Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Bắp Nếp / Top 7 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Kỹ Thuật Trồng Bắp Nếp

KỸ THUẬT TRỒNG NGÔ NẾP LAI ADI600

Ngô nếp lai ADI600 là giống ngô được Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Thương Mại Và Phát Triển Nông Nghiệp ADI nhập khẩu và chọn lọc qua nhiều năm, đây là giống có tiềm năng năng suất cao( từ 18 – 20 tấn bắp tươi/ha), chống chịu sâu bệnh tốt, tỷ lệ nảy mầm cao( đạt trên 90%), cây con khỏe, chất lượng bắp ăn tươi thơm, ngon, dẻo, ngọt… để trồng và chăm sóc ngô nếp lai ADI600 đạt hiệu quả cao người trồng cần quan tâm tới các yếu tố kỹ thuật sau:

ADI600 có thể trồng được nhiều vụ trong năm, tuy nhiên khi trồng cần tránh ngô phân râu trỗ cờ vào thời tiết nắng nóng kéo dài trên 37 0C hoặc lạnh dưới 15 0 C.

– Vụ xuân: thời gian gieo trồng xoay quanh tết lập xuân từ 20/1 – 25/2

– Xuân hè: 10/5 – 25/6.

– Hè Thu: 20/9 – 15/10.

– Để đảm bảo được tỷ lệ nảy mầm cao, khi mua ngô về người trồng cần phơi qua nắng nhẹ nhằm phá sự ngủ nghỉ của hạt.

– Ngâm hạt trong nước ấm 2 sôi 3 lạnh từ 3 – 5h, sau đó ủ trong khăn ẩm hoặc tra trực tiếp xuống đất cát rồi giữ ẩm cho đến khi mầm mọc khỏi mặt đất.

Mật độ, cách thức gieo trồng.

– Để đảm bảo được năng suất cao người trồng cần đảm bảo được mật độ cây cách cây từ 28 – 30cm, hàng cách hàng từ 70 – 75cm.

– Về cách thức gieo: có nhiều hình thức gieo khác nhau, có thể gieo trực tiếp 1hạt/hốc hoặc gieo trong vườn ươm, khi ngô đạt từ 2 -3 lá sẽ đưa ra ngoài ruộng. Đối với việc gieo hạt trong vườn ươm do tốn rất nhiều công chăm sóc nên chỉ áp dụng đối với các giống ngô có tỷ lệ nảy mầm thấp, cây con yếu. Đối với ngô ADI600, do ngô có tỷ lệ nảy mầm cao nên người trồng có thể tra trực tiếp 1 hạt/hốc, cây con lên khỏe, độ đồng đều cao, giảm công chăm sóc đầu vụ.

Lượng bón tùy theo từng chân đất, trên đất trung bình người trồng cần bón:

– Đối với phân tổng hợp

+ Bón lót trước khi trồng: 500 – 600kg/ha NPK(5:10:3)

+ Bón thúc lần 1(khi cây ngô đạt từ 5 – 7 lá): bón 200kg NPK(12:5:10), 25 – 30kg đạm Urea kết hợp cùng với làm cỏ và vui sới gốc ngô.

+ Bón thúc lần 2( khi ngô đang bắt đầu xoáy nõn): Bón 200 kg NPK(12:5:10) kết hợp với 25 – 30kg Kali, kết hợp với vun cao gốc để tránh đổ ngã về sau.

– Đối với phân đơn.

– Cách Bón:

+ Bón lót: Bón toàn bộ phân hữu cơ + 20% đạm urea

+ Bón thúc lần 1( khi ngô được 8 – 15 ngày tuổi): bón 30% lượng Urea + 40% lượng Kaliclorua

+ Bón thúc lần 2( khi ngô được 25 – 30 ngày): bón 50% lượng Urea + 50% lượng Kaliclorua.

+ Bón thúc lần 3( khi ngô được 40 – 45 ngày): bón hết lượng phân còn lại.

Chăm sóc và quản lý dịch hại trên ngô

5.1 Biện pháp chăm sóc

– Đối với gieo hạt bằng hốc, trong 4 – 5 ngày đầu khi ngô chưa bật khỏi mặt đất phải thường xuyên dữ ẩm cho đất để giúp ngô nảy mầm được tốt nhất.

– Khi ngô được 3 – 5 lá thật, cần tiến hành xử lý cỏ dại bằng các loại thuốc trừ cỏ chọn lọc có hoạt chất Atrazine như: Destruc 800WP để giúp quản lý được các loại cỏ khó trừ trên ngô.

– Khi ngô bắt đầu xoắn nõn( khoảng 35 – 40 ngày tuổi), bổ sung nguồn nước, vun gốc để tránh đổ ngã về sau.

5.2 Biện pháp quản lý dịch hại

– Sâu xám:

Sâu xám thường gây hại mạnh ở giai đoạn ngô từ 3 – 10 ngày tuổi. Đối với sâu xám, đây là đối tượng khó trừ nên người trồng cần sử dụng các loại thuốc có tính xông hơi, tiếp xúc và vị độc như Supergun 600EC. Sử dụng ½ lọ Supergun 600EC pha cho bình 16 – 18 lít nước phun vào chiều mát để trừ sâu xám hại ngô đạt hiệu quả cao nhất.

– Sâu đục thân trên ngô

Sâu đục thân thường gây hại mạnh ở giai đoạn 30 – 45 ngày tuổi. Đối với sâu đục thân, người trồng cần điều tra sự phát sinh gây hại của sâu, khi thấy bướm sâu đục thân ngô nở rộ, sau 3 – 5 ngày cần tiến hành phun các loại thuốc có tính nội hấp và lưu dẫn kéo dài như: Kampon 600WP. Sử dụng 3 gói Kampon 600WP pha cho 2 bình 16 – 18 lít nước phun cho 1 sào 360m 2

– Bệnh rỉ sắt

Đây là bệnh gây hại phổ biến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng của người trồng ngô. Khi bệnh chớm xuất hiện cần tiến hành phun phòng bằng các loại thuốc đặc trị như: Athuoctop 480SC, đây là loại thuốc có tính nội hấp và lưu dẫn kéo dài, ngăn ngừa sự xâm nhập và lây lan của bào tử nấm, giúp quản lý được bệnh rỉ sắt đạt hiệu quả cao nhất. Ngoài việc quản lý được nấm bệnh, Athuoctop 480SC còn giúp nuôi dưỡng lá đòng, giúp cây sinh trưởng phát triển được tốt hơn, tạo tiền đề gia tăng năng suất và chất lượng ngô về sau.

Sử dụng 1 lọ Athuoctop 480SC pho cho bình từ 16 – 18 lít nước, phun ướt đều lá ngô vào sáng sớm hoặc chiều mát sẽ quản lý bệnh rỉ sắt đạt hiệu quả cao nhất.

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cây Cải Bắp

1. Đặc điểm thực vật học: Cải bắp có chỉ số diện tích lá cao, hệ số sử dụng nước rất lớn, có bộ rễ chùm phát triển mạnh.

Đặc biệt ở cải bắp khả năng phục hồi bộ lá khá cao. Các thí nghiệm cho thấy, khi cắt 25% diện tích bề mặt lá ở giai đoạn trước cuốn bắp, năng suất vẫn đạt 97-98% so với không cắt. Điều đó khẳng định việc phun thuốc hoá hoá học trừ sâu tơ lứa 1 trong nhiều trường hợp là không cần thiết.

2. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh: Hạt cải bắp nảy mầm tốt nhất ở nhiệt độ 18-20 0C. Cây phát triển thuận lợi nhất ở 15-18 0 C. Độ ẩm đất thích hợp 75-85%, ẩm độ không khí 80-90%. Đất quá ẩm (trên 90%) kéo dài 3-5 ngày sẽ làm rễ cây nhiễm độc vì làm việc trong điều kiện yếm khí.

Đất: Ưa đất thịt nhẹ, cát pha, tốt nhất là đất phù sa bồi, pH: 5,6-6,0.

Do có lượng sinh khối lớn nên cải bắp yêu cầu dinh dưỡng cao. Vì vậy, phải đảm bảo lượng phân bón sao cho cây có trạng thái tốt, chống đỡ sâu bệnh và cho năng suất cao.

Phần II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc:

1. Giống:Tại Lâm Đồng đang trồng một số loại giống bắp cải khác nhau, nhưng chủ lực vẫn là giống Shotgun và Green Nova, ngoài ra, nông dân vẫn canh tác một số giống khác với tỉ lệ thấp như bắp cải tim, bắp cải tím…

Tiêu chuẩn lựa chọn giống xuất vườn:

2. Chuẩn bị đất:

Chọn đất canh tác: Cách xa các khu công nghiệp, bệnh viện, nhà máy, … (không gần nguồn nước ô nhiễm và nước thải của các nhà máy, bệnh viện). Đất tơi xốp, nhẹ, nhiều mùn, tầng canh tác dày, thoát nước tốt.

Vệ sinh vườn, dọn sạch các tàn dư thực vật của vụ trước, rải vôi cày xới kỹ sâu khoảng 20-25cm. Ở những vườn các vụ trước đã trồng bắp cải cần xử lý đất bằng Nebijin 0.3DP để hạn chế bệnh sưng rễ. Làm luống, rãnh rộng 1.2m, cao 15cm, trong mùa khô cao 10cm. Vườn trồng cần có mương rãnh thoát nước.

3. Trồng và chăm sóc: Trước khi trồng nhúng rễ cây vào dung dịch Sherpa 0,1-0,15%. Nếu sử dụng polietylen phủ đất, sau khi bón lót, phủ kín mặt luống, dùng đất chèn kỹ mép luống và đục lỗ trồng.

Trồng hai hàng kiểu nanh sấu, hàng x hàng 45cm, cây x cây 35cm, mật độ trồng 33.000-35.000 cây/ha.

Sau khi trồng, tưới đẫm sau đó tưới đều hàng ngày cho tới khi hồi xanh, có thể tưới rãnh cho cây, để nước ngấm 2/3 luống phải tháo hết nước, không nên tưới rãnh trước và sau khi mưa.

Làm cỏ, tưới nước và các biện pháp kỹ thuật khác:

Tưới nước: Sử dụng nguồn nước không bị ô nhiễm, nước giếng khoan, nước suối đầu nguồn, không sử dụng nước thải, nước ao tù, ứ đọng lâu ngày.

Tưới mỗi ngày 2 lần vào sáng sớm hoặc chiều mát cho đến khi cây hồi xanh, sau đó 1 ngày tưới 1 lần. Khi cây trải lá bàng có thể tháo nước ngập rãnh, khi đất đủ ẩm phải tháo nước ngay.

Làm sạch cỏ trên luống, rãnh và xung quanh vườn sản xuất. Làm cỏ trước khi bón phân kết hợp xăm xới tạo đất thoáng khí.

3. Phân bón và cách bón phân:

Phân bón: Lượng phân đề nghị bón cho 1 ha/vụ:

Phân chuồng hoai: 40 m 3; phân hữu cơ vi sinh: 1.000kg, Vôi bột: 1.000kg.

Phân hóa học (lượng nguyên chất): 140kg N – 70kg P 2O 5 – 150kg K 2 O

Chuyển đổi lượng phân hóa học qua phân đơn hoặc NPK tương đương:

Cách 1: Ure: 304kg; super lân: 437,5kg; KCl: 250 kg;

Cách 2: NPK 15-5-20: 750; Ure: 60kg; super lân: 203kg.

Bón theo cách 1:

Bón theo cách 2:

Phân bón lá sử dụng theo khuyến cáo in trên bao bì.

Phần III. Sâu hại và biện pháp phòng trừ:

1. Sâu tơ (Plutella xylostella):

– Đặc điểm gây hại: Là sâu gây hại nguy hiểm nhất, chúng phát sinh và gây hại liên tục quanh năm, Bướm đẻ trứng rải rác hoặc từng cụm hay theo dây dọc ở mặt dưới lá. Sâu non mới nở gặm biểu bì tạo thành những đường rãnh nhỏ ngoằn ngoèo. Sâu lớn ăn toàn bộ biểu bì lá làm cho lá bị thủng lỗ chỗ gây giảm năng suất và chất lượng rau.

– Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư cây trồng từ vụ trước, phá bỏ các ký chủ phụ xung quanh ruộng, cày lật đất sớm để diệt trứng, nhộng, sâu non và hạn chế mầm bệnh. Luân canh với cây trồng khác họ, Trồng xen một số cây tiết ra mùi khó chịu để ngăn ngừa bướm sâu tơ như cà chua, hành, tỏi. Tưới nước vào buổi sáng sớm hoặc chiều tối.

Bảo vệ các loài thiên địch như nuôi thả một số đối tượng như ong ký sinh ( Diadegma semiclausum), Ong Cotesia Plutella, nấm ký sinh

Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng và chỉ phun thuốc khi mật độ sâu non trung bình 2 con/cây ở giai đoạn 2-3 tuần sau trồng, 3 con trở lên ở giai đoạn 4-7 tuần sau trồng. Không phun thuốc đặc hiệu trị sâu tơ khi sâu chưa xuất hiện ở các ngưỡng trên.

Luân phiên sử dụng một số loại thuốc có hoạt chất sau để phòng trừ: Azadirachtin + Spinosad Diafenthiuron, Abamectin; Abamectin + Emamectin benzoate, Cypermethrin:; Emamectin Benzoate; Indoxacarb; Lufenuron; Matrine; Spinosad; Citrus oil.

– Đặc điểm gây hại: Cả rệp non và trưởng thành đều chích hút nhựa cây, làm búp và lá bị xoăn lại, lá nhạt màu hoặc vàng, héo rũ. Ngoài gây hại trực tiếp cho cây trồng, rệp còn là môi giới truyền bệnh virus. Thời tiết nóng khô thuận lợi cho rệp phát triển.

– Biện pháp phòng trừ:Tưới nước, giữ ẩm cho cây trồng trong điều kiện thời tiết mùa khô. Sử dụng một số loại thuốc sau: Abamectin; Abamectin + Alpha-cypermethrin; Abamectin + Chlorfluazuron; Deltamethrin; Emamectin benzoate; Emamectin benzoate + Petroleum oil; Etofenprox; Fipronil; Matrine; Rotenone; Rotenone 2.5% + Saponin 2.5%; Spinosad ; Thiamethoxam.

– Đặc điểm gây hại: Trưởng thành đẻ trứng rải rác thành từng quả trên lá. Sâu non mới nở gặm ăn chất xanh và để lại màng lá trắng mỏng, sống thành từng cụm. Sâu tuổi lớn phân tán, ăn khuyết lá để lại gân làm cây xơ xác. Sâu xanh bướm trắng phát sinh mạnh trong những tháng ít mưa.

– Biện pháp phòng trừ: Dùng vợt bắt bướm, ngắt nhộng trên lá, thu dọn và huỷ bỏ tàn dư cây trồng, luân phiên sử dụng một số hoạt chất sau: Abamectin; Emamectin benzoate; Matrine; Azadirachtin; Abamectin + Chlorfluazuron; Abamectin + Alpha-cypermethrin, Abamectin + Bacillus thuringiensis.

– Đặc điểm gây hại: Trưởng thành hoạt động vào lúc sáng sớm hoặc trời mát. Trời mưa ít hoạt động. Trưởng thành ăn lá và giao phối trên cây. Đẻ trứng chủ yếu trong đất, đẻ nhiều vào sau buổi trưa. Sâu non có 3 tuổi, sống trong đất, ăn rễ cây, làm cho cây bị còi cọc, héo hoặc bị chết. Hoá nhộng ngay trong đất.

– Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh đồng ruộng, xử lý đất trước khi trồng. Luân canh cây trồng khác họ, sử dụng một số hoạt chất sau: Abamectin; Emamectin benzoate; Dinotefuran; Azadirachtin; Chlorantraniliprole; Chlorantraniliprole 20% + Thiamethoxam ; Abamectin + Alpha-cypermethrin.

– Đặc điểm gây hại: Trưởng thành hoạt động giao phối và đẻ trứng ban đêm, thích mùi chua ngọt. Đẻ trứng rời rạc thành từng quả trên mặt đất. Sâu non mới nở gặm lấm tấm biểu bì lá cây, sâu lớn tuổi sống dưới đất, ban đêm bò lên cắn đứt gốc cây. Sâu đẫy sức hoá nhộng trong đất.

– Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ dại trên ruộng và xung quanh bờ, nếu có điều kiện tưới ngập nước để tiêu diệt sâu non và nhộng, cày xới để sâu non, nhộng lộ lên trên làm mồi cho chim gà. Đối với những thửa ruộng nhỏ, có thể bắt sâu bằng tay. Dùng một số loại thuốc hoá học để phun hoặc rải xuống đất, xung quanh gốc cây như: Abamectin; Metarhizium anisopliae.

– Đặc điểm gây hại:Trưởng thành hoạt động ban đêm, thích các chất có mùi chua ngọt, đẻ trứng thành ổ bám mặt dưới lá. Sâu non sau khi nở sống tập trung quanh chỗ ổ trứng, gặm lấm tấm chất xanh của lá. Sâu lớn tuổi phân tán, ăn khuyết lá. Sâu non phá hại mạnh vào ban đêm. Hoá nhộng trong đất.Vòng đời trung bình 35-40 ngày.

– Biện pháp phòng trừ:Vệ sinh đồng ruộng, làm đất kỹ trước khi trồng. Dùng bả chua ngọt để bắt bướm, ngắt bỏ ổ trứng, diệt sâu non mới nở, dùng các loại hoạt chất sau để phòng trừ: Abamectin; Azadirachtin; Bacillus thuringiensis var. aizawai; Emamectin benzoate; Etofenprox; Fipronil; Trichlorfon.

Phần IV. Bệnh hại và biện pháp phòng trừ:

– Triệu chứng: Cây bị bệnh yếu, bắp nhỏ, đôi khi héo và chết, trong điều kiện ẩm ướt bệnh lây lan sang các lá bên cạnh và gây thối bắp, toàn bộ bắp có thể bị thối khô, bắt đầu từ những lá bao phía ngoài. Trên chỗ thối có các hạch nhỏ màu nâu.

– Nguyên nhân: Bệnh d o nấm Rhizoctonia solani gây ra, phát triển trong điều kiện thời tiết ẩm ướt và nhiệt độ trong đất cao.

– Biện pháp phòng trừ: Luân canh cây trồng. Sử dụng luân phiên một trong các loại hoạt chất sau: Validamycin, Copper citrate; Cytokinin; Kasugamycin; Trichoderma viride; Chitosan + Polyoxin; Trichoderma spp 10 6 cfu/ml + K-Humate + Fulvate + Chitosan + ;

– Triệu chứng: Ban đầu là những vết nứt thối trũng xuất hiện trên gốc thân cây và sau này có thể xuất hiện trên lá, có hình đốm tròn màu nâu nhạt. Những cây bị bệnh thường có kích thước nhỏ hơn.Các vết thối mục lan rộng và bao lấy thân phía trên mặt đất, làm cho cây bị héo và đổ. Thân cây khô và hoá gỗ, mô cây chuyển màu đen, đôi khi có viền đỏ tía.

– Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh vườn, mùa mưa nên làm luống cao, thoát nước tốt, luân canh cây trồng, khi có bệnh xuất hiện cần tiêu hủy sớm cây bệnh. Sử dụng một số loại thuốc sau Trichoderma spp; Trichoderma viride…

– Triệu chứng:Bệnh gây hại ở cây giống và cây đã lớn, vết bệnh có màu vàng, hình chữ V xuất hiện trên rìa lá với mũi nhọn hướng vào trong, những vết bệnh này lan dần vào giữa lá. Diện tích bị nhiễm bệnh chuyển sang màu nâu, các mô cây bị chết. Gân lá ở những vùng bị nhiễm chuyển màu đen có thể nhìn thấy khi cắt lá. Lá của những cây giống nhiễm bệnh chuyển sang màu vàng và rụng trước khi cây lớn.

– Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh vườn sau thu hoạch, luân canh cây trồng. Sử dụng các loại hoạt chất sau: Copper Hydroxide.

Triệu chứng: Vết bệnh đầu tiên thường xuất hiện ở các cuống lá già phía dưới gần mặt đất, tạo thành những đốm mọng nước, sau đó thối nhũn. Vết bệnh theo cuống lá phát triển lên phía trên làm cho cả lá bị vàng và thối nhũn. Các lá phía trên cũng có thể bị bệnh và cả cây bị thối. Khi cây bị bệnh, các tế bào trở nên mềm, có nước và nhớt, có mùi lưu huỳnh.

– Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh vườn sau thu hoạch, làm đất kỹ, lên luống cao dễ thoát nước, luân canh cây trồng khác. Bón phân cân đối, không bón quá nhiều đạm, trong điều kiện mùa mưa cần tăng cường bón kali. Sử dụng một số loại nông dược sau: Copper hydroxide; Kasugamycin; Ningnanmycin; Oxolinic acid; Carbendazim; Copper Oxychloride 50% + Metalaxyl 8%; Copper Oxychloride + Streptomycin sulfate + Zinc sulfate ; Cucuminoid 5% + Gingerol 0.5%.

– Triệu chứng của bệnh đốm vòng thường xuất hiện trên những lá già, lúc đầu là những chấm nhỏ màu đen, sau lan rộng ra thành hình tròn, màu nâu có hình tròn đồng tâm. Trời ẩm ướt trên vết bệnh có lớp nấm xốp màu đen bồ hóng

– Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh vườn, xử lý hạt giống bằng nước nóng 50 0C trong khoảng 30 phút trước khi gieo. Dùng các loại hoạt chất sau để phòng trừ: Chitosan; Prochloraz– Manganese complex; Trichoderma spp 10 6 cfu/ml + K-Humate + Fulvate + Chitosan + .

– Triệu chứng: Bệnh gây hại từ khi cây còn nhỏ cho tới khi thu hoạch, ở cây con, bệnh xuất hiện ở gốc cây sát mặt đất làm cho chỗ bị bệnh thối nhũn, cây gãy gục rồi chết. Khi trời ẩm ướt trên gốc chỗ bị bệnh xuất hiện một lớp nấm màu trắng xốp.

Khi cây lớn, vết bệnh thường xuất hiện trên các lá già sát gốc hoặc phần gốc thân, chỗ bị bệnh thối nhũn nhưng không có mùi thối. Nếu trời khô nắng thì chỗ bị bệnh thường khô và teo đi, các lá biến vàng. Ở cây cải bắp khi đã cuốn, bệnh lây lan từ lá ngoài vào trong làm toàn bộ bắp bị thối và chết đứng trên ruộng, gặp gió to cây đổ gục. Chỗ vết bệnh đã thối có lớp mốc trắng và nhiều hạch nấm nhỏ màu nâu hoặc đen bám chặt vào lá.

– Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh vườn, trồng cây sạch bệnh, luân canh với cây trồng khác họ như hành, cà rốt. Bón phân cân đối. Tăng lượng phân chuồng hoai có tác dụng kích thích cây khỏe và hạn chế được sự phát triển của bệnh. Sử dụng một số loại hoạt chất sau: Prochloraz-Manganese complex, Trichoderma spp, Trichoderma viride, Trichoderma spp + K-Humate + Fulvate + Chitosan + Vitamin B1.

7. Bệnh sưng rễ (Plasmodiophora brassicae.W)

– Triệu chứng: Bệnh gây hại trên bộ rễ của cây (rễ chính và rễ bên). Bộ phận rễ bị biến dạng sưng phồng lên, có các kích cỡ khác nhau tùy thuộc thời kỳ và mức độ nhiễm bệnh.

Cây biểu hiện các triệu chứng sinh trưởng chậm, cằn cỗi, lá biến màu xanh bạc, có biểu hiện héo vào lúc trưa nắng, sau đó phục hồi vào lúc trời mát, khi bị nặng toàn thân cây héo rũ kề cả khi trời mát, lá chuyển màu xanh bạc, nhợt nhạt, héo vàng và cây bị chết hoàn toàn.

Phần V. Phòng trừ dịch hại tổng hợp

Áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM

1. Biện pháp canh tác kỹ thuật: Thường xuyên v ệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, cắt tỉa các lá già vàng úa tiêu hủy, thực hiện tốt chế độ luân canh trồng cây rau khác họ thập tự: cà rốt, khoai tây, bố xôi, xà lách…chọn giống khỏe, sức đề kháng sâu bệnh tốt, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Bón phân cân đối và hợp lý, tăng cường sử dụng phân hữu cơ sinh học, vi sinh. Chăm sóc theo yêu cầu sinh lý của cây (tạo cây khỏe)

– Kiểm tra đồng ruộng phát hiện và kịp thời có biện pháp quản lý thích hợp đối với sâu, bệnh. Thực hiện ghi chép nhật ký đồng ruộng.

2. Biện pháp sinh học:Hạn chế sử dụng các loại thuốc hóa học có độ độc cao để bảo vệ các loài ong ký sinh của ruồi đục lá, các loài thiên địch bắt mồi như nhện, bọ đuôi kìm… Sử dụng các chế phẩm sinh học trừ sâu bệnh

3. Biện pháp vật lý: Nhổ bỏ, gom và tiêu huỷ sớm các cây bị nhiễm bệnh, sử dụng bẫy màu vàng, bẫy Pheromone dẫn dụ côn trùng. Có thể sử dụng lưới ruồi cao từ 1,5-1,8m che chắn xung quanh vườn hạn chế ruồi đục lá, sâu, côn trùng gây hại bay từ vườn khác sang.

4. Biện pháp hóa học: Khi sử dụng thuốc phải cân nhắc kỹ theo nguyên tắc 4 đúng (đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng, đúng thuốc), đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc, p hun khi bệnh chớm xuất hiện. Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi thật cần thiết và theo yêu cầu sau:

+ Không sử dụng loại thuốc cấm sử dụng cho rau.

+ Chọn các thuốc có hàm lượng hoạt chất thấp, ít độc hại với thiên địch, các động vật khác và con người

+ Ưu tiên sử dụng các thuốc sinh học (thuốc vi sinh và thảo mộc).

Phần VI. Thu hoạch, phân loại và xử lý bảo quản sau thu hoạch:

Sau khi trồng 90-110 ngày là có thể thu hoạch. Thu khi bắp đã cuốn chắc, chặt, mặt bắp mịn, lá xếp phẳng và căng, gốc chuyển sang màu trắng đục hay trắng sữa, đủ tuổi sinh trưởng để đạt chất lượng tốt nhất. Thu hoạch vào lúc sáng sớm hoặc buổi chiều. Chú ý chặt cao sát thân bắp sau khi chặt loại bỏ lá ngoài, Đóng gói theo yêu cầu của khách hàng.

Cải bắp có thể bảo quản được từ 7-10 ngày ở điều kiện nhiệt độ 20 0C, thoáng khí và tối. Trong điều kiện nhiệt độ 1 0 C, ẩm độ 95-98% cải bắp có thể để được trong thời gian 2-3 tháng.

Quy Trình Kỹ Thuật Sản Xuất Dưa Chuột Nếp 1

1. Phạm vi áp dụng: Quy trình kỹ thuật này áp dụng để sản xuất, sơ chế dưa chuột an toàn 2. Quy định chung: 2.1. Điều kiện sản xuất rau an toàn: – Chọn đất không bị ô nhiễm, không chịu ảnh hưởng của chất thải công nghiệp, bệnh viện và các nguồn ô nhiễm khác… – Nguồn nước tưới là nước sạch: Nước sông có dòng chảy luân chuyển không bị ô nhiễm hoặc nước giếng khoan sạch. – Không sử dụng phân chuồng tươi hoặc nước phân tươi để bón hoặc tưới. – Thu hoạch đảm bảo thời gian cách ly sau khi phun thuốc bảo vệ thực vật. 2.2. Dưa chuột an toàn là dưa chuột sạch, không bụi bẩn tạp chất, quả không bị giập nát, hấp dẫn về hình thức, tươi, không có vết sâu bệnh. Thu hoạch đúng độ chín khi đạt chất lượng cao. 2.3 – Hàm lượng Nitrat nhỏ hơn hoặc bằng 150 mg/kg sản phẩm tươi. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, các kim loại nặng, vi sinh vật gây hại dưới ngưỡng cho phép

3. Quy trình kỹ thuật sản xuất:

Giống dưa chuộtNếp 1 do Viện Cây lương thực và CTP chọn tạo có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, trồng được 2 vụ/năm (vụ Đông Xuân và vụ Xuân sớm.Giống có thời gian sinh trưởng 90 -100 ngày ở vụ Đông Xuân (Gieo hạt từ 1/1 – 20/1 sau dịp tiết Đông Chí 15-20 ngày là tốt nhất), 110 – 120 ngày ở vụ Xuân sớm (gieo hạt từ 20/1-20/2 trước dịp tiết lập xuân 20-25 ngày là tốt nhất); giống có khả năng chống chịu sâu bệnh và khả năng thích ứng khá với điều kiện bất thuận ở các tỉnh đồng bằng Sông Hồng, năng suất cao 30 – 40 tấn/ha/vụ, chất lượng tốt, dạng hình đẹp, quả thon dài 20 – 25cm, vỏ xanh sáng có u vấu, cùi dày, ít hạt ăn rất ngon, có hương thơm đặc trưng; đặc biệt giống chịu lạnh tốt, thị trường rất ưa chuộng, cho hiệu quả kinh tế cao (thu nhập 95 – 120 triệu đồng/ha/vụ, lãi thuần 65-80 triệu đồng/ha). 3.2. Thời vụ gieo hạtVụ đông xuân : Gieo hạt vào 1/1 – 20/1 sau dịp tiết Đông Chí 15-20 ngày là tốt nhất.Vụ xuân sớm: Gieo hạt từ 20/1-20/2 trước dịp tiết lập xuân 20-25 ngày là tốt nhất: Không nên trồng dưa chuột ở những vùng có mưa lớn kéo dài, những vùng có nhiệt độ thấp (nhiệt độ dưới 15,5 0C), thay đổi thất thường, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm quá lớn, nhiệt độ thích hợp từ 25 0C đến 30 0C.

– Đất trồng tốt nhất là đất thịt nhẹ, cát pha, phù sa ven sông, giàu mùn và chất dinh dưỡng, dễ tưới, tiêu. – Đất được cày ải, sạch cỏ dại, bừa nhỏ vừa phải.được lên luống theo kích thước sau: + Vụ Đông Xuân trồng dưa chuột Nếp 1 cắm giàn thì lên luống rộng 1,6m (cả rãnh), cao 25 – 30 cm, rãnh rộng 25 – 30 cm. Trồng 2 hàng trên luống hàng cách hàng 75 – 80 cm, cây cách cây 30 – 35cm. + Có thể trồng dưa chuột không cắm giàn để bò trên mặt luống thì để luống rộng 3,8 – 4,2 m (cả rãnh luống), cao 25 – 30 cm. Trồng 2 hàng trên luống hàng cách hàng 2,5 – 3,0m; cây cách cây 30 – 35 cm.

+ Dưa chuột có thể gieo thẳng hoặc gieo vào bầu. Lượng hạt cần 1,4 – 1,6 kg hạt/ha. + Hạt được ngâm 6 – 8 giờ bằng nước sạch, ủ cho nứt nanh rồi đem gieo. Gieo xong phủ 1 lớp hỗn hợp đất bột + mùn mục (tỷ lệ 1 : 1) đã được xử lý bằng vôi bột 10 kg + 1,0 kg thuốc Basudin /tấn hỗn hợp. + Gieo bầu bằng túi polyetylen kích thước 7 x 10 cm có đục lỗ (có thể dùng bầu bằng lá chuối). Bầu chứa đầy hỗn hợp đất+ mùn nói trên. Gieo mỗi bầu 1 – 2 hạt. Gieo xong phủ kín hạt, tưới nước đủ ẩm cho hạt nẩy mầm. Cây con được 1 lá thật đưa ra trồng (sau mọc 7 – 10 ngày) theo đúng khoảng cách ở mùa vụ tương ứng đã nêu ở trên. Trồng xong thường xuyên tưới đảm bảo độ ẩm cho cây sinh trưởng phát triển tốt.

Trồng dưa chuột an toàn cần được bón phân N : P : K cân đối. Lượng phân bón cho 1 ha dưa chuột như sau:

* Đánh rạch hoặc bổ hốc thành 2 hàng trồng, dùng toàn bộ phân chuồng, phân khoáng và vôi bột bón vào rạch (hốc) đảo đều với đất lấp đầy rạch (hốc) trước khi trồng 1 – 2 ngày. : Bón thúc cho dưa chuột làm 3 đợt:+ Đợt 1 : Sau trồng 7 – 19 ngày, khi cây có 5 – 6 lá thật. Bón xung quanh gốc, cách gốc 15 – 20 cm kết hợp vun xới phá váng.+ Đợt 2 : Sau trồng 20 – 25 ngày. Bón giữa hai hốc kết hợp vun cao cắm giàn.+ Đợt 3 : Sau trồng 30 – 40 ngày (sau khi thu quả đợt đầu), hoà nước tưới vào giữa luống hoặc rắc vào giữa luống kết hợp tưới thấm vào buổi chiều mát (chỉ thu hoạch đợt quả tiếp theo sau khi bón thúc ít nhất 7 ngày để nâng cao chất lượng quả). Nếu cây sinh trưởng phát triển kém thì có thể tưới thêm phấn NPK 16:16:8 hòa loãng nồng độ 5%. 3.6. Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh 3.6.1. Chăm sóc – Thời kỳ cây con cần tỉa bớt cây xấu, bị bệnh, đảm bảo đúng mật độ, khoảng cách. – Khi cây mới trồng, thường xuyên tưới nhẹ nước lã cho cây mau bén rễ hồi xanh. – Cắm giàn : sau trồng 25 – 30 ngày tiến hành cắm giàn cho dưa chuột, khi cây có thân lá phát triển tốt, thường xuyên buộc cây để tránh cây đổ, gục ngã bảo vệ các tầng quả không bị chạm đất gây bụi bẩn, sâu bệnh. – Nếu không cắm giàn thì nên phủ rạ khi cây bắt đầu phát tua cuốn để cho cây bám và phát triển bình thường – Làm sạch cỏ dại kết hợp vun xới, loại bỏ cây bị bệnh, tạp lẫn. Tưới đủ độ ẩm cho cây sinh trưởng phát triển bình thường. Khi cây vào kỳ ra quả rộ có thể tưới nước vào rãnh luống (ngập 1/3 luống, không để tràn gây úng). – Khi gặp mưa to phải rút hết nước, không gây ngập úng tạo điều kiện dịch bệnh phát triển. – Nước tưới phải sạch, tuyệt đối không dùng nước thải công nghiệp, nước phân tươi, nước ô nhiễm. Có điều kiện dùng nước sạch tưới thấm (giọt), phun mưa (không tưới phun mưa vào lúc chiều tối).3.6.2. Phòng trừ sâu bệnh – Thực hiện các biện pháp phòng trừ sâu bệnh bằng phương pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM). Trước khi trồng cần vệ sinh đồng ruộng: làm sạch cỏ, cày đất sớm để trừ các trứng, nhộng, sâu non… có trong đất. – Luân canh với cây lúa nước: 2 vụ lúa và 1 vụ màu hoặc1 lúa và 2 màu. Nếu trồng chuyên canh màu, tuyệt đối không trồng trên đất của cây trồng trước là cây cùng họ bầu bí. Trước khi trồng cây cần xử lý đất bằng thuốc Basudin, Vibam 5H liều lượng 25 – 27 kg/ha. Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng phát hiện và diệt sớm các ổ trứng, sâu non. – Sâu xanh, sâu đục quả dùng Padan 95 WP 0,1%, Sherpa 25EC 0,1% … phun cho cây. – Sâu vẽ bùa dùng Thuốc thảo mộc Artoxid 0,5%, Confidor 0,1%… phun cho cây. – Rệp xanh: Confidor 0,1%,Oncol 20EC 0,3%, Marshal 200EC 0,2%…phun cho cây. – Bệnh sương mai dùng: Zineb 80 WP, Mancozeb80 BTN 0,25%. Ridomill 72wp, Daconil 75MZ 0,1 – 0,25%… phun cho cây, đặc biệt chú ý phun cả mặt dưới lá. – Phấn trắng dùng: Anvil 5SC 0,25%, Bavistyn 50FL, Viben-C 50BTN 0,2%… phun cho cây vào buổi chiều mát, khô lá. * Chú ý: Tuân thủ thời gian cách ly của từng loại thuốc theo sự hướng dẫn của đơn vị sản xuất thuốc ghi trên bao bì – Phun phòng trừ sâu bệnh hại cần phun triệt để ở thời kỳ cây con, trong thời gian thu quả dùng thuốc sinh học BT. … 3.7 Thu hoạch, bảo quản Thu đúng lúc, đúng lứa quả, thu vào buổi sáng sớm, không để dập nát, xây sát, nên dùng các xô nhựa sạch thu quả, quả xếp vào các thùng gỗ nhỏ (kích thước 30 x 50 x 20cm) xếp 2 – 3 lớp dưa chuột. Bảo quản nơi thoáng mát.

Ảnh: cây Dưa chuột Nếp 1được Hội Nông dân huyện Gia Lộc triển khai tại xã Hoàng Diệu, Nhật Tân, Thống Kênh:

Tác giả: Tiến sĩ Đào Xuân Thảng – Nguyên Phó viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (Biên tập và ảnh: Nguyễn Văn Trung – Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện sưu tầm)

Kỹ Thuật Trồng Bắp Nếp Cho Năng Suất Cao

2. Chuẩn bị đất trồng:

Cây bắp có thể phát triển trên nhiều loại đất. Tuy nhiên, bắp sẽ phát triển tốt và cho năng suất cao nếu được trồng trên đất thịt hay thịt pha cát, xốp, giàu hữu cơ, thoáng và giữ nước tốt, độ pH từ 5,5 – 7.

Đất nên được cày sâu từ 15 – 20cm tạo lớp đất mặt xốp để cây con dễ phát triển. Làm sạch cỏ và ngăn cỏ dại phát triển. Nên bón lót phân chuồng hoai mục, vôi rồi đất từ 15 – 20 ngày trước trồng để tiêu diệt các mầm bệnh và côn trùng có hại.

3. Gieo trồng:

Gieo theo hốc: 2 – 3 hạt/hốc (chỉ nên để tối đa 2 cây/hốc). Khoảng cách giữa hàng với hàng 60 – 100cm và khoảng cách cây với cây trên hàng là 20 – 40cm, tùy theo đặc tính giống.

Sau khi gieo hạt xong, dùng tro lấp lại và tưới nước ngày 2 lần đối với mùa khô để cây mau mọc mầm.

4. Chăm sóc

– Khoảng 4 – 6 ngày sau khi gieo (cây con được 1 lá) phải dặm lại những nơi cây chết hoặc không mọc. Nhổ bỏ những cây yếu chừa lại 1 – 2 cây/hốc.

– Chủ động diệt cỏ bằng phun thuốc đặc trị MAIZINE (Mizin) 80WP hoặc A-Zet phun lúc vừa gieo xong và 20 ngày sau gieo. Thời gian sinh trưởng bắp nếp HN88 ngắn, do đó cần bón phân đúng lúc, kết hợp làm cỏ xới xáo và vun gốc trong các đợt bón phân. Nếu bắp có hiện tượng đẻ nhánh từ thân chính là do ruộng giàu dinh dưỡng hoặc bón quá thừa đạm, điều chỉnh cân đối lượng phân bón cho thích hợp lại và loại bỏ sớm các nhánh đẻ này.

– Bón phân: chia thành 3 đợt bón cho cây bắp nếp. Đợt đầu bón sau khi trồng được 10 ngày, đợt thứ 2 sau đó 10 ngày và đợt thứ 3 sau 30 ngày gieo trồng.

+ Thường chúng ta sử dụng phân bón NPK, tùy theo đặc tính của từng loại đất ở mỗi nơi khác nhau bón tỷ lệ thích hợp. Còn theo kinh nghiệm của mình đợt 1 mình bón phân NPK (16-16-8), đợt 2 bón NPK (20-20-15) và đợt 3 bón phân Ure + kali (với tỉ lệ 5 – 5). Lưu ý: khi bón phân ure + kali cần tới nước liền tránh bị tình trạng phân bám vào gây cháy lá bắp.

– Sau khi bón phân đợt 1 cần làm cỏ và vun đất cho bắp.

5. Phòng trừ sâu bệnh:

– Để phòng sâu đục thân, đục trái non bằng cách rãi Vibasu, Furadan vào loa kèn khi bắp được 7-8 lá, nếu hộ nào tận dụng thân lá để cho gia súc ăn thì nên bón qua gốc.

– Sâu đục trái: phòng trị bằng cách dùng giống kháng (giống có vỏ trái dày và che phủ cả trái), dùng tay giết chết sâu. Xịt các loại thuốc trừ sâu gốc cúc. Ngoài ra còn có những loại côn trùng sống dưới đất: sâu đất, sùng trắng, sùng bửa củi,…ngừa bằng cách sửa soạn đất kỷ, vệ sinh đồng ruộng và khử đất bằng các loại thuốc hột hay bột.

– Phòng trị rầy mềm: không nên trồng bắp với mật độ dày tạo ẩm độ thích hợp cho rầy phát triển. Nếu mật số rầy ít không nên áp dụng thuốc vì rầy có nhiều thiên địch. Sử dụng các loại thuốc như: Applaud, Admire…

– Để hạn chế bệnh khô vằn thì giai đoạn trước trỗ cờ nên loại bỏ các lá già có vết bệnh ở gốc, nếu mưa nhiều, ẩm độ cao thì phun Validacine, Anvil.

– Để phòng trừ bệnh đốm lá phun Tilt hay Appencab hoặc Daconyl.

– Bệnh đốm vằn: bệnh xảy ra khi trời nóng ẩm và nóng (có sương mù), lây lan rất nhanh, gây thiệt hại nặng. Phòng trị bằng Kitazin, Bonanza, Anvil, Rovral phun 3-7 ngày/lần lúc vừa phát hiện bệnh.

– Bệnh rĩ: đốm bệnh làm thành những u nhỏ màu vàng đỏ sau đó có màu nâu sậm như rĩ sét ở phiến lá. Bệnh xuất hiện khi trời nóng ẩm. Phòng trị bằng Zineb, Maneb, Copper.

– Để phòng trừ bệnh bạch tạng (sọc trắng lá) gây thất thu cho bắp như không hạt, không trái nên phun bằng thuốc Ridomyl hoặc Foraxyl 35% định kỳ 2-3 lần ở giai đoạn 10,20,30 ngày sau gieo giúp hạn chế bệnh trên.

6. Thu hoạch

Thông thường, bắp nếp sẽ cho thu hoạch sau 60 – 65 ngày sau khi trồng. Nếu thu bắp tươi, thu sau phun râu 18 – 20 ngày, còn thu khô thì bẻ sau khi vỏ bắp khô.