Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cây Ớt / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cây Ớt Ngọt

1. Đặc điểm thực vật học: Ớt ngọt trồng nhiều ở châu Âu, châu Mỹ. Vài năm gần đây có nhiều giống du nhập và trồng khá phổ biến tại Lâm Đồng. Ớt ngọt là cây hàng năm, từ một gốc có thể phát triển thành bụi cây nhỏ gọn thẳng , có thể đạt chiều cao tối đa là 4m . Trái được hình thành từ một bông hoa duy nhất phát triển trong góc giữa lá và thân cây. Tùy giống ớt ngọt khác nhau về hình dạng và màu sắc, ớt ngọt dùng để ăn sống, nấu chín hoặc chế biến. Không phải tất cả các giống ớt ngọt nhẹ hương vị, một số có thể là cay nóng.

2. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh: Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây là 25-28 oCvào ban ngày và 18-20 oCvào ban đêm, tối thích cho sinh trưởng là 18-28 o C. Yêu cầu ánh sáng nhiều, nhất là thời điểm ra hoa, thiếu ánh sáng giảm tỷ lệ đậu quả.Ớt ngọt có thể phát triển tốt ở nhiều loại đất khác nhau như đất sét nhẹ, đất bazan, đất feralit vàng đỏ,… pH tối thích 5.5-6.5. Trong điều kiện nhà che nylon ớt ngọt có thể trồng được quanh năm.

3. Yêu cầu dinh dưỡng: Ớt là cây trồng cần phân bón Kali để hình thành quả, nếu thiếu Kali, quả ớt sẽ không rắn, chắc và không đạt độ bóng đẹp.

Phần II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc.

1. Giống: Tại Lâm Đồng đang sử dụng phổ biến các giống ớt ngọt nhập từ Hà Lan có nhiều màu như ớt xanh, ớt đỏ (Pasarella), ớt vàng (Baschata)… của công ty Rijk Zwaan. Hạt ươm trong vỉ xốp cho đến đem ra vườn trồng.

Tiêu chuẩn lựa chọn giống xuất vườn:

2. Chuẩn bị đất: Chọn đất canh tác: Cách xa các khu công nghiệp, bệnh viện, nhà máy,… (không gần nguồn nước ô nhiễm và nước thải của các nhà máy, bệnh viện).

Vệ sinh vườn, dọn sạch tàn dư thực vật, cày xới và bón vôi bổ sung để nâng pH lên 5.5-6.6, phơi ải đất từ 1-2 tuần để tiêu diệt một số sâu bệnh hại, sau đó lên luống để bón lót và trồng. Phân bón lót được rải đều trên bề mặt luống, dùng cuốc xăm đều sau đó phủ 1 lớp đất lên bề mặt luống và tưới ẩm đều và tiến hành phủ bạt. Đục lỗ bón phân và lỗ trồng cây.

3. Trồng và chăm sóc: Mỗi luống trồng 2 hàng, khoảng cách hàng x hàng 50cm, cây x cây 45-50cm. Mật độ trồng 30.000-35.000 cây/ha, trồng theo kiểu nanh sấu , sau khi trồng tưới nước giữ ẩm để cây nhanh phục hồi.

Tưới nước: Sử dụng nguồn nước không bị ô nhiễm, nước giếng khoan, nước suối đầu nguồn, không sử dụng nước thải, nước ao tù, ứ đọng lâu ngày.

Tuần đầu tưới nhẹ từ 1-2 lần/ngày, sau đó mỗi ngày tưới 1 lần, nếu trồng vụ mưa tưới ít hơn.

Cắm chói: Sau khi trồng khoảng 2 tuần, cây đã bén rễ, tiến hành cắm choái, mỗi cây cắm một chói và cột cố định cây vào, khi cắm tránh làm long gốc sẽ ảnh hưởng đến cây trồng. Khi cây cao hơn 35 cm thì bắt đầu cắm chói cao và đan dây nylon để giữ cho cây không bị ngã đổ vì mang trái nặng.

Chăm sóc: Thường xuyên loại bỏ lá già, lá bị bệnh dưới gốc. Thực hiện khâu tỉa cành trước lúc ra hoa. Mỗi cây để 4-5 cành.

4. Phân bón và cách bón phân:

Phân bón: Lượng vật tư phân bón tính cho 1ha/vụ như sau:

Phân chuồng hoai: 40-50 m 3, phân hữu cơ vi sinh: 1.000kg, v ôi bột: 800-1200kg, tùy pH của đất trồng.

Phân hóa học (lượng nguyên chất): 160kg N- 95kg P 2O 5 – 175kg K 2SO 4.

Đổi lượng phân hóa học nguyên chất qua phân đơn hoặc NPK tương đương:

Cách 1: Ure: 348 kg; super lân: 594 kg; KCL: 292 kg.

Cách 2: NPK 15-5-20: 875 kg; Ure: 63 kg; super lân: 320 kg.

Bón theo cách 1:

Bón theo cách 2:

Sử dụng phân bón lá theo nồng độ khuyến cáo trên bao bì.

Bón thúc các lần sau: khoảng 1 tháng một lần với lượng phân bón tương tự thúc lần 2 hoặc lần 3.

Phần III. Sâu hại và biện pháp phòng trừ:

Chú ý đến 03 loại côn trùng gây hại nghiêm trọng là: Rệp ( Aphid gossypii và Myzus persicae); Bọ trĩ ( Thrips palmi); Nhện đỏ ( Tetranychus sp).

Kiểm tra vườn trồng để phát hiện sớm và phun thuốc kịp thời, dùng các loại thuốc lưu dẫn có tác dụng kéo dài và hiệu quả cao để phòng trừ kịp thời.

+ Bọ trĩ: Sử dụng luân phiên một trong các loại thuốc: Abamectin (Silsau 1.8, 3.6 EC); Imidacloprid (Admire 200 OD)

+ Nhện đỏ: Sử dụng luân phiên một trong các loại thuốc: Azadirachtin (Agiaza 0.03 EC, 4.5 EC); Abamectin (Silsau 1.8, 3.6 EC); Rotenone (Limater 7.5 EC)

+ Rệp: Sử dụng luân phiên một trong các loại thuốc: Imidacloprid (Admire 200 OD); Rotenone (Limater 7.5 EC)

Phòng trừ sâu ăn lá:

– Áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp (IBM) như vệ sinh đồng ruộng, hạn chế ký chủ xung quanh ruộng, dùng bẫy vàng, cắt bỏ lá bị nhiễm ruồi nặng, phun thuốc phòng trừ 10-15 ngày một lần.

Phần IV. Bệnh hại và biện pháp phòng trừ:

1. Bệnh Thán thư( Colletotricum spp.):

Là bệnh nguy hiểm gây thối quả hàng loạt và thường xuất hiện vào các tháng nóng, ẩm trong năm (tháng 5,6,7,8). Bệnh lan truyền do nấm tồn tại trên tàn dư cây trồng của vụ trước, do đó khi trồng ớt phải tuân thủ luân canh nghiêm ngặt.

Triệu chứng bệnh: Đầu tiên có vết ướt trên quả, sau đó lan rộng biến thành màu tối, vết bệnh thường có dạng vòng, trung tâm vết bệnh có màu đen. Nếu gặp thời tiết ẩm ướt trên vết bệnh có lớp bào tử màu hồng cam. Khi bệnh xuất hiện nên hạn chế tưới phun lên cây, vì tưới sẽ tạo điều kiện cho nấm bệnh lây lan nhanh chóng.

Có thể dùng thuốc: Thiophanate-Methyl (Thio-M 500FL); Chlorothalonil (Daconil 75 WP); Tebuconazole + Trifloxystrobin (Nativo 750 WG).

2. Bệnh Héo vàng do nấm ( Fusarium oxysporum):

Xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn cây con đến khi ra hoa. Triệu chứng điển hình thường thấy ở phần thân gần gốc, có những vết nấm đốm thành mảng trên bề mặt, nấm bệnh làm hư hại bó mạch dẫn của cây, do vậy cây héo xanh và chết. Nấm phát triển nhanh ở nhiệt độ 25-30 0 C. Ruộng đất cát, chua, thiếu đạm và lân thường bị bệnh nhiều.

– Biện pháp phòng trừ: Chọn giống sạch bệnh; Luân canh với các cây trồng khác họ; Không tưới nước quá ẩm. Trồng cây trên những chân đất cao ráo, dễ thoát nước. Vệ sinh đồng ruộng, xử lý bằng Sunfat đồng (3kg/1000m 2). Biện pháp hóa học:

3. Bệnh héo xanh do vi khuẩn ( Pseudomonas solanaceaerum):

Nguyên nhân: Đất bị nhiễm khuẩn héo xanh hoặc do giống kháng bệnh héo xanh kém, vi khuẩn phát triển mạnh ở nhiệt độ 30-35 0 C, tồn tại rất lâu trong đất và lan truyền qua hạt giống, cây bệnh và dụng cụ lao động. Triệu chứng điển hình là cây đang phát triển tốt nhưng vào giữa trưa nắng có một số cây bị héo rũ, đến chiều lại hồi phục, hiện tượng này diễn ra trong một thời gian ngắn sau đó cây héo luôn. Khi cắt đoạn thân gần gốc đặt vào ly nước sẽ thấy dịch trắng loang ra, đó chính là dịch vi khuẩn. Khi bệnh xuất hiện cần nhổ bỏ cây bệnh đem tiêu hủy xa nơi trồng. Trước khi trồng ớt nên tiến hành khử đất thật kỹ để giảm hiện tượng cây héo xanh do vi khuẩn.

– Biện pháp phòng trừ: Sử dụng hạt giống sạch bệnh; Sử dụng đất sạch bệnh làm bầu ươm cây. Việc tỉa cành bấm ngọn chú ý dụng cụ như dao, kéo cần phải khử trùng liên tục nếu trên ruộng đã xuất hiện bệnh. Sử dụng nguồn nước tưới không bị nhiễm bởi những tàn dư cây bệnh. Vườn trồng ớt phải bằng phẳng, hạn chế vi khuẩn sẽ lây lan theo dòng nước trong đất. Thường đất pha cát, nghèo dinh dưỡng bị bệnh nặng hơn các chân đất khác. Tăng cường nguồn phân hữu cơ cho cây khỏe để tăng khả năng chống chịu bệnh của cây. Không trồng ớt trên đất đã bị nhiễm bệnh nặng, đảm bảo chế độ luân canh tuyệt đối ít nhất 3-5 vụ với các cây trồng khác không cùng họ với ớt.

– Biện pháp hóa học: Sử dụng các hoạt chất sau: Fugous Proteoglycans (Elcarin 0.5SL); Streptomyces lydicus WYEC 108 (Actinovate 1 SP); Streptomyces lydicus WYEC 108 + Fe + Humic acid ( Actino – Iron 1.3 SP);

4. Bệnh virus:

Là bệnh hại tương đối nặng đối với các vùng trồng ớt. Do đó trước khi trồng ớt nên luân canh tuyệt đối với các loại cây không cùng họ cà. Tiêu diệt môi giới truyền bệnh là rệp, bọ trĩ, nhện đỏ,…trên vườn, nhổ bỏ và tiêu hủy kịp thời những cây bệnh để không cho bệnh lây lan.

Ngoài ra còn gặp một số bệnh như: Sương mai ( Phytophthora infestans), Bệnh thối xốp vi khuẩn ( Erwinia spp...), Đốm lá vi khuẩn ( Xanthomonas campestris), Thối đen ( Botrytis spp.) v.v..

Phần V. Phòng trừ dịch hại tổng hợp

Áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM

1. Biện pháp canh tác kỹ thuật: V ệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, cắt tỉa các lá già vàng úa tiêu hủy Bón phân cân đối và hợp lý, tăng cường sử dụng phân hữu cơ sinh học, vi sinh , l uân canh cây trồng khác họ, chọn giống khỏe, sức đề kháng sâu bệnh tốt, giống có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Chăm sóc theo yêu cầu sinh lý của cây (tạo cây khỏe). Kiểm tra đồng ruộng phát hiện và kịp thời có biện pháp quản lý thích hợp đối với sâu, bệnh

– Thực hiện ghi chép nhật ký đồng ruộng

2. Biện pháp sinh học: Sử dụng các chế phẩm sinh học trừ sâu bệnh.

– Hạn chế sử dụng các loại thuốc hóa học có độ độc cao để bảo vệ các loài ong ký sinh của ruồi đục lá, các loài thiên địch bắt mồi như nhện, bọ đuôi kìm…

3. Biện pháp vật lý:

– Sử dụng bẫy màu vàng, bôi các chất bám dính: dùng nhựa thông (Colophan) nấu trộn với nhớt xe theo tỉ lệ 4/6, bẫy dẫn dụ côn trùng

– Có thể sử dụng lưới ruồi cao từ 1,5 -1,8 m che chắn xung quanh vườn hạn chế ruồi đục lá, sâu, côn trùng gây hại bay từ vườn khác sang

– Dùng bẫy cào đuổi bắt ruồi vào buổi sáng sớm

4. Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc phải cân nhắc kỹ theo nguyên tắc 4 đúng (đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng, đúng thuốc) và nhớ đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc trước khi dùng. Phun khi bệnh chớm xuất hiện

– Chỉ sử dụng thuốc BVTV khi thật cần thiết và theo các yêu cầu sau:

+ Chọn các thuốc có hàm lượng hoạt chất thấp, ít độc hại với thiên địch, các động vật khác và con người

+ Ưu tiên sử dụng các thuốc sinh học (thuốc vi sinh và thảo mộc)

Phần VI. Thu hoạch, phân loại và xử lý bảo quản sau thu hoạch:

Sau trồng khoảng 3 tháng cho thu hoạch quả lần đầu tiên, khi trái đạt kích thước tối đa, màu sắc chuyển từ màu xanh sang vàng hay đỏ được hơn hai phần trái thì có thể thu hoạch. Ớt cho thu hoạch liên tục 5-6 tháng. Khi thu tránh để trầy xước sẽ làm hỏng và mất phẩm chất của trái.

Thu hoạch tiến hành sau khi ớt đã được cách ly thuốc bảo vệ thực vật, tùy từng loại thuốc có thể từ 7-10 ngày hoặc theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Sản phẩm thu hoạch không bị dính đất, cát, đưa vào két nhựa hoặc giỏ tre theo yêu cầu khách hàng

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Ớt Ngọt Trong Nhà Che Plastic

Ớt ngọt có tên khoa học: Capsicum annum L.; Tên tiếng Anh: Sweet pepper.

Ớt ngọt thường được trồng nhiều ở châu Âu, châu Mỹ. Vài năm gần đây có nhiều giống ớt ngọt du nhập vào Đà Lạt và được bà con nông dân trồng khá phổ biến. Ớt ngọt phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ôn hoà, nhiệt độ tối thích cho sinh trưởng là 18 – 250C nên rất thích hợp với điều kiện khí hậu Đà Lạt.

Ớt ngọt có chứa nhiều Vitamin A (292mg/100g), Vitamin C (111mg/100g) nên là một loại rau có giá trị.

Ớt ngọt phù hợp với điều kiện khí hậu tại Đà Lạt, nhiệt độ thích hợp từ 18 – 250C, độ ẩm 80 – 90%. Trong điều kiện nhà che nylong ớt ngọt có thể trồng được quanh năm.

Ớt ngọt có thể phát triển tốt ở nhiều loại đất khác nhau như đất sét nhẹ, đất bazan, đất feralit vàng đỏ,… pH tối thích 5.5 – 6.5.

Kỹ thuật canh tác:

Làm đất: Đất được cày xới và dọn sạch tàn dư thực vật, bón vôi bổ sung để nâng pH lên 5.5 – 6.6 và cày trộn đều trong đất, phơi ải đất từ 1 – 2 tuần để tiêu diệt một số sâu bệnh hại (có thể dùng các hóa chất, chế phẩm xử lý đất như: Mocap, Sincosin,…), sau đó lên luống (rò 110cm + rãnh 30cm = 1.4 m) để bón lót và chuẩn bị trồng cây. Phân bón lót được rải đều trên bề mặt luống, dùng cuốc xăm đều sau đó phủ 1 lớp đất lên bề mặt luống và tưới ẩm đều trên luống, tiến hành phủ bạt và trồng cây. Đục lỗ bón phân và lỗ trồng cây theo khoảng cách thích hợp trên bạt. (chú ý làm rãnh sao cho vườn trồng thoát nước tốt, tránh ứ đọng sau khi mưa).

Phân bón: Tính cho 1000m2

* Bón lót:

– Vôi: 80 – 120kg; Phân chuồng hoai mục: 3 – 4 m3, 50kg super lân, 01kg Trichoderma.

– Nitrophoska tím (15 – 5 – 20 + 2+ T.E): 50kg.

– K2S04 (Đức): 30 – 50kg.

– Phân hữu cơ đậm đặc Dynamic hoặc Growell: 40kg

* Bón thúc:

Bón thúc lần 1: Sau khi trồng 3-4 tuần sử dụng lượng phân bón như sau: Nitrophoska tím (15 – 5 – 20 + 2+ T.E): 15kg

Bón thúc lần 2: Sau khi trồng 6 – 8 tuần lượng phân bón như sau:

+ Nitrophoska tím (15 – 5 – 20 + 2+ T.E): 15kg

+ Ure: 10kg

+ K2S04 (Đức): 25kg

Sau đó khỏang 20 – 30 ngày bón thúc một lần với lượng phân bón tương tự thúc lần 2. Nên phun thêm phân qua lá để bổ sung vi lượng cho cây, khỏang 7- 10 ngày phun 1 lần, thường dùng các loại phân qua lá như Seaweed, Growmore 10:10:20, … không nên sử dụng các loại phân cá, phân bắc, phân từ chất thải công nghiệp chưa qua chế biến…. để bón cho cây.

Giống: Sử dụng giống nhập nội, hạt được ươm trong vỉ xốp cho đến khi cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn thì đem trồng. Cây phải đủ tiêu chuẩn: cao 12cm có 4 – 6 lá thật, cây phát triển cân đối, không có dấu hiệu sâu bệnh, rễ phát triển mạnh .

Quy cách trồng: Mỗi luống trồng 2 hàng với khỏang cách: hàng cách hàng 50cm, cây cách cây 45 – 50cm. Mật độ trồng từ 2800 – 3000 cây/1000m2.Trồng theo kiểu nanh sấu, không nên trồng quá sâu hoặc quá cạn. Sau khi trồng tưới nước giữ ẩm cho cây để cây phục hồi và phát triển nhanh.

Chăm sóc: Sau khi trồng cần giữ ẩm cho cây, trong tuần đầu ngày tưới nhẹ từ 1 – 2 lần, sau đó mỗi ngày tưới 1 lần, nếu trồng vụ mưa tưới ít hơn. Nên sử dụng nguồn nước sạch, nguồn nước không bị ô nhiễm kim loại nặng, ô nhiễm vi sinh…

Cắm chói: Sau khi trồng khỏang 2 tuần, cây đã bén rễ và phát triển tốt ta tiến hành cắm choái cho cây, nên cắm mỗi cây một choái và cột cố định cây vào, khi cắm phải cẩn thận tránh làm long gốc cây sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây. Khi cây cao hơn 35 cm thì bắt đầu cắm choái cao và đan dây nylong để giữ cho cây không bị ngã đổ vì mang trái nặng.

Một số sâu bệnh hại ớt và cách phòng trị:

+ Bệnh Thán thư (Colletotricum spp.): Là bệnh nguy hiểm gây thối quả hàng loạt và thường xuất hiện vào các tháng nóng, ẩm trong năm (tháng 5,6,7,8). Bệnh lan truyền do nấm tồn tại trên tàn dư cây trồng của vụ trước, do đó khi trồng ớt phải tuân thủ luân canh nghiêm ngặt.

Triệu chứng bệnh: Đầu tiên có vết ướt trên quả, sau đó lan rộng biến thành màu tối, vết bệnh thường có dạng vòng, trung tâm vết bệnh có màu đen. Nếu gặp thời tiết ẩm ướt trên vết bệnh có lớp bào tử màu hồng cam. Khi bệnh xuất hiện nên hạn chế tưới phun lên cây, vì tưới sẽ tạo điều kiện cho nấm bệnh lây lan nhanh chóng. Bệnh xuất hiện có thể dùng thuốc Manep 0.2% + Kitazin hoặc Benlat 50WP, Daconil + Dithal để phòng trừ …, liều lượng sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.

+ Bệnh Héo vàng do nấm (Fusarium oxysporum): Xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn cây con đến khi ra hoa. Triệu chứng điển hình thường thấy ở phần thân gần gốc, có những vết nấm đốm thành mảng trên bề mặt. Nấm bệnh làm hư hại đến bó mạch dẫn của cây, do vậy cây héo xanh và chết. Có thể dùng Kasuran 0,2% hay Rovral 0.2% phun tưới vào gốc cây giai đoạn từ 15 – 30 ngày sau trồng.

+ Bệnh héo xanh do vi khuẩn (Pseudomonas solanaceaerum): Do 2 nguyên nhân: Do đất bị nhiễm khuẩn héo xanh hoặc do giống kháng bệnh héo xanh kém. Triệu chứng điển hình là cây đang phát triển tốt nhưng vào giữa trưa nắng có một số cây bị héo rũ, đến chiều lại hồi phục, hiện tượng này diễn ra trong một thời gian ngắn sau đó cây héo luôn. Khi cắt đoạn thân gần gốc đặt vào ly nước sẽ thấy dịch trắng loang ra, đó chính là dịch vi khuẩn. Khi bệnh xuất hiện cần nhổ bỏ cây bệnh đem tiêu hủy xa nơi trồng. Nên đảm bảo chế độ luân canh tuyệt đối ít nhất 3 – 5 vụ với các cây trồng khác không cùng họ với ớt. Trước khi trồng ớt nên tiến hành khử đất thật kỹ để giảm hiện tượng cây héo xanh do vi khuẩn.

Ngoài ra còn gặp một số bệnh như: Sương mai ( Phytophthora infestans), Bệnh thối xốp vi khuẩn (Erwinia spp.), Đốm lá vi khuẩn (Xanthomonas campestris), Thối đen (Botrytis spp.) v.v..Có thể dùng Boocđô, Daconil, Anvil,…để phòng trừ.

+ Bệnh virus: Là bệnh hại tương đối nặng đối với các vùng trồng ớt. Do đó trước khi trồng ớt nên luân canh tuyệt đối với các loại cây không cùng họ cà. Tiêu diệt môi giới truyền bệnh là rệp, bọ trĩ, nhện đỏ,…trên vườn, nhổ bỏ và tiêu hủy kịp thời những cây bệnh để không cho bệnh lây lan.

+ Sâu hại: Cần chú ý đến 03 loại côn trùng gây hại nghiêm trọng là: Rệp (Aphid gossypii và Myzus persicae); Bọ trĩ (Thrips palmi); Nhện trắng(Poliphago tarsonemus).

Nên kiểm tra ruộng trồng hàng ngày để phát hiện sớm và phun thuốc kịp thời. Có thể dùng các loại thuốc sâu lưu dẫn có tác dụng kéo dài và hiệu quả cao như: Confidor, Regent, Pegasus, Trigard…để phòng trừ kịp thời.

Thu hoạch, bảo quản:

Sau khi trồng khoảng 3.5 tháng thì cho thu hoạch quả lần đầu tiên, khi trái đạt kích thước tối đa, màu sắc chuyển từ màu xanh sang vàng hay đỏ được khoảng hơn hai phần trái thì có thể thu hoạch. Ớt cho thu hoạch liên tục 5–6 tháng. Khi thu hoạch nên cẩn thận để tránh trầy xước sẽ làm hỏng và mất phẩm chất của trái.

* Chú ý quy trình này có thể xen canh giữa ớt với xà lách, pó xôi … để tăng thêm hiệu quả canh tác đem lại lợi nhuận cao cho người nông dân

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cây Bầu

Cây Bầu tên khoa học Lagenaria siceraria, là một loài thực vật có hoa trong họ bầu bí ( Cucurbitaceae).

Là cây dây leo thân thảo có tua cuốn phân nhánh, phủ nhiều lông mềm màu trắng. Lá hình tim rộng, không xẻ thùy hoặc xẻ thùy rộng, có lông mịn như nhung màu trắng. Hoa đơn tính cùng gốc, to, màu trắng. Quả mọng màu xanh nhạt hay đậm, có hình dạng khác nhau hoặc tròn, dài thẳng hoặc thắt eo, vỏ già cứng hoá gỗ, thịt trắng, hạt trắng.

Cây bầu có nguồn gốc Châu Phi và Ấn Độ, ngày nay được trồng rộng rãi ở các nước vùng nhiệt đới và á nhiệt đới trên toàn thế giới. Ở Việt Nam cây bầu có nhiều loại giống tùy thuộc hình dạng và kích thước của quả, như:

Có quả hình trụ, dài (có khi dài đến 1 m), và vỏ có đốm (bầu sao).

Có quả hình trụ tương tự như bầu sao nhưng vỏ không có đốm. Đây là loại phổ biến nhất.

Có quả thắt co lại như bầu rượu (bầu nậm); loại này trồng để làm cảnh, quả để chín già có thể làm bình đựng nước, đựng rượu, làm đàn bầu.

Có quả đặc ruột. Đây là loại giống mới ở Việt Nam, cho năng suất, hiệu quả cao.

Thành phần dinh dưỡng có trong 100 g quả bầu tươi như sau: 95% nước, 0,5% protid, 2,9% glucid, 1% cellulos, 21 mg calcium, 0,2% sắt và các vitamin: caroten 0,02%, vitamin B1: 0,02%, vitamin B2 0,03%, vitamin PP 0,40% và vitamin C 12 mg. Trong quả còn có saponin. Quả bầu là nguồn tốt về vitamin B và vitamin C. Nhân hạt già chứa tới 45% dầu béo.

Quả bầu có vị ngọt, tính lạnh, có tác dụng giải nhiệt, giải độc, thông tiểu, tiêu thủng, trừ ngứa. Lá bầu có vị ngọt, tính bình. Tua cuốn và hoa bầu có tác dụng giải nhiệt độc.

Hiện nay bầu được trồng gần như quanh năm ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Quả bầu non thường được dùng để nấu canh, luộc hoặc xào… Lá non cũng có thể luộc, xào như một loại rau lá.

B. Quy trình kỹ thuật

I. Điều kiện ngoại cảnh

Cây bầu mọc rất khoẻ, sinh nhiều rễ phụ ở các đốt thân. Bầu ưa đất cao ráo, ưa nhiệt độ cao từ 20-30 ºC và cường độ ánh sáng mạnh.

Nếu trồng đúng thời vụ (tháng 9 – 10) và chăm sóc tốt, bầu cho nhiều quả, ít ruột, năng suất cao.

1. Thời vụ

Cây Bầu có thể trồng quanh năm.

Vụ xuân: Gieo trồng từ tháng 1

Vụ hè: Gieo trồng vào tháng 5 – 6

Vụ thu gieo trồng bầu vào tháng 9 – 10

2. Giống

Hiện nay Công ty TNHH Phát triển Nông nghiệp Việt Á có những giống bầu sau:

Bầu lai F1 VA.72: Là giống F1, kháng bệnh tốt, sai trái, trái dài 35-45 cm, trái suôn, da xanh nhạt, khả năng phân nhánh mạnh nên năng suất cao. Thời vụ trồng quanh năm. Thời gian thu hoạch 50-55 ngày sau gieo. Lượng giống cần thiết 60-80 g/1.000 m ².

Bầu sao trái dài F1 VA.218: Là giống F1, kháng bệnh tốt, sai trái, trái dài 40-45 cm, da xanh có đốm trắng, trọng lượng quả 1.2-1.6 kg, khả năng phân nhánh mạnh nên năng suất cao. Thời vụ trồng quanh năm. Thu hoạch 50-55 ngày sau gieo. Lượng giống cần thiết 60-80 g/1.000 m ².

Bầu sao F1 VA.217: Là giống F1, kháng bệnh tốt, sai trái, trái dài 28-35 cm, da xanh có đốm trắng, trọng lương quả 0.7-1.5 kg. Khả năng phân nhánh mạnh nên năng suất cao. Thời vụ trồng quanh năm. Thu hoạch 50-55 ngày sau gieo. Lượng giống cần thiết 60-80 g/1.000 m ².

3. Kỹ thuật gieo trồng

Chuẩn bị đất: Làm sạch cỏ, bón vôi, cày đất, phơi ải từ 7-10 ngày. Mục đích để giúp đất tơi xốp, tăng độ PH, diệt trừ sâu hại và nấm bệnh trong đất.Lên luống: Đất được cày bừa, băm nhỏ. Lên luống rộng 0,8 m – 1 m cao 20-30 cm. Tâm luống này cách tâm luống kia 4-5 m.Bón Lót: Vôi+ Phân hữu cơ + 100 g NPK 20-20-15/gốc sau đó lấp đất. Có thể phủ nilon đen hoặc không. Dùng lạt tre hoặc lấp đất để cố định 2 mép nilon. Xử lý hạt giống: Dùng nước ấm 2 sôi 3 lạnh. Ngâm trong vòng 4-6 tiếng rồi vớt ra rửa sạch ủ trong khăn vải ẩm 50% sau 24 h hạt nứt nanh thì đem trồng. Có thể gieo trong bầu nilon đen hoặc gieo trực trên đồng ruộng.

Hạt sau khi nứt nanh phải trồng hết trong ngày. Nếu để qua ngày rễ mọc dài thì khi gieo trồng rễ dễ bị gãy.Trồng cây: Xới nhẹ lỗ trồng rải ít thuốc sâu Basudin 10G hoặc Visa 5G sau đó tiến hành gieo hạt hoặc trồng cây con.

Khoảng cách trồng: Trồng hàng 1 giữa luống. Luống cách luống 4-5 m, cây cách cây/luống 0.8 – 1 m.

4. Chăm sóc, bón phân

Tưới nước: Bầu cần nhiều nước, do đó phải tưới thường xuyên 1 – 2 lần/ngày cho đủ ẩm. Lượng nước tưới cần gia tăng khi bầu mang trái.

Bón thúc: Bón thúc cho bầu vào 2 giai đoạn cần thiết như sau:

Giai đoạn tăng trưởng: Kể từ khi trồng đến khi bầu lên giàn. Bón thúc thường xuyên mỗi tuần một lần để chuẩn bị cho cây ra hoa kết trái.

Giai đoạn ra hoa, đậu trái: Bón thúc nuôi trái 7-10 ngày một lần với lượng phân gia tăng dần để trái to và nhiều trái. Bón thúc sau mỗi làn thu hoạch lứa quả.

Tỉa nhánh, bấm ngọn: Bầu ra nhiều dây nhánh và mang trái ở dây nhánh. Các dây nhánh ở đoạn thân từ gốc lên đến giàn nên tỉa bỏ để gốc được thoáng. Khi bầu lên giàn thì không tỉa nữa để dây nhánh cho trái. Lấy được trái trên nhánh nào thì bấm ngọn để trái phát triển lớn và bầu tiếp tục cho trái ở dây nhánh khác.

Làm giàn: Nên làm giàn bằng để bầu đủ diện tích bò. Bầu vừa lên giàn là trổ hoa đậu trái, 50-55 ngày sau khi trồng bầu bắt đầu cho thu hoạch.

Trong suốt thời gian canh tác (130 – 140 ngày) mỗi hốc bón từ 1 – 1,5 kg phân hỗn hợp NPK.

5. Phòng trừ sâu bệnh

Sâu hại Rầy xanh, sâu xanh, bọ xít xanh và một số loài rầy rệp khác. Thuốc trị Excell basa 50ND, Sarifos 585EC Bọ trĩ, nhện đỏ,rầy mềm: Regent 20WP, Reasgent 3.6 ec, Confidor 100sl, Actara 25WP. Ruồi vàng đục quả. Dùng thuốc dẫn dụ Vizubon.Bệnh hại

Nấm bệnh: Chết nhanh, chết chậm, thối rễ, lỡ cổ rễ. Thuốc trị Ridomil Gold 68WG, Aliette. Héo rũ dùng Kasumin 2SL Sương mai, tán thư, nấm hồng, rỉ sắt: Dùng Antracol 70WP, Ridomil Gold 68WG, Kasuran 47WP, Vimonyl 72WP.

Sau khi trồng cần theo dõi hàng ngày sâu bệnh hại và tình hình sinh trưởng của cây trồng để tưới nước, bón phân, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, hiệu quả.

6. Thu hoạch

Sau khi trồng 50-55 ngày, tùy giống cây bắt đầu cho thu hoạch. Tiến hành thu hoạch kịp thời để không lỡ lứa và cây cho năng suất. Để kéo dài thời gian thu hoạch lúc nên tăng cường phun phân bón lá hữu cơ Seaweeed 95% .

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cây Macca

I. CHUẨN BỊ ĐẤT TRỒNG CÂY MẮC CA

Khi trồng Mắc ca nên chọn các khu đất có độ dốc nhỏ hơn 15 0, hạn chế trồng ở những khu vực núi cao, có độ dốc lớn sẽ gặp khó khăn trong việc trồng, chăm sóc và thu hoạch.

Nên trồng cây Mắc ca ở những khu đất thoát nước tốt. Không nên trồng Mắc ca trên những khu đất trũng, ẩm thấp vì có thể làm chết cây.

Nếu trồng lại trên đất cũ cây cà phê, cây điều già cỗi hoặc bị bệnh thì phải nhổ bỏ hết sau đó cày đất 2 lần sâu 50 cm, phơi đất 2 tháng, bón 2 tấn vôi bột/ha rải đều, cày đất sâu 40 cm, nhặt hết rễ cũ, gom lại đốt, tiêu hủy.

Đào hố trồng cây mắc ca

Đào hố theo quy cách 80x80x80 cm, phơi đất 2 – 3 tuần, khử nấm, khử ấu trùng sâu đất, ve sầu bằng vôi bột và chế phẩm vi sinh ( Trichoderma, EM…), dùng thuốc Furadan 20gr/hố để phòng trừ tuyến trùng.

Bón lót trước khi trồng cây mắc ca

10 kg phân chuồng;

0,5 kg phân lân nung chảy;

0,3 kg vôi/ hố.

Tiến hành bón lót trước khi trồng 20 ngày, trộn đều lớp đất mặt với các loại phân bón trên sau đó lấp xuống hố.

Mật độ trồng mắc ca

Bảng 1: Mật độ trồng mắc ca thuần Bảng 2: Mật độ trồng mắc ca xen Ghi chú: Trồng mật độ dày cho năng suất cao trong 10 năm đầu nhưng sau đó cần phải đốn, tỉa bớt cây tạo mật độ phù hợp để cây có đủ ánh sáng quang hợp và duy trì năng suất cao.

II. KỸ THUẬT TRỒNG CÂY MẮC CA

Trước khi trồng cần trộn đất và phân trong hố một lần nữa, sau đó đào một hố nhỏ sâu 25 – 30cm, rộng 15 – 20cm ở chính giữa hố đã được lấp trước đó. Dùng dao sạch cắt hẳn đáy bịch đất, rạch một đường thẳng đứng có độ dài khoảng 2/3 túi bịch từ dưới đáy bịch lên, kiểm tra bộ rễ, nếu rễ trụ bị cong, xoắn đuôi rễ thì phải cắt bỏ đoạn rễ cong dưới đáy bịch, đặt cây xuống lỗ, bóc nhẹ túi trồng tránh làm vỡ bịch đất. Lấp đất, tưới nước và ủ cỏ khô giữ ẩm cho cây. Khi trồng xong cắm cọc chéo 60 0 so với mặt đất và buộc dây cố định để cây không bị đổ ngã.

Trồng dặm kịp thời đối với những cây bị chết. Trồng dặm vào đầu mùa mưa, khi trồng dặm chỉ cần móc đất và trồng lại trên hố cũ. Cây giống trồng dặm phải chọn cây tốt đủ tiêu chuẩn./.