Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cà Tím / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Thâm Canh Cà Tím

Cà tím là một trong những cây trồng được đưa vào mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại các xã nông thôn mới của thành phố. Cây cà tím phù hợp với vùng đất tại Củ Chi, Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh. Đây là loại rau ăn quả đem lại hiệu quả kinh tế cao, thời gian thu hoạch trái kéo dài. Tuy nhiên để trồng cà tím đạt hiệu quả cao cần chú ý một số kỹ thuật canh tác

1. Chuẩn bị đất trồng cà tím

Bón voi và phân lót: trước khi cày bừa đất, rải đều cho 1 ha: 1 tấn vôi + 30 – 40 tấn phân hữu cơ hoai (hoặc 6 tấn phân gà) + 1 – 2 tấn Super lân. Vôi nên bón ít nhất 2 tuần trước khi trồng. Sau khí bón lót cày bừa đất thật kỹ (độ sâu lớp đất cày bừa ít nhất 30 cm).

Lên líp trồng và trải bạc: sau khi cày bưa xong, lên líp để chuẩn bị trồng. Líp cao ít nhất 30 cm. Mặt líp ít nhất 1 – 1,2 m ngang, rãnh nước giữa 2 líp khoảng 60 – 80 cm. Kích thước rãnh + líp: 1,8 m. Trải bạc.

Lắp đặt hệ thống tưới: trên mặt mỗi líp lắp đặt một đường ống nước mềm chạy dài suốt líp để đảm bảo tưới nước đầy đủ cho cây cà trong suốt mùa trồng. Mỗi đầu đường ống đều có một van đóng mở.

2. Kỹ thuật trồng và dặm cây con

Mật độ và khoảng cách trồng cây cà tím

– Khoảng cách giữ 2 cây: 55 cm.

– Khoảng cách giữ 2 hàng: 1,8 m.

– Mật độ trồng: khoảng 10.000 cây/ha

Cách trồng

– Khi cây ghép (phần ngọn) trong bầu có 7 – 8 lá, có thể đem trồng được.

– 2 – 3 ngày trước khi trồng, triệt để không tưới nước cho cây con trong bầu. Không được cắt cành nhánh cây con khi trồng.

– 1 ngày trước khi trồng, tưới nước cho đất.

– Khi trồng chú ý chỉnh thân cây nghiêng về một hướng. Chú ý khi trồng không làm rễ bị xây xát. Không nên đặt cây con quá sâu, tốt nhất là đặt cây con sao cho mặt đất trong bầu ngang với mặt đất bên ngoài.

Thời kỳ sau trồng

– Sau khi trồng tưới nước nhiều cho cây trong vòng 3 – 4 ngày đầu.

– 5 – 6 ngày sau khi trồng, tiến hành dặm những cây chết hoặc mọc kém để đảm bảo mật độ cây trồng.

– Cắm cọc đỡ cà sau cấy: dùng cọc khoảng 50 – 60 cm cắm cạnh cây cà và dùng dây cột giữ cây cà khỏi ngã.

Dựng chà le

Để làm giàn đỡ nhánh cà, chà le được cắm gốc ngay giữa líp và nghiêng qua hai bên, 2 cây chà le cách nhau 2 m. Sau đó giăng 2 tầng dây nylon đen theo hàng chà le.

3. Cách chăm sóc cây cà tím ngoài đồng

a) Liều lượng phân bón cho cây cà tím

Lượng phân bón cho 1 ha như sau:

+ Vôi nông nghiệp: 1.000 kg

+ Phân hữu cơ: 30 tấn

+ Super lân: 1.000 kg

+ NPK (20-20-15): 1.100 kg

+ KCl: 100 kg

+ Ure: 100 kg

+ DAP: 50 kg

b) Cách bón cho cây cà tím

– Bón lót: toàn bộ phân hữu cơ, vôi, lân, 50 kg NPK và 50 kg KCl.

– Thúc lần 1: 10 ngày sau khi trồng, bón 150 kg NPK, 50 kg Ure (ngâm chan 50 kg DAP trong suốt quá trình).

– Thúc lần 2: 10 – 12 ngày sau khi thúc lần 1, bón 200 kg NPK, 50 kg Ure và 50 kg KCl.

– Thúc lần 3: 15 – 20 ngày sau khi thúc lần 2, bón 200 kg NPK

– Thúc lần 4: 15 – 20 ngày sau khi thúc lần 3, bón 200 kg NPK

– Thúc lần 5: 15 – 20 ngày sau khi thúc lần 4, bón 200 kg NPK

– Thúc lần 6: 15 – 20 ngày sau khi thúc lần 5, bón 100 kg NPK

Tùy theo tình hình sinh trưởng của cây có thể chan thêm phân bón bổ sung.

c) Dẫn nhánh:

sau khi trồng khoảng 20 – 25 ngày, tiến hành dẫn nhánh chính bằng dây nhựa đen, mỗi dây dẫn 4 nhánh (2 nhánh mỗi bên 2 líp).

d) Tỉa và cắt cành:

2 tuần sau khi bắt đầu thu hoạch, tiến hành tỉa nhánh phụ, không tỉa nhánh chính, loại bỏ trái hư. Nhánh đã thu trái, chừa lại mầm tốt để tiếp tục lấy trái. Thông thường mỗi tuần tỉa một lần tùy theo cây rậm rạp nhiều hay ít. Khi cây cà tím cao khoảng 1,6 m, bấm đọt 4 nhánh chính để cho ra nhiều nhánh phụ để tăng lượng trái.

e) Phòng trừ sâu bệnh cho cây cà tím:

sau khi trồng, chú ý phun thuốc phòng trừ sâu bệnh sau khi điều tra sinh vật hại định kỳ hàng tuần.

Sâu hại: trên cây cà tím thường xuất hiện các loại sâu hại như rầy xanh, bọ trĩ, nhện đỏ, sâu xanh, sâu đục đọt, sâu đục trái.

+ Rầy xanh, bọ trĩ: xuất hiện ở mọi giai đoạn sinh trưởng của cây. Thường tập trung ở mặt dưới lá, đọt non, chích hút nhựa làm cây khó phát triển. Có thể dùng các bậy vàng, bẫy xanh bám dính để phòng trừ, nếu mật độ cao có thể sử dụng thuốc Pyrinex 20 SC, Netoxin 18 SL.

+ Nhện đỏ: xuất hiện lúc cây đã lớn đến giai đoạn thu hoạch. Thường tập trung ở mặt dưới lá, chích hút nhựa làm cây khó phát triển, mất sức, năng suất giảm. Dùng thuốc Confidor 100 SL, Danitol 10 EC để phòng trừ.

+ Sâu xanh, sâu đục trái: xuất hiện mọi giai đoạn sinh trưởng của cây. Sâu cắn phá đọt lá non, bông và đục vào trái. Phun thuốc Regent 800 WG, Lexus 800WP.

Bệnh hại: một số bệnh thường xuất hiện trên cây cà tím như bệnh héo xanh, bệnh đốm lá, bệnh lở cổ rễ cây con, bệnh khảm virus.

+ Bệnh lở cổ rễ cây con: từ khi cây nẩy mầm. Nấm bệnh tấn công phần tiếp giáp giữa rễ và thân làm cây chết nhanh. Phun Validacin 3 L, Bendazol 50 WP, Thane M 80 WP.

+ Bệnh héo xanh: bệnh do vi khuẩn gây ra. Cây bệnh, lá mất màu nhẵn bóng, tái xanh, cụp xuống, ở giai đoạn cây con thì héo toàn cây, cây trưởng thành triệu chứng thường thể hiện ở lá ngọn trước, cũng có thể héo từng nhánh sau đó héo toàn cây. Ở 1 – 2 ngày đầu cây có thể phục hồi phục hồi lại được vào lúc trời mát hoặc về đêm nhưng 2 – 3 ngày sau lá héo không thể phục hồi lại được và toàn cây héo rũ rồi chết.

Luân canh cây trồng với các loài cây kháng bệnh, làm sạch cỏ dại, thoát nước tốt, trồng cây con khỏe mạnh và cây ghép trên những gốc ghép kháng bệnh là một trong những biện pháp kiểm soát bệnh quan trọng.

+ Bệnh đốm lá: xuất hiện giai đoạn cây lớn. Nâm bệnh xâm nhập vào biểu bì lá tạo thành hình bất định và lan rộng. Phun Bendazol 50 WP, Topsin M 700 WP.

+ Bệnh khảm virus: cây bị bệnh thường có ngọn xoăn vàng, nhăn nheo, màu vàng xen kẽ, lá nhỏ dị hình, làm cho lá và ngoạn xoăn lại. Nếu cây bị bệnh giai đoạn đầu thì còi cọc, không phát triển và không ra trái. Nếu cây bị bệnh giai đoạn sau thì sinh trưởng giảm, trái nhỏ và khô nước, chất lượng kém và không tiêu thụ được. Côn trùng là tác nhân truyền bệnh từ cây này sang cây khác.

Thu hoạch cà tím: cây sau khi trồng khoảng 35 – 40 ngày có thể bắt đầu cho trái. Dùng tay để thu cà. Trái cà sau khi hái cần được vận chuyển nhẹ nhàng tránh xây xát, hư dập.

Hình 1: Sâu đục trái

Hình 2: Sâu đục đọt

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cây Cà Chua

1. Đặc điểm thực vật học:

a. Rễ : Rễ thuộc loại rễ chùm, ăn sâu và phân nhánh mạnh, khả năng phát triển rễ phụ rất lớn. Trong điều kiện thích hợp những giống tăng trưởng mạnh có rễ ăn sâu 1-1,5m và rộng 1,5-2,5m vì vậy cà chua chịu hạn tốt.

b. Thân: Thân tròn, thẳng đứng, mọng nước, phủ nhiều lông, khi cây lớn gốc thân dần dần hóa gỗ. Thân mang lá và phát hoa. Ở nách lá là chồi nách.

c. Lá: Lá cà chua thuộc loại lá kép lông chim lẻ, mỗi lá có 3-4 đôi lá chét, ngọn lá có một lá riêng gọi là lá đỉnh. Rìa lá chét đều có răng cưa nông hay sâu tùy giống. Phiến lá thường phủ lông tơ.

d. Hoa: Hoa mọc thành chùm, lưỡng tính, tự thụ phấn là chính. Số lượng hoa trên chùm thay đổi tùy giống và thời tiết, thường từ 5-20 hoa.

e. Trái: Trái thuộc loại mọng nước, hình dạng thay đổi từ tròn, bầu dục đến dài. Vỏ có thể nhẵn hay có khía, màu sắc của trái thay đổi tùy giống và điều kiện thời tiết. Thường màu sắc trái là màu phối hợp giữa màu vỏ trái và thịt trái.

2. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh:

Thích hợp từ 21-24 oC, nếu nhiệt độ đêm thấp hơn ngày 4-5 o C thì cây cho nhiều hoa. Cà chua là cây ưa sáng, không nên gieo cây con ở nơi bóng râm, cường độ tối thiểu để cây tăng trưởng là 2.000-3.000 lux, không chịu ảnh hưởng quang kỳ. Ở cường độ ánh sáng thấp hơn hô hấp gia tăng trong khi quang hợp bị hạn chế, sự tiêu phí chất dinh dưỡng bởi hô hấp cao hơn lượng vật chất tạo ra được bởi quang hợp, do đó cây sinh trưởng kém.

Yêu cầu nước của cây trong quá trình sinh trưởng, phát triển không giống nhau. Khi cây ra hoa đậu trái và trái đang phát triển là lúc cây cần nhiều nước nhất, nếu đất quá khô hoa và trái non dễ rụng; nếu đất thừa nước, hệ thống rễ cây bị tổn hại và cây trở nên mẫn cảm với sâu bệnh. Nếu gặp mưa nhiều vào thời gian này trái chín chậm và bị nứt. Lượng nước tưới còn thay đổi tùy thuộc vào liều lượng phân bón và mật độ trồng.

Cà chua có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng thích hợp nhất vẫn là đất có cấu tượng nhẹ, nhiều mùn, giữ ẩm và thoát nước tốt (Đất thịt nhẹ, đất thịt pha cát, đất bazan,…), pH từ 5,5-7,5, thích hợp nhất từ 6-6,5.

Phần II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc:

1. Giống: Tùy theo điều kiện và nhu cầu của thị trường để chọn giống . Hiện nay, Anna và Kim Cương là hai giống được trồng phổ biến, giống Anna có hình thức quả phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, có khả năng kháng bệnh tốt trong mùa mưa nên được bà con nông dân trồng nhiều.

Các giống trên ghép với gốc cà chua Vimina để kháng bệnh héo rũ vi khuẩn.

Tiêu chuẩn lựa chọn giống xuất vườn:

2. Chuẩn bị đất: Chọn đất trồng cách xa các khu công nghiệp, bệnh viện, nhà máy…(không gần nguồn nước ô nhiễm và nước thải của các nhà máy, bệnh viện). Đất tơi xốp, nhẹ, nhiều mùn, tầng canh tác dày, thoát nước tốt. Vệ sinh vườn trồng, dọn sạch tàn dư thực vật của vụ trước, rải vôi trước khi cày xới để diệt một số nấm hại trên mặt đất, phơi ải 7-10 ngày trước khi trồng. Mùa khô lên luống 15-20cm, rãnh 30cm, mặt luống rộng 1,2m trồng hàng đôi. Mùa mưa lên luống 25-30cm, rãnh 30cm, mặt luống rộng 90cm, trồng hàng đơn.

Sử dụng màng phủ nông nghiệp để giữ ẩm, hạn chế dinh dưỡng bị rửa trôi, hạn chế cỏ dại, sâu bệnh.

Cách sử dụng màng phủ nông nghiệp: Vật liệu và qui cách: Dùng màng phủ khổ rộng 0.9-1m trồng hàng đơn, màng khổ 1,4m trồng hàng đôi. Khi phủ mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng xuống.

– Lên luống cao 15-20cm tùy mùa, mặt luống phải làm bằng phẳng để tăng độ bền màng phủ.

– Bón phân lót: Liều lượng như phần phân bón, cách bón phân, trường hợp bón thúc, đục thêm lỗ gần với gốc cây và sau đó rãi phân vào lỗ đã đục thêm.

– Xử lý mầm bệnh: Phòng trừ nấm bệnh, tuyến trùng và các sâu hại trong đất trước khi đậy màng phủ.

– Đậy màng phủ: Kéo căng vải bạt, hai bên mép ngoài được cố định bằng cách dùng dây kẽm bẻ hình chữ U mỗi cạnh khoảng 10cm ghim sâu xuống đất (dây kẽm sử dụng được nhiều năm) hoặc dùng tre chẻ lạt ghim mé liếp.

– Kỹ thuật trồng: Trồng vào buổi chiều mát, khi trồng đặt cây nhẹ nhàng không nén đất quá chặt (Lưu ý: cây cà chua ghép không lấp đất cao quá vết ghép. Ở những ruộng trống trải, nhiều gió nên dùng cây choái cũ (ngắn khoảng 30cm), cắm cạnh cây và choàng một sợi dây thun để cây tựa, phòng đổ ngã). Sau khi trồng phải tưới nước ngay để giữ ẩm, dự phòng 5% cây con đúng tuổi để dặm, trồng ra ruộng (trồng giữa các cây trên hàng), để tiện cho việc bứng dặm sau này.

+ Mùa khô trồng hàng đôi: hàng x hàng 70cm, cây x cây 50cm theo kiểu nanh sấu. Mật độ: 27.000 cây/ha.

+ Mùa mưa: Trồng hàng đơn hàng x hàng 1-1,2m, cây x cây 50-60cm, mật độ 18.000-20.000 cây/ha.

Từ 7-10 ngày sau trồng tiến hành kiểm tra trồng dặm lại các cây bị chết.

– Làm cỏ: Cần phải có biện pháp phòng trừ cỏ dại sớm và duy trì cho đến khi cây cà chua có thể cạnh tranh hiệu quả với cỏ dại. Phải phòng trừ cỏ dại trước khi ra hoa. Phòng trừ cỏ dại thông qua các biện pháp như:

+ Biện pháp cơ giới: Nhổ bỏ cỏ bằng tay, bằng cuốc hoặc máy cắt cỏ.

+ Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc diệt cỏ trước nảy mầm. Lựa chọn thuốc diệt cỏ phù hợp không gây tổn thương đến sự phát triển của cây.

– Tưới nước: Từ khi trồng đến hồi xanh tưới 1-2 lần/ngày, sau đó tùy điều kiện thời tiết và độ ẩm đất tưới để tưới, đảm bảo ẩm độ đất khoảng 60-70%; Khi cây cà chua ra hoa cần lượng nước nhiều hơn, đảm bảo ẩm độ đất 70-80%. Mùa mưa chú ý thoát nước, không để ruộng cà chua ứ đọng nước lâu.

– Vun xới: Sau trồng 7-10 ngày xới phá váng, sau trồng 20-25 ngày kết hợp bón phân cho cây cà chua, vun cao luống, để tránh tình trạng đọng nước giữa hàng, bộ rễ phát triển kém. Loại bỏ cây bệnh, quả bệnh, sâu… mùa mưa tỉa bớt lá chân, lá già đã chuyển vàng để vườn được thông thoáng. Gom lá bệnh tiêu hủy xa vườn trồng hoặc gom tập trung để ủ làm phân hữu cơ.

– Làm giàn: Khi cây cao 40-60cm làm giàn để giúp cây phân bố đều trên luống, thuận tiện cho việc chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.

– Tỉa chồi: Cần tỉa kịp thời khi nhánh mới nhú ra 3-5cm để dinh dưỡng tập trung nuôi quả, thường xuyên tỉa bỏ mầm nách vô hiệu. Dùng tay đẩy gãy, không dùng móng tay ngắt hoặc dùng kéo cắt vì dễ nhiễm bệnh qua vết thương.

– Tỉa lá: Tỉa bớt lá chân, lá già của cây đã chuyển sang màu vàng để vườn thông thoáng, nhất là những vườn rậm rạp, dễ gây nhiễm bệnh trong mùa mưa. Tuy nhiên, mùa khô cần để lá chân để che bớt nắng tránh bị rám quả.

– Tỉa quả: Mỗi chùm quả chỉ để 4-6 quả, ngắt cuối cành mang quả để dinh dưỡng tập trung nuôi quả tạo cho quả lớn đều cỡ, giá trị thương phẩm cao.

Bấm ngọn: Đối với giống có thời gian sinh trưởng dài, cao cây, trong giai đoạn gần cuối thu hoạch nên bấm ngọn để quả lớn đều, thu tập trung giúp.

4. Phân bón và cách bón phân: Tính cho 1 ha.

Phân bón: Phân hữu cơ: 40 tấn; Vôi: 1-1,5 tấn; Borat: 5kg; canxi bo: 50kg; hữu cơ vi sinh: 1.000kg; Chế phẩm Trichoderma: 300-350 kg/ha.

– Phân hoá học nguyên chất: 240kg N – 90 kg P 2O 5 – 275kg K 2 O.

: Đổi lượng phân hóa học nguyên chất sang phân đơn tương đương hoặc NPK.

Cách 1: Urê: 522kg; Super Lân: 562,5kg; Kali: 458kg.

Cách 2: NPK 15-5-20: 1375kg; Urê: 73kg; Super lân: 133kg.

Bón theo cách 1:

Bón theo cách 2:

* Lưu ý: Sử dụng phân bón lá theo khuyến cáo in trên bao bì.

Phần III. Sâu hại và biện pháp phòng trừ:

1. Sâu đục trái cà chua( Heliothis armigera).

– Đặc điểm hình thái, tập quán sinh sống và gây hại

Trưởng thành hoạt động vào ban đêm, sức bay khoẻ và xa, đẻ trứng rải rác từng quả trên mặt lá và nụ hoa. Sâu non phá hại các búp non, nụ hoa và đục vào trái, vết đục gọn, không nham nhở. Sâu đục đến đâu đùn phân ra đến đó, một nửa thân nằm bên ngoài, một nửa nằm trong quả.

– Các lá và chùm hoa bị sâu non ăn có thể bị gãy làm giảm số lượng trái sau này. Thiệt hại nặng khi sâu non xâm nhập vào thường dễ bị thối, giảm giá trị sản phẩm khi thu hái.

– Thường xuyên ngắt bỏ các quả bị sâu hại, bấm ngọn, tỉa cành cà chua để tránh sự lây lan và tích lũy số lượng sâu trên đồng ruộng.

– Loại sâu này có tính kháng thuốc rất cao, nhất là nhóm cúc tổng hợp. Luân phiên sử dụng các loại thuốc sau để phòng như: Abamectin (Aremec 18E, Bamectin 1.8 EC, Plutel 0.9EC, Reasgant 1.8EC), Emamectin benzoate: (Emaben 0.2 EC, Ematin 1.9 EC); Oxymatrine: (Vimatrine 0.6 L); Spinosad: (Akasa 25 SC, 250 WP) phun sau khi thấy trưởng thành xuất hiện 3-4 ngày hoặc sau thời kỳ hoa nở.

– Đặc điểm hình thái, tập quán sinh sống và gây hại

Trưởng thành là loài ruồi nhỏ, màu đen. Sâu non là dạng dòi, không chân, màu trắng trong, phần trước hơi vàng. Nhộng màu nâu vàng, dính trên lá chỗ cuối đường đục hoặc rơi xuống mặt đất. Vòng đời trung bình 25-30 ngày.

Trưởng thành cái dùng gai đẻ trứng vào dưới biểu bì của lá và chích hút nhựa cây tạo thành những vết sần sùi trên lá. Sâu non tạo những đường đục ngoằn ngoèo, màu trắng xuất hiện do dòi tạo nên, tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm xâm nhập. Nếu bị hại nặng sẽ làm giảm khả năng quang hợp, làm giảm năng suất cây trồng.

– Biện pháp phòng trừ:

+ Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, cắt tỉa những lá già, tiêu hủy tàn dư cây trồng thường xuyên là biện pháp tích cực làm giảm mật độ nhộng ruồi còn tồn tại trong tàn dư cây trồng.

Phủ đất bằng ni lông sau đó phơi nắng hoặc cho ngập nước trên ruộng khoảng một ngày để tiêu diệt nhộng trong đất.

+ Biện pháp vật lý: Có thể dùng bẫy dính màu vàng để thu hút và tiêu diệt ruồi trưởng thành. Biện pháp này cần được triển khai đồng loạt, áp dụng cục bộ không mang lại hiệu quả.

+ Biện pháp hóa học: Ruồi có khả năng hình thành tính kháng thuốc rất cao, cần thường xuyên luân phiên thay đổi thuốc sử dụng bằng các hoạt chất Abamectin: (Binhtox 1.8 EC, Abatin 1.8 EC); Spinetoram: (Radiant 60SC); Spinosad: (Akasa 25 SC, Suhamcon 25SC)…

3. Bọ phấn ( Bemisia tabaci)

3.1 Đặc điểm hình thái, tập quán sinh sống và gây hại

– Trưởng thành hoạt động vào sáng sớm và chiều mát. Sâu non bò chậm chạp trên lá, cuối tuổi 1 chúng ở mặt dưới lá, tại đó lột xác và sống cố định cho đến lúc hoá trưởng thành. Bọ phấn hút nhựa cây làm cho cây có thể bị héo, ngã vàng và chết. Bọ phấn tiết ra dịch ngọt là môi trường cho nấm muội đen phát triển.

– Bọ phấn còn truyền các bệnh virus gây bệnh cho cây.

– Không luân canh cà chua với cây kí chủ khác của bọ phấn.

– Vệ sinh đồng ruộng, ngắt bỏ lá già, các bộ phận bị hại đặc biệt là các loại cỏ dại là ký chủ của bọ phấn xung quanh ruộng nhằm hạn chế lây lan.

– Dùng bẫy dính màu vàng để thu hút và tiêu diệt bọ phấn trưởng thành (áp dụng để dự báo thời điểm xuất hiện của trưởng thành)

– Khi vườn bị nhiễm bọ phấn có thể dùng luân phiên các loại thuốc sau: Thiamethoxam: (Actara 25WG), Dinotefuran: (Oshin 20WP); Citrus oil: (MAP Green 10AS).

– Đặc điểm hình thái, tập quán sinh sống và gây hại: Trưởng thành có cánh và bay rất nhanh. Sâu non mới nở màu vàng nhạt sau chuyển sang màu xanh. Râu đầu và chân dài, di chuyển rất nhanh, cơ thể không có cánh. Con non khi mới nở thường bám ở các lá non hoặc gốc cuống lá để chích hút nhựa cây. Khi lớn dần thì chúng di chuyển ra toàn bộ các bộ phận của cây. Thời tiết nóng khô, bọ cưa phát triển mạnh.

Bọ cưa non bám trên toàn bộ thân cây và chích hút nhựa làm lá cây còi cọc và dần chuyển sang màu vàng nhất là lá non. Trưởng thành tiện quanh thân cây tạo thành một vòng tròn màu nâu, khi gặp gió sẽ làm thân cây gãy ngang ngay tại vết tiện. Là môi giới truyền bệnh virus cho cây.

– Đặc điểm hình thái, tập quán sinh sống và gây hại: Bọ trĩ rất nhỏ, màu vàng nhạt. Bọ trĩ di chuyển rất nhanh, khi trời nắng chúng chui nấp trong bẹ lá hoặc trong các lớp lá non ở ngọn, chúng thường phát triển trong mùa khô.

Chích hút ở lá non để lại những đốm tròn trong như giọt dầu, ở giữa có mộtchấmvàng, lúc đầu vàng trắng, sau biến thành nâu đen. Khi bị hại, các chồi non, lá non, nụ hoa không phát triển, cánh hoa bị quăn lại.

– Biện pháp phòng trừ: Tưới nước đủ ẩm trong điều kiện mùa khô, ngắt bỏ những lá, hoa có mật độ bọ trĩ cao để giảm mật số trên đồng ruộng.

6. Sâu khoang:( Spodoptera sp.)

– Đặc điểm hình thái, tập quán sinh sống và gây hạ: Trưởng thành màu xám hoặc nâu xám, các cánh trước màu nâu vàng có các vân đen trắng. Cánh sau màu hơi trắng. Chúng thường không bay xa và đẻ trứng gần nơi chúng xuất hiện. Trứng được đẻ thành ổ lớn ở mặt dưới các lá của cây chủ, sâu non mới nở ăn thành nhóm, khi lớn hơn chúng phân tán dần, nhộng màu đỏ sẫm. Sâu khoang ăn toàn bộ thịt lá của cây chủ chỉ chừa lại gân lá. Mật độ sâu cao có thể làm cho lá cà chua rụng rất nhanh

– Biện pháp phòng trừ: Thu gom và tiêu hủy toàn bộ tàn dư cây trồng và làm sạch cỏ dại sẽ giảm được mật độ sâu. Cày đất kỹ, phơi đất trước trồng để tiêu diệt nhộng . Sử dụng bẫy bả chua ngọt để dẫn dụ và tiêu diệt trưởng thành.

– Trưởng thành giao phối và đẻ trứng ban đêm, thích mùi chua ngọt. Đẻ trứng rời rạc thành từng quả trên mặt đất. Sâu non mới nở gặm lấm tấm biểu bì lá cây, sâu lớn tuổi sống dưới đất, ban đêm bò lên cắn đứt gốc cây. Sâu đẫy sức hoá nhộng trong đất. Sâu xám phát sinh trong điều kiện thời tiết lạnh, ẩm độ cao, chủ yếu phá hại khi cây còn nhỏ.

– Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh đồng ruộng, làm đất kỹ trước khi trồng.

Phần IV. Bệnh hại và biện pháp phòng trừ:

1. Bệnh chết cây con trong vườn ươm:Do nấmvà Pythium sp. Rhizoctonia solani , Phytophthora pesrasitica

Bệnh chỉ xuất hiện phổ biến quanh khu đất trồng cây con, phần thân dưới thối khô có màu nâu sẫm đến đen. Sự thối thường giới hạn ở phần ngoài của thân và các cây bị nhiễm có thể bị đổ hoặc hơi thẳng nhưng lá bị rũ, xám bóng và có màu xanh lục. Những cây bị nhiễm sẽ còi cọc và chết.

Bệnh chết cây con do các loại nấm Pythium sp., Phytophthora pesrasitica và Rhizoctonia solani. Nấm gây bệnh tồn tại trong đất, thích hợp với ẩm độ và nhiệt độ cao. Nấm Rhizoctonia solani thích môi trường khô hơn nấm Pythium sp.

– Biện pháp phòng trừ: Tránh đặt vườn nơi bị che quá tối hay ẩm ướt, vệ sinh vườn ươm, tiêu hủy tàn dư cây trồng định kỳ, không bón phân đạm khi vườn cây có triệu chứng nhiễm bệnh. Canh tác trên đất thoát nước tốt.

– Có thể sử dụng các loại thuốc: Chitosan: (Tramy 2SL)…; Kasugamycin (min 70 %): (Bisomin 2SL, Grahitech 2SL, Kamsu 2SL), Ningnanmycin (Diboxylin 2 SL) … để phòng ngừa.

– Triệu chứng, nguyên nhân, điều kiện phát sinh phát triển bệnh: Bệnh gây hại trên các bộ phận của cây như: Lá, thân, rễ, hoa, trái.

Trên lá: Lúc đầu là một đốm nhỏ màu xanh tái hơi ướt, không có ranh giới rõ rệt ở mép lá. Sau lan vào phía trong phiến lá thành vết lớn, màu nâu đen, có ranh giới rõ rệt. Mặt dưới lá có lớp trắng xốp, bệnh nặng toàn bộ phiến lá bị khô.

Trên thân cành: vết bệnh lúc đầu có hình bầu dục nhỏ, sau lan rộng bao quanh thân làm thân thối mềm, úng nước và dễ gãy.

Trên hoa: vết bệnh màu nâu hoặc nâu đen ở đài hoa, sau đó lan rộng làm cho hoa bị rụng. Trên quả: vùng nhiễm bệnh có màu nâu đậm, cứng và nhăn. Khi trời ẩm ướt làm cho quả bị thối.

Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết ẩm, mát, nhiệt độ 18-22 0 C.

– Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, trồng cây giống khoẻ, sạch bệnh, nên trồng thưa hơn trong mùa mưa và làm giàn cẩn thận, định hình chùm hoa chùm quả. Bố trí hướng luống theo đông tây tạo điều kiện cho ánh nắng xuyên vào nhanh làm ráo những giọt sương trên lá ngăn ngừa bào tử nảy mầm.

+ Biện pháp hóa học: Luân phiên sử dụng một số loại thuốc sau để phòng trừ: (Ridomil gold 68WP), Zineb (Tigineb 80WP, Zineb Bul 80WP), Mancozeb 640g/k Azoxystrobin 200g/l + Difenoconazole 125g/l: (Amistar top 325SC); Mandipropamid 40g/l + Chlorothalonil 400g/l (Revus opti 440SC). + Metalaxyl – M 40g/kg

3. Bệnh héo rũ: Có 3 loại hình héo rũ trên cây họ cà do 3 loại nấm khác nhau gây ra; Héo rũ chết vàng; Héo rũ lở cổ rễ; Héo rũ trắng gốc. Các loại bệnh này là loại bệnh nguy hiểm gây thiệt hại đáng kể cho người sản xuất.

Héo rũ chết vàng: (Fusarium oxysporum Bệnh thường thể hiện triệu chứng thối gốc, phá hại các giai đoạn sinh trưởng của cây. Cây bệnh lá bị héo vàng rồi khô chết. Phần giáp vết bệnh có màu nâu hay màu xám nham nhở. Thân giáp mặt đất thường khô tóp và có màu vàng nhạt, ranh giới không rõ ràng. Trên vết bệnh có lớp nấm trắng mịn, phớt hồng.

Nấm phát triển nhanh ở nhiệt độ 25-30 0 C, ruộng đất cát, chua, thiếu đạm và lân thường bị bệnh nhiều.

Héo rũ lở cổ rễ (Rhizoctonia solani) Bệnh phá hại ở rễ, mầm, củ và thân. Khi nấm xâm nhập vào củ thì làm cho củ không nảy mầm được, hoặc cây con bị héo rũ ngay. Rễ và thân giáp mặt đất có nhiều u sần sùi, vết bệnh có màu nâu bao quanh, sau đó bị thối. Nếu trời ẩm ướt thì trên vết bệnh có lớp nấm trắng ngà.

Nhiệt độ thích hợp để nấm phát triển là 20-25 0 C.

Héo rũ trắng gốcBệnh xuất hiện ở các giai đoạn sinh trưởng của cây và gây hại trên thân, gốc sát mặt đất. Vết bệnh ở gốc có màu nâu nhạt và thường có tản nấm trắng xốp. Bệnh thường làm mục nát lớp vỏ bao quanh thân, nấm nảy mầm thích hợp ở nhiệt độ 25-30 (Sclerotium rolfsii): 0 C.Bệnh phát sinh gây hại nặng trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao.

– Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, chọn giống sạch bệnh, luân canh với các cây trồng khác họ, không tưới nước quá ẩm, trồng cây trên những chân đất cao ráo, dễ thoát nước. Xử lý đất bằng Sunfat đồng (3kg/1000m 2).

Biện pháp hóa học: Sử dụng luân phiên các loại: Cytokinin: (Geno 2005 2SL),…; Garlic oil 2% + Ningnanmycin 3%: (Lusatex 5SL)…; Kasugamycin: (Bisomin 2SL),…; Ningnanmycin: (Diboxylin 2SL, Molbeng 2SL, Bonny 4SL).

– Triệu chứng của bệnh là cây héo đột ngột mà lá không chuyển màu vàng. Lõi cây và rễ bị úng nước và sau đó chuyển màu nâu, đôi khi lõi cây trở nên rỗng, rễ mọc ra từ thân cây. Quá trình chuyển màu vàng và thối rễ, số lá khô và héo tăng cho đến khi cây chết. Khi thân hoặc rễ mới bị nhiễm bệnh bị cắt chéo và ấn mạnh gần miệng cắt có thể thấy dịch vi khuẩn màu xám sau chuyển sang màu vàng. Chất này có chứa nhiều vi khuẩn.

Bệnh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra. Vi khuẩn phát triển mạnh ở nhiệt độ 30-35 0 C, vi khuẩn tồn tại trong đất, tàn dư cây trồng, một số loài cỏ dại và trong nước. Vi khuẩn có thể lan truyền qua hạt giống, cây giống bị nhiễm hoặc dao cắt và các dụng cụ khác, dễ dàng xâm nhập vào cây qua các vết thương cơ giới.

– Biện pháp phòng trừ: Sử dụng các giống cà chua ghép, t hường xuyên thu gom tiêu hủy các cây bệnh trên vườn, luân canh với cây trồng khác họ. Tăng cường phân hữu cơ cho cây khỏe để tăng khả năng chống chịu bệnh của cây.

Các dụng cụ như dao, kéo tỉa cành bấm ngọn cần thiết phải khử trùng liên tục nếu trên ruộng đã xuất hiện bệnh. Ruộng trồng cà chua phải bằng phẳng, bởi vì vi khuẩn sẽ lây lan theo dòng nước trong đất, khi tưới hoặc mưa. Thường đất pha cát, nghèo dinh dưỡng bị bệnh nặng hơn các chân đất khác.

Không trồng cà chua trên đất đã bị nhiễm bệnh nặng.

Biện pháp hóa học: Có thể sử dụng các loại thuốc sau Ningnanmycin: (Ditacin 8 L); Oxytetracycline 50g/kg + Streptomycin 50 g/kg: (Miksabe 100WP); Oxytetracycline hydrochloride 55% + Streptomycin Sulfate 35%: (Marthian 90SP); Streptomycin sulfate: (BAH 98SP) Bacillus subtilis: (Biobac 50WP).

– Bệnh gây hại trên lá, thân và quả từ khi cây còn nhỏ đến lúc thu hoạch. Trên lá vết bệnh là những vết nhỏ trong mờ dạng giọt dầu, sau chuyển màu nâu đen, xung quanh màu vàng. Phần giữa đốm bệnh khô dần và thường bị rách. Trên thân vết bệnh có màu xanh tối, không có hình dạng nhất định, nhìn hơi ướt, về sau chỗ vết bệnh có màu nâu và khô đi. Trên quả vết bệnh là những đốm nhỏ, màu nâu đen, ướt, hơi nhô lên mặt quả còn xanh. Trên quả chín bệnh tạo thành những quầng màu xanh đậm, ướt, đường kính 3-6mm, bề mặt vết bệnh bị loét và sần sùi, chỉ ờ vỏ mà không ăn sâu vào trong quả, về sau bị khô dễ bong tróc ra. Vi khuẩn phát triển mạnh nhiệt độ 30 0 C, tồn tại trong hạt giống, trong đất.

– Biện pháp phòng trừ: Tương tự bệnh héo rũ vi khuẩn

6. Bệnh đốm vòng ( Alternaria solani)

– Bệnh gây hại các giai đoạn sinh trưởng và trên các bộ phận của cây.

Trên lá: Vết bệnh thường xuyên xuất hiện ở các lá già phía dưới, sau lan dần lên các lá trên, vết bệnh hình tròn và có cạnh, màu nâu sẫm, trên đó có các vòng tròn đồng tâm, màu đen.

Trên quả: Vết bệnh xuất hiện đầu tiên ở cuống hoặc tai quả, hình tròn màu nâu sẫm, hơi lõm xuống và có vòng đồng tâm màu đen.

Trên thân: Vết bệnh màu nâu, hơi lõm và có đường tròn đồng tâm.

Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao. Nấm tồn tại trên tàn dư cây trồng ít nhất là một năm.

– Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, lên luống cao thoát nước tốt, khi cây bị bệnh không nên tưới nước vào lúc chiều mát. Bón phân cân đối và đầy đủ, hạn chế bón phân đạm và tăng lượng phân kali khi cây bị bệnh. Trồng đúng khoảng cách, làm giàn đỡ cho cà không bị ngã xuống.

+ Biện pháp hóa học: Sử dụng các loại thuốc như: Azoxystrobin 200g/l + Difenoconazole 125g/l (Amistar top 325SC), Azoxystrobin (Amistar 250 SC), Azoxystrobin 60g/l+Chlorothalonil 500g/l (Ortiva 560SC); Chlorothalonil (Arygreen 75WP, Forwanil 50SC), Copper Oxychloride (PN-Coppercide 50WP).

7. Bệnh xoăn lá:

– Triệu chứng:

Có rất nhiều loài virus gây hại trên cà chua: TMV ( Tobacco mosaic virus), CMV ( Cucumber mosaic virus), PVX ( potato virus X), PVY ( potatovirus Y), TEV ( tobacco etch virus), PLRV ( potato leafroll virus), TSWV ( tomato spotted wilt virus), TBB ( tomato big+bud mycoplasma), TLCV ( tomaot leaf curl virus), TYLCV ( tomato yellow leaf curl virus), ToMoV ( tomato mottle virus), VTMoV ( Velvet tobacco mottle virus),…

Tại Lâm đồng, bệnh thường phát sinh và gây hại nặng trong điều kiện vụ mùa khô.

Cây cà chua bị nhiễm virus xoăn lá, cà chua sẽ phát triển chậm chạp và trở nên còi cọc hoặc lùn… Cây sinh trưởng chậm, lá biến dạng xoăn vào trong hướng lên trên, lá có thể biến màu vàng hoặc nhợt nhạt, có khuynh hướng nhỏ lại về kích cỡ, số hoa và chùm hoa giảm về số lượng và kích cỡ, trái nhỏ và giảm đáng kể về chất lượng, trái có thể chín sớm hoặc không chín (sượng trái), năng suất giảm rõ rệt. Tuỳ thuộc vào loài virus gây hại thể hiện triệu chứng điển hình. Nếu cây bị hại do nhiều loài virus, triệu chứng khó có thể phân biệt rõ rệt.

Ngoài triệu chứng lá bị xoăn còn có các dạng đặc trưng sau:

+ Lá khảm (TMV/CMV): Có những đốm biến màu xanh nhạt hoặc xanh vàng rải rác.

+ Lá dạng dương xỉ (CMV gây hại riêng lẻ hoặc kết hợp với TMV): Phiến lá giảm gần nửa chiều rộng, có khuynh hướng dài ra như lá dương xỉ, các gân lá nổi lên rõ rệt.

+ Lá đốm sọc (TMV): Có những đốm màu nâu cả trên các lá bị nhăn nhúm, đốm sọc dài đậm trên cuống lá hoặc thân.

+ Lá đốm héo (TSWV): Lá non quăn xuống ngay khi bị nhiễm bệnh, cây ngưng phát triển, lá xuất hiện màu đồng hung hoặc các đốm vòng màu nâu đồng.

+ Lá khảm sần sùi: Lá nhăm nhúm và phồng trên mặt lá, cây khằng lại, nhợt nhạt.

+ Ngọn: (TLCV) chùn ngọn, (TLYCV) vàng lá, chùn ngọn.

– Các triệu chứng trên quả:

+ Khô chùm hoa, chùm quả (TMV): Quả thụ phấn, thụ tinh kém.

+ Quả biến màu đồng đỏ: Triệu chứng nghiêm trọng nhất do TMV, những đốm màu nâu đồng phát triển bên cuống trái tạo thành những đốm xuất hiện trên trái non.

+ Đốm sọc (do TMV kết hợp với virus X): Những đốm màu nâu sáng đến đỏ đồng.

+ Đốm vằn (TSWV): Trái chín không đều, nhợt nhạt, thường màu vàng tương phản với màu chín đỏ với các đốm tròn riêng biệt hoặc các vằn bất thường.

+ Khảm trái: Có các vân như cẩm thạch với các vùng vỏ mỏng.

+ Trái sượng: Trái không chín hoặc bị sượng.

– Các triệu chứng trên hạt, cây con:

TMV lan truyền qua hạt giống, cây con ngưng phát triển, lá hẹp lại với các dạng khảm vằn hoặc biến màu, nhăn nhúm.

– Nguyên nhân lây nhiễm: Do nhi ều tác nhân virus gây ra , Virus bệnh xoăn lá cà chua ở trong cây nhiễm bệnh có thể biểu hiện hoặc không biểu hiện triệu chứng. Virus bệnh xoăn lá cà chua lây nhiễm vào cây khoẻ qua côn trùng môi giới, hoặc lây lan cơ giới qua đất, hạt giống, tàn dư thực vật, cỏ dại, công cụ lao động, tay người làm vườn tuỳ theo loài virus:

+ TMV; TMV; + PVX: Lây nhiễm cơ giới bởi tay, dụng cụ, quần áo lao động trong quá trình chăm sóc, hạt giống, sản phẩm thuốc lá khô, cỏ dại lâu năm, tàn dư thực vật.

+ CMV; CMV + PVX; PVY; TEV; TAV: Lây lan bởi rệp, không bền vững, cơ giới bởi tay trong quá trình chăm sóc.

+ PMV: Lây lan cơ giới.

+ TSWV: Ly lan bởi bọ trĩ.

+ TYLCV, TLCV: Lây lan bởi bọ phấn, không lây lan qua hạt giống.

+ VTMoV: Bọ cưa ( Cyrtopeltis nicotianae), không lây lan qua hạt giống.

Các cây ký chủ phổ biến của loài virus xoăn lá cà chua: cà chua, thuốc lá, cà bát, ớt, các loại cà dại, khoai tây, dưa chuột, dưa hấu, ớt, cà chua, cần tây, đậu, chuối, các cây họ cà, cây hoa, cây cảnh…

– Các biện pháp phòng trừ

Biện pháp canh tác: Chọn các giống cà chua ít nhiễm bệnh xoăn lá virus, chống chịu được sâu bệnh, thích nghi với điều kiện địa phương. Phủ nilon màu xám bạc để giữ ẩm, hạn chế dinh dưỡng bị rửa trôi, hạn chế cỏ dại, sâu bệnh. Nếu không phủ nilon sau trồng nên phủ 1 lớp cỏ tranh hoặc rơm rạ mỏng trên mặt luống. Bón phân theo quy trình sản xuất cà chua an toàn. Thu gom và tiêu hủy tàn dư trước khi trồng và định kỳ 7-10 ngày sau khi trồng.

Vệ sinh công cụ (dao, kéo) bằng xà phòng trước và sau mỗi lần cắt tỉa lá, cành. Trình tự thao tác đúng: Cắt tỉa cây khỏe trước, cây bệnh sau.

B iện pháp vật lý: Dùng bẫy dính màu vàng (kích thước bẫy 20x30cm, đặt bẫy so le 3m/cái) để thu hút con trưởng thành các côn trùng bọ trĩ, bọ phấn. Dùnggiấy bạc treo trên ngọn cây tạo ánh sáng phản xạ xua đuổi côn trùng chích hút, dùng lưới côn trùng bảo vệ vườn trồng.Dùng lưới quây xung quanh vườn với chiều cao 1,8-3,5m (nơi ánh sáng ít, gió yếu quây lưới thấp 1,8m).

B iện pháp hóa học : Sử dụng thuốc hóa học theo phương châm “hạn chế, làm chậm sự tấn công của côn trùng chích hút vào vườn cà chua”. Quản lý tốt các loại môi giới truyền bệnh như bọ trĩ, bọ phấn, rầy rệp.

Các loại thuốc phòng trừ: Cytosinpeptidemycin (Sat 4AS), Ningnanmycin (Ditacin 8SL, Somec 2SL) để tăng khả năng chống chịu bệnh của cây.

8. Tuyến trùng hại rễ:

– Triệu chứng gây hại: Tuyến trùng chích hút rễ của nhiều loại cây làm cho rễ cây phình ra tạo ra các khối u của rễ, làm cây phát triển chậm, còi cọc, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn tấn công như vi khuẩn gây bệnh héo xanh.

Tuyến trùng là những con giun nhỏ sống trong đất, có thể di chuyển một khoảng cách ngắn. Tuy vậy, biện pháp lan truyền quan trọng nhất là chúng ở trong đất bám vào chân người, súc vật, dụng cụ làm ruộng v.v… Tuyến trùng cũng có thể lan truyền theo dòng nước tiêu, cây giống, phân bón.

Biện pháp canh tác: Tăng cường bón phân ủ vào ruộng sẽ tăng lượng vi sinh vật đối kháng với tuyến trùng hại rễ. Luân canh với cây hành và một số cây trồng ít nhiễm tuyến trùng.

Biện pháp hóa học: Xử lý đất bằng Chitosan: Stop 5 DD…; Cytokinin: Geno 2005 2 SL, Sincocin 0.56 SL, Paecilomyces lilacinus: Palila 500WP (5 x 10 9 cfu/g)…

Phần V. Thu hoạch, phân loại và xử lý bảo quản sau thu hoạch:

– Khi quả cà chua đã đẫy, vỏ quả căng, bóng láng chuyển từ xanh sang màu đỏ là quả đã chín có thể thu hoạch. Thu hái quả và xếp vào sọt nhẹ nhàng, tránh dập quả. Để riêng những quả bị bệnh hay bị tổn thương.

– Sản phẩm thu hoạch không bị dính đất, cát, đưa vào két nhựa hoặc giỏ tre theo yêu cầu khách hàng.

Quy Trình Kỹ Thuật Gieo Ươm Cây Ớt Cay Và Cà Tím Trong Nhà Màng

Quy trình gieo ươm cây ớt và cà tím này áp dụng tại tỉnh An Giang với điều kiện nhà màng cần có khung sườn bằng tầm vông; mái phẳng; độ cao đến đỉnh mái 6,2m; khoảng hở thoát nhiệt cũng là độ lệnh 2 mái rộng 0,5m; mái lợp bằng màng nylon chuyên dụng.

Hông nhà cao 4,5 m, lợp lưới trắng mịn, 54 meshes, cố định và bên ngoài có 1 lớp tưới trắng chống tạt mưa, 54 meshes, chỉ cố định mép trên. Trong nhà có trần (la phông) bằng lưới đen để che 30% nắng. Bên dưới trần có hệ thống tưới phun sương để phun giảm nhiệt khi trời nóng.

Khi gieo và chăm sóc cây giống có thêm vật liệu phủ để che mát và giữ ẩm vỉ bằng vải tối màu, dày, giữ ẩm tốt. Trong nhà có các luống rộng 2,5m, trên mặt luống có căng dây đỡ vỉ, cách mặt đất 20cm; mỗi luống xếp 5 hàng vỉ. Lối đi giữa các luống 30cm.

Việc gieo ươm cây trong quy trình này sử dụng vỉ ươm bằng vỉ xốp, 112 lỗ/vỉ, với giá thể tự sản xuất theo hướng dẫn của quy trình.

Nếu có điều kiện, các lối đi trong nhà màng và đường dẫn ra vào nhà màng đổ bê tông cho sạch.

1. Chuẩn bị luống đặt vỉ

Từ khi gieo hạt đến khi xuất vườn, các vỉ ươm sẽ có 1 lần chuyển chỗ. Do vậy cần chuẩn bị không gian đặt vỉ theo 2 giai đoạn như sau:

– Khu vực đặt vỉ mới gieo: cần các luống đất, phẳng mặt, rộng 2,5m. Hai luống cách nhau bằng lối đi rộng 30cm, thấp hơn mặt luống 10cm. Bên dưới lớp lưới la phông cần có thêm 1 lớp che mát nữa, có thể bằng lưới đen che hoa lan (che 70% ánh sáng) hoặc vải dày, tối màu. Vỉ đặt sát mặt đất. Mùa mưa ẩm, có thể kê vỉ trên hàng cây tầm vông (vỉ cách đất 5-6cm). Cây ở đây khoảng 12-15 ngày.

– Khu vực đặt vỉ chăm sóc cây đến xuất vườn: 12-15 ngày sau khi hạt nảy mầm vỉ được chuyển sang các luống có dàn dây thép đỡ. Các luống cũng có quy cách như trên nhưng có giàn dây thép đỡ vỉ. Bên dưới la phông có thể có hoặc không có thêm 1 lớp che mát cơ động. Nếu trời nắng nhiều, khô, nóng thì cần thêm 1 lớp lưới nữa. Nếu trời âm u, mát thì không cần. Các vỉ được đặt ở đây để chăm sóc đến xuất vườn.

Cách làm dàn dây thép đỡ vỉ: Theo chiều dọc luống, căng 10 hàng dây thép đường kính 2mm, cách mặt đất 20cm để đỡ 5 hàng vỉ. Cứ 2 đường dây thép tạo thành 1 cặp, đỡ vào vị trí cách mép vỉ 5cm. Hai đầu dây thép cột vào cọc đóng chắc xuống đất. Khoảng giữa 2 đầu cọc dùng các viên gạch 4 lỗ (gần 20cm) chống lên.

2. Chuẩn bị giá thể

Nguyên liệu cần có: Đất bột, phân bò hoai mục, mụn xơ dừa, phân vi sinh, tro trấu và tricoderma.

Thành phần và tỷ lệ phối trộn tạo giá thể: đất bột (20% thể tích + mụn xơ dừa (40% thể tích) + tro trấu (30% thể tích) + phân bò hoai mục (10% thể tích). Cứ 1 m3 giá thể trộn 30 kg phân hữu cơ vi sinh và 2 kg Tricoderma

Làm giá thể

Có thể đếm bao hoặc đổ đống tạo hình khối để đo thể tích của tro trấu, mụn dừa và đất rồi trộn theo tỷ lệ nói trên. Tricoderma trộn vào phân hữu cơ vi sinh được rải, trộn đều vào giá thể. Vừa trộn vừa tưới đủ ẩm (nắm chặt thấy mát tay, không có nước rỉ ra). Sau khi trộn đều, tạo đống, ủ 5-7 ngày bằng cách dùng bao bì hay vật liệu tương tự trùm kín.

Sau ủ như trên, đánh ra, trộn đều, bóp vụn rồi đem dùng. Nếu có điều kiện thì dùng máy đánh tơi và sàng. Khi chưa có máy nên dùng khung lưới sàng như sàng cát.

3. Gieo ươm và quản lý nảy mầm

Xử lý hạt giống trước khi gieo

Thông thường để kích thích hạt nảy mầm nhanh và đều thì hạt ớt (hoặc cà tím, cà chua) nên ngâm ủ trước. Cách làm: ngâm hạt trong nước ấm (2 sôi, 3 lạnh) khoảng 12 giờ, vớt ra rửa sạch nhớt rồi ủ ấm hạt cho tới gần nứt nanh thì đem gieo.

Vào giá thể và gieo hạt

Dùng vỉ 112 lỗ để ươm. Đặt vỉ cạnh đống giá thể, dùng tay gạt, khỏa giá thể đầy vỉ. Đưa các vỉ này vào nơi chuẩn bị gieo hạt. Dùng chổi quét sạch mặt vỉ. Tưới nước đủ ẩm vỉ. Dùng bàn tạo lỗ ấn, tạo lỗ từng vỉ. Gieo mỗi lỗ 1 hạt. Rải nhẹ một lớp giá thể để lấp hạt và dùng tay khỏa bằng. Xếp vỉ vào luống ở khu vục đặt vỉ mới gieo, tủ kín vải.

4. Chăm sóc, tưới nước

Ở khu vưc mới gieo

Hàng ngày tưới nước đủ ẩm.Tốt nhất là dùng bình bơm hoặc máy phun nước áp lực cao gắn vòi phun nước mịn để tưới. Thường chỉ cần tưới mỗi ngày 1 lần, tùy thực tế miễn thấy giá thể đủ ẩm. Khi thấy có mầm trắng đội lên thì gỡ lớp vải phủ. Chăm sóc ở đây đến khoảng 12-15 ngày thì chuyển sang khu vực giàn để chăm sóc. Tại đây cần chú ý có thể có bệnh lở cổ rễ gây hại.

Ở khu vực vỉ đã lên giàn

Đồng thời với việc đưa xếp vỉ lên giàn là việc dồn cây cho đủ mật độ. Tức là, lấy cây, cả bầu ở 1 vỉ khác thay vào những chỗ thiếu cây để mỗi vỉ đảm bảo có 112 cây. Hàng ngày tưới nước đủ ẩm. Mỗi ngày nên tưới 2 lần, sáng và chiều. Khi cây đã lớn, nếu ít thì dùng thùng sa, nếu nhiều thì dùng máy bơm gắn ống nhựa dẻo có gương hoặc dùng máy bơm áp lực cao gắn vòi phun mịn để tưới. K inh nghiệm dùng gương sen mua ở Lâm Đồng là tốt nhất.

Chú ý phải tưới cây con bằng nước sạch. Tốt nhất là nước giếng khoan đã được bơm lên chứa trong bể chứa vài ngày. Ở khu vực này có thể có ít sâu, bệnh, chú ý bọ trĩ, nhện đỏ.

5. Bón phân

Trong khoảng 15-20 ngày sau gieo quan sát tình trạng cây tốt hay xấu để điều chỉnh. Nếu cây xấu, tưới bổ sung phân hóa học, dùng DAP (18-46-0), ngâm nước cho tan rồi pha loãng để tưới. Nồng độ để tưới là 0,3-0,5%, tức 300g đến 500g phân pha 100 lít nước (tùy mức độ xấu của cây). Nên dùng bình xịt hoặc máy phun áp lực cao có đầu vòi tạo nước dạng hạt mịn để phun ướt giá thể. Có thể pha thêm K-humat hoặc Atonik vào vào dung dịch DAP nói trên (theo hướng dẫn trên bao bì). Nếu cây có khả năng quá tốt, quá mập thì giảm nước tưới để hãm cho cây cứng lại.

6. Phòng trừ sâu bệnh hại

Nói chung, sâu bệnh trong vườn ươm không nhiều như ngoài ruộng và dễ phòng trị.

6.1. Các loại bệnh chính và cách phòng trị

Ở vườn ươm thường gặp các loại bệnh do nấm gây nên và nhiều nhất là lở cổ rễ, chết rạp cây con do các nấm Pythium, Rhzoctoinia, Fusarium, Sclerotium, trong đó nhiều nhất do Pythium. Đôi khi cũng có bệnh thán thư gây hại sớm.

Trong phần chế biến giá thể có hướng dẫn dùng phân vi sinh. Trường hợp không có phân vi sinh có thể sử dụng Tricoderma hoặc chế phẩm vi sinh TKS Pseudomonas trộn vào giá thể. Nếu sản xuất lâu ngày, áp lực bệnh nhiều, để tăng khả phòng bệnh nên phun bổ sung tricoderma, hoặc chế phẩm nói trên ngay khi vừa gieo hạt.

Trong những trường hợp bệnh hại nặng có thể dùng một trong các loại thuốc sau để hạn chế bệnh lây lan như: Rovral, Ridomil MZ, Viroval, Hạt vàng, Carbendazim, Benlat… (dùng đối với bệnh do nấm Sclerotium rolfsii); Aliette, Ridomil, Phosacide… (dùng đối với bệnh do nấm Phytophthora capsici); Validacin (đối với bệnh do Pythium).

Các loại bệnh khác, nếu có, phòng trừ phù hợp từng đối tượng.

6.2 Các loại sâu hại chính và cách phòng trừ

Trong vườn ươm thường có rệp, bọ trĩ, nhện đỏ, ít khi gặp sâu vẽ bùa (ruồi đục lá), sâu tơ, sâu đàn.

– Rệp, bọ trĩ, nhện đỏ thường bám và chích hút mặt dưới lá. Khi phát hiện dùng Actara, Biohopper hoặc Almat phun theo nồng độ hướng dẫn.

– Ruồi đục lá: Khi phát hiện, phun Trigard hoặc thuốc có hoạt chất tương tự

-Sâu tơ, sâu đàn: Khi phát hiện dùng Oshin, Takumi 20WG, Ammate150SC kết hợp với thuốc Binhtox 1.8 E, Sherzol 205 EC, Biocin 16 WP, Secsaigon 10EC.

7. Luyện cây, xuất vườn

Theo tập quán sản xuất tại An Giang, cây ớt giống đạt các chỉ tiêu: cao 20-21cm, đường kính thân 3 mm, có 5-6 lá là phù hợp để trồng. Như vậy sau khi gieo khoảng 32-35 ngày thì cây đạt tiêu chuẩn này. Cây cà tím cũng tương tự, cao 15-17cm, đường kính thân 3mm, có 5- 6 lá.

Trước khi xuất vườn 5- 7 ngày giảm nước tưới từ từ đến mức khi còn 2 ngày nữa cây bắt đầu chớm héo thì tưới nhẹ trở lại, để cây không chết, nhưng vẫn ở tình trạng thiếu nước. Luyện như vậy cây sẽ cứng cáp, khi trồng ra ruộng cây mau bén rễ, tỷ lệ cây sống sẽ cao. Mặt khác, giảm tưới, giá thể co lại sẽ dễ lấy cây ra khỏi vỉ.

Đề đảm bảo cây sạch sâu bệnh khi khi xuất vườn, trước khi xuất 2-3 ngày phun cho cây giống 1 lần hỗn hợp thuốc sâu và bệnh có thể gồm Dithan và Antracol.

Để chuyển cây giống đi xa nên dùng các thùng giấy, xếp cây. Cũng có thể dùng các túi xốp nếu chuyển gần hoặc số lượng cây ít.

8. Giảm nóng trong nhà màng

Những tháng nóng, khô như tháng 4 hàng năm, có ngày nhiệt độ trong nhà và ngoài trời có thể đến 40 độ C, độ ẩm không khí còn dưới 50%. Những ngày nóng, khô cần can thiệp để giảm nóng, tăng độ ẩm trong nhà màng bằng tổng hợp các biện pháp sau đây:

Sáng sớm tưới thật đẫm cho cây và cho cả vùng đất trống trong nhà. Bổ sung thêm lớp che nắng. Che 2-3 tầng cho mỗi khu vực tùy tuổi cây, trong đó cây lớn (trên 20 ngày tuổi) có thể che còn 50% ánh sáng; cây nhỏ tuổi hơn có thể che còn 20-30% ánh sáng;các vỉ mới gieo hạt cần phủ vải ẩm hoàn toàn.

Khi trời bắt đầu nắng lên, thường 8 giờ sáng, bắt đầu phun nước bằng hệ thống phun mù, cứ 30-60 phút một lần, mỗi lần khoảng 5 đến 6 phút, khi thấy trong nhà mát thì thôi. Làm như vậy, môi trường nhà kính hoàn toàn an toàn cho cây.

9. Vệ sinh vỉ và nhà màng

Vệ sinh vỉ

Sau mỗi vụ ươm, cần phơi vỉ, vỗ cho rơi hết tàn dư vụ trước. Sau 2-3 vụ nhúng vỉ vào nước booc đô nhằm diệt mầm mống bệnh, để cho khô vỉ rồi dùng.

Cách pha booc đô: dùng 80 lít nước pha 1 kg sulfast đồng vào 1 thùng nhựa, dùng 20 lít nước pha 1kg vôi củ hoặc bột loại tốt vào 1 thùng khác. Đồ từ từ dung dịch đồng vào nước vôi, vừa đổ vừa khuấy.

Vệ sinh nhà màng

Nhà màng cần được chú ý giữ sạch sẽ, không để cỏ dại, không trồng lấy quả ớt, cà tím, cà chua trong nhà màng vì dễ nhiễm bệnh cho cây con. Khoảng 3 tháng 1 lần rải vôi mặt luống để khử trùng. Hạn chế người lạ, người từ các ruộng rau vào nhà màng. Đặc biệt chú ý không để các tàn dư cây giống trong nhà, bỏ xa hoặc chôn sâu cây giống hư, thải loại. Chăm sóc nhà màng, sửa lại những chỗ hư hỏng. Khi lưới trắng bẩn nhiều nên phun nước xịt rửa./.

Theo Trung tâm Nghiên cứu Chuyển giao TBKT Nông nghiệp

Quy Trình Kỹ Thuật Canh Tác Cây Cà Rốt

Loading…

  

I – Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh:

Cà rốt là cây chịu lạnh. ở nhiệt độ 80C hạt có thể nảy mầm sau 20-25 ngày, còn ở nhiệt độ thích hợp 20 – 25 0C nảy mầm sau 5-7 ngày. Nhiệt độ trung bình cho cây sinh trưởng và hình thành củ 20 – 22 0C, ở nhiệt độ 25 0C củ phát triển yếu, hàm lượng vitamin A giảm.

Cây cần có ánh sáng ngày dài, ở điều kiện ngày ngắn (dưới 10 giờ chiếu sáng) không những cây kém phát triển mà năng suất giảm so với điều kiện cần thiết (trên 12 giờ chiếu sáng/ngày). Ở giai đoạn cây con, cây cần cường độ ánh sáng mạnh. Vì vậy, khi ở giai đoạn này, cần làm sạch cỏ trên luống để tập trung ánh sáng cho cây.

Độ ẩm: Chế độ nước cho cà rốt tương đối khắt khe. Thiếu nước củ sẽ nhỏ, nhánh phân nhiều. Nếu độ ẩm đất quá cao, củ dễ bị bệnh và bị nứt cũng làm giảm chất lượng sản phẩm. Độ ẩm đất thích hợp 65-70%.

Đất: Là cây rễ củ nên cà rốt yêu cầu đất tơi xốp, nhiều mùn. Đất có thành phần cơ giới nặng, củ bị ngắn và cũng bị phân nhánh.

II –  Kỹ thuật trồng và chăm sóc:

     1. Giống: Giống hiện nay đang được sử dụng là giống địa phương do nông dân tự sản xuất. Giống này có thời gian sinh trưởng 95-110 ngày, củ dài 18 – 22cm, năng suất 25-30 tấn/ha.

Ngoài ra còn có một số giống nhập nội của các nước Thái lan, Nhật, Pháp, Hà Lan… các giống này củ to, tiềm năng năng suất cao.

     2. Chuẩn bị đất: Đất trồng cà rốt phải tơi xốp, tầng canh tác sâu trên 30cm, khâu chuẩn bị đất cần phải làm kỹ, nên chọn đất có cấu tượng nhẹ, thoát nước tốt.

Vệ sinh đồng ruộng tốt trước khi làm đất. Rải đều phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh và vôi cày kỹ để đảm bảo đất tơi xốp, sâu 25-30 cm. Làm luống gieo 1,4 m cả rãnh, cao 10 cm trong mùa khô, 15 cm trong mùa mưa. Cào phẳng mặt luống. Tưới ẩm đất và phun thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm 4-5 ngày trước khi gieo hạt.

     3. Trồng và chăm sóc:

– Gieo hạt: Dùng hạt giống tốt, chắc, mẩy, có tỷ lệ nảy mầm trên 90%. Ngâm nước ấm (3 sôi/ 2 lạnh) trong 24 giờ và ủ 2 ngày cho nứt mầm. Gieo đều với lượng 12-15 kg /ha. Nên trộn chung với cát sạch hoặc tro bếp để gieo cho đều sau khi đã làm đất. Gieo xong phủ rơm hoặc cỏ khô hoặc lưới nylon 1×1 mm, tưới ẩm mỗi ngày.

Khi cây mọc đều, tỉa bỏ những cây yếu, còi cọc hoặc mọc quá dày. Trước khi bón thúc lần 3, tỉa định cây kết hợp nhổ cỏ với khoảng cách 20 x 20cm vào mùa mưa, 20 x 15cm vào mùa khô.

– Làm cỏ, tưới nước và các biện pháp kỹ thuật khác:

Tưới nước: Sử dụng nguồn nước không bị ô nhiễm, nước giếng khoan, nước suối đầu nguồn, không sử dụng nước thải, nước ao tù, ứ đọng lâu ngày.

 Nếu gieo vào mùa mưa không cần tưới nước, nhưng gieo vào mùa nắng tưới 2 lần/ngày cho tới khi mọc đều, sau đó tùy độ ẩm đất mà tưới cho thích hợp đảm bảo đủ lượng nước cho cây.

Làm cỏ: Cà rốt yêu cầu ánh sáng dài ngày, vì vậy nên làm sạch cỏ luống để tập trung ánh sáng cho cây.

     4. Phân bón và cách bón phân:

Phân bón: Lượng vật tư phân bón tính cho 1 ha/vụ như sau.

– Phân chuồng hoai: 40 m3; Vôi: 800 – 1.000 kg; hữu cơ vi sinh: 1.000 kg.

– Phân hóa học (lượng nguyên chất): 150 kg N – 150 kg P2O5 –  240 K2O.  

Lưu ý: Chuyển đổi lượng phân hóa học qua phân đơn hoặc NPK tương đương:

Cách 1: Ure: 326 kg – Super lân: 937,5 kg – K2SO4: 480 kg;

Cách 2: NPK 15-15-20: 1.000 kg;  K2SO4: 81 kg.

Liều lượng và thời kỳ bón phân cho cây cà rốt:

Loại phân bón

 (ha/ vụ)

Lượng bón (kg/lần bón)

Bón lót

(kg/lần bón)

Bón thúc (kg/lần bón)

20 NST

40NST

55 NST

Phân chuồng

4 m3

4 m3

Vôi

1.000

1.000

Hữu cơ vi sinh

1.000

1.000

Super lân

937,5

637,5

300

Ure

326

76

50

80

120

Kali sulphate

480

180

120

180 

* Bổ sung thêm các loại phân bón lá có chứa đủ các nguyên tố trung vi lượng như: S, Ca, Mg, Mn, Cu, Fe, Mo…sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.

III. SÂU HẠI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

Trên cây cà rốt có các loại sâu chính như: Sâu xám, sâu khoang, rệp muội, sùng đất. Sử dụng các loại thuốc hoá học có hoạt chất như: Abamectin, Cypermethrin, Thiamethoxam, Imidacloprid….để phòng trừ theo liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Đối tượng gây hại mạnh nhất và thiệt hại trên cà rốt chính là tuyến trùng. Tuyến trùng gây hại trên hầu hết các loại cây trồng chúng rất khó phòng trị hiện nay chưa có loại thuốc nào đặc trị để phòng trừ triệt để tuyến trùng. Áp dụng biện pháp canh tác kết hợp với phòng trừ tổng hợp sẽ ngăn chặn và kiểm soát được đối tượng gây hại này.

      1. Triệu chứng gây hại trên cây cà rốt:

 + Củ chỉa: Do điểm sinh trưởng của chóp rễ chính bị tổn thương, tác nhân gây hại chính là tuyến trùng, ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như cấu trúc đất quá cứng chặt, dinh dưỡng không đầy đủ hoặc do côn trùng, nấm tấn công bộ rễ làm cho củ phát triển có nhiều nhánh phụ chẻ đôi, ba…, màu sắc củ không bình thường.

+ Củ mọc lông: Trên trục của củ xuất hiện nhiều rễ phụ dài, bất thường xếp thành hàng hoặc mọc dài tạo thành búi.

+ Củ sần sùi, u sưng: Củ phát triển không bình thường, trên củ xuất hiện nhiều u sưng với các kích thước khác nhau từ nhỏ đến lớn hoặc trên trục của củ phát triển không đều, nhiều chỗ lồi lên làm củ trở nên sần sùi, màu sắc nhạt và tối hơn.

+ Củ nứt: Các vết nứt có thể xuất hiện ngay ở phần tiếp giáp với gốc cây và kéo dài theo trục của củ đến tận chóp củ để lộ ra phần lõi củ, ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cũng như chất lượng củ cà rốt.

+ Củ có dạng hạt đeo trên rễ: Trên củ xuất hiện nhiều rễ phụ dài, trên các rễ phụ có các hạt nhỏ tròn với đường kính khác nhau từ 0.5-1.5mm tùy theo số lượng tuyến trùng kí sinh. Các rễ phụ mọc nhiều, mật độ tuyến trùng ký sinh lớn sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới tốc độ phát triển của củ.

      2. Tác nhân gây biến dạng:

+ Nguyên nhân chính do các loài tuyến trùng gây ra: Pratylenchus sp, Helicotylenchus sp, Meloidogyne sp và Apenlenchus sp.

      3. Phòng trừ:

+ Biện pháp sinh học: Trồng xen cúc vạn thọ để xua đuổi tuyến trùng gây biến dạng củ cà rốt, mật độ trồng từ 10.000 -17.000cây/ha (hàng đơn so le: 0,5 – 0.8m/cây). Tuy nhiên nếu mật độ trồng xen quá lớn sẽ ảnh hưởng tới mật độ trồng cà rốt cũng như khả năng sinh trưởng của những cây bên cạnh vì vậy sẽ làm giảm hiệu quả kinh tế.

Xử lý đất trước khi trồng bằng nấm Paecilomyces lilacinus + Trichoderma .spp (10kg/ha) có thể trộn đều với đất mịn để rải sau khi lên luống và dùng cào trộn đều thuốc vào đất sau đó tưới nhẹ cho đất đủ ẩm, sau 2-3 ngày thì tiến hành gieo hạt.

+ Biện pháp hóa học: Xử lý đất trước khi trồng bằng Etobon 0.56SL (10cc/8lít) + Tachigaren 30L (30ml/20lít), lượng nước thuốc 200-300 lít/1.000m2. Đối với những vườn bị hại nặng cần xử lý 2-3 lần (trước trồng và 7, 14 ngày sau trồng), hoặc sử dụng Sincosin 0.56SL (10ml/8lít) + Agrispon 0.56SL (10ml/8lít). Ngoài ra có thể sử dụng Chitosan (Stop 5DD), Copper citrate (Heroga 6.4SL) để phòng trừ.

IV. BỆNH HẠI:

Bệnh hại trên cây cà rốt gây hại rất mạnh đặc biệt là một số loại bệnh hại làm ảnh hưởng đến năng suất nghiêm trọng nếu không phát hiện và phòng trừ kịp thời.

     1. Bệnh đốm vòng (Alternaria radicirima): Bệnh đốm vòng thường xuất hiện trên những lá già, màu nâu có hình tròn đồng tâm. Trời ẩm ướt trên vết bệnh có lớp nấm xốp màu đen bồ hóng, nấm bệnh phát triển mạnh trong điều kiện ẩm ướt, mưa nhiều.

Sử dụng các loại thuốc trừ nấm như Andoral, Antramix, Andibat, Melody, Novistar, Novinano, Anmisdotop….để phòng trừ.

     2. Bệnh thối nhũn (Erwinia carotovora): Bệnh thường xuất hiện trên đất thịt nặng và đất trồng cà rốt liên tục nhiều vụ. Khi cây bị bệnh, các tế bào trở nên mềm, có nước và nhớt, có mùi lưu huỳnh, vi khuẩn phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ 27-30 0C, pH thích hợp 7,2 tồn tại trên các tàn dư cây trồng và xâm nhập qua vết thương.

Phòng trị bằng các loại thuốc như Kasuramicin, Ningnamicin, Validacin…hoặc các chế phẩm nấm đối kháng Trichodeerma.spp

     3. Bệnh cháy lá, Bệnh thối đen do nấm (Alternaria radicirima), bệnh thối khô do nấm Pronarostrupii sp. gây ra. Các loài nấm này hại cả thân, lá và củ.

Thực hiện phòng trừ bằng các loại thuốc như Plant 50WP, Derosal; Kocide, Cuproxate, Metalaxyl…

(NHT) – PHÒNG KỸ THUẬT – CÔNG TY CỔ PHẦN SOP PHÚ MỸ