Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cam Đường Canh / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Thâm Canh Cam Đường Canh

Tùy theo địa hình đất (cao hay thấp, dễ hay khó thoát nước) mà lựa chọn phương pháp lên luống hay đắp ụ cho phù hợp.

Tùy theo địa hình đất (cao hay thấp, dễ hay khó thoát nước) mà lựa chọn phương pháp lên luống hay đắp ụ cho phù hợp.

Trồng cây chắn gió, thiết kế hàng rào bảo vệ, hệ thống thoát nước, hệ thống cung cấp nước tưới trước khi trồng cây.

Tùy theo khí hậu từng vùng, đất đai, kỹ thuật canh tác mà khoảng cách thay đổi cho phù hợp, khoảng cách trồng thích hợp nhất cho cam là 4 x 4m.

Đào hố trồng với kích thước: 1 x 1 x 1m. Khi đào, lớp đất mặt để riêng, lớp đất dưới trộn với phân chuồng, vôi bột, lân sau đó lấp hố cao hơn mặt đất 20 – 30cm.

Khi trồng, đào lỗ giữa mô, đặt bầu cây con xuống sao cho mặt bầu cao hơn mặt mô 3 – 5cm. Sau đó dùng đất vun tới mặt bầu rồi dận chặn, tưới nước.

Khi đặt cây phải xoay mắt ghép theo hướng chiều gió để tránh gãy nhánh, có thể cắm cọc để cây khỏi bị tác hại của gió.

Những năm đầu cây giống còn nhỏ chưa giao tán phải làm sạch cỏ gốc. Ở những vùng đất bằng hoặc hơi dốc nên trồng cây phân xanh ở giữa các hàng cây để vừa che phủ đất giữ ẩm, chống cỏ dại, tạo nguồn phân xanh cải tạo đất và cung cấp dinh dưỡng cho cây.

Đối với đất dốc, giữa các hàng cam gieo 1 hàng rào kép cây phân xanh thuộc loại thân bụi như muồng, cốt khí, keo, đậu để chống xói mòn và cung cấp chất hữu cơ tại chỗ. Lượng hạt cây phân xanh từ 20-25kg/ha. Diện tích đất trống còn lại trên băng gieo các loại cây họ đậu thân thảo như đậu hồng đáo, cỏ sytilo, lạc dại.. để che phủ, giữ ẩm đất và chống cỏ dại. Thường gieo trồng cây phân xanh trước khi trồng cam, hoặc ngay sau khi trồng.

Trụ cột của tán cây là 3 cành chủ C1, mỗi cành C1 lại có 2-3 cành C2. Cành cấp 1 mọc từ thân chính, cách mặt đất 50cm, xiên góc 60-80o so với thân chính. Cành cấp 2 mọc xiên 10-200 từ cành cấp 1, độ dài cành cấp 1 khống chế trong khoảng từ 50-60cm. Cành cấp 3 mọc xiên từ cành cấp 2 với góc 10-200. Cành mang quả là cành cấp 4, phân bố đều xung quanh tán cây.

Loại phân Lượng phân bón (g/cây)

+ Thời kỳ bón: Bón phân thúc 4-5 lần/năm vào các tháng 2, 4, 6, 10 và tháng 12. Lượng phân chia đều trong các lần bón.

+ Phương pháp bón: Lúc cây còn nhỏ, phân vô cơ được hòa với nước để tưới cho cây kết hợp với các đợt xới xáo làm cỏ.

Khi cây lớn, rạch rãnh xung quanh tán, rãnh sâu khoảng 10-15 cm, rắc phân vào rãnh rồi lấp đất lại. Mỗi lần bón phân đều phải kết hợp với làm cỏ, xới xáo gốc, tưới nước và tủ gốc cây.

Phân chuồng được bón với lượng 50-60kg/cây/năm, bón 1 lần cùng với lần bón phân hữu cơ vào đầu vụ xuân. Khi bón phân chuồng, rãnh bón được cuốc sâu và rộng hơn, sâu từ 15-20 cm, rộng từ 20-30 cm.

2.2. Chăm sóc thời kỳ kinh tế (sau thời kỳ kiến thiết cơ bản)

Thường xuyên phát cỏ, tủ gốc để giữ ẩm. Bổ sung nước tưới để duy trì ẩm độ đất đạt từ 70-75% sau khi đậu quả và trong giai đoạn quả lớn.

+ Lượng bón: Vào thời kỳ kinh tế, lượng phân bón chủ yếu dựa vào năng suất vụ trước đó để đảm nhu cầu dinh dưỡng cho cây.

Lượng phân bón được khuyến cáo sử dụng theo bảng sau:

+ Thời kỳ bón: Bón phân trong thời kỳ cây cho quả được chia làm 3 lần chính: bón sau thu hoạch quả, bón trước khi ra hoa và bón trong thời gian quả lớn. Lần bón thứ 3 có thể được chi thành 2-4 lần nhỏ, tùy điều kiện từng nơi. Lượng phân bón được áp dụng theo hướng dẫn trong bảng dưới.

* Bón sau thu hoạch: Rạch rãnh xung quanh tán (rộng 30cm, sâu 20 cm), rắc phân (phân vô cơ và hữu cơ) vào rãnh rồi lấp đất kín.

* Bón thúc: bón theo rãnh, rãnh sâu 10cm, rộng 15cm, mỗi lần bón phân đều phải kết hợp với làm cỏ, xới xáo gốc, tưới nước và tủ gốc lại gốc cây.

Tiến hành cắt tỉa 3 lần trong năm, vào các đợt sau:

+ Đợt 1: Cắt tỉa sau thu quả. Cắt bỏ tất cả những cành trong tán, cành nhỏ, cành yếu, cành sâu bệnh, một số cành vượt, cành mọc đan xen nhau. Cắt tỉa kết hợp với vệ sinh đồng ruộng, đốt bỏ hết tàn dư sâu bệnh trên vườn.

+ Đợt 2: Cắt vào vụ xuân, thời điểm cây ra hoa đậu quả: cắt bỏ những cành yếu, cành có chùm hoa nhỏ, cành sâu bệnh, cành mọc trong tán.

+ Đợt 3: Cắt tỉa vào vụ hè, giai đoạn quả lớn: Cắt bỏ những cành sâu bệnh, tỉa bỏ quả nhỏ quả dị hình.

– Trưởng đẻ trứng vào mặt dưới lá non. Sâu non đục vào lớp dưới biểu bì tạo đường hầm ngoằn ngoèo màu trắng bạc. Sâu non đẫy sức hoá nhộng ngay trong vòng cuộn của lá. Vòng đời sâu vẽ bùa ngắn, từ 17 – 23 ngày.

– Phòng trừ: phun Polytrin 440EC nồng độ 0,25%. Phun khi lộc non mới nhú, dài1-2cm

– Loài Hypomeces squamosus màu xanh vàng, kích thước lớn hơn loài Platymycterus sieversi, màu trắng đục. Khi có tiếng động, câu cấu lẩn trốn hoặc giả chết rơi xuống đất. Trưởng thành hoạt động giao phối vào ban ngày, trứng đẻ từng ổ 3-5 quả vào các kẽ thân cây hoặc mép lá khô. Sâu non nở ra rơi xuống đất, hoạt động dưới mặt đất. Trưởng thành vũ hoá sau những cơn mưa tháng 4-5 và tháng 7-9.

– Phòng trừ: phun Supracide 0,20 – 0,25%

– Vào tháng 4-5, trưởng thành đẻ trứng, từng quả, vào nách lá non, đỉnh chồi. Sâu non đục vào bên trong cành tạo đường ngoằn ngoèo xoáy trôn ốc. Lúc đầu, đường hầm đục hướng ra ngoài tán, sau đó đường đục quay vào phía trong thân và sâu hóa nhộng ở đó.

– Phòng trừ: Phun Supracide 0,2 – 0,25% khi lộc non xuất hiện hoặc bơm Ofatox 0,1% vào lỗ đục trên cành, sau đó dùng đất sét bít kín lỗ thông.

– Trưởng thành màu xanh đậm có những đốm trắng. Trưởng thành đẻ trứng, từng quả, vào các vết nứt của cây. Sâu non đục vào trong thân tạo đường ngoằn ngoèo hướng từ dưới lên trên, hoá nhộng ngay trong thân cây.

– Phòng trừ: vệ sinh vườn, gốc cây sạch sẽ. Thường xuyên dùng nước vôi đặc quét gốc để hạn chế trưởng thành đẻ trứng lên thân cây. Bơm Supracide 0,2 – 0,25% vào lỗ có sâu, dùng đất sét bịt kín lỗ sâu đục để diệt sâu non.

Nhóm ngài chích hút quả : Othreis fullonia, Ophiusa coronata, Ophiusa tirhaca.

– Trưởng thành hoạt động từ chập tối đến khoảng nửa đêm, hút dịch trên những quả cam chín. Quả bị ngài chích sẽ thối, sau đó bị rụng.

– Phòng trừ: Đặt bẫy dẫn dụ có trộn thuốc trừ sâu để diệt ngài, 10 bẫy/ha.

– Ruồi trưởng thành dài 4 – 5 mm, màu nâu đỏ, vân vàng. Trưởng thành cắm ống đẻ trứng vào quả, sâu non nở ra ăn thịt quả và phát triển thành dòi ở bên trong. Ruồi vàng phá hoại nặng vào tháng 8-9. Quả bị hại thường bị rụng sớm.

– Phòng trừ: dùng bả Metyleuzernol + Nalet tiêu diệt con trưởng thành.

– Rệp sống thành quần tụ, hút nhựa trên chùm hoa hay các bộ phận non. Chất bài tiết của rệp là môi trường thuận lợi cho nấm muội đen phát triển. Rệp gây rụng hoa, quả non, đọt non biến dạng, lá bị xoăn lại.

– Phòng trừ: phun DC Tron Plus 0,5%, Supracide 0,2% khi phát hiện thấy rệp hại

– Rầy trưởng thành màu xám nâu, dài 2,5 – 3 cm. Rầy cái đẻ trứng trên các lộc non vừa nhú, rầy có thể đẻ tới 800 quả trứng. Rầy trưởng thành hoạt động nhanh nhẹn, rầy con màu vàng sáng rất ít di động.

– Phòng trừ: Phun dầu DC Tron Plus 0,5%, Sherpa 0,2% để phòng trừ

– Nhện đỏ có chiều dài khoảng 0,5 mm, thân hình ô van, màu đỏ sẫm (Tetranychus) hoặc đỏ tươi (Panonychus citri), trên thân có lông dài thưa màu trắng hoặc hơi vàng. Trứng nhện màu đỏ tươi hình cầu hoặc hình củ hành. Nhện đẻ trứng sát gân lá, trên cả hai mặt lá.

– Phòng trừ: Phun Abarmactin: 0,3%, DC Tron Plus 0,5% , Pegarus 0,2%, Saromite 0,15%

Bệnh vàng lá: Greening do Liberibacter asiaticus

– Cây bị bệnh có hiện tượng “gân xanh lá vàng”. Bệnh thường biểu hiện từ những cành đơn lẻ, lá rụng dần và cành bị chết. Ở những cành bị bệnh, quả nhỏ, biến dạng, màu nhợt, chua.

– Phòng trừ: chặt bỏ những cây bị bệnh. Chăm sóc tốt cho vườn cam, trồng xen ổi để xua đuổi rầy chổng cánh.

Bệnh loét cam: Xanthomonas campestris citri

– Triệu chứng: Trên lá, khi mới xuất hiện, vết bệnh có dạng giọt dầu trong suốt, sau đó vết bệnh lan rộng ra thành hình tròn hay hình bất kỳ màu nâu nhạt, quầng vàng. Vết bệnh lan nhanh khi gặp nhiệt độ, ẩm độ cao. Khi cây bị bệnh, lá rụng hàng loạt, cành khô rồi chết, cây sinh trưởng kém, quả rụng sớm.

– Phòng trừ: phun dung dịch Boocđo 1%.

+ Bệnh chảy gôm: Phytophthora sp

– Bệnh chủ yếu hại các rễ tơ nơi tiếp giáp giữa bộ phận trên và dưới mặt đất. Ở cây bị bệnh, lá chuyển vàng, nhựa chảy ra từ các vết bệnh trên thân.

– Phun hoặc quét dung dịch Aliet 2% hoặc boocdo 3% lên thân cây.

Tiến hành thu hoặc khi quả chuyển màu vàng. Quả được thu hoạch vào ngày nắng khô ráo, không nên thu trái ngay sau mưa hoặc vào những ngày mù sương vì quả dễ bị ẩm thối. Quả thu xong cần để nơi thoáng mát, không nên tồn trữ quá 15 ngày kể từ khi thu hoạh vì làm giảm giá trị thương phẩm quả. Muốn bảo lâu, phải đặt quả nơi thoáng mát.

Nguồn: chúng tôi

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Thâm Canh Mía Đường Công Nghiệp

Mía là cây công nghiệp lấy đường quan trọng của ngành công nghiệp đường, là loại cây công nghiệp khoẻ, dễ tính, không kén đất, vậy có thể trồng mía trên nhiều loại đất khác nhau. Tuy nhiên ở những vùng địa bàn này cần bố trí các rãnh mía theo các đường đồng mức để tránh sói mòn đất. Ngành trồng mía chỉ có thể cho hiệu quả kinh tế cao nếu có đúng đắn. kỹ thuật trồng cây

Cây mía không yêu cầu khắt khe về đất, tuy nhiên để thâm canh đạt năng suất cao yêu cầu về đất cótầng canh tác sâu, tơi xốp, giàu dinh dưỡng, pH trung tính, thoát nước tốt, độ dốc < 100.

– Đất đồi, đất bãi và đất ruộng gồm các bước cày, bừa và rạch hàng để trồng:

+ Đất bãi và đất ruộng: Cày sâu 30 – 35 cm và bừa từ 2 đến 3 lần, rạch hàng 1 lần sâu từ 25 – 30 cm.

+ Đất đồi: Thiết kế hàng mía theo đường đồng mức (nơi có điều kiện áp dụng cày không lật với độ sâu 40 – 50 cm); làm đất trước khi trồng 40 – 60 ngày để phơi ải, diệt trừ nguồn sâu bệnh.

– Đất trũng vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải lên líp (liếp) rộng 6,0 – 20 m, cao 25 – 35 cm. Rãnh trồng sâu 20 – 25 cm, đáy rãnh phủ lớp đất xốp dày 5 -1 0 cm. Đất bị nhiễm phèn thì liếp rộng 4,5 – 5 m, cao 25 – 35 cm. Đáy rãnh phủ lớp đất xốp dày 5 – 10 cm.

Cần thiết kế hệ thống tưới tiêu nước để kịp thời thoát nước mùa mưa và tưới bổ sung khi gặp khô hạn.

1. Giống mía: Bộ giống mía khuyến cáo nên áp dụng cho các vùng như sau:

Tuỳ điều kiện đất đai từng vùng và nhu cầu nguyên liệu cụ thể cho từng nhà máy để bố trí tỷ lệ các nhóm giống chín sớm, chín trung bình và chín muộn cho phù hợp.

2. Chuẩn bị mía giống: Hom mía giống phải đạt các yêu cầu sau:

+ Có 2-3 mắt mầm tốt (mầm phía ngọn có đầy đủ bộ phận, có sắc tố đặc trưng; mầm phía gốc có vẩy mầm chưa hóa gỗ; mắt mầm không bị khô hoặc xây xát, dập nát), tỷ lệ rễ khí sinh dưới 10% số điểm rễ.

+ Không bị nhiễm sâu bệnh.

+ Có đường kính đạt trên 80% đường kính thân đặc trưng của giống và độ dài lóng không dài hoặc ngắn hơn quá 20% độ dài đặc trưng của giống.

– Nếu có điều kiện hoặc ở trình độ thâm canh cao, có thể sử dụng cây giống nuôi cấy mô hoặc bầu hom 1 mầm để trồng, thay thế cho phương pháp trồng bằng hom 2 – 3 mắt mầm như trên và phải tuân thủ theo quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc của cơ sở cung cấp giống.

– Mật độ: Tuỳ điều kiện đất đai và loại giống mía để bố trí mật độ, lượng hom giống cần từ 35.000 – 40.000 hom/ha (mỗi hom có 3 mắt), tương đương 8 – 10 tấn giống/ha.

– Khoảng cách hàng: Tùy việc canh tác thủ công hoặc bằng máy để bố trí khoảng cách hàng đơn từ 0,8 – 1,2 m (canh tác thủ công), hoặc hàng kép từ 1,2 – 1,8m x 0,6 – 0,4m (canh tác bằng máy).

– Cách trồng: Đặt hom theo rãnh hàng đơn (cách nhau 1 m) hoặc hàng kép (1,4m), phủ kín đất 3 – 5 cm (vụ trồng phụ) hoặc 7 – 10 cm (vụ trồng chính). Đất khô cần nén chặt cho hom tiếp xúc với đất. Trong vụ trồng chính nếu có điều kiện nên tưới ẩm sau khi trồng và sử dụng màng phủ nông nghiệp giữ ẩm và hạn chế cỏ dại cho mía.

– Kỹ thuật dặm: Đào rãnh sâu ngang với đáy rãnh lúc trồng, đặt cây dặm và lấp kín gốc. Khi dặm đất phải đủ ẩm, cây đem dặm phải cắt bớt lá để hạn chế thoát hơi nước, nén chặt đất vào gốc cây dặm. Nếu có điều kiện cần tưới ngay sau khi dặm.

a) Lượng phân bón cho 1 ha mía:

– Vôi: Đất trồng mía có pHdưới 5, cần bón lót vôi bột (CaO) trước lần cày bừa cuối cùng, với lượng từ 800 – 1.000 kg/ha.

– Phân hữu cơ: 10 – 20 tấn (phân chuồng, phân rác, bã bùn, tro,…) hoặc thay thế bằng 1 – 3 tấn phân hữu cơ vi sinh.

– Phân hoá học: Tùy theo loại đất, vụ mía và điều kiện canh tác ở mỗi vùng mà điều chỉnh lượng phân bón sao cho phù hợp, trung bình cho vụ mía tơ như sau:

– Lượng phân bón cho mía gốc tăng hơn mía tơ từ 10 – 20%.

– Khi bón phân đơn hoặc phân NPK hỗn hợp, cần quy đổi hàm lượng N, P2O5, K2O tương đương với tỷ lệ nêu trên. Tuỳ theo mức độ thâm canh để đạt được năng suất mía khác nhau mà bón với lượng khác nhau. Ở những vùng có lượng mưa lớn, xói mòn mạnh nên bón bổ sung các phân có chứa trung và vi lượng như sắt, man-gan và ma-nhê.

– Bón lót: Toàn bộ phân hữu cơ, phân lân, 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali. Trường hợp cần phải xử lý mối và bọ hung thì bón thêm thuốc trừ sâu được phép sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Ngay sau khi bón lót, nên lấp 1 lớp đất mỏng 1 – 3 cm rồi mới đặt hom.

– Bón thúc lần 1 (thúc đẻ): Khi mía 4 – 5 lá, bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali.

– Bón thúc lần 2 (thúc lóng): Khi mía 9 – 10 lá (khi mía có 1 – 2 lóng), bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali. Nếu đất khô hạn hoặc nhiễm phèn mặn thì nên bón bổ sung thêm 1 lần qua lá.

– Chỉ tiến hành tưới nước bổ sung cho mía vào các giai đoạn khô hạn kéo dài, đặc biệt là giai đoạn mọc mầm, đẻ nhánh và bắt đầu vươn lóng. Dừng tưới cho cây mía trước khi thu hoạch 1 tháng.

– Phương pháp tưới: Tùy theo điều kiện, có thể áp dụng các phương pháp tưới nước cho mía phổ biến như tưới thấm, tưới nhỏ giọt, tưới phun và tưới tràn theo rãnh mía.

– Lượng tưới: 40-50 mm/lần tưới, tương ứng với 400 – 500 m3/ha/lần tưới. Tưới 1 – 2 lần/tháng.

b) Tiêu nước: Mía cần nhiều nước nhưng chịu úng rất kém, đặc biệt là thời kỳ cây con và thời kỳ vươn lóng. Để tránh bị úng, ruộng trồng mía phải bằng phẳng, thiết kế hệ thống tiêu nước ngay sau khi trồng, xung quanh ruộng cần có rãnh, mương đấu nối với hệ thống thoát nước để tránh bị đọng nước sau khi mưa to. Không nên để mía bị ngập úng quá 1 tuần.

– Những nơi có diện tích lớn, tập trung, ruộng bằng phẳng, có điều kiện cơ giới có thể dùng máy kéo liên hợp với máy xới như: máy xới răng nhọn, máy xới cánh én, máy xới kiểu đĩa,… để diệt cỏ giữa 2 hàng mía, đảm bảo cho đất tơi, xốp, thoáng khí, giúp mía sinh trưởng tốt.

– Xới vun cho mía: Thực hiện 2 lần:

+ Lần 1: Khi mía kết thúc mọc mầm (sau trồng hoặc sau thu hoạch vụ trước 30-40 ngày).

+ Lần 2: Khi mía kết thúc đẻ nhánh (sau trồng hoặc sau thu hoạch vụ trước 60-80 ngày).

– Chỉ dùng máy xới khi đất đủ ẩm, xới giữa 2 hàng mía cách gốc mía khoảng 20 cm.

Lưu ý: Nếu trồng hàng kép cần tăng cường làm cỏ giữa 2 hàng kép.

Cần tiến hành làm cỏ sớm, đặc biệt là ở giai đoạn mía dưới 4 tháng tuổi, phải đảm bảo ruộng mía luôn sạch cỏ dại.

a) Biện pháp thủ công: Dùng cuốc, tay hoặc trâu, bò cày xới giữa hàng để diệt cỏ trong hàng mía.

+ Ngay sau khi trồng: Nếu đất có nguồn cỏ nhiều có thể phun một trong các loại thuốc tiền nảy mầm như: Gesapax 500FW (3-4 lít/ha), Ansaron 80WP (2-3 kg/ha), Mizin 80WP (3-6 kg/ha) hoặc Dual Gold 906EC (0,5-0,6 lít/ha), tiến hành phun phủ toàn bộ ruộng, trong phạm vi từ 2-5 ngày sau khi trồng. Chú ‎ý khi phun thuốc đất phải đủ ẩm.

+ Giai đoạn 30-40 ngày sau trồng: Có thể sử dụng thuốc Gesapax 500FW (3 -4 lít/ha), phun vào giữa các hàng mía ( tránh phun vào ngọn, lá mía).

+ Giai đoạn 2-4 tháng sau khi trồng: Nếu thấy cỏ xuất hiện nhiều do làm cỏ không kịp hoặc do trước đó không trừ cỏ, có thể sử dụng thuốc trừ cỏ tiếp xúc Gramoxone 20SL, liều dùng từ 2-2,5 lít/ha (trừ cỏ lớn), trộn với 2-2,5 lít thuốc Gesapax 500FW hoặc 2-2,5 kg thuốc Ansaron 80 WP (trừ cỏ non và hạn chế cỏ mọc trở lại) phun vào giữa các hàng mía, tránh phun lên mía.

+ Giai đoạn trên 4 tháng sau khi trồng: Nếu thấy có nhiều cỏ xuất hiện trở lại, có thể sử dụng thuốc Gramoxone 20SL để phun trừ như trên, với lượng dùng từ 2-2,5 lít/ha, nếu ruộng mía có nhiều cỏ 2 lá mầm, có thể trộn thêm khoảng 1 lít thuốc 2,4 D (Zico 48 SL). Ở giai đoạn này cần phải làm sạch cỏ để tránh lây lan sang vụ mía gốc.

– Dùng thuốc Basudin 10G hoặc Diaphos 10H với liều dùng 20-30 kg/ha hoặc Padan 4G với liều dùng 30 kg/ha rải vào rãnh mía trước khi đặt hom hoặc rải vào sát gốc mía trước khi vun.

– Cắt bỏ cây mầm bị sâu và làm sạch cỏ.

– Khi có điều kiện thì thả ong mắt đỏ từ tháng thứ 3-8 sau trồng hoặc thu hoạch, định kỳ 15 ngày thả 1 lần với liều lượng thả là 50.000 ong/ha/lần.

– Làm sạch cỏ, bóc và cắt lá già cho ruộng mía thông thoáng.

– Khi thấy rệp xuất hiện, cần tổ chức diệt trừ dứt điểm không để lây lan bằng thuốc Trebon 10EC hoặc Supracide 40EC, pha nồng độ 0,1-0,15%, mỗi héc-ta sử dụng từ 1-1,5 lít thuốc, phun ướt đẫm đều khắp mặt lá, phun thật kỹ, tập trung những nơi có ổ rệp.

c) Bọ hung đục gốc: Khi có nhiều bọ hung xuất hiện, trước khi vun gốc lần 1 rải thêm 25 – 30 kg thuốc Sago Super 3G vào gốc mía rồi vun đất.

– Kịp thời nhổ bỏ và tiêu huỷ cây mía bị bệnh.

– Ruộng mía bị bệnh nặng không nên để mía lưu gốc và phải luân canh cây họ đậu từ 1- 2 năm.

– Cắt lá bệnh và tiêu huỷ.

– Dùng thuốc boóc-đô hoặc sun-phát đồng trộn với vôi bột và đất bột theo tỷ lệ 10:40:50, rắc vào ngọn mía.

e) Bệnh chồi cỏ, bệnh trắng lá:

– Tổ chức hệ thống sản xuất, cung ứng và hoàn toàn sử dụng hom giống sạch bệnh 3 cấp.

– Phun thuốc trừ sâu hoặc dùng bẫy đèn thu bắt, diệt côn trùng môi giới truyền bệnh.

– Với đất tốt, cơ cấu chu kỳ luân canh 5 năm: 1 tơ + 3 gốc + 1 luân canh.

– Với đất đồi, đất xấu chu kỳ luân canh 4 năm: 1 tơ + 2 gốc + 1 luân canh.

Cây trồng luân canh với cây mía: sử dụng cây họ đậu để nhằm mục đích cải tạo đất.

– Ngay sau khi trồng mía, tiến hành rạch 1-2 hàng dọc giữa 2 hàng mía, bón phân lót, gieo hạt, lấp đất đủ kín hạt.

– Sau khi thu hoạch các cây trồng xen, nhanh chóng nhổ hết thân lá cây trồng xen, rải dọc theo chiều dài hàng mía, kết hợp bón phân thúc cho mía, xới giữa hai hàng mía để vùi lấp phân bón và thân lá cây trồng xen vào đất.

– Cây trồng xen canh với cây mía: Sử dụng cây ngắn ngày, có thời gian sinh trưởng < 3 tháng như cây ớt, cây họ đậu, cây mè, dưa hấu,… ưu tiên cây họ đậu.

– Chỉ lưu gốc những ruộng mía có năng suất cao, ít bị sâu bệnh, tỷ lệ mất khoảng < 20%.

– Sau khi thu hoạch xong phải tiến hành vệ sinh đồng ruộng ngay. Dùng cuốc, dao để bạt (phạt) sát đất những gốc cao; loại bỏ cây mầm, cây bị sâu bệnh hay cỏ dại sót lại từ vụ trước.

– Thu hoạch khi đất khô cần che phủ ruộng mía lưu gốc bằng nguồn ngọn, lá mía; gom ngọn lá mía xung quanh ruộng vào trong ruộng để tạo khoảng cách phòng chống cháy.

– Thu hoạch khi đất đủ ẩm cần gom ngọn, lá mía từng hàng xen kẽ, kết hợp dùng trâu, bò cày xả hai bên luống để làm đứt các rễ già và xới vun luống, hoặc gom ngọn lá, mía cách 2 hàng kết hợp cày xả và xới vun luống bằng cơ giới, sau đó phủ ngọn lá mía trở lại toàn bộ mặt ruộng. Sau khi cày xả tiến hành bón phân lần 1 cho ruộng mía gốc với 100% phân lân phối trộn với 100% phân hữu cơ, 1/3 lượng phân đạm và 1/2 lượng phân kali, sau đó mới vun xới luống.

– Sau khi áp dụng các biện pháp chăm sóc mía gốc ban đầu như trên và khi thấy mía tái sinh đều, cần tiến hành kiểm tra và dặm những chỗ mất khoảng 0,8 m. Phương thức dặm tương tự như ở vụ mía tơ, nhưng phải lưu ý đảm bảo đủ ẩm cho bụi mía sau khi trồng dặm.

– Lượng phân và cách bón phân cho ruộng mía gốc:

+ Lượng bón: Tùy theo loại đất và điều kiện canh tác ở mỗi vùng mà điều chỉnh lượng phân bón sao cho phù hợp, trung bình như sau:

+ Kỹ thuật bón:

Lần 1: Sau thu hoạch khoảng 1 tháng (đối với đất chủ động tưới) hoặc đầu mùa mưa (đối với canh tác nhờ nước trời): Bón 100% lượng lân, 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali.

Lần 2: Khi mía bắt đầu vươn lóng hoặc sau lần thúc 1 khoảng 40-60 ngày, bón 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali.

– Các biện pháp chăm sóc, làm cỏ, xới xáo, phòng trừ sâu bệnh thực hiện tương tự vụ mía tơ.

1. Xác định mía chín để thu hoạch

– Theo cảm quan khi mía chín: Lá mía sít lại, ngả màu hơi vàng nhạt, các đốt phần trên ngọn ngắn lại.

– Dùng máy kiểm tra: Lấy mẫu ngẫu nhiên đem phân tích, khi mía đạt CCS ³ 9,0% mới bắt đầu thu hoạch.

– Theo loại mía: Mía gốc thu hoạch trước, mía tơ thu hoạch sau.

– Theo loại giống: Giống chín sớm thu hoạch trước, rồi đến giống chín trung bình và cuối cùng là giống chín muộn.

2. Ước lượng năng suất, chất lượng mía trước thu hoạch

– Năng suất mía thu hoạch lý thuyết (tấn/ha) được xác định bằng công thức:

Năng suất mía thu hoạch lý thuyết (tấn/ha) = Mật độ cây hữu hiệu (1.000 cây/ha) x khối lượng cây trung bình (kg/cây).

Trong đó, mật độ cây hữu hiệu và trọng lượng cây được xác định bằng việc lấy mẫu trung bình ngoài đồng ruộng.

– Ước lượng chất lượng mía trước thu hoạch:

+ Sử dụng Brix kế cầm tay, xác định độ Brix (Bx%) của mía. Khi đó có thể ước lượng được chữ đường (CCS%) bằng công thức:

+ Lấy mẫu mía đem phân tích trong phòng có thể xác định được chính xác chữ đường (CCS%).

3. Chặt và vận chuyển mía sau thu hoạch

– Yêu cầu khi thu hoạch: Phải chặt sát gốc, không dập gốc, chặt ngọn ló “mặt trăng”. Róc sạch rễ lá, đạt tiêu chuẩn mía nguyên liệu.

– Dụng cụ thu hoạch: Sử dụng dao hoặc rìu chặt mía chuyên dùng, được mài sắc trước mỗi lần sử dụng.

– Mía được làm sạch tạp chất (lá, bẹ, rễ…) bó thành từng bó từ 10-15 kg và gom thành từng đống 30-50 bó nhằm giúp quá trình bốc xếp thuận lợi.

– Thu hoạch xong nên dùng bạt che phủ tránh nắng bốc hơi, giảm lượng đường và phải vận chuyển ngay đến nơi chế biến trong vòng 24 giờ.

– Hạn chế các phương tiện vận chuyển đi vào các ruộng mía lưu gốc.

– Thời gian thu hoạch mỗi ruộng mía không quá 5 ngày tạo sự nảy mầm đồng đều để dễ chăm sóc mía gốc.

– Sử dung vi sinh vật phân hủy lá mía hoặc tủ gốc để giữ ẩm, hạn chế cỏ dại và tăng hữu cơ cho đất./.

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Kỹ Thuật Chăm Sóc Cam Đường Canh Sau Thu Hoạch, Bón Phân Cho Cam Đường

Khi thu hoạch xong, cần nhanh chóng cắt tỉa, làm sạch cỏ dại và tiến hành làm rễ, xử lý cơ giới bộ rễ. Hiện có nhiều cách xử lý bộ rễ. Một số vùng trồng cam như Hưng Yên, Bắc Giang xử lý rễ đau theo kiểu định hình bầu xung quanh tán. Tại Hòa Bình do địa hình hơi dốc nên xử lý cuốc xới rộng hơn, không làm bầu, chỉ làm đứt rễ. Tuy nhiên cho dù xử lý cách nào cũng phải phù hợp với từng vườn và sức sinh trưởng của cây. Cần lưu ý rằng với những năm mưa kéo dài, rét muộn, cây khỏe, tiềm ẩn nguy cơ bật lộc đông (mặc dù đã làm rễ), nhà vườn nên chủ động khoanh mịn (tiện mịn) một lần các cành cấp 1 để hãm lộc đông (khi khoanh nên để lại 15-25% số cành phía dưới, không khoanh tiện hết 100% số cành dễ gây sốc cây). Tuy nhiên nếu thời tiết rét sớm, rét sâu, cây vào ngủ nghị tự nhiên thì không cần sử dụng biện pháp khoanh vỏ. Vấn đề hãm lộc đông, đưa cây vào ngủ nghỉ cần phải được theo dõi và kiểm soát chủ động, dựa vào sức cây và điều kiện thời tiết để có giải pháp phù hợp với từng vườn, từng khu vực địa lý.

Sau khi xử lý rễ xong cần phun ngay các chế phẩm diệt nấm và khuẩn, chống xâm nhiễm vào rễ. Trên thị trường hiện có rất nhiều thuốc trừ nấm khuẩn hóa học. Tuy nhiên nên hạn chế sử dụng bởi các nhóm thuốc hóa học này thường gây độc hại cây, ô nhiễm môi trường đất, chai đất nếu sử dụng thường xuyên lâu dài. Sau khi làm rễ xong bà con nên dùng 50ml nano bạc đồng plus kết hợp 50ml nano đồng oxyclorua pha với bình 20-25 lít nước phun trực tiếp vào rễ. Các hạt nano trong chế phẩm có kích thước siêu nhỏ sẽ bám lên rễ và tiêu diệt hầu hết nấm khuẩn gây bệnh. Ưu điểm của chế phẩm nano bạc đồng, nano đồng oxyclorua là không độc hại, không tồn dư, không làm chai đất, thân thiện với môi trường, khi sử dụng không cần bảo hộ lao động. Sau khi kết thúc thời gian ngủ nghỉ tiến hành bón phân cho cây(trình bày phần sau).

Sau quá trình làm rễ, phun thuốc bệnh xử lý rễ bà con nên tiến hành bón phân. Phân bón lúc này mang tính chất bón lót để chuẩn bị cho nuôi dưỡng mầm hoa. Phân bón lót cần được trộn đều với đất xung quanh và lấp đều vào gốc.

+ Đậu tương nghiền nhỏ, không cần ngâm: 1-2kg/cây (tùy tuổi cây)

+ Phân lân đơn: 1,0 – 2,5kg/cây (tối đa 3-3,5kg, tùy tuổi cây)

+ Tro bếp mỗi gốc cây nửa bao, phân hữu cơ hoai mục 15-30kg/cây, lượng nhiều hay ít tùy tuổi cây và đường kính tán. Lưu ý không nên lạm dụng bón quá nhiều phân hữu cơ hoai mục. Phân hữu cơ hoai mục có vai trò làm tơi xốp đất, đa dạng hệ vi sinh trong đất, đất giàu mùn, thoáng khí. Tuy nhiên nếu bón quá thừa phân hữu cơ khi gặp mưa thường xảy ra tình trạng bộ rễ hô hấp yếm khi do thiếu oxy (trong phân hữu cơ thường có hàm lượng vi sinh vật hảo khí, trong quá trình sinh trưởng chúng sẽ lấy đi một phần oxy trong đất, làm giảm đột ngột lượng oxy cần thiết cho cây, để bộ rễ sinh trưởng thuận lợi thường oxy trong đất khoảng 10-12%).

Trong điều kiện thời tiết thuận lợi cam đường canh sẽ phân hóa mầm hoa vào khoảng cuối tháng 12 đến đầu tháng 1 âm lịch năm sau (nếu rét kéo dài, rét đậm có thể muộn hơn 15-25 ngày). Từ thời điểm phân hóa mầm hoa (nhú lộc hoa) đến khi hoa bắt đầu nở kéo dài 25-30 ngày (tùy điều kiện thời tiết). Từ khi chớm nở hoa đến nở rộ hoàn toàn, hình thành quả non kéo dài 15-16 ngày.

Thời kỳ cây ngủ nghỉ đến trước khi hoa nở rộ cần phun phòng trị sâu bệnh tổng hợp đặc biệt là nhện đỏ, nhện trắng (đảm bảo cây sạch bệnh trước khi vào giai đoạn hoa nở rộ và đậu quả non).

Phun phòng trị bệnh nấm khuẩn: Dùng 50-80ml nano bạc đồng plus pha với bình 20 lít nước phun đều toàn bộ thân lá, phun kép 2 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày.

Thời kỳ hoa nhú lộc (nhú mầm hoa – khoảng đầu tháng 1 âm lịch, trường hợp thời tiết rét sâu có thể mầm hoa phát triển chậm hơn, hoa nở muộn hơn) cần duy trì độ ẩm liên tục, tưới định kỳ, không để khô đất. Thời kỳ này nếu thiếu ẩm hoa phân hóa không đều, hoa nhỏ, tỷ lệ đậu kém, tỷ lệ hoa dị hình cao. Nước giai đoạn này rất quan trọng, nước tham gia vào quá trình khoáng hóa dinh dưỡng trong đất, thủy phân các chất dinh dưỡng nuôi cây, nước có vai trò quan trọng trong quá trình vận chuyển dưỡng chất nuôi hoa và lộc hoa. Thời kỳ phân hóa và phát triển mầm hoa nếu cây đủ nước, dinh dưỡng cân đối, quản lý sâu bệnh tốt hoa phát triển tập trung đồng đều. Ngoài ra thời kỳ phát triển mầm hoa nhà vườn nên bổ sung lân đơn super theo phương pháp bón vãi xung quanh gốc rồi tưới nước sau khi bón, lượng bón từ 150-300g/gốc.

Để hoa to khỏe, phát triển đều, tập trung, chống nấm khuẩn tốt, nâng cao tỷ lệ đậu quả nhà vườn nên sử dụng 40ml chế phẩm Shellac suger kết hợp 50-60ml chế phẩm nano bạc đồng plus và 30-40ml chế phẩm nano canxi super pha với bình 20-30 lít nước phun đều tán lá dạng sương mù. Phun 2 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 7-10 ngày.

Chế phẩm nano canxi super chống rụng quả, hạn chế nứt quả trên cam đường canh

TƯ VẤN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ NANO, KỸ THUẬT CHĂM SÓC CÂY CAM CANH: ThS Phạm Công Khải – 0976 804 678

Yêu cầu kỹ thuật của thời kỳ ra hoa đậu quả non là phải giữ quả, chống rụng quả sinh lý, hạn chế tối đa tác hại của mưa acid. Đặc điểm sinh trưởng của cam canh thời kỳ quả non là nếu lộc phát triển mạnh thì cây sẽ tập trung dinh dưỡng nuôi lộc đồng thời đẩy quả. Do vậy mục tiêu của thời kỳ hoa rộ đến đậu quả non là phải hãm được lộc, giữ quả non. Các công việc cần làm thời điểm này là:

+ Duy trì ẩm độ thích hợp (không thừa ẩm, không thiếu ẩm, ẩm độ phù hợp thời kỳ hoa rộ – quả non vào khoảng 75-85 (tối đa 90%), không nên để độ ẩm đất bão hòa trong thời gian dài.

+ Hạn chế phun thuốc BVTV hóa học nếu không cần thiết. Trường hợp có nhện gây hại nên chọn thuốc đặc trị an toàn, không gây ngộ độc cây (nên chủ động phòng trừ từ trước đó).

+ Nhanh chóng xác định thời điểm khoanh vỏ hãm lộc, giữ quả non: Tùy điều kiện thời tiết, tùy sức sinh trưởng của cây để xác định thời điểm khoanh vỏ. Theo kinh nghiệm của chúng tôi khi hoa nở rộ, bắt đầu rụng cánh, vừa hình thành quả non (quả xấp xỉ bằng hạt đậu xanh hoặc to hơn một chút), đồng thời lộc hoa phát triển đến giai đoạn bánh tẻ là đủ điều kiện khoanh vỏ. Nếu khoanh vỏ hãm lộc quá muộn sẽ không giữ được quả non, quả non sẽ rụng hàng loạt. Tuy nhiên cũng không nên khoanh sớm, khi mà lộc hoa vẫn còn non. Điều kiện cần và đủ để tiến hành khoanh vỏ là lộc hoa phát triển đến bánh tẻ và cánh hoa vừa rụng, bắt đầu hình thành quả non.

Khoanh vỏ là giải pháp cắt đứt hoặc hạn chế dinh dưỡng nuôi cây từ gốc lên các bộ phận trên mặt đất. Với cây ăn quả thân gỗ nói chung, có 2 con đường vận chuyển dinh dưỡng đó là nhựa nguyên và nhựa luyện. Các chất dinh dưỡng được bộ rễ hấp thu thông qua hoạt động hô hấp tạo ra năng lượng ATP giúp đẩy dinh dưỡng từ dưới đất lên trên thông qua mạch libe (vỏ cây – nhựa nguyên). Ngược lại các chất đồng hóa từ quá trình quang hợp được vận chuyển từ trên xuống nuôi dưỡng các bộ phận dưới mặt đất (hệ rễ) thông qua mạch dẫn xylem. Khi chúng ta tác động khoanh vỏ cây sát tới gỗ có nghĩa là làm gián đoạn và hạn chế khả năng vận chuyển nước và dinh dưỡng từ dưới bộ rễ lên các bộ phận trên mặt đất, qua đó kìm hãm sinh trưởng sinh dưỡng của cây. Với cam canh có 2 biện pháp khoanh vỏ (tiện cây):

Đối với cam canh ở thời kỳ đậu quả non, việc khoanh vỏ có thể tiến hành từ 2-3 lần, tùy sức sinh trưởng của cây, tùy điều kiện thời tiết. Số lần tiện vỏ cây phụ thuộc vào kỹ thuật chăm sóc, điều tiết dinh dưỡng và điều kiện thời tiết. Nếu dinh dưỡng cân đối, điều kiện thời tiết thuận lợi số lần tiện vỏ cây sẽ ít hơn, thậm chí có những cây chỉ cần dùng chế phẩm Shellac suger điều tiết tỷ lệ C/N, hãm lộc chủ động cây vẫn có thể đậu quả và giữ quả tốt.

Tùy điều kiện từng vùng, chất đất, cách chăm sóc, sức sinh trưởng của cây, tỷ lệ đậu quả mà nhà vườn có thể chọn phương pháp tiện mịn hay tiện bóc, hoặc tiện hỗn hợp. Nhà vườn cần lưu ý, diễn tiến giai đoạn ra hoa rộ đến đậu quả non ở cam canh diễn ra rất nhanh đặc biệt trong điều kiện thời tiết nhiều năm gần đây (El Nino). Do đó ngay sau khi kết thúc hoa rộ hoặc 80% số hoa đã nở và bắt đầu hình thành quả non cần phải xác định thời điểm khoanh vỏ, nếu xử lý chậm rất khó giữ quả, quả non đẩy hàng loạt. Việc xác định thời điểm và lựa chọn phương pháp tiện vỏ cây trên cam canh rất quan trọng. Tiện vỏ cây nhằm mục đích ức chế quá trình sinh trưởng lộc, nhưng cần đảm bảo cây không quá sốc (tress nặng), nếu tiện quá đau, không phù hợp quả non vẫn rụng hoặc rụng muộn ở giai đoạn sau, chất lượng quả rất thấp.

Qua nghiên cứu, theo dõi đánh giá chúng tôi đưa ra giải pháp tiện vỏ cây mang tính tham khảo như sau:

Sau khi rụng cánh hoa từ 15-25 ngày, vừa kết thúc tiện vỏ cây, quả tương đối ổn định nhà vườn nên phun qua lá chế phẩm nano canxi cacbonat, nano canxi super, nano bạc đồng plus, shellac suger (công dụng: chống mưa acid, chống teo cuống, tiêu diệt nấm bệnh, hạn chế rụng quả sinh lý). Lưu ý phòng trừ nhện đỏ chủ động.

Ngoài ra nên dùng chế phẩm Shellac suger điều tiết tỷ lệ C/N, hãm lộc trên tán: Dùng 30ml chế phẩm pha với 20 lít nước phun sương mù qua 2 mặt lá. Phun 2 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày.

Chế phẩm Shellac suger có vai trò điều tiết cân đối tỷ lệ C/N, kìm hãm quá trình vận chuyển N lên đầu cành qua đó ức chế phát triển lộc cành (sinh trưởng sinh dưỡng).

Dưỡng mầm hoa, thúc hoa to khỏe: Dùng 30-40ml chế phẩm nano AKH super plus phaơiới 20 lít nước phun qua lá, phun 2 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày (phun từ thời kỳ phân hóa mầm hoa, hoa ra nụ, trước khi nở).

Cam canh có thời kỳ phát triển quả dài nhất trong nhóm cây có múi. Khi quả đã phát triển ổn định bà con nên bón phân thúc, dưỡng nuôi quả. Thời kỳ cây phát triển quả rất cần dinh dưỡng đầy đủ và cân đối, nếu thiếu dinh dưỡng quả phát triển chậm, vỏ quả khô, phát triển không cân đối, quả trở nên cứng và chai lại, rất khó phục hồi. Do đó cần tuân đủ đúng kỹ thuật bón phân qua gốc và lá.

+ Khi quả phát triển ổn định, vào khoảng tháng 4-5: duy trì độ ẩm đất, không để quá khô hay quá ẩm, chủ động quản lý sâu bệnh. Nhà vườn nên dùng 40-50ml chế phẩm nano canxi super kết hợp 20-30ml shellac suger và 50ml nano bạc đồng pha với 20-30 lít nước phun đều qua lá. Phun 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 7-10 ngày.

+ Tháng 5: Bón thúc phân bón gốc, dùng 0,5-1kg cám cò công nghiệp dạng hỗn hợp trộn lẫn với tro bếp (nửa bao/gốc) bón xung quanh gốc. Đến tháng 8 bón lần 2 với lượng dùng như trên.

+ Từ trung tuần tháng 5 đến tháng 10: Dùng phân NPK chuyên dùng cho cây ăn quả bón vãi xung quanh gốc, định kỳ mỗi tháng bón một lần, mỗi gốc bón 150-300g/gốc (bón kết hợp duy trì tưới nước).

Ngoài ra để quả bóng đẹp, phát triển quả cân đối từ cuối tháng 5 đến tháng 9 âm lịch dùng 30-40ml chế phẩm nano AKH super plus pha với 20 lít nước phun đều 2 mặt lá, định kỳ 15-20 ngày phun một lần.

+ Bón phân kali: Để quả ngọt hơn, mã đẹp nên bón kali dưới gốc. Bón kali mỗi gốc 100g/gốc, bón 2 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 1 tháng, bón vào tháng 9 đến trước 15/11 âm lịch. Bón vãi xung quanh gốc hoặc pha loãng tưới gốc. Nên kết hợp phun kali qua lá 1-2 lần, 7-10 ngày/lần.

Ngoài ra cần kiểm soát độ pH đất, không nên để pH quá cao hoặc quá thấp, ảnh hưởng đến sinh trưởng của bộ rễ. Nếu pH đất quá thấp (đất chua) làm cho hàm lượng kim loại nặng gia tăng, bộ rễ hút kém phát triển (rễ tơ). Nếu pH quá cao gây ra tình trạng thiếu lân, cây khó hấp thu lân, bộ rễ còi cọc, chậm phát triển, rễ yếu, tỷ lệ nhiễm bệnh vàng lá thối rễ gia tăng, quả khô bộp, nhẹ, ít nước, độ ngọt thấp. Chính vì vậy từ tháng 4-5 âm lịch trở đi nhà vườn nên dùng nước vôi trong pha loãng với nồng độ 0,5-1% tưới gốc, định kỳ mỗi tháng một lần. Kết hợp sử dụng 500ml chế phẩm nano canxi cacbonat kết hợp 400-500ml nano Kẽm nồng độ 1200ppm pha với 300-400 lít nước phun ướt đẫm tán lá, quả (sao cho sau khi phun đậm nước nhỏ giọt xuống gốc càng tốt). Định kỳ 20-30 ngày phun một lần, hoặc phun ngay sau khi kết thúc mưa (hạn chế vàng sớm vỏ quả vào tháng 9-10 âm lịch, chống nứt quả rất tốt, nâng cao chất lượng quả, cho mã quả đẹp).

TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO NANOTECH

Tư vấn kỹ thuật, ứng dụng công nghệ nano trong nông nghiệp:

ThS Phạm Công Khải – Hotline: 0976 804 678 * 0835 99 85 99

Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Cam Đường Canh Hiệu Quả Nhất

Cam đường canh cho quả hình cầu dẹt khi chín từ màu xanh chuyển sang màu đỏ óng. Cũng do vỏ quả khá mỏng nên nhiều nơi gọi là giống cam giấy. Bên trong có ruột màu vàng ăn khá ngọt và thơm.

Cây cam đường canh sinh trưởng khoẻ, tán cây hình dù, lá không eo, màu xanh đậm. Cây cao 3-3,5 m, đường kính tán 3-4 m, ra hoa tháng 2-3. Thu hoạch tháng 11-12. Quả hình cầu dẹt, chín màu đỏ, vỏ mọng, ruột màu vàng, ăn ngọt, thơm. Trọng lượng trung bình 80 gr – 120 gr/quả.

2.1. Thời vụ

Một năm có thể trồng cam Canh vào 2 vụ chính đó là vụ xuân và vụ thu: – Vụ xuân: Tháng 2 – 4 – vụ thu: Tháng 8 – 10

2.2. Nhân giống

– Cây giống bằng cành chiết: Đường kính gốc cành 0,8-1cm, chiều cao 0,5-0,6m, có 2-3 cành, phải ra rễ thứ cấp và được dâm trong bầu dinh dưỡng, đường kính bầu 15-18cm, chiều cao 20-25 cm.

– Cây giống nhân bằng phương pháp ghép mắt: Thân gốc ghép khỏe, sạch bệnh, đường kính cổ rễ 1-1,5cm, mầm ghép cao 30-40cm, có 2-3 cành cấp 1, cây phải được ươm trong bầu dinh dưỡng, đường kính 15-18 cm, chiều cao 20-25 cm.

2.3. Mật độ trồng

Tùy theo phương pháp nhân giống cũng như điều kiện của từng vùng mà trồng theo các mật độ sau đây:

– Với cây chiết: Mật độ trồng 625 cây/ha, cây cách cây 4m, hàng cách hàng 5m – Với cây ghép: Mật độ trồng 500 cây/ha, cây cách cây 4m, hàng cách hàng 5m. – Trồng phân tán ven bờ kênh, bờ ao…: + Với cây chiết: Mật độ trồng 400 cây/km. cây cách cây 2,5m; + Với cây ghép: mật độ trồng 333 cây/km, cây cách cây 3m.

2.4. Làm đất và đào hố

Đất được cày bừa kỹ, xử lý bằng vôi bột, lên luống, luống cách luống 4m đối với cây chiết và 5m đối với cây ghép. Nơi đất thấp, úng trũng phải lên luống hoặc đắp ụ.

Sau đó đào hố, nơi đất tốt: kích thước hố đào 60 x 60x 50 cm; nơi đất xấu: Kích thước hố đào 80 x 80 x 60 cm; cây trồng ven bờ kênh, bờ mương, bờ ao kích thước hố đào 80 x 80 x 70 cm.

2.5. Bón phân lót

– Lượng phân bón lót trước khi trồng như sau: + Phân chuồng hoai mục: 20-30 kg/hố + Super lân: 0,5-0,7 kg/hố + Vôi bột: 0,3-0,5 kg/hố

– Phương pháp bón: Trộn đều phân, vôi với đất đã đập nhỏ, đưa xuống hố và lấp đầy thành nấm cao 20-25cm so vơi mặt hố và phải lấp hố ít nhất 15-30 ngày mới được trồng.

2.6. Cách trồng

Dùng cuốc moi một lỗ giữa hố lớn hơn bầu cây, bóc vỏ bầu, đặt cây thẳng đứng mặt bầu cao bằng mặt nấm, lấy đất nén chặt nhưng không được làm vỡ bầu, dùng 2-3 cọc cắm chéo nhau dùng dây mềm buộc giữ cây phòng bị xoay đứt rễ hoặc đổ gẫy do gió to hoặc súc vật phá hoại.

Dùng mùn rác, cỏ khô, rơm rạ ủ vào gốc cây và tưới nước ngay để giữ ẩm đảm bảo sự cân bằng nước cho cây.

3.1. Tưới nước

Cây sau khi trồng trong tháng đầu cần tưới nước 2 lần/ngày vào sáng sớm và chiều mát, lượng nước tưới và số lần tưới phụ thuộc vào thời tiết trong ngày. Khi cây bén rễ, hồi xanh chỉ cần tưới bổ sung giữ ẩm thường xuyên cho cây.

3.2. Bón phân

– Thời kỳ cây còn nhỏ 1-3 tuổi: Hàng năm cần bón thúc vào thời điểm: Tháng 1, tháng 2, tháng 5 và tháng 11. Lượng bón trên 1 cây: + Phân hữu cơ hoai mục: 5-20 kg/cây + Đạm Urê: 0,1-0,2 kg/cây + Super lân: 0,2-0,5 kg/cây + Kali: 0,1-0,2 kg/cây Chú ý khi bón cần kết hợp xới xáo, làm cỏ.

– Thời kỳ thu hoạch từ năm thứ 4 trở đi: Hàng năm cần bón thúc vào thời điểm: + Bón cơ bản (tháng 8 – tháng 11): Phân hữu cơ + Super lân + Vôi. + Bón đón hoa, cành xuân từ 15/1 – 15/3: Đạm Urê + Kali. + Bón thúc tăng trọng quả vào tháng 5: Đạm Urê + Kali. + Bón thúc cành thu và tăng trọng quả tháng 7 – tháng 8: Đạm Urê + Kali.

Ngoài ra bón cho cây sau khi thu hoạch làm cây chóng phục hồi, lượng bón thúc như sau: + Phân hữu cơ hoai mục: 20-30 kg/cây + Đạm Urê: 0,5-0,8 kg/cây + Super lân: 0,5-1,0 kg/cây + Kali: 0,1-0,3 kg/cây + Vôi bột: 0,5-1 kg/cây

Các năm sau lượng phân tăng theo tuổi cây, năng suất quả và tuỳ thuộc loại đất để tăng hoặc giảm lượng phân bón.

Cách bón: Đào rãnh hoặc hốc rộng 20 cm, sâu 15-20 cm xung quanh tán cây, rắc phân lấp đất, tưới đẫm nước.

3.3. Cắt tỉa tạo hình tạo tán cho cây

Khi cây có quả, sau mỗi lần thu hoạch cần đốn tỉa bỏ cành nhỏ, cành trong tán, cành sâu bệnh… công việc này phải tiến hành thường xuyên tạo thuận lợi cho cây sinh trưởng phát triển tốt.

3.4. Phòng trừ sâu, nấm bệnh gây hại

– Thường xuyên kiểm tra vườn cây, phát hiện sâu bệnh kịp thời.

– Sử dụng các biện pháp canh tác (xén tỉa cành lá sâu bệnh…) sử dụng các loại thuốc BVTV sinh học, thuốc hoá học ít độc, không dùng thuốc cấm và chú ý sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và chú ý một số loại sâu bệnh…

– Sâu hại cây cam Canh phổ biến là các loại sâu vẽ bùa, rệp sáp, rầy chổng cánh, sâu đục thân, cành.

Biện pháp phòng trừ chủ yếu là phun thuốc phòng trước khi sâu xuất hiện:

– Hàng năm, cây thường ra 3 đợt lộc: Lộc xuân tháng 2 – 3; lộc thu tháng 7- 8; lộc đông tháng 11 – 12. Ở mỗi đợt lộc khi lộc non nhú dài 1,5 – 2 cm tiến hành phun phòng bằng một trong các loại thuốc sau: Sherpa 25 EC, Cy perin 25 EC 0,1-0,2%, Sumicidin 10 EC.

– Mỗi đợt lộc phun 2-3 lần, mỗi lần cách nhau 7-10 ngày. Riêng sâu đục thân, cành khi thu hoạch quả xong phải vệ sinh cây, quyết vôi phần gốc, thân, cành để diệt trứng sâu.

– Khi thân, cành bị sâu, pha thuốc Sumicidin, Perin dùng bơm tiêm hút bơm trực tiếp vào lỗ sâu đục. Trước khi thu hoạch 30 ngày không tưới nước, bón phân, phun thuốc sâu. Thu hoạch nhanh, gọn để không ảnh hưởng thời vụ ra hoa vụ sau.

– Bọ xít, nhện chích hút, rầy, rệp phun: Sherpa 25 EC; Trebon 2,5 EC; Pegasus 500 EC; Actara 25 WG; Danitol 10 EC…

– Bệnh loét sẹo, đốm lá thân và cành lớn, thân quả cần phun: Rhidomil MZ 73 WP; Score 250 EC; thuốc gốc đồng…

Ngoài ra có thể dùng Basudin 10 G để trị kiến, mối, bọ cánh cứng: Trộn tỷ lệ 1 thuốc + 10 cát rắc xung quanh gốc và hố.

► XEM THÊM: Kỹ Thuật Trồng Dừa Xiêm Lùn