Quy Trình Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Cao Su / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Kỹ Thuật Cây Cao Su 2022

Quy trình kỹ thuật cây cao su 2020, là văn bản hướng dẫn kỹ thuật về cây cao su từ đất, giống, chăm sóc, khai thác, bệnh hại.

Giới thiệu về Quy trình kỹ thuật cây cao su

Trước đây, Quy trình kỹ thuật cây cao su được Tổng cục Cao Su, Tổng Công ty Cao Su, tiếp theo là Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam xây dựng và áp dụng từ năm 1990, 1997, 2004 và 2012.

Trước những tiến bộ khoa học kỹ thuật, mở rộng diện tích cao su ra khỏi các vùng truyền thống cho nên Quy trình cần có những cải tiến, bổ sung phù hợp với điều kiện mới. Do đó, cuối năm 2020 Quy trình Kỹ thuật Cây cao su được ban hành.

Được biên soạn và chỉnh lý bởi các chuyên gia, cán bộ chuyên trách các phòng nghiên cứu thuộc Viện Nghiên Cứu Cao su Việt Nam, các ban chuyên môn Tập Đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam. Cùng sự đóng góp của tất cả cán bộ quản lý kỹ thuật chuyên nghiệp tại các công ty, nông trường cao su, tổ chức NGO…

Đây là tài liệu quan trọng giúp bạn nắm vững kỹ thuật canh tác Cây cao su một cách hiệu quả và bền vững nhất.

Những cái mới ở Quy trình 2020

Tiêu chuẩn đất trồng: Phân hạng đất trồng, vùng trồng chi tiết. Đảm bảo mật độ trồng từ 500 – 800 cây/ha. Đưa vào các mật độ thiết kế trồng xen trên vườn cây cao su. ( chi tiết trang 30).

Tiêu chuẩn cây giống cao su mới. Yêu cầu cao về đúng giống trong tái canh trồng mới. Bạn có thể tham khảo qua hướng dẫn chọn giống cao su.

Tiêu chuẩn về chăm sóc, vanh thân qua các năm chi tiết cho từng vùng.

Xen canh và luân canh trên vườn cây cao su (trang 66).

Phân bón, chế độ cạo, chế độ kích thích mủ cao su. (trang 87)

Bệnh hại và giới thiệu chuyên tranh chuẩn đoán bệnh hại trên cây cao su tại https://chandoanbenhonline.rubbergroup.vn/

Thu hoạch gỗ cao su, kỹ thuật sơ chế gỗ cao su.

Phát triển bền vững: Với 3 tiêu chí là phát triển kinh tế – bảo vệ môi trường – trách nhiệm. Đồng thời ứng dụng các tiến bộ Khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất chất lượng vườn cây cao su, năng suất lao động, hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ môi trường và bền vững.

Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Nhận Quy trình kỹ thuật cây cao su ở đâu?

Quy trình kỹ thuật cây cao su được phổ biến tại trang web của Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam.

Truy cập vào địa chỉ : https://vnrubbergroup.com/

Chú ý bên trái – Hãy nhấn vào logo “Quy trình kỹ thuật cây cao su năm 2020“

Nhấn vào để tải về quy trình với định dạng PDF cụ thể tên file: QUY_TRINH_KT_CAO_SU-23-12_IN_curves.pdf

Kết

5

/

5

(

2

bình chọn

)

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Su Hào

Mùi vị và kết cấu của su hào tương tự như của thân cải bông xanh hay phần lõi của cải bắp (cả hai loại này là cùng loài với su hào, nhưng khác nhóm giống cây trồng), nhưng nhẹ hơn và ngọt hơn, với tỷ lệ phần cùi thịt/vỏ cao hơn.

Su hào là cây ưa khí hậu mát mẻ, được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc như Hải Dương, Hà Nội, Thái Bình, Mộc Châu, Sapa… Hiện nay su hào được trồng rất sớm với các giống chịu nhiệt, đem lại thu nhập cao cho người nông dân (khoảng 200-250 triệu/ha/vụ), năng suất có thể đạt 30-50 tấn/ha/vụ.

Su hào có thể ăn sống cũng như được đem luộc, nấu canh, xào… Su hào chứa nhiều chất xơ tốt cho hệ tiêu hóa cũng như chứa các chất như selen, axít folic, vitamin C, kali, magiê và đồng.

Thành phần dinh dưỡng chính có trong 100g củ su hào tươi:

B. Quy trình kỹ thuật

I. Điều kiện ngoại cảnh

– Cây su hào yêu cầu điều kiện ngoại cảnh tương tự như cải bắp sinh trưởng tốt nhất ở nơi có nhiệt độ trung bình 20-25 ºC. Hiện nay trên thị trường có một số giống chịu nhiệt rất tốt, có thể trồng được quanh năm ở những vùng có nhiệt độ không khí mát mẻ hoặc trồng ở thời vụ rất sớm ở Miền Bắc.

– Su hào có khả năng chịu đựng cao với khí hậu nóng, ẩm. Trong mùa đông lạnh, sinh trưởng nhanh và cho năng suất cao trên đất giàu mùn, thoát nước tốt.

– Su hào ưa đất cát pha, đất thịt nhẹ, độ phì nhiêu cao, tơi xốp, độ pH trung tính (6-7), đất chủ động tưới và thoát nước tốt.

II. Biện pháp kỹ thuật

1. Thời vụ

Vụ sớm: Gieo từ tháng 7 – 8, trồng tháng 8 – 9

Chính vụ: Gieo từ tháng 9 – 10, trồng tháng 10 – 11

Vụ muộn: Gieo từ tháng 12, trồng tháng 1 – 2 năm sau

Có thể áp dụng biện pháp che vòm nilon và giống chịu nhiệt để gieo trồng trái vụ tháng 3 – 8.

2. Giống

Hiện nay Công ty TNHH Phát triển Nông Nghiệp Việt Á có các giống su hào sau:

Su hào F1 Boeing VA.747 là giống xuất xứ Hàn Quốc, chịu nhiệt, chịu lạnh rất tốt, thích nghi rộng. Trồng được nhiều vụ trong năm, sinh trưởng khỏe, thu hoạch tập trung, vỏ ngoài màu xanh, chất lượng giòn, ngon, ngọt, rất ít xơ. Có thể gieo trồng 15/6 đến tháng 2 năm sau. Thời gian thu hoạch từ 38-45 ngày sau trồng. Khoảng cách trồng hàng 30×30 cm, cây 25×25 cm. Lượng giống cần 15-20 g/360 m ².

Su hào OP-Japonica VA.174 là giống cao sản, xuất xứ New Zeland, trồng được quanh năm ở những vùng khí hậu mát hoặc vụ Thu Đông, Đông Xuân ở các tỉnh phía Bắc. Thời gian thu hoạch 50-60 ngày sau trồng, lượng giống 40-45 g/1000 m ². Củ màu xanh nhạt, năng xuất cao, ăn ngon.

Su hào Pháp tím – Violet VA.159 là giống su hào đặc sản, xuất xứ Italia. Cây sinh trưởng và phát triển khỏe, kháng sâu bệnh tốt, củ đồng đều, củ dạng hình cầu, vỏ màu tím, mỏng và bóng, rất ít xơ, ăn ngon và ngọt. Trồng được quanh năm ở Mộc Châu, Sapa, các tỉnh phía Bắc trồng được từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau. Thời gian thu hoạch 50-55 ngày sau trồng. Khoảng cách trồng hàng 30x30cm, cây 25×25 cm. Lượng giống cần 50-60g/1000 m ².

3. Kỹ thuật gieo trồng

Gieo trên khay bầu: Có thể dùng khay đóng bầu. Giá thể đóng bầu là hỗn hợp của một số vật liệu chính gồm: Xơ dừa 30%, phân chuồng mục 30 %, đất 40%, sau đó bổ sung phân lân 2 – 3 kg/tấn giá thể và vôi 5 – 6 kg/tấn giá thể. Cho đầy giá thể vào khay và nén nhẹ.

Hạt giống trước khi gieo phải xử lý ngâm ủ. Khi hạt bắt đầu nảy mầm tiến hành gieo hạt vào khay đã chuẩn bị. Ấn nhẹ lỗ trong khay sâu 1 – 1,5 cm, gieo mỗi lỗ 1-2 hạt. Gieo hết khay dùng đất nhỏ đã trộn phủ một lớp mỏng trên bề mặt của hạt. Sau đó dùng trấu hoặc rơm, rạ phủ nên bề mặt của khay. Không để khay trực tiếp lên mặt đất, cho lên giàn cao 20 – 50 cm. Để khay ở nơi khô thoáng, nhiều ánh sáng mặt trời.

Khay đã ươm hạt giống phải được giữ ẩm thường xuyên (70 – 80%), đặc biệt giai đoạn đầu khi mới gieo hạt. Khi cây có 4 – 5 lá thật có thể nhổ đi trồng, loại bỏ cây bị bệnh, cây xấu. Trước khi mang cây con ra trồng từ 3 – 5 ngày nên hạn chế nước tưới và chăm sóc dinh dưỡng để cây dễ thích nghi.

Gieo trực tiếp trên luống đất:

Làm đất kỹ, luống đánh rộng 0,9 – 1 m, cao 20 – 25 cm, bón lót phân hữu cơ hoai mục, rải đều phân trên mặt luống, đảo đều đất và phân, vét đất ở rãnh phủ lên mặt luống.

Lượng hạt giống gieo 1,5g/m ², gieo đều trên mặt luống (khi gieo trộn hạt với đất bột). Gieo hạt xong cào nhẹ hoặc dùng tay xoa nhẹ, đều trên mặt luống cho đất phủ kín hạt, phủ một lớp rơm rạ, trấu mỏng trên mặt luống và dùng ô doa tưới nước đủ ẩm. Nên sử dụng máy gieo hạt và công cụ gieo hạt thủ công giúp giảm chi phí giống, công lao động.

Sau khi gieo tưới 1 – 2 lần/ngày trong vòng 3 – 5 ngày, khi hạt nảy mầm nhô lên mặt đất 2 ngày tưới một lần. Tỉa cây bị bệnh, cây dị dạng.

Cây su hào con nhổ đi trồng khi được 4 – 5 lá thật, tưới nước đẫm trước khi nhổ 1 giờ.

Lên luống cao 30 cm, khoảng cách luống rộng 1.2 m, rãnh rộng 25-30 cm, dễ thoát nước. Sau mỗi vụ nên giữ nguyên luống, cho nước ngập luống khoảng 10 ngày và có thể sử dụng máy xới mini làm đất trên mặt luống. Có thể che phủ nilon mặt luống để giữ ẩm, hạn chế cỏ dại.

Mật độ trồng: 2.000 – 2.200 cây/sào (54.000 – 60.000 cây/ha).

4. Phân bón

Biện pháp chỉ dùng phân hữu cơ: C ó thể lựa chọn các loại phân hữu cơ và liều lượng bón

Liều lượng bón:

Phân hữu cơ nguồn gốc động vật được xử lý nhiệt (như Fetiplus, Melgert, Nature,…): 20 – 40 kg/sào (550 – 800kg/ha) và ngô bột 10 – 15 kg/sào (300 – 450 kg/ha).

Hoặc phân chuồng ủ hoai mục 500 – 600 kg/sào (15.000 – 17.000 kg/ha) và ngô bột 10 – 15 kg/sào (300 – 450 kg/ha).

Phương pháp bón:

Phân hữu cơ nguồn gốc động vật xử lý nhiệt và ngô bột bón lót 100% khi làm đất (lưu ý không bón trực tiếp vào cây).

Phân chuồng ủ hoai mục: Bón làm 2 đợt, đợt 1 bón lót 70%, đợt 2 bón thúc lượng còn lại sau trồng 20 – 25 ngày. Tùy theo tình trạng của cây trồng, điều kiện đất đai mà có thể bổ sung dinh dưỡng cho cây bằng cách ngâm phân hữu cơ ủ hoai mục với nước hoặc chắt dịch ngâm hòa loãng với nước để tưới bổ sung cho cây.

Luân canh với cây đậu tương để cải tạo đất. Khi thu hoạch đậu tương tiến hành cày vùi toàn bộ với nơi thuận lợi nguồn nước hoặc ủ với nơi không thuận lợi nguồn nước.

Biện pháp có dùng phân hóa học

Liều lượng: Phân chuồng ủ hoai 200 – 250 kg/sào (5.500 – 7.000 kg/ha), hoặc phân hữu cơ vi sinh 30 – 35 kg/sào ( 850 – 980 kg/ha); đạm urê 4 – 5 kg/sào (110 – 140 kg/ha); super lân 8 – 10 kg/sào (220 – 300 kg/ha); kali 4 – 5 kg/sào (110 – 140kg/ha); NPK(5:10:3): 20 – 25 kg/sào (550 – 700 kg/ha).

Phương pháp bón: Bón lót 100% phân chuồng ủ hoai, 50 % phân hữu cơ vi sinh, 50% lân super, 70% kali, 20% NPK. Bón thúc lần 1 (khi cây bén rễ hồi xanh): 20% urê, 30% super lân, 20 % NPK. Bón thúc lần 2 (sau trồng 20 – 25 ngày): 50% phân hữu cơ vi sinh, 40% urê, 20% super lân, 30% kali, 30% NPK. Bón thúc lần 3 (trong trường hợp cây ra củ nhỏ): 40% urê, 30% NPK. Lưu ý bón đạm urê trước khi thu hoạch ít nhất 14 ngày.

Sử dụng nguồn nước đảm bảo tiêu chuẩn. Tưới nước đủ ẩm từ sau khi trồng đến khi thu hoạch. Tiêu nước kịp thời khi ngập úng. Áp dụng biện pháp tưới rãnh hoặc tưới nhỏ giọt.

Làm cỏ, xới xáo, loại bỏ cây bệnh, lá bệnh, vét rãnh để tạo cho ruộng su hào thông thoáng, hạn chế sâu bệnh.

Các đối tượng sâu, bệnh hại chính gồm: Sâu xám, sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, sâu tơ, bọ nhảy sọc cong, rệp, bệnh sương mai, bệnh thối gốc.

Biện pháp canh tác, thủ công:

Ngâm nước ngập luống khoảng 10 ngày để hạn chế bọ nhảy, sâu bệnh trong đất. Sử dụng nấm đối kháng Trichoderma ủ với phân hữu cơ hoai mục.

Vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại, tàn dư cây trồng kết hợp sử dụng các chế phẩm sinh học EMINA, BIOEM, EM để ủ.

Ngắt bỏ lá bị bệnh hại, ngắt ổ trứng, bắt giết sâu non (sâu xám bắt vào buổi tối).

Tạo môi trường thuận lợi cho thiên địch phát triển, dẫn dụ, xua đuổi côn trùng gây hại như: hoa cúc, hướng dương, ba lá, linh lăng, húng, bạc hà, hành, tỏi, xả, gừng …trồng xen vào các luống rau hoặc đầu luống rau.

Bẫy chua ngọt trưởng thành họ ngài đêm (sâu khoang, sâu xám,…):

Cách làm bẫy: hỗn hợp 4 phần mật (đường) + 4 phần dấm + 1 phần rượu + 1 phần nước + thuốc trừ sâu khuấy kỹ. Chứa vào xô nhựa, can nhựa đậy kín, sau 3 – 4 ngày bốc mùi chua ngọt thì đem ra sử dụng. Vật liệu đựng bẫy: làm bằng hộp nhựa, chai nhựa (đường kính, chiều cao, thể tích phù hợp thực tế) trên thành hộp đục các lỗ tròn có đường kính 2 – 3 cm.

Sử dụng: 0,1 – 0,15 lít/hộp, 3 – 5 bẫy/sào hoặc có thể sử dụng bùi nhùi bằng rơm nhúng bả sau đó cắm trên ruộng.

Bẫy pheromone trừ trưởng thành sâu tơ:

Sử dụng bẫy dính màu vàng để thu hút trưởng thành có cánh như bọ nhảy, rệp.

Biện pháp sử dụng thuốc BVTV:

Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm bệnh, điều tra phát dục sâu hại, dự tính thời gian trưởng thành, sâu non rộ. Dự báo mức độ bệnh hại để hướng dẫn phòng trừ đúng thời điểm. Sử dụng thuốc ít độc, thời gian cách ly ngắn (sinh học, thảo mộc) khi mật độ sâu, tỷ lệ bệnh cao.

Lựa chọn, xử lý bằng các loại thuốc sinh học, thảo mộc, thuốc có thời gian cách ly ngắn như trong các loại thuốc sau:

Sâu khoang sử dụng thuốc: Chlorantraniliprole (Dupont Prevathon 5SC…); Spinetoram (Radiant 60SC…); Indoxacarb (Dupont Ammate 150SC…); Lufenuron (Match 050EC…); Emamectin benzoate (Susupes 1.9EC, Dylan 2EC…); Emamectin benzoate + Matrine (Rholam super 100WG, Mectinstar 1EC…).

Sâu tơ sử dụng thuốc: Bacillus thuringiensis var.kurstaki (Delfin WG, Aizabin WP,…); Abamectin(Silsau 3.6EC, Reasgant 1.8EC, Kuraba WP,…); Emamectin benzoate (Susupes 1.9EC, Dylan 2EC…); Indoxacarb (DuPontAmmate 150SC…); Lufenuron (Match 050 EC…).

Sâu xanh bướm trắng sử dụng thuốc: Bacillus thuringiensis var.kurstaki (Delfin WG; Aizabin WP); Abamectin (Silsau 1.8EC, Reasgant 1.8EC, Kuraba WP…); Emamectin benzoate (Susupes 1.9EC, Dylan 2EC…).

Bọ nhảy sử dụng thuốc: Chlorantraniliprole (Dupont Prevathon 5SC…); Dinotefuran (Oshin 20WP, Chat 20WP…); Nitenpyram (Elsin 10EC…); Spinosad(Success 25SC, Wish 25SC…).

Rệp sử dụng thuốc: Matrine(Agri one 1SL, Marigold 0.36SL, Sokupi 0.36SL, 0.5SL…); Thiamethoxam(Actara 25WG, Fortaras 25WG…), Abamectin(Silsau 3.6EC, Reasgant 1.8EC); Emamectin benzoate (Susupes 1.9EC, Dylan 2EC…); Dinotefuran(Oshin 20WP, Chat 20WP…).

Bệnh sương mai sử dụng thuốc: Chlorothalonil (Daconil 75WP, Chionil 750WP, Arygreen 75 WP…); Fosetyl-aluminium(Aliette 800 WG, Juliet 80 WP…); Cymoxanil + Mancozeb(Carozate 72WP, Xanized 72WP…), Bacillus subtilis( Bionite WP…).

Bệnh thối gốc sử dụng thuốc: Streptomycin sulfate (Stepguard 100SP, Poner 40SP, Liberty 50WP, 100WP; …); Kasugamycin (Kamsu 2SL, Kasugacin 2 SL, Kasumin 2SL, Fortamin 3SL, 6SL…); Validamycin (Valivithaco 5SC, Validacin 5SL, Vida 3SC…); Bacillus subtilis (Bionite WP, Biobac 50WP…); Chaetomium sp + Tricoderma sp (Mocabi SL…); Metalaxyl(Alfamil 35WP, Mataxyl 500WP …).

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc “4 đúng”. Vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng phải được thu gom vào đúng nơi quy định.

III. Thu hoạch

Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Cao Su Đạt Chuẩn

Cây cao su ( Hevea brarileneis) thuộc họ thầu dầu, có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Năm 1877, cây cao su lần đầu tiên được đưa vào Việt Nam, trải qua hơn một thế kỷ tồn tại và phát triển, cao su đã khẳng định được vị thế là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, với sản phẩm chính là mủ ngoài mủ thì gỗ, dầu từ hạt cao su cũng mang lại giá trị đáng kể… Bên cạnh đó, việc trồng cao su còn đem lại lợi ích về môi trường (phủ xanh đất trống, chống xói mòn…). Vì vậy, cần phải chăm bón cây cao su ngay từ đầu để đạt được sản lượng mủ cao và ổn định.

Cao su là cây gỗ có rễ ăn sâu 3 m đến 5 m nếu đất tốt rễ có thể ăn sâu đến 10 m. Chiều cao của cây phụ thuộc vào đỉnh sinh trưởng (chồi ngọn) và có thể cao từ 10 – 25 m. Lá cao su là lá kép lông chim. Hoa cao su là loại hoa đơn tính, hoa đực bao quanh hoa cái nhưng thụ phấn chéo do hoa đực nở sớm hơn hoa cái. Quả nang gồm ba buồng mỗi buồng có một hạt. Khi cắt ngang thân cây có thể thấy rõ ràng 3 phần là gỗ, vỏ và tượng tầng. Mủ cao su chỉ thấy xuất hiện nhiều trong phần vỏ nên vỏ sẽ được xem xét chi tiết hơn so với các phần khác.

– Lớp mộc thiềm: Lớp này dưới 1 năm tuổi thường mỏng và không đáng kể làm nhiện vụ bảo vệ các lớp bên trong.

– Lớp gia cát thô: Lớp này có hoạt động sinh lý kém. Đây là lớp dày nhất, có thưa thớt những tế bào ống nhựa mủ đã già, mất khả năng sản xuất mủ.

– Lớp gia cát tinh: Lớp này khá dày, mật độ tế bào ống mủ nhiều hơn so với lớp trước.

– Lớp da cát lụa: Có độ dày khá mỏng, nhưng ở đây tập trung chủ yếu các tế bào ống mủ hoạt động sinh lý mạnh (90% ống nhựa mủ được tìm thấy ở đây).

– Tượng tầng: Là nơi sản xuất ra tế bào gỗ và tế bào libe trong đó có hệ thống ống mủ cao su. Bên cạnh đó tượng tầng còn hoạt động có tính chu kỳ.

Để khai thác mủ có hiệu quả phải cạo đúng độ sâu, nếu cạo qúa cạo thì cho mủ ít, còn nếu cạo phạm thì cho mủ nhiều, nhưng hàm lượng mủ quy khô thấp, ảnh hưởng đến tượng tầng, vỏ sau khi tái sinh sẽ có hiện tượng u lồi và không thể khai thác tiếp trên lớp vỏ tái sinh đó. Bên cạnh đó, còn gây nên bệnh xì mủ, loét sọc miệng cạo…

Để trồng cây cao su có hiệu quả kinh tế thì phải xét đầy đủ các yếu tố như: Thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng, dinh dưỡng khoáng….

Cây cao su phát triển tốt ở vùng nhiệt đới ẩm có nhiệt độ trung bình 22 – 30 oC (Nhiệt độ thích hợp là 26 – 28 oC). Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến quá trình khai thác mủ và sinh trưởng của cây. Nhiệt độ dưới 18 oC ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm của hạt, tốc độ sinh trưởng của cây chậm lại. Nếu dưới 10 oC hạt mất sức nảy mầm. Nếu dưới 5 o C thì cây bị nứt vỏ, chảy mủ hàng loạt, đỉnh sinh trưởng bị khô, cây chết.­­­

Còn trên 30 o C mủ chóng đông hoặc có thể đông ngay trên miệng cạo và gây hiện tượng khô mủ.

Cao su thường được trồng ở những vùng có lượng mưa từ 1.500 – 2.500 mm/năm. Số ngày mưa thích hợp trong năm là 100 – 150 ngày. Cây cao su cần nước nhưng không chịu được sự úng nước và gió. Cao su có thể chịu hạn được 4 – 5 tháng tuy nhiên sản lượng mủ trong những tháng này sẽ giảm.

Ẩm độ không khí có thể tương quan thuận với dòng chảy mủ khi khai thác. Am độ không khí thích hợp nhất là 75%.

Cây cao su không chịu được gió, gió lớn thường gây gãy đổ. Mức độ gió thích hợp cho cao su là từ 2 – 3 m/s.

Cao su có thể trồng được trên 3 loại đất là đất đỏ Bazan, đất xám Potzon trên phù sa cổ và đất sa phiến thạch.

Đất trồng cao su phải có độ sâu tầng đất mặt trên 1 m vì rễ cao su không xuyên qua tầng đá ong, không xuyên qua mực nước ngầm và tầng đá mẹ.

Hàm lượng các nguyên tố khoáng trong mủ cao su.

Đạm rất cần trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Đạm làm tăng chu vi thân (vanh), tăng mật độ lá và lá có màu xanh đậm. Bón đạm còn điều tiết dinh dưỡng của các nguyên tố khác như lân và kali. Đạm tham gia trực tiếp vào việc tổng hợp nên mủ cao su… Tuy nhiên, việc bón đạm nhiều sẽ làm cho gỗ phát triển kém dễ gãy, đề kháng kém với sâu bệnh. Thiếu đạm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây cao su, làm tán lá phát triển hẹp, cây thấp lùn.

Kali có khả năng điều tiết quá trình trao đổi chất, góp phần quan trọng trong các phản ứng sinh hoá của tế bào. Kali ảnh hưởng nhiều nhất đến dòng chảy mủ và tăng hàm lượng mủ quy khô.

Nếu cây thiếu kali thì sẽ làm giảm chu vi thân, chiều cao, số lá và làm cho hàm lượng Magiê trong mủ tăng lên dẫn đến mủ dễ bị đông trên miệng cạo. Vì thế, kali có thể hạn chế đựợc bệnh khô cành, tăng tinh chống gió bão, khắc phục một phần khô miệng cạo.

Lân cần thiết cho sự phân bào và phát triển của mô phân sinh, kích thích sự sinh trưởng của rễ, tăng sự hình thành thân, lá và quả. Cây thiếu lân thì đỉnh sinh trưởng kém phát triển, lá có màu đỏ hay đỏ gạch, lá nhỏ, vành thân kém phát triển. Lân cần nhất trong giai đoạn cây con.

Vi lượng là những nguyên tố mà cây cao su cần với hàm lượng không nhiều nhưng không thể thiếu được vì nó là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và phẩm chất mủ cao su. Nếu thiếu vi lượng sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cao su. Có thể sử dụng vi lượng tổng hợp HUMIX bón cho cây cao su 1 năm bón 2 lần vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa có tác dụng ổn định độ mủ và lượng mủ.

Cây cao su sau một thời gian trồng khoảng 3 – 5 năm tuỳ theo giống, loại cây con và điều kiện ngoại cảnh có thể ra hoa lần đầu. Mỗi năm, cây ra hoa từ 1 – 2 lần. Tuy nhiên, để phân chia các giai đoạn sinh trưởng của cây cao su người ta không dựa vào đặc tính sinh lý của cây mà dựa vào các thời kỳ mà cây cho sản lượng mủ khác nhau để phân ra thành các giai đoạn sinh trưởng.

Là thời gian từ khi gieo hạt cho đến khi cây xuất khỏi vườn ươm, thời gian này có thể kéo dài từ 6 – 24 tháng tuỳ vào loại stump.

Giai đoạn này cây chủ yếu tăng trưởng theo chiều cao còn chu vi thân tăng chậm. Bình quân mỗi tháng cây có thể cho thêm 1 tầng lá mới.

Trong điều kiện nhiệt độ dưới 18 o C, khô hạn hoặc bị bệnh thì tốc độ tăng trưởng về chiều cao cây, số lá, đường kính thân bị chậm lại. Đây là nhược điểm của những vùng có mùa đông lạnh sản xuất cây con.

Cây con cần được chăm sóc cẩn thận từ dinh dưỡng và nước tưới để nhanh chóng đạt được tiêu chuẩn cây ghép.

Cây con cần phải tiến hành tưới nước thường xuyên và kết hợp phun Phân Bón Qua Lá HUMIX CD Cao Su khi cây xuất hiện một tầng lá ổn định và ngừng phun trước khi ghép 1 tháng.

Đây là thời gian dài (5 – 7 năm) mà nhà nông chỉ đầu tư chứ không thu lợi nhuận, vì thế tìm cách rút ngắn giai đoạn này là hướng quan trọng trong sản xuất cao su hiện nay.

Cây cao su từ 1 – 3 năm tuổi người nông dân cần có kế hoạch trồng xen các loại cây ngắn ngày để góp phần tăng thêm thu nhập đồng thời có tác dụng giữ đất. Tuỳ theo chân đất, nguồn vốn mà chọn loại cây trồng xen cho phù hợp.

Bên cạnh đó, để rút ngắn giai đoạn này cần phải tiến hành chăm sóc ngay từ đầu đặc biệt là khâu bón phân và làm cỏ. Nếu thiếu dinh dưỡng trong giai đoạn này thì giai đoạn kinh doanh sinh trưởng kém, lượng mủ thấp. Hơn thế nữa, việc bù đắp thiếu hụt dinh dưỡng của cây khi cây bước vào giai đoạn kinh doanh thường không mang lại hiệu quả cao và tốn kém hơn nhiều.

Cây Cao su có thể tự cân đối về nước tưới trong giai đoạn này không như những cây công nghiệp dài ngày khác (tiêu, cà phê…).

Trong giai đoạn này, tiến hành bón Phân Hữu Cơ Sinh Học HUMIX Chuyên Dùng Cao Su.

Đây là thời kỳ dài nhất tính từ cây bắt đầu khai thác mủ cho đến khi cây thanh lý. Căn cứ vào khả năng cho mủ người ta chia làm 3 thời kỳ đó là thời kỳ khai thác cao su non, thời kỳ khai thác cao su trung niên và thời kỳ khai thác cao su già.

Thời kỳ này kéo dài từ 10 – 12 năm, cây phát triển mạnh về số lượng cành, nhánh, chu vi thân, độ dày vỏ và sản lượng mủ tiếp tục tăng.

Vỏ ở thời kỳ này mỏng, mềm đang tăng trưởng mạnh nên việc cạo mủ cần phải có tay nghề cao, tránh cạo phạm vào gỗ.

Vườn cao su thời kỳ này thường âm u, ẩm thấp là môi trường rất thuận lợi cho nhiều loại bệnh phát triển mạnh thành dịch đặc biệt là bệnh phấn trắng, bệnh rụng lá mùa mưa…

Trong giai đoạn này cần phải cung cấp dinh dưỡng đầy đủ để tăng sản lượng mủ. Dùng phân HCSH HUMIX Chuyên Dùng Cho Cao Su.

Khi năng suất không còn tăng nhiều nữa và giữ vững mức năng suất đó thì cao su bước vào thời kỳ khai thác trung niên. Tuỳ theo chế độ chăm sóc, khai thác trước đó, khai thác hiện tại và giống mà thời kỳ này dài hay ngắn. Nếu vườn trong các thời kỳ trước không được chăm sóc tốt thì khi bước vào thời kỳ này chỉ duy trì năng suất cao trong 1 thời gian ngắn và sau đó giảm năng suất. Bên cạnh đó, khai thác giai đoạn trước thái quá và cạo phạm cũng gây trở ngại lớn.

Khi năng suất mủ giảm mạnh và không có cách nào phục hồi được thì lúc đó cây đã bước vào thời kỳ khai thác cao su già. Lúc này, vườn cây rất mẫn cảm với bệnh rụng lá mùa mưa.

Thời gian đầu của việc trồng cao su thì thường trồng những thực sinh. Người ta chọn những hạt tốt từ cây bố mẹ để làm giống và mở rộng diện tích. Tuy vậy, những vườn trồng từ hạt thường không đồng đều và có độ biến động cao. Vì thế, ngày nay người ta sử dụng phương pháp nhân giống vô tính bằng cách ghép. Có rất nhiều loại giống như: GT1, RRIM 600, PB235, VM515, Pb260, RRIC121.

Đất có tầng dày sâu từ 1 m trở lên, không có lớp đá mẹ hoặc đá ong xen ngang, mực nước ngầm vào thời điểm cao nhất cách mặt đất tối thiểu 1m và mực nước không quá 1 tháng.

Đất đỏ: 7×3 m tương ứng với 476 cây/ha.

Đất xám: 6×6 m tương ứng với 555 cây/ha.

Hố đào: Dài 70 cm, rộng 50 cm, sâu 60 cm.

Trồng mới vào đầu mùa mưa khi đất có đủ độ ẩm. Lịch trồng cho vùng Miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên như sau:

Trồng Stump trần: 1/6 – 15/7 dương lịch.

Trồng Stump bầu: 15/5 – 30/8 dương lịch.

Trong giai đoạn cây cao su còn nhỏ chưa giao tán người nông dân tiến hành trồng xen giữa 2 hàng cao su các loại rau màu, mè hay các loại cây họ đậu, cây trồng xen phải đảm bảo cách xa hàng cao su khoảng 1 m.

Sử dụng Các loại phân HUMIX dùng chăm bón cho cây cao su gồm:

Chuẩn bị bầu đất: Lượng đất, phân chuẩn bị cho một túi bầu là 20 – 30 gr Phân Gà Xử Lý trộn với 2.000 – 2.200 gr đất bột. Khi cây xuất hiện 1 tầng lá ổn định thì sử dụng Phân Phun Qua Lá HUMIX CD Cao Su pha với tỷ lệ 1/200 (1 lít phân pha với 200 lít nước). Phun định kỳ 10 ngày 1 lần và ngừng phun trước khi ghép 1 tháng.

Sử dụng Phân Hữu Cơ Tổng Hợp HUMIX SCR Cao Su bón lót từ 1 – 2 kg/hố và trộn phân kỹ vào hố trước khi trồng Stump.

Dùng Phân Hữu Cơ Sinh Học HUMIX Chuyên Dùng Cao Su. Mỗi năm bón 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa.

Từ sau khi trồng đến 1 năm tuổi bón bổ sung dinh dưỡng cho cây bằng Phân Phun Qua Lá HUMIX Chuyên Dùng Cao Su pha với tỷ lệ 1/100 để tưới gốc hoặc tỷ lệ 1/200 (40 ml/8 lít) phun lên lá, định kỳ 7 – 10 ngày/lần.

Dùng Phân Hữu Cơ Sinh Học HUMIX Chuyên Dùng Cao Su 1 năm bón 2 lần.

Hàng năm bón bổ sung thêm Phân Gà Xử Lý HUMIX với lượng bón 2 tấn/ha vừa cung cấp dinh dưỡng cho cây vừa giữ ẩm cho đất.

Cách bón: Từ năm thứ nhất đến năm thứ tư, cuốc rãnh theo hình chiếu của tán cây, rải phân đều sau đó lấp đất lại.

Từ năm thứ năm trở đi bón theo băng rộng giữa 2 hàng cao su đã sach cỏ sau đó phủ bằng lá khô.

A. Sâu hại

Đối với cây cao su thì vấn đề về sâu hại không đáng lo ngại tuy nhiên không phải vì thế mà chúng ta không quan tâm. Có một số loại sâu hại phổ biến trên vườn cao su như sau.

Câu cấu găm lá già chừa lại gân lá còn đối với ấu trùng thì ăn rễ non của cây. Anh hưởng rất lớn đến quá trình quanh hợp, nếu câu cấu cắn phá nhiều thì sẽ làm cho cây bị suy dinh dưỡng, cây còi cọc và ảnh hưởng đến khả năng cho mủ.

Biện pháp hoá học: Phun thuốc trừ sâu qua lá và đất dùng các thuốc Bian 40 ND, Sumiudin 0,05 – 0,1%.

Các loại sâu ăn lá: An chồi ngọn dùng thuốc Rasudin 40 ND, Bian 40ND phun vào giai đoạn hình thành lá non chưa ổn định.

Mối mọt gặm rễ cây gây chết cây. Và có khi còn gặm cả vỏ tươi.

Biện pháp canh tác: Tủ gốc giữ ẩm phải cách xa gốc.

Không lấp rác cỏ tươi xuống hố trồng.

Phương pháp hoá học: Bam 5H 15 – 20 kg/ha.

Lantrek 40 EC nồng độ 0,15- 0,2 % dùng tưới lên gốc.

Gây hại vào các đợt ra lộc non, chích hút chủ yếu ở giai đoạn cây con, vườn kiến thiết cơ bản. Chúng chích hút mặt dưới lá làm lá biến dạng, co lại và tạo gợn sóng.

Dùng thuốc: Comite 73 EC, Admire 050 EC, Ortus 5SC.

Bệnh thường xuất hiện khi cây mới mọc lá hay trên những lá non gần trưởng thành. Xuất hiện vào tháng 1- 4 tuỳ thuộc từng vùng, nếu thiếu đạm, sương mù và cây gặp lạnh thì bệnh còn gây hại nhiều hơn.

Lá bị bệnh thường mọc rủ xuống, mất hết vẽ bóng loáng thường ngày, phiến lá cong queo ở rìa mặt dưới thường xuất hiện những đám phấn trắng. Nó thường xuất hiện từ đỉnh lá và kéo xuống viền lá, nếu bệnh nặng thì lá rụng hàng loạt gây nên hiện tượng rụng lá lần thứ hai trong năm, và có thể gây hiện tượng khô cành.

– Tăng phân đạm và kali giúp ra lá tập trung tránh lá ra vào tháng cao điểm bệnh.

– Trị bệnh bằng lưu huỳnh bột phun lên cả hai mặt lá 5 – 6 lần và cách nhau 1 tuần.

2B. Bệnh héo đen đầu lá nấm Colletortrichum Gloesporioides

Cũng giống như bệnh phấn trắng, bệnh này thường gây hại trên các tầng lá non và chồi non chủ yếu trên cây cao su nhỏ tuổi và bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa. Bệnh nặng có thể làm cho cây chết từ trên xuống dưới.

Các đốm bệnh thường xuất hiện đầu lá có hình tròn và đường kính nhỏ hơn 2 mm, bên trong của đốm có màu vàng và bìa có màu nâu.

– Phòng bệnh là chính, phải tạo điều kiện cho vườn cây thông thoáng.

– Không trồng những giống mẫn cảm với bệnh.

– Phun phòng Zineb (0,3 – 0,5%), oxit clo đồng(0,5 – 1%)…

3B. Bệnh rụng lá mùa mưa (Nấm Phytophthora Botryosa và P. Palmivora)

Bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa nhất là những vùng xuất hiện ở những vùng mưa dầm và gây hại nặng trên vườn khai thác.

Lá có đốm nâu đen, ở giữa có điểm trắng, tược non có đốm đen, khô rồi chết, trái non cũng có đốm đen khô và rụng. Trên những cuống lá bị rụng đó có những cục mủ khô trắng, bệnh còn lây lan đến miệng cạo gây nên hiện tượng loét sọc miệng cạo rất nguy hiểm.

– Cần khơi mương chống úng, làm thông thoáng vườn cây.

– Khi cây bị bệnh nặng trên 50% thì phải tiến hành ngừng cạo cho đến khi mọc lớp lá mới hình chân chim thì tiến hành bắt đầu cạo lại.

– Giai đoạn này khó phòng trị vì lúc này cây cao su quá cao lớn.

Bệnh này thường gây hại nặng vào giai đoạn khai thác cao su non, và phá hại nặng nhất vào giai đoạn 3 – 8 năm tuổi. Bệnh này thường xuất hiện vào mùa mưa có thể gây chết cành và nếu nặng thì phải cưa ngọn. Bệnh dễ lây lan thành dịch theo gió, mưa và côn trùng.

Bệnh thường xuất hiện ở nơi phân cành, đầu tiên là giọt mủ chảy ra và có nấm trắng giống như màng nhện, sau đó vết bệnh chuyển từ từ sang màu hồng đậm và lan rộng. Bệnh nặng mủ chảy thành những vệt dài và hoá đen. Cuối cùng héo rũ lá chuyển sang màu vàng và ngay dưới vết bệnh mọc những chồi dại.

– Vệ sinh đồng ruộng, tiêu huỷ những cành khô do bệnh gây ra.

– Làm thông thoáng vườn cây trong mùa mưa ẩm.

– Dùng giống kháng bệnh với nấm hồng.

– Dùng thuốc hoá học: Validacin 5L (thuốc đặc hiệu) 1,2 %, Validacin 3L 2%, dung dịch Bordeaux 1% (phun) và 5% (quét).

5B. Bệnh loét sọc mặt cạo (Nấm Phytophora palmivora)

Bệnh gây hại trên mặt cạo vào mùa mưa 6-11 bệnh có nhiều tên khác nhau như sọc đen và thối miệng cạo, bệnh là thối, khô miệng cạo tái sinh và làm giảm sản lượng mủ.

Phần vỏ tái sinh gần đường cạo xuất hiện các đường chỉ màu đen song song. Sau đó lớn dần tạo thành từng vết lún vào có màu đen rộng hơn cây tăm và dài chừng vài cm. Nấm bệnh tấn công vào vỏ, phá hại hệ thống mủ gây xì mủ có mùi hôi thối, đường miệng cạo bị lở ra, nứt vỏ.

– Không cạo khi vỏ cạo còn ướt, không cạo phạm vì nấm dễ xâm nhập gây bệnh.

– Dùng Ridomil pha với nước vôi nồng độ 2 – 3% và quét 1 băng rộng 2 – 3 cm trên miệng cạo vào thời gian sau khi thu mủ trong mua mưa.

Còn có nhiều tên gọi là khô miệng cạo, vỏ nâu. Bệnh thường xuất hiện trong suốt thời kỳ khai thác. Hiện nay vẫn chưa xác định rõ nguyên nhân, hiện vẫn xem là bệnh sinh lý.

Mủ đông ngay trên miệng cạo trước khi rơi vào chén, vỏ bên dưới bong dần có nhiều đường nứt dọc, cuối cùng nổi lên những bướu lớn, cứng và dần lên đến tận gốc cuối cùng cây phải bỏ đi.

– Bón phân đầy đủ nhất là đối với vườn kích thích mủ.

– Khi vườn có hơn 10% cây bị bệnh thì ngừng cạo.

– Thời vụ cạo: Mở miệng cạo vào tháng 3 – 4 và tháng 10 – 11 trong năm. Nghỉ cạo khi cao su bắt đầu rụng lá vào tháng 1 – 2. Khi lá bắt đầu nhú hình chân chim thì tiến hành cạo lại.

– Kỹ thuật cạo: Cách mở miệng từ đông sang tây tức là từ mặt tiền sang hậu và mở theo 1 hướng trong lô.

– Cách mở: Cạo 3 đường thứ nhất là cạo chuẩn, đường thứ hai là vạc nên, đường thứ 3 là hoàn chỉnh miệng cạo.

– Cạo xuôi: Từ năm thứ nhất đến năm thứ 11 và độ dốc miêng cạo là 30 – 35 o.

– Cạo ngược: Từ năm thứ 12 trở đi thì cây cao su bắt đầu bước vào cạo ngược với độ đốc miệng cạo là 35 o.

Giờ cạo: Cạo từ sáng sớm khi nhìn thấy rõ miệng cạo, cạo càng sớm càng tốt mùa mưa thì phải để lúc ráo nước trên mặt cạo mới tiến hành cạo. Trút mủ vào lúc 10 – 11 giờ trưa tránh trut quá muộn sẽ làm đông mủ.

Hiện nay nhiều bà con đã áp dụng chế phẩm Trichoderma Bima cho cây cao su: Trichoderma Bima có thể dùng rãi trực tiếp vào vườn hoặc ủ phân. Trường hợp rãi trực tiếp vào vườn, giúp phân huỷ chất hữu cơ có sẵn trong vườn, giúp cây hấp thu tốt hơn, từ đó dẫn đến chất lượng mủ cao hơn (sản lượng cao và độ mủ cao hơn), ngoài ra khi cây phát triển tốt và hấp thu dinh dưỡng nhiều hơn trước thì mấy mùa vụ sau mình dùng ít phân hơn; giảm khoảng 30 – 50% phân bón.

Việc dùng Trichoderma ủ để tự ủ phân, giúp bà con tận dụng nguồn nguyên liệu có sẵn ở địa phương để tạo phân hữu cơ, phân hữu cơ do mình tự sản xuất có chất lượng cao nhưng giá thành chỉ bằng 1/2 so với việc mua phân như bình thường. Dùng Trichoderma vào vườn cao su giúp phân giải chất hữu cơ thành dạng dễ hấp thu cho cây, đồng thời khống chế mầm bệnh trong vườn, giúp cho việc phòng ngừa bệnh tốt hơn.

Kỹ Thuật Canh Tác Cây Cao Su: Trồng, Chăm Sóc Và Bón Phân Cho Cây Cao Su

1. Chuẩn bị đất trồng cao su

(A) Khai hoang được tiến hành bằng cơ giới (đào gốc, rà rễ, san lấp ụ mối); (B) Dùng cày 3 chảo, cày sâu 25-35cm; (C) Dùng cày 7 chảo để làm “chín” đất trước khi thiết kế lô hàng.

2. Thiết kế lô – hàng – mật độ và khoảng cách trồng cao su

Thiết kế hàng: Nếu đất dốc phải thiết kế hàng theo đường đồng mức.

Mật độ và khoảng cách:

– Khoảng cách 7×2,5m (mật độ 570 cây/ha).

– Khoảng cách 6x3m (mật độ 550 cây/ha).

(A) Thiết kế lô trồng theo địa hình; (B) Thiết kế hàng trên đất dốc; (C) Mật độ và khoảng cách trồng hợp lý.

3. Đào hố và bón phân cho cao su

Hố cao su được đào:

– Dài x Rộng x Sâu = 60cm x 60cm x 70cm Bón phân (lót hố):

Phân chuồng: 10kg, phân lân: 0,2kg, vôi 0,3kg

Lưu ý: Phân + vôi + đất mặt trước khi lấp xuống hố.

Lấp hố xong trước khi trồng 20-30 ngày.

(A) Đào hố trồng cao su; (B) Bón lót + trồng cao su.

4. Chuẩn bị giống cây cao su

– Năng suất cao, sản lượng ổn định

– Chất lương và hàm lượng mủ tốt (được Bộ NN & PTNT chấp nhận)

(A) Vườn cao su đạt tiêu chuẩn; (B) Khai thác mủ cao su.

5. Tiêu chuẩn cây giống cao su

+ Đường kính cây đo ở độ cao 10cm phải đạt ≥16mm.

+ Mắt ghép có hạt gạo tốt, không dập, vết ghép ổn định.

+ Rễ cọc dài 40-45cm.

+ Cây cao su con ươm trong bầu nylon 18x35cm

+ Ghép giống tốt, cắt ngọn cao 5cm trên mắt ghép.

+ Mắt ghép sống ổn định, hạt gạo tốt.

– Cây bầu tầng lá (tương tự trồng bầu mắt ngủ). Chú ý:

+ Không để gãy chồi và vỡ bầu.

+ Khi trồng xong cắm cọc cao 70-100cm để giữ chồi.

Tưới nước cây cao su con.

6. Làm cỏ – tủ gốc – tỉa chồi

a. Làm cỏ:

Trên hàng cao su cách gốc 1,5m phải được làm sạch cỏ. Cỏ ở hàng luống giữa 2 hàng cao su phải được phát dọn và giữ thảm cỏ rộng 4m để bảo vệ đất chống xói mòn.

b. Tủ gốc giữ ẩm:

Cuối mùa mưa hàng năm cần dùng bã mía, rơm, cỏ khô…tiến hành tủ gốc cho cao su để giữ ẩm.

c. Tỉa chồi:

Sau khi trồng 2 tháng, thường xuyên kiểm tra để tỉa chồi dại mọc ra từ gốc.

(A) Chăm sóc cao su mới trồng; (B) Trồng cây che đất cho vườn cao su kiến thiết cơ bản; (C) Xới đất, bón phân cho vườn cao su.

7. Bón phân cho cây cao su

Bảng: Hướng sử dụng phân bón.

Phương pháp bón

● Năm thứ nhất:

– Lần 1 (khi cây có một tầng lá ổn định):

– Lần 2 (1 tháng sau lần 1)

– Lần 3 (1 tháng sau lần 2)

● Năm 2 – 4:

Đào rãnh sâu 7-10cm rộng 10-15cm theo hình chiếu của tán lá, sau đó rải phân đều vào rãnh và lấp đất.

● Cao su kinh doanh (cây giao tán):

Phân được trộn đều, rải giữa đường băng (rải phân vào ngày mưa nhỏ, đủ ẩm độ).

(A); (B) Bón phân cho cao su thời kỳ khai thác.