven sông, đất bãi ven biển và cả những vùng đất nghèo dinh dưỡng, vùng đồi núi trung du, sau 4 – 6 tháng trồng cây dâu đã có thể cho thu hoạch lá nuôi tằm. Việc chăm sóc cây dâu không đòi hỏi đầu tư quá cao. Ngoài sản phẩm chính là lá dâu cho nuôi tằm còn thu được nhiều sản phẩm phụ từ cây trồng xen như: đậu đỗ, rau, cây hoa, dược liệu và nguồn chất đốt. Đầu tư chi phí cho trồng dâu thấp nhưng nuôi tằm lại cho thu hoạch nhanh, chỉ sau 20 – 25 ngày đã cho thu hoạch một lứa tằm. Nghề trồng dâu nuôi tằm còn là nghề tạo công ăn việc làm, thu hút lao động nông nhàn, góp phần xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là ở các vùng nông thôn miền núi.

– Với những lợi thế trên, có thể nói nghề trồng dâu, nuôi tằm là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao so với nhiều ngành nghề khác. Trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng hiện nay, cây dâu là một trong những cây được lựa chọn nhằm thực hiện mục tiêu thu nhập 50 triệu đồng/1 ha/năm.

– Ở nước ta, nghề trồng dâu, nuôi tằm được trải rộng từ Bắc vào Nam với hơn 25 tỉnh có nghề trồng dâu, nuôi tằm. Lĩnh vực nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về dâu tằm tơ những năm gần đây đạt nhiều thành tựu: nhiều giống dâu, giống tằm mới, năng suất cao, chất lượng tốt; nhiều tiến bộ kỹ thuật thâm canh đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất của ngành dâu tằm tơ. Đã phối hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học với chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Ngành sản xuất dâu tằm tơ ở nước ta những năm qua đã đóng góp tích cực vào quá trình CNH- HĐH nông nghiệp và nông thôn.

– Tuy nhiên cũng còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, đó là sự phát triển chưa ổn định. Diện tích trồng dâu những năm gần đây chưa được mở rộng, hiệu quả kinh tế của ngành còn hạn chế. Theo báo cáo của Tổng công ty dâu tằm tơ Việt Nam thì năng suất kén bình quân/1 ha mới chỉ đạt 700 – 1.000kg, trong khi đó ở Quảng Đông (Trung Quốc) với điều kiện khí hậu tương tự đã đạt trên 2.000 kg kén/ha.

– Để mở rộng và phát triển ổn định ngành dâu tằm tơ Việt Nam đòi hỏi phải có các giải pháp Khoa học Công nghệ đồng bộ và toàn diện từ cơ cấu, chất lượng giống dâu, giống tằm đến các biện pháp kỹ thuật cũng như về cơ chế chính sách.

II. Kỹ thuật trồng dâu1. Chọn giống dâu trồng – Dâu là cây trồng lâu năm, do vậy trước khi trồng cần chọn giống dâu trồng phù hợp với điều kiện sinh thái, đất đai khí hậu và tập quán thâm canh của từng vùng để phát huy hết hiệu quả của giống.

– Hiện nay trong sản xuất có rất nhiều giống dâu đang được trồng. Tuy nhiên, có thể phân thành 4 nhóm dâu chính sau: + Nhóm giống dâu địa phương; + Nhóm giống dâu tam bội thể trồng bằng hom; + Nhóm giống dâu lai F1 trồng bằng hạt; + Nhóm giống dâu nhập nội.

a) Nhóm giống dâu địa phương: – Đây là những giống dâu đã được trồng ở các địa phương từ rất lâu như : Dâu bầu, Hà Bắc, Quang Biểu, dâu đa, dâu gỗ…Các giống này có ưu điểm sinh trưởng khoẻ, chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi khá, nhưng năng suất lá thấp, lá nhỏ, mỏng, hái dai, nhiều hoa quả.

– Nhóm giống dâu này phù hợp cho vùng khó khăn, đất nghèo dinh dưỡng.

b) Nhóm giống dâu tam bội thể trồng bằng hom: – Đây là các giống dâu lai do Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ TW nghiên cứu, lai tạo chọn lọc, gồm có: tam bội thể số 7, số 12, số 11, số 28. số 36.

– Ưu điểm: Lá to, dầy, sinh trưởng khoẻ. Năng suất lá đạt trên 35 tấn/ha/năm, chất lượng lá tôt (Hàm lượng Protein trong lá đạt 21 – 22%).

– Nhược điểm: Do nhân giống bằng hom nên khả năng chống chịu sâu bệnh, điều kiện ngoại cảnh bất lợi như chịu hạn, úng, mở rộng nhanh diện tích bị hạn chế.

– Nhóm giống dâu này phù hợp cho vùng đất bài ven sông ở vùng đồng bằng sông Hồng và các tỉnh phía Bắc.

c) Nhóm các giống dâu lai trồng hạt: – Đây là các giống dâu lai F1 trồng hạt, do Trung tâm nghiên cứu dâu tằm tơ TW nghiên cứu, chọn tạo, đã được Bộ nông nghiệp và PTNT công nhận chính thức giống Quốc gia như: Dâu Lai F1-VH9, VH13, VH15 được phổ biến ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung.

– Ưu điểm: Thời vụ trồng quanh năm, hệ số nhân giống cao (1kg hạt có thể trồng 4 – 5 ha), thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái khác nhau (đất bãi ven sông, ven biển, đất đồi…), nhiệm kỳ kinh tế dài hơn trồng hom, chống chịu sâu bệnh, điều kiện ngoại cảnh bất lợi như hạn, úng khá. Lá to, dày, mềm và bóng, năng suất lá 35 – 40 tấn/ ha/ năm, chất lượng lá tốt (Protein trong lá 22 – 23%).

– Nhược điểm: Do nhân giống bằng hạt nên phải qua giai đoạn trong vườn ươm (50 – 60 ngày).

– Nhóm giống dâu này phù hợp với vùng đất bãi ven sông, ven biển, đất đồi các tỉnh phía Bắc và miền Trung.

d) Nhóm các giống dâu nhập nội: – Chủ yếu là các giống nhập từ Trung Quốc như: Sha nhị luân, Hà số 7, Quế ưu, QĐ5. Tuy nhiên các giống dâu trên đều nhập qua đường tiểu ngạch, chưa qua khảo nghiệm chính thức tại Việt Nam.

– Ưu điểm: Nhìn chung các giống dâu nhập từ Trung Quốc là những giống sinh trưởng khoẻ, lá to, năng suất lá khá (35 tấn/ha).

– Nhược điểm: Nhìn chung các giống dâu lai của Trung quốc hiện trồng ở Việt Nam không thuần, phân ly nhiều.

– Với giống Sha nhị luân lá mỏng, nháp, nhiễm bệnh bạc thau, rỉ sắt cao. Còn với giống Hà số 7 nẩy mầm vụ xuân rất muộn (từ 10 – 20 tháng 4 mới nảy mầm).

2. Chuẩn bị đất trồng dâua) Chọn vị trí đất: Cây dâu có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau: đất bãi ven sông, ven biển, đất đồi. Độ pH từ 5 – 8. Tuy nhiên đất trồng dâu phải thoát nước, không bị ngập úng lâu ngày. Không nên trồng dâu ở gần khu vực có các ống khói nhà máy, hóa chất độc. Nên qui hoạch vùng dâu riêng, không xen kẽ với các loại cây trồng khác như lúa, rau màu, thuốc lá…, vì khi sử dụng hóa chất, thuốc trừ sâu cho các cây trồng đó sẽ ảnh hưởng đến lá dâu nuôi tằm.

b) Thiết kế ruộng dâu: – Dâu là cây lâu năm, một lần trồng sau 15 – 20 năm mới phải trồng lại, do vậy phải tính toán thiết kế ruộng dâu để thuận tiện cho việc chăm sóc, thu hoạch như: phân lô, hệ thống mương tưới, tiêu, đường nội đồng…

– Trước khi trồng dâu, phải tiến hành điều tra xác định một số yếu tố về đất, nguồn nước tưới, tiêu để xác định các loại vật tư, phân bón chi phí cần đầu tư.

c) Làm đất: – Cày bừa: đất cho trồng dâu phải được cày, bừa trước khi trồng từ 1 – 2 tháng, độ sâu 20 – 25 cm để cho đất phong hoá hết. Bừa kỹ cho đất nhỏ, kết hợp san phẳng mặt ruộng, vơ cỏ.

– Đào rạch: Đối với trồng dâu bằng cây con cũng như trồng bằng hom dều phải đào rạch (hoặc hố) nhưng kích thước rạch (hố) có khác nhau. Nếu trồng dâu bằng cây con gieo từ hạt: rạch đào sâu 30 cm, rộng 30 cm. Còn trồng dâu bằng hom thì rạch đào sâu 40 cm, rộng 40 cm. Khi đào lớp đất trên mặt để sang một bên, lớp đất dưới để sang một bên.

– Phân bón: đối với dâu trồng mới cần thiết phải bón phân trước khi trồng, Phân hữu cơ 25 – 30 tấn/ha, Phân vô cơ: lân 800 kg, kali 270 kg/ha. Sau khi rải phân hữu cơ xuống rãnh, rải tiếp phân lân và kali, sau đó lấp đất trở lại rãnh, lớp đất trên mặt cho xuống trước, lớp đất phía dưới cho xuống sau.

3. Thời vụ trồng dâua) Trồng dâu bằng cây con gieo từ hạt: – Ở vùng đồng bằng sông Hồng và các tỉnh phía Bắc nếu trồng bằng cây con thì thời vụ trồng có thể kéo dài quanh năm. Nếu ở vùng đất bãi ven sông do ảnh hưởng của nước lũ thì thời vụ trồng nên trồng vào vụ xuân hoặc sau khi đã hết lũ.

– Ở những vùng bãi ven biển nhiễm mặn, vùng duyên hải miền Trung nên trồng vào mùa mưa (tháng 8 – 10)

b) Trồng dâu bằng hom: Thời vụ trồng dâu bằng hom tốt nhất vào trung tuần tháng 12 đến tháng 1 năm sau, vì đây là thời điểm cây dâu bước vào ngủ đông, nên hom dâu giống có chất lượng tốt nhất, sau khi trồng xong có mưa xuân rất thuận lợi cho dâu nảy mầm, tỉ lệ sống cao.

4. Mật độ trồng – Tùy thuộc loại đất, phương thức canh tác và điều kiện đầu tư thâm canh mà xác định mật độ trồng hợp lý. Thông thường mật độ trồng hàng cách hàng 1,2 – 1,5m, cây cách cây 0,2 – 0,3 m (khoảng 4 – 5 vạn cây/ha).

– Cách tính số lượng cây (hom) cần chuẩn bị để trồng như sau: Số cây (hom)/1 đơn vị diện tích = Diện tích cần trồng (m 2)/Khoảng cách hàng x khoảng cách cây

5. Tiêu chuẩn cây, hom dâu giống và xử lý cây, hom giống trước khi trồnga) Tiêu chuẩn cây dâu giống, hom dâu giống: – Tiêu chuẩn cây dâu giống: cây dâu con được ươm từ hạt trước khi trồng phải đạt một số tiêu chuẩn sau: + Tuổi cây trong vườn ươm 60 – 70 ngày trở lên + Chiều cao cây 30 cm trở lên + Đường kính thân cây con: 0,02 cm trở lên + Cây dâu không bị sâu bệnh, không lẫn giống. * Chú ý: Trước khi nhổ cây 15 ngày không được bón đạm để cứng cây.

– Tiêu chuẩn hom dâu giống: + Hom dâu giống phải đạt từ 8 tháng tuổi trở lên. + Đường kính hom từ 0,8 cm trở lên. + Không có nguồn nấm bệnh. + Không bị lẫn giống.

b) Xử lý cây giống, hom giống trước khi trồng: – Đối với dâu cây: + Phân cây thành từng loại: to, trung bình, nhỏ để trồng riêng từng loại. + Cắt bỏ phần ngọn chỉ chừa lại phần thân 20 – 30 cm. + Nếu rễ cây con quá dài có thể cắt bớt, chỉ chừa lại 10 – 15 cm. + Bảo quản cây giống nơi râm mát, giữ ẩm.

– Đối với hom giống + Loại bỏ cành có nguồn nấm bệnh, rệp, phần ngọn và gốc. + Chặt hom thành từng đoạn 20 – 25 cm, có ít nhất 2 – 3 mắt/ 1 hom. + Khi chặt tránh làm dập, xước hom, + Bảo quản hom nơi râm mát, giữ ẩm.

6. Kỹ thuật trồng dâua) Trồng dâu bằng cây con: Trồng dâu bằng cây con trải qua 2 giai đoạn: Giai đoạn trong vườn ươm và giai đoạn nhổ đem trồng ở ruộng sản xuất.* Giai đoạn trong vườn ươm: Thời gian trong vườn ươm thường 50 – 60 ngày. Khi cây trong vườn ươm đạt chiều cao 40 – 50 cm, đường kính thân đạt 0,3 cm trở lên thì nhổ đem trồng. Một số điểm cần lưu ý khi ươm hạt dâu: – Chọn đất ươm: cao, thoát nước tốt, độ pH 6 – 7, gần nguồn nước tưới, xung quanh không có cây cao che khuất, nên chọn đất cát pha hoặc đất thịt nhẹ.

– Lám đất ươm: cày bừa kỹ trước khi gieo 1 – 2 tháng, sạch cỏ. Bề mặt luống rộng 1,0 – 1,2 m, rãnh rộng 0,30 m, sâu 0,20 m. Phân chuồng hoai mục 500 kg/sào, trộn đều.

– Xử lý hạt trước khi gieo: Nếu gieo ở vụ xuân và vụ thu hạt phải được ngâm ủ trước khi gieo. Hạt dâu ngâm trong nước ấm 48 giờ. Sau 24 giờ thay nước, rửa sạch hạt rồi ngâm tiếp 24 giờ. Đãi sạch hạt, trộn với mạt cưa hoặc cát ướt cho vào túi vải đem ủ nơi ấm, chú ý giữ đủ ẩm. Sau 24 giờ hạt nứt nanh thì đem gieo.

– Mật độ gieo: 1 kg hạt dâu có khoảng 50 – 55 vạn hạt. Mật độ gieo trung bình 0,10 – 0,12 kg/100 m 2 là vừa (khoảng 500 – 550 hạt/m 2).

– Phương pháp gieo: Có thể gieo vãi hoặc gieo thành hàng. Sau khi gieo hạt phải rắc thuốc chống kiến xung quanh luống để phòng kiến tha hạt dâu. thường dùng VIBAM, 1kg/sào.

– Che phủ sau khi gieo hạt: Sau khi gieo hạt xong phải che phủ lướng ươm bằng trâu, rơm rạ. Nếu vụ xuân trời rét nên phủ ni lon để chống rét. Nếu không che phủ khi trời mưa hoặc khi tưới nước bề mặt luống bị lì, hạt khó nảy mầm. Khi hạt nảy 80% phải bỏ bớt lớp rơm rạ phủ mặt luống chỉ để lại một lớp mỏng. Nếu gieo vào vụ hè phải có lưới che chống mưa to làm dập nát cây con.

– Tưới nước: Sau khi gieo xong hàng ngày phải tưới nước đủ ẩm cho đến khi hạt nảy hết, Sau khi cây có lá thật có thể 2 – 3 ngày tưới 1 lần.

– Phòng trừ sâu bệnh: Cây con sau khi mọc rất dễ bị bệnh thối cổ rễ, Vì vậy nên phun phòng để chống bệnh thối cổ rễ. Dùng các loại thuốc trừ nấm như: validaxin, Kasuran 0,2% để phun, lượng phun 20 lít/ sào Bắc bộ. Ngoài ra cần đề phòng các loại sâu phá hoại như: sâu sám, sâu khoang, ốc sên…

– Thu hoạch cây con: Khi cây con đạt tiêu chuẩn thì nhổ đem trồng. Trước khi nhổ cần tưới đẫm nước để hạn chế đứt rễ. Nếu chưa trồng ngay hoặc phải vận chuyển đi xa cần bảo quản nơi thoáng mát, giữ ẩm, vận chuyển lúc trời mát.

* Giai đoạn nhổ đem trồng (Kỹ thuật trồng dâu bằng cây con): – Khi đặt cây dâu không để rễ cây tiếp xúc trực tiếp với lớp phân bón ở rãnh.

– Giữ cho rễ cây dâu con thẳng, không bị cuộn lại.

– Lấp đất kín phần cổ rễ.

– Nén chặt đất xung quanh gốc.* Chú ý: khi lấp đất xuống rãnh chỉ lấp 2/3 chiều sâu của rãnh. Sau khi đặt cây dâu xuống rãnh giữ cho cây thẳng, lấp tiếp phần đất còn lại sao cho luống dâu cao hơn ở rãnh 10 – 15 cm để khi mưa không bị đọng nước ở gốc.

b) Trồng dâu bằng hom: Hom dâu được cắm xiên một góc 15 o, mỗi khóm cắm 2 – 3 hom, nén chặt đất xung quanh gốc.

7. Chăm sóc quản lý ruộng dâu sau trồnga) Tưới nước, thoát nước: – Tưới nước: Đối với dâu trồng bằng cây con và trồng bằng hom sau khi trồng xong đều phải tưới nước cho chặt gốc, giữ đủ ẩm cho cây để phục hồi bộ rễ (với dâu trồng cây con) và ra rễ nhanh (với trồng hom). Với dâu cây trồng vào vụ hè nếu không tưới nước sẽ giảm tỉ lệ sống, khả năng hồi phục của cây chậm, sau đó cứ 3 – 4 ngày tưới 1 lần cho đến khi mầm dâu phát triển được 10 – 15 cm.

– Thoát nước: Sau khi trồng nếu gặp mưa lớn kéo dài gây ngập úng ruộng dâu phải thoát nước kịp thời. Nếu để ruộng dâu ngập nước kéo dài cây dâu sẽ bị héo lá, vàng úa và chết.

b) Trồng dặm: Sau trồng 10 – 15 ngày (với trồng dâu cây), 25 – 30 ngày (với trồng hom), dâu sẽ nảy mầm. Cần kiểm tra phát hiện trồng dặm những cây bị chết, khuyết để đảm bảo mật độ.

c) Làm cỏ: Ruộng dâu mới trồng cây còn nhỏ, sinh trưởng chậm, cỏ dại có điều kiện phát triển nhanh, cạnh tranh ánh sáng, thức ăn với cây dâu. Cỏ dại phát triển còn là nơi cho sâu bệnh trú ngụ, phát sinh, vì vậy cần chú ý làm cỏ kịp thời cho ruộng dâu mới trồng, kết hợp làm cỏ và xới xáo đất để giữ ẩm, tạo thông thoáng cho cây dâu sinh trưởng phát triển tốt.

d) Bón phân: – Khi cây đã nảy mầm, phát triển mầm dâu cao khoảng 25 – 30 cm tiến hành bón phân thúc cho cây dâu.

– Lượng bón: 50 – 60 kg ure/ha, độ sâu 10 cm, cách gốc dâu 10 – 15 cm.

– Giai đoạn đầu đối với dâu mới trồng có thể bón phân qua lá. Phun vào buổi sáng hoặc cuối buổi chiều khi trời râm mát, không phun khi trời sắp mưa hoặc nắng to. Sau đó cứ 2 tháng lại bón tiếp một lần phân u rê. Lượng bón tăng dần lên 120 – 125 kg/ha (4 – 5 kg/sào). Đến khi dâu cho thu hoạch lá lượng bón 150 – 200 kg N-P-K/ ha.

e) Phòng trừ sâu bệnh: Cây dâu ở giai đoạn mới trồng bị nhiều loại sâu bệnh phá hoại như: dế, sâu róm, sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu xám, rệp, xén tóc… và một số bệnh do nấm, vi khuẩn phá hoại. Vì vậy cần thường xuyên kiểm tra, phát hiện sớm để phòng trừ kịp thời.

g) Thu hoạch lá: Đối với ruộng dâu mới sau khi trồng 4 – 5 tháng (với dâu trồng cây) hoặc 6 – 7 tháng (với dâu trồng hom) có thể thu hoạch lá cho nuôi tằm. Tuy nhiên, Việc khai thác lá ở ruộng dâu mới trồng dựa vào nguyên tắc: “Khai thác là phụ, bồi dưỡng cây là chính” khi cây dâu sinh trưởng đạt chiều cao 1 mét trở lên có thể khai thác từ 30 – 40 % lượng lá có trên cây. Tuyệt đối không khai thác lá khi cây còn nhỏ.

Quy Trình Bón Phân Cho Cây Dâu Tây

Cũng như các loại cây trồng khác dâu tây cũng cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển. Các loại nguyên tố đa lượng như N, P, K, nguyên tố trung và vi lượng: Ca, Mg, B…

– Nitơ (N): là chất dinh dưỡng quan trọng nhất cho sự tăng trưởng thực vật, ảnh hưởng đến sự ra hoa và hình thành quả.

+ Lá của cây thiếu nitơ vẫn còn nhỏ và có thể chuyển từ màu xanh sang xanh lục hoặc vàng. Kích thước quả giảm, N còn ảnh hưởng đến độ săn chắc, chất lượng và thời gian bảo quản của quả dâu tây.

+ Trong cây dâu tây thiếu P, lá nhỏ màu xanh vàng trở nên thống nhất màu vàng thường được quan sát thấy. Giảm kích thước quả cũng được quan sát khi thiếu hụt trở nên lớn hơn.

– Kali (K): Cung cấp đủ K cho cây dâu còn giúp cây chống chọi tốt và tăng khả năng chống chịu bệnh. Khi cây dâu tây được cung cấp tốt với K, chúng có thể tổng hợp nhiều lượng đường hơn, vì vậy mà quả sẽ được ngọt hơn, nâng cao chất lượng quả.

– Ngoài ra cây dâu cũng rất cần các nguyên tố trung lượng và vi lượng khác như : S, Ca, Mg, Fe, B, Mn, Zn, Cu, Mo, Ni, Cl.

Vì vậy việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây dâu rất quan trọng, chỉ khi cây được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cây mới có thể sinh trưởng phát triển tốt và đạt được năng suất cao.

(Lượng phân bón cho 1 ha)

– Phân chuồng hoai: 40 – 50 m3 + Vôi: 1.500kg + Hữu cơ vi sinh: 1.000 – 2.000 kg.

– Phân hóa học (lượng nguyên chất): 100 kg N – 120kg P2O5 – 120kg K2O; MgSO4: 40kg; Boric: 80kg.

Lượng bón: Ure: 217 kg, Super lân: 750 kg, KCl: 200 kg.

Ghi chú: Bón vôi 2 đợt/năm: Đợt 1: Bón lót 1000 kg; Đợt 2: 06 tháng sau khi trồng bón bổ sung 500 kg.

– Lượng phân bón định kỳ bón năm thứ nhất là 10 lần, nếu 02 tháng bón 01 lần thì sử dụng lượng gấp đôi. Nếu sử dụng phân đơn thì mỗi đợt bón phân định kỳ có thể bón 20 kg ure, 20 kg kali. Acid Boric và MgSO4 phun xịt định kỳ qua lá.

– Chu kỳ kinh doanh của cây dâu thu hoạch trái kéo dài đến 02 năm hoặc hơn. Nếu dâu tây trên 01 năm tuổi chức năng sinh lý của rễ kém ảnh hưởng đến hấp thụ dinh dưỡng, nên bổ sung phân qua lá, định kỳ 10 – 15 ngày xịt 01 lần.

– Bón phân theo nguyên tắc bón ít nhưng bón nhiều lần trong năm. Lượng phân bón theo khuyến cáo như trên đối với bón định kỳ có thể tăng hay giảm tùy thuộc vào sức sinh trưởng, phát dục, giai đoạn bội thu, chu kỳ ra trái của cây dâu.

Nguồn: Sở NN và PTNT Lâm Đồng

Dây tâu ngày càng được nhiều người ưu chuộng, không những có giá trị kinh tế mà bản thân nó có nhiều giá trị dinh dưỡng,.. Dựa vào nhu cầu cần thiết hiện nay chúng tôi đưa ra quy trình hướng dẫn trồng và chăm sóc dâu…

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Khoai Tây Vụ Đông

Khoai tây vụ đông thường được bố trí trên chân đất 2 vụ lúa (lúa đông xuân + lúa mùa + khoai tây đông). Để cây khoai tây sinh trưởng tốt, năng suất cao thì cần bố trí trồng trên các chân đất vàn cao; đất có độ tơi xốp, thuận tiện trong việc tưới tiêu và thoát nước tốt.

Quy trình trồng và chăm sóc cây gấc

Quy trình kỹ thuật trồng khoai tây vụ đông

I. CHỌN GIỐNG

Chọn các giống khoai tây đã được các cơ quan khoa học, Bộ NN&PTNT khuyến cáo thích hợp với vụ đông như: VT2, KT3, Diamant, Marabel, Solara, Atlantic,

Giống khoai tây cần đảm bảo không có sâu bệnh, không dị dạng; kích thước các củ đồng đều, mập và khỏe.

Số lượng giống khoai tây cần cho 1 ha: tùy vào điều kiện sản xuất cụ thể (giống và đất trồng), lượng giống dao động trong khoảng 850 – 1.100 kg/ha (tức là khoảng 30 – 40 kg/sào Bắc bộ).

II. KỸ THUẬT TRỒNG

Tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc: Tại các tỉnh miền núi thường trồng khoảng giữa đến cuối tháng 10, cho thu hoạch vào tháng 1 năm sau. Với các vùng trung du, bà con trồng đầu tháng 10 và thu hoạch vào cuối tháng 12.

Ở vùng Đồng bằng sông Hồng: Bà con trồng cuối tháng 10, đầu tháng 11, thu hoạch cuối tháng 1 đến khoảng đầu tháng 2 năm sau.

Tại vùng Bắc Trung bộ: bà con trồng đầu vào tháng 11, và thu hoạch cuối tháng 1 năm sau.

2. Chuẩn bị đất trồng

a) Đất trồng: Khoai tây trồng được trên các loại đất: đất thịt nhẹ, đất phù sa, đất cát pha… Để cây sinh trưởng tốt, cho năng suất cao thì nên bố trí trồng trên đất có độ tơi xốp, thuận tiện cho việc tưới tiêu và thoát nước tốt. Khoai tây vụ đông thường được trồng trên chân đất 2 vụ lúa (lúa mùa + lúa đông xuân + khoai tây vụ đông).

b) Làm đất, lên luống: Đất trồng khoai tây cần được cày, bừa kỹ, nhỏ, tơi xốp và kết hợp với thu gom gốc dạ, rác, cỏ nhằm hạn chế nguồn sâu bệnh truyền lại.

Để đạt hiệu quả cao trong công việc xới đất, lên luống trồng khoai tây, quý bà con nên sử dụng Máy xới đất 3A1401 do Công ty CPĐT Tuấn Tú cung cấp:

Hình ảnh Máy xới đất 3A1401

Ngoài ra, chúng tôi còn cung cấp những loại thiết bị, máy móc khác tiện dụng cho nhà nông như máy xới đất, máy gieo trồng, máy thu hoạch…

Có 2 cách lên luống:

+ Lên luống rộng 60 – 70 cm đối với luống đơn trồng 1 hàng.

+ Lên luống rộng 120 -140 cm đối với luống đôi trồng 2 hàng.

Rãnh của luống sâu từ 15 – 20 cm, rộng từ 30 – 40 cm.

3. Chuẩn bị phân bón:

– Lượng phân bón cho 1 ha trồng khoai tây:

– Cách bón phân cho khoai tây:

+ Cách 1: Bà con bón lót 100% Lân supe + toàn bộ phân chuồng hoai mục + 100% vôi +70% Kali clorua + 70% Urê . Khi vun xới lần 2, bà con bón thúc toàn bộ lượng Urê và Kali còn lại.

+ Cách 2: Bón lót 100% Lân supe + 100% vôi + toàn bộ phân chuồng hoai mục + 30% Kali clorua + 30% Urê. Bà con chia làm 2 lần bón, mỗi lần 1/2 lượng phân còn lại, mỗi lần bón cách nhau khoảng 15 – 20 ngày, kết hợp với các lần vun xới đợt 2 và đợt 3.

4. Mật độ, lượng giống và cách trồng

a) Mật độ: Tùy vào kích cỡ của củ giống để xác định mật độ trồng khoai tây. Với 1m2 trồng:

+ Đối với củ nhỏ: trồng khoảng 10 củ, mỗi củ cách nhau 17 – 20 cm

+ Đối với củ trung bình: trồng 6 – 7 củ, khoảng cách giữa các củ từ 25 – 30 cm.

b) Lượng giống: Bà con chuẩn bị 32 – 40 kg/sào Bắc bộ (khoảng 900 – 1.100 kg/ha).

c) Xử lý giống:

– Bổ củ: Giống có củ to sẽ có năng suất cao hơn, với diện tích trên 1 ha, để tiết kiệm chi phí giống, với kích cỡ củ giống to (đường kính củ trên 4,5 cm) thì bà con nên tiến hành bổ củ giống. Tùy vào kích cỡ củ để bổ đôi hoặc bổ ba. Cách bổ củ giống và xử lý như sau:

+ Bà con cắt bằng dao sắc, có lưỡi mỏng. Nhúng dao vào nước xà phòng đậm đặc hoặc cồn có nồng độ cao trước mỗi lần cắt, giúp ngăn chặn nấm làm củ bị thối.

+ Mỗi miếng bổ cần có từ 2-3 mầm, và nên bổ dọc củ. Ngay sau khi bổ xong, chấm phần cắt vào bột xi-măng khô với lượng vừa đủ và không để bột bám nhiều sẽ hút nước làm củ giống khô, héo.

+ Khoai tây giống sau khi bổ cần rải đều, giữ ẩm bằng cách phủ tải ẩm lên trên. Không để thành đống sẽ dễ bị thối. Cần bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát.

Sau khi xử lý xong, tùy vào điều kiện ruộng sản xuất, bà con đưa khoai giống ra ruộng trồng với thời gian tối thiểu là sau 12 giờ và tối đa là 1 tuần. Khi đất có độ ẩm tốt và đã được bón lót với phân chuồng hoai mục thì bà con có thể trồng sớm.

Với khoai giống nguyên củ và giống đã được bổ sau khi xử lý: trồng tốt nhất khi mầm hơi nhú là. Không nên để mầm mọc dài vì sẽ dễ bị gãy mầm khi trồng.

Lưu ý: Tuyệt đối không tưới nước trong thời gian bảo quản khi mang khoai giống về mà chưa trồng. Nếu muốn mầm mọc nhanh hơn thì bà con cho khoai vào thúng, phủ rơm rạ hơi ẩm hoặc tải lên trên để nơikhô ráo, thoáng mát; nhưng tránh độ ẩm cao khiến khoai dễ bị thối.

d) Cách trồng:

– Trước khi trồng, bà con rạch hàng theo chiều dọc của luống, bón lót phân lân, phân đạm và phân chuồng xuống đáy rồi lấp lên trên 1 lớp đất mỏng. Cần tưới nước trước khi bón phân nếu đất khô để cây mọc nhanh hơn.

– Củ giống đặt theo khoảng cách đã nêu trên, đặt mầm nằm ngang, lấp một lớp đất dày khoảng 3 – 5 cm phủ lên củ. Rải một lớp rơm rạ đã cắt ngắn để vừa giữ độ ẩm, và khi tưới ẩm, nước tưới sẽ không làm xói, làm trôi lớp đất phủ phía trên (phần củ giống nằm lộ trên mặt đất sẽ chuyển màu xanh, dẫn đến nảy mầm không tốt…).

Lưu ý: không để rơm rạ quá ẩm hoặc đất quá khô khi trồng. Khi đặt củ cần tránh để củ tiếp xúc trực tiếp với phân bón, nhất là phân hóa học, khiến củ giống dễ bị chết.

III. CHĂM SÓC, PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI

a) Vun xới kết hợp với bón thúc

Vun xới kết hợp với bón thúc cho khoai tây

– Lần 1: Sau khi trồng khoảng 7 – 10 ngày, bà con tiến hành vun xới nhẹ và lấp thêm đất cho gốc, kết hợp với bón thúc lần 1 và vun luống cho khoai. Chú ý phân khi bón thúc cần bón vào giữa 2 khóm khoai hoặc mép luống, không bón trực tiếp vào gốc sẽ làm cây chết. Cần kết hợp với tỉa cây, mỗi khóm nên để lại từ 3 – 5 thân khỏe, mập.

– Lần 2: Sau khi trồng 20 – 25 ngày thì bà con tiến hành xới sâu, và vun cao luống, kết hợp với bón thúc lần 2.

– Lần 3: Sau trồng khoảng 35 – 40 ngày, cần xới nhẹ, kết hợp với làm cỏ. Sau đó vét rãnh và lấy đất ở rãnh để vun luống lên cao, sao cho luống cao, dày trong lần định hình cuối.

Lưu ý: Nếu bà con bón thúc một lần thì sẽ bón trong lần chăm sóc thứ 2.

b) Nước tưới:

Tưới nước cho khoai là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và chất lượng của khoai. Trong 60 – 70 ngày đầu, khoai tây rất cần nước, nếuthiếu nước trong giai đoạn này sẽ dẫn đến giảm năng suất. Nếu để ruộng lúc ẩm, lúc khô sẽ làm củ khoai bị nứt, giảm chất lượng. Có 2 cách tưới nước cho khoai tây:

– Tưới rãnh: Bà con dẫn nước vào rãnh để nước thấm từ từ vào luống. Có ba lần tưới nước trong khoảng 60 – 70 ngày sau khi trồng. Chú ý để nước thấm đủ ẩm và không để nước đọng lại trong rãnh. Cần kết hợp tưới nước trong các lần chăm sóc.

Lưu ý: Để nước không đọng tại rãnh thì cho ngập 1/3 luống với đất thịt nhẹ, và cho ngập1/2 luống đối với đất cát pha.

– Tưới gánh: Là cách tưới tưới xung quanh gốc (không tưới trực tiếp vào gốc cây). Cần kết hợp tưới cùng với phân kali và phân đạm bằng cách hòa với nước và với lượng phân ít (pha mỗi loại phân 1 nắm nhỏ với 10 lít nước).

Lưu ý: Cần để đất khô ráo trước khi thu hoạch khoảng 2 tuần. Không để nước vào ruộng, nếu mưa phải tháo nước kịp thời.

2. Phòng trừ sâu bệnh hại

a) Sâu hại

– Rệp sáp: Là loài sâu hại chủ yếu củ giống trong thời gian bảo quản. Rệp sáp xuất hiện vào giai đoạn cây sinh trưởng mạnh, thường tụ tập ở phần ngọn, ở nách và mặt dưới của lá. Đến thời kỹ sắp thu hoạch, rệp sáp thường sống chủ yếu ở gốc cây khoai tây, bám vào mắt của khoai và theo vào thời kỳ bảo quản. Ở giai đoạn bảo quản, rệp thường tập trung ở mắt củ và quanh mầm củ để hút nhựa của mầm khoai tây làm cho mầm bị teo, khô, củ giống khô và cứng lại, dẫn đến không trồng được.

Cách phòng trừ: Cần bảo quản củ giống ở nơi khô ráo, thoáng gió, xếp lên giàn và không xếp quá dày. Cần khử trùng giàn và kho chứa sạch sẽ trước khi đưa củ vào bảo quản. Không dùng củ khoai có rệp sáp làm giống, cần bón phân cân đối và hợp lý. Dùng các loại thuốc Supracid, Oncol, Suprathion 40EC, Penbis, Bi 58 50EC… để phòng trừ rệp sáp.

– Rệp đào: Là loại rệp chích hút dịch cây ở các phần non, làm lộc non bị cong queo dẫn đến rụng sớm; cành lá non không phát triển được. Rệp đào còn được coi là môi giới truyền bệnh virus gây nhàu lá ở khoai tây và nhiều cây trồng khác. Ngoài ra, rệp đào còn tiết chất dịch tạo môi trường phát triển cho nấm muội đen, bao bọc mặt lá của cây, cản trở đến khả năng quang hợp của lá, làm cho cây phát triển và sinh trưởng kém.

Cách phòng trừ: Bà con cần theo dõi ruộng/vườn trồng ngay từ đầu vụ để phát hiện kịp thời các ổ rệp mới xuất hiện và thu gom tiêu huỷ. Sử dụng hỗn hợp 10% dầu tỏi +40% dầu hạt bông +20% dầu đinh hương (GC-Mite 70SL) để phòng trừ.

– Ruồi hại lá: Thường sinh trưởng và gây hại nặng cho khoai tây trong điều kiện thời tiết hanh khô. Con cái sử dụng gai để đẻ trứng vào dưới biểu bì lá và hút nhựa cây tạo ra những vết sần sùi trên mặt lá. Sâu non tạo ra những đường đục màu trắng, ngoằn nghoèo xuất hiện trên lá. Lá sẽ giảm khả năng quang hợp khi bị hại nặng, dẫn đến giảm năng suất. Ngoài ra, ruồi hại lá còn tạo điều kiện cho một số nấm bệnh xâm nhập.

Cách phòng trừ: Không được bón phân tươi, mà bà con chỉ sử dụng phân hữu cơ đã được ủ hoai mục. Cắt tỉa những lá bị hại nặng và dùng bẫy dính màu vàng để dẫn dụ và diệt ruồi trưởng thành. Sử dụng thuốc Cyromazine (Trigard 100SL) để phun trừ ruồi hại lá.

– Sâu khoang: Có tác hại chủ yếu là ăn lá, dẫn đến cây sinh trưởng kém. Sâu non sống tập trung quanh chỗ ổ trứng sau khi nở, gặm nhấm chất xanh của lá và phá hại mạnh vào buổi đêm.

Cách phòng trừ: Cần vệ sinh đồng ruộng và làm đất kỹ trước khi trồng. Nên sử dụng bả chua ngọt để bắt bướm, ngắt bỏ ổ trứng để diệt sâu non. Cần phun thuốc kịp thời ngay khi sâu mới nở, sử dụng các loại thuốc như Karate 2,5EC, Regent 800WG, Prodigy 23F, Sumi-Alpha 5EC, Trebon 10EC… hoặc kết hợp hai loại thuốc với nhau như Trebon 10EC + Padan 95SP ; Sherpa 25EC + Netoxin 95SP…

– Sâu xám: Sâu cắn gốc cây làm đứt cây, dẫn đến cây đổ rạp, sâu phá hoại chủ yếu là trên cây con. Sâu non mới nở thường gặp lấm tấm biểu bì tại lá cây. Sâu già sống dưới đất, bò lên cắn đứt gốc cây vào ban đêm.

Cách phòng trừ: Bà con cần vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại và đem tiêu hủy. Sử dụng thuốc hoá học: Chlorantraniliprole + Thiamethoxam (Virtako 300SC), Suprathion 40EC, …để phòng trừ

Cần xử lý đất trước khi trồng bằng một số loại thuốcdạng bột như: Vibasu 10H, Basudin 10G, Regent 3G, Furadan 3G…

Bà con cũng có thể dùng cám rang thơm trộn cùng với thuốc Vibasu 10G để bẫy sâu xám. Trộn 0,5 kg thuốc với 2 kg cám, rải đều cho 1.000 m2 trước khi trời tối. Rải thuốc hốc gần gốc cây hoặc theo hàng.

Khi mật độ của sâu cao, bà con nên chọn những loại thuốc hỗn hợp có nhiều hoạt chất và nhiều tác dụng (vị độc, tiếp xúc, xông hơi, thấm sâu, nội hấp) hoặc phối hợp khoảng 2-3 loại thuốc trừ sâu với những tác dụng khác nhau để diệt trừ sâu xám. Dùng thuốc đơn như: Shecpain 36EC; Gottoc 250EC; Basudin 50EC… hoặc phối hợp hai loại thuốc khác nhau như: Sevin 40% + Sherpa 25EC; Diptere 80WP + Karate 2,5EC; Regent 800WG + Sokupi 0,36AS; Ganoi 95SP + Abamectin 36EC… Nên phun khi chiều tối, và cho thêm khoảng 10ml chất bám dính hoặc 5 giọt nước rửa bát hoặc 20 – 30 ml dầu khoáng vào mỗi bình 8 – 12 lít để tăng khả năng bám dính của thuốc vào cơ thể sâu, sâu chết nhanh và nhiều hơn.

b) Bệnh hại:

– Bệnh sương mai (mốc sương):

Là bệnh do nấm gây ra, phá hoại tất cả các bộ phận của cây (lá, cành, thân, củ) và cả khi đang tồn trữ. Với điều kiện nhiệt độ từ12 – 22oC, độ ẩm cao, trời âm u, có sương mù và mưa phùn ẩm ướt, bệnh gây hại nặng từ cuối tháng 12 đến cuối tháng 2.

+ Trên lá: Xuất hiện ở mép lá, lan rộng dần vào phía trong. Vết bệnh có thể nhiễm hết phiến và cuống lá. Vết bệnh trên lá có màu nâu, với điều kiện ẩm ướt thì mặt dưới của lá có phủ một lớp mốc màu trắng và khô lại khi thời tiết khô lạnh.

+ Trên thân, cành: Vết bệnh không có hình dáng ổn định, có màu nâu đen; phần mô bệnh teo lại, dẫn đến gãy hoặc thối mềm.

+ Trên củ khoai: Vết bệnh có màu nâu xám hoặc màu nâu lan rộng và lõm sâu vào thịt củ. Khi thời tiết độ ẩm cao, vết bệnh phát triển thành lớp nấm có trắng xốp. Củ khoai có thể bị thối ướt hoặc teo khô.

– Bệnh héo vàng:

Là bệnh do nấm gây ra, làm mốc trắng ở gốc, cây bị héo, lá gốc héo vàng, bó mạch bị thâm đen sau vài ngày cây sẽ chết.

– Bệnh héo xanh:

Bệnh này do vi khuẩn gây ra, làm cây héo đột ngột, lá vẫn xanh, có thể héo theo từng cành, bó mạch hóa nâu chứa dịch nhờn trắng đục. Ở điều kiện nhiệt độ khoảng 27 – 35oC, mưa nhiều và to, rất thích hợp cho vi khuẩn phát triển và xâm nhập qua vết thương để vào cây do chăm sóc, tuyến trùng, côn trùng… Bệnh nặng ở vụ sớm. Vi khuẩn trong đất và tàn dư của cây bệnh năm trước là mầm bệnh cho vụ năm sau.

– Bệnh xoăn lá:

Là bệnh do virus gây ra, làm cho ngọn nhăn nheo, xoăn vàng; lá nhỏ, máu lá váng xanh xen kẽ, dị hình. Giai đoạn đầu sẽ khiến cây bị bệnh còi cọc, vẫn có củ nhưng củ nhỏ. Bệnh thường vào vụ sớm, với điều kiện nhiệt độ khoảng 28-35oC. Bệnh lan truyền bằng củ giống, dịch cây, hạt giống, qua tàn dư của cây bệnh vụ trước, và do bọ phấn chích hút.

Biện pháp phòng trừ tổng hợp với các loại bệnh hại:

– Canh tác:

+ Cần có phương pháp luân canh với rau, màu khác họ và cây lương thực.

+ Sử dụng giống sạch bệnh, với mật độ thích hợp.

+ Dùng phân chuồng hoai mục. Tăng lượng phân Kali, bón cân đối lượng NPK, và bổ sung thêm Magiê, vào vụ mưa phải tăng cường bón vôi và giảm lượng đạm.

+ Trong quá trình chăm sóc và vun xới, tránh tạo vết thương cho cây. Phải nhổ bỏ ngay cây bệnh và đem đi tiêu hủy.

+ Thu gom các tàn dư, tiêu hủy hoặc đem chôn xa ruộng.

– Phòng trừ bằng thuốc hóa học:

+ Đối với bọ phấn truyền bệnh vi rút, cần phòng trừ bằng thuốc Trebon, Regent… Sử dụng thuốc Steptomysin, Amil 10SC, ValidamycinA, Esin-HP hoặc Staner.

+Đối với bệnh mốc sương: sử dụng các loại thuốc nội hấp để phun phòng: Score 250ND, Ridomil Mz 72WP. Khi xuất hiện vết bệnh điển hình, ở lần phun đầu tiên phải kết hợp với thuốc tiếp xúc như: Mancozeb 80WP, Zineb 80WG…

+ Đối với bệnh héo xanh, cần dùng thuốc gốc đồng như: Streptomycin sulfate + Copper Oxychloride + Zinc sulfate (PN – balacide 32WP); Streptomycin 50 g/kg (Miksabe 100WP) + Oxytetracycline 50g/kg; Oxytetracycline Hydrochloride 6% (Avalon 8WP) + Gentamicin Sulfate 2% …

+ Đối với bệnh héo vàng: cần sử dụng thuốc ngay khi bệnh mới xuất hiện: Ridomil MZ 72WP, Rovral 50WP…

+ Đối với bệnh xoăn lá: Biện pháp hiệu quả là quản lý con đường lây lan của bệnh. Ngoài ra, có thể dùng Sargent 6G để xử lý đất, nhằm diệt các loại côn trùng trong đất. Loại thuốc phổ biến là dầu khoáng SK Enspray 99EC có tác dụng trừ các loại sâu chích hút. Để nâng cao hiệu lực và tiêu diệt được một số loại sâu bệnh khác, nên dùng dầu khoáng nói trên với Sairifos 585EC hay Comda Gold 5WG, với liều lượng bằng 1/2 so với liều lượng khuyến cáo để phòng trừ.

IV. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN

Thời điểm thu hoạch của khoai tây được xác định là khi có từ 80% số lá trên thân chuyển sang màu vàng. Ngừng tưới nước trước khi thu hoạch từ 15 – 20 ngày, nếu trời mưa thì phải tháo hết nước.

Nên thu hoạch vào ngày nắng ráo. Trước khi thu hoạch từ 7 – 10 ngày nên cắt cách gốc khoảng 15 – 20 cm (cắt toàn bộ thân lá đối với ruộng giống) thì khoai tây sẽ không bị xây xát củ, mã đẹp dễ bán và bảo quản tốt.

Khi thu hoạch, bà con nên phân loại củ ngay tại ruộng, cho vào sọt và đưa về nơi bảo quản.

Bà con tiến hành thu hoạch khoai tây

2. Bảo quản khoai tây

– Để khoai tây không mọc mầm với điều kiện tự nhiên:

Sau khi thu hoạch, ở điều kiện khí hậu không thuận lợi cho việc bảo quản thì khoai tây chỉ để được tối đa không quá 2 tuần là khoai tây giảm chất lượng và có thể mọc mầm.

Để bảo quản được tốt, trước tiên bà con chọn những củ khoai cầm lên tay thấy nặng, chắc, vỏ trơn nhẵn và lành lặn. Khoai tây không được rửa trước khi đưa vào bảo quản.

+ Thời gian bảo quản trong khoảng 2 tháng (khoảng 10oC): Để khoai ở nơi tối, thông thoáng và mát. Không nên bảo quản cùng với các nông sản khác. Không để khoai trong thùng kín, hộp hoặc túi nilon. Hoàn toàn để khoai tây tránh xa ánh sáng mặt trời để khoai không bị mọc mầm. Nên thường xuyên kiểm tra khoai đang được bảo quản để loại những củ thối và củ đang có màu xanh trên bề mặt củ.

Theo kinh nghiệm của dân gian, bà con thường dải khoai tây xuống gầm tủ, gầm giường hoặc để trên sàn góc bếp, góc nhà với lượng khoai ít. Với lượng khoai tây nhiều: bà con cho khoai vào bao tải dứa có đục lỗ giúp cho lưu thông không khí môi trường bên ngoài và trong bao. Xếp 1 – 3 lớp chồng lên nhau ở nơi cao ráo, thoáng mát, không có ánh sáng trực tiếp.

+ Thời gian bảo quản khoai tây khoảng 3 – 4 tháng: Nên vùi kín khoai trong cát khô và chỉ áp dụng được với số lượng ít.

– Bảo quản khoai trong nhà lạnh: Hiện nay, để bảo quản khoai được lâu trên 4 tháng, người ta bảo quản khoai trong kho lạnh. Khoai tây được bảo quản trong nhà lạnh, cần đóng vào bao tải dứa có đục lỗ và xếp trong nhà lạnh. Kho lạnh có nhiệt độ ổn định từ 8 – 10oC. Khoai tây được bảo quản trong kho lạnh thường dùng làm giống vào vụ sau.

Tiếp tục đồng hành cùng chúng tôi để có được những thông tin hữu ích và tìm được cho mình những sản phẩm thuộc dòng máy làm đất phù hợp. Hẹn gặp lại quý bà con trong những bài viết tiếp theo!

Chúc bà con thành công!

Công ty CPĐT Tuấn Tú

VPGD Miền Bắc: Số 2, ngõ 2, đường Liên Mạc, phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Hotline: (024)22 05 05 05 – 0916 478 186

Chi nhánh Miền Nam: 129/17D Đường Lê Đình Cẩn, Khu phố 6, Phường Tân Tạo, Quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh.

Hotline: 0945 796 556 – 0984 930 099

Email: maylamdatvn@gmail.com

Website: maylamdat.vn

Fanpage: facebook.com/maylamdat3A/