Quy Trình Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Ổi Tím Malaisia

Hiện nay trên thị trường xuất hiện giống ổi có màu tím lạ mắt, giá thành khá cao. Đó là giống ổi có nguồn gốc từ miền nam Mexico,và Trung Mỹ có tên gọi là ổi đỏ ( hay ổi tím Malaysia ). Sở dĩ giống cây này được mọi người ưa thích vì có màu tím đẹp mắt, vị ngọt, thịt dày, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, thích nghi được trên nhiều vùng đất.

Cây có chiều cao vừa phải khoảng từ 1-1,5m, có thể trồng được trong chậu nên vừa là cây cho quả, vừa là cây cảnh.

Cây có thân nhỏ, lá hoa, rễ,.. đều có màu tím hồng khác xa với giống ổi khác.

Hoa của ổi tím rất đẹp, to bằng lòng bàn tay, có màu hồng, tự thụ phấn, mọc thành những chùm nhỏ, hoa ra quanh năm

Rễ cây là rễ cọc, nông, có tác dụng hút chất dinh dưỡng từ trong đất lên nuôi cây sinh trưởng và phát triển.

Quả ổi tím mỏng hạt, thịt dày, có vị ngọt thơm đặc trưng, ăn rất mềm.

Cây ổi tím thích ánh nắng trực tiếp,ưa khí hậu ẩm, mát mẻ, dễ sinh trưởng trên nhiều loại đất trồng, kể cả đât bạc màu.

Thông thường khoảng 6 tháng là cây bắt đầu ra hoa, tuy nhiên đối với trồng bằng phương pháp gieo hạt thì hoa ra muộn hơn.

Cây ổi tím là loại cây sinh trưởng khá tốt, quả ngon, giá thành lại cao, mang lại hiệu quả kinh tế cho bà con nông dân, là giống quả được đẩy mạnh xuất khẩu sang nhiều thị trường.

Chọn giống: nếu tiến hành theo phương pháp ghép cây thì cần chú ý chọn cây giống với chiều cao trung bình là 40 cm, kích thước bầu từ 10-15 cm, khỏe mạnh không bị sâu bệnh.

Mật độ: Vì là loài ưa ẩm và khí hậu mát mẻ nên thời điểm lý tưởng để tiến hành gieo trồng là vào khoảng tháng 5-7, để tiết kiệm chi phí cũng như tăng năng suất nên trồng với khoảng cách 3 x 4m.

Làm đất và hố trồng: đất trồng phải tơi xốp, thoáng, có khả năng giữ nước, đặc biệt là đất phù sa. Đào hố sâu khoảng 20 cm, hình vuông.

Bón phân: Trước khi tiến hành canh tác khoảng 1 tháng

Công dụng của ổi

Trong ổi có giá trị dinh dưỡng rất cao, chứa ít chất béo bão hoà, cholesterol và natri nhưng chứa nhiều chất xơ, vitamin C, A, kẽm, kali và mangan… Ăn ổi thường xuyên và đúng cách có tác dụng tăng cường hệ thống miễn dịch, làm đẹp, giảm cân và một số tác dụng chữa bệnh khác.

Chúng tôi chuyên cung cấp cây giống chính gốc

Mọi thông tin vui lòng liên hệ:

Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội – Trung Tâm Cây Giống Chất Lượng Cao

Địa chỉ: Trâu Quỳ- Gia Lâm- Hà Nội

Email: [email protected]

Điện thoại: 0912 850 282

Quy Trình Chăm Sóc Cây Xanh

SẠCH VÀ XANH phân tích cho khách hàng hiểu rõ thêm quy trình chăm sóc cây xanh trang trí từ lúc mới trồng hay những cây trồng lâu năm, cách tưới nước , bón phân …

Cách duy trì – Chăm sóc cây xanh cây cảnh tranh trí

Chuẩn bị vật tư thiết bị nhân lực đến vị trí chăm sóc cây xanh.

Tới nước đẫm gốc cây xanh và tán lá

Nước máy lấy từ nguồn cung cấp của thành phố tưới tại chỗ hoặc vận chuyển đến bàng xe bồn cẩu

Dọn dẹp vệ sinh nơi làm việc, thu dọn rác thải trong phạm vi 30m.

Chùi rửa sạch sẽ, cất dụng cụ tại nơi quy định.

Công tác thay bồn cây

Quy trình chuẩn bị, vận chuyển vật tư, dụng cụ đến nơi làm việc

Nhổ sạch hoa tàn, cỏ dại dùng quốc xẻng xới tơi đất, san bằng mặt bồn theo đúng quy trình

Trồng cây xanh theo phân loại được chọn

Chùi rửa sạch sẽ, cất dụng cụ tại nơi quy định.

Bón phân cho cây xanh và xử lý đất bồn hoa

Chuẩn bị, vận chuyển vật tư, dụng cụ đến nơi làm việc ( địa điểm trồng cây xanh cần chăm sóc )

Trộn bón tốt nhất phù hợp với từng loại cây xanh, kết hợp thuốc xử lý đất theo quy định

Bón điều phân vào gốc cây cây xanh cần chăm sóc

Trồng theo chủng loại được chọn, thu dọn rác thải trong phạm vi 30m

Chùi rửa, cất dụng cụ tại nơi quy định

Duy trì cây hàng rào, đường viền

Chuẩn bị, vận chuyển vật tư trang thiết bị, dụng cụ đến nơi làm việc

Cắt sửa hàng rào vuông thành sắc cạnh, đảm bảo độ cao (thực hiện 12 lần/năm)

Bón phân hữu cơ 2 lần/năm

Trồng theo chủng loại được chọn, thu dọn rác thải trong phạm vi 30m.

Chùi rửa, cất dụng cụ tại nơi quy định.

Công ty TNHH giải pháp sạch và xanh chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ chăm sóc, trồng cây xanh tại Biên Hòa và các tỉnh lân cận Bình Dương, Vũng Tàu, Hồ Chí Minh, Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc cây xanh cho gia đình, chăm sóc cây xanh trong khuôn viên công ty, trường học, trồng cây tại các khu vực công cộng vui long liên hệ với chúng tôi theo thông tin.

Công ty TNHH giải pháp Sạch Và Xanh

Ngoài ra chúng tôi còn cung cấp dịch vụ vệ sinh công nghiệp với đội ngũ nhân viên chuyên môn. Đảm bảo sẽ mang lại dịch vụ tốt nhất cho quý vị. Liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và báo giá.

Địa chỉ: 88/06/38, Tổ 38, Kp9, Nguyễn Văn Tiên, P. Tân Phong, Tp. Biên Hòa, Đồng Nai.

Mã số thuế: 3603215402

Điện thoại: 39 408 39 – Hotline: 0915. 38 50 38

Tên tài khoản: Công ty TNHH Giải Pháp Sạch và Xanh

Số tài 0121000740593 – Ngân hàng Vietcombank – Đồng Nai.

Website: chúng tôi – vesinhcongnghiepdongnai.com.vn

Email: [email protected]

Quy Trình Chăm Sóc Cây Ớt

Cây ớt là loại cây dễ trồng dễ thích nghi, thuộc vào cây ngắn hạn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con nông dân. Tuy nhiên nó cũng chính là nhược điểm bởi chúng rất dễ dâu bệnh hại. Vậy làm thế nào để cây khỏe mạnh và sạch sâu bệnh, đạt năng suất mong muốn? Bài viết này, điện máy xin chia sẻ quy trình chăm sóc cây ớt cho bà con.

Sau khi trồng, cây ớt cần phải được chăm sóc cẩn thận tránh những sâu bệnh kém hiệu quả cũng như năng suất.

Cây ớt là loại cây chịu úng kém chính vì vậy nên có cống thoát nước tố vào mùa mưa, mùa khô thì tưới đầu đỉ nước. Theo các chuyên gia nông nghiệp thì nên tưới ở rãnh chúng sử dụng cơ chế thấm thấu vừa tiết kiệm được nước, giữ ẩm lâu và hiệu quả cho bón phân.

– Làm giàn: Thường thì giàn được làm bằng cây hay dây ni lông. Mỗi hàng ớt cắm 2 trụ cây lớn ở 2 đầu, dùng dây căng dọc theo hàng ớt nối với 2 trụ cây, khi cây ớt cao tới đâu căng dây tới đó để giữ cây đứng thẳng hoặc có thể mỗi cây ớt cắm một cây cọc

– Tỉa cành: Nên tỉa vào những ngày nắng ráo, tỉa bỏ các cành, lá ở dưới cành để cây ớt phân tán rộng và gốc được thông thoáng, chúng hạn chế được sâu bệnh.

Khi bón phân cần kiểm tra kỹ lưỡng độ dinh dưỡng có trong đất để có liều lượng phù hợp. Hiện nay hầu hết bà con ai cũng sử dụng máy đo độ dẫn điện xác định, ngoài kiểm tra dinh dưỡng trong đất, chúng còn kiểm tra được TDS, độ mặn hay nhiệt độ. Có máy mó bà con dễ dàng chăm sóc cây.

Liều lượng phân bón cho 1000m2 gồm có bón phân gốc và bón phân lá

Bón lót: 1 – 1,5 tấn phân chuồng ủ hoai + 20 kg phân N.P.K 16-16-8 + 1 kg HỢP TRÍ Super Humic + 2 kg Micromate (trung vi lượng) + 2 kg Basudin 10 H.

Bón thúc lần 1 (25 – 30 ngày sau trồng): 30 kg N.P.K 16-16-8 + 1 kg HỢP TRÍ Super Humic.

Bón thúc lần 2 (45 – 50 ngày sau trồng): 30 kg N.P.K 16-16-8 + 5 kg Ure + 5 kg Nitrabor.

Bón bổ sung khi đang thu hoạch trái: 20 kg N.P.K 16-16-8 + 250 g HỢP TRÍ Super Humic ngâm chung để tưới 5 – 7 ngày 1 lần (có thể trộn chung để rắc vào giữa 2 cây ớt nếu không phủ bạt).

Dùng phân bón lá nhằm mục đích bổ sung những dưỡng chất cây đang thiếu hoặc khó hấp thu qua rễ để giúp cây sinh trưởng khỏe, chắc chắn, cho năng suất cao nhưng trái có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, đồng thời cũng tăng sức đề kháng với sâu bệnh hại và điều kiện thời tiết bất lợi.

– Ngày thứ 7 – 14 sau khi trồng: phun Hydrophos liều 50 ml/bình 16 lít, giúp cây chống đén, cây thành thục và ra hoa sớm, ra hoa đồng loạt.

Ngày thứ 20 – 27 sau trồng: phun Bud Booster, có chứa kẽm, ma-nhê, bo nhằm tăng khả năng quang hợp, thúc ra tược và dưỡng lá, cây có bộ tán sum suê nhưng cứng chắc, lá xanh bền, tăng đề kháng với bệnh hại. Liều lượng 20 g/bình 16 lít.

Ngày thứ 30 – 37 sau trồng: phun Bortrac (20 ml/bình 16 lít) giúp cây thụ phấn và đậu trái tốt, không bị rụng cù nèo.

Khi trái đang phát triển: Phun 2 loại phân bón lá Caltrac + HỢP TRÍ HK 7-5-44+TE (15 ml + 40 g/bình 16 lít), 5 – 6 ngày/lần phun giúp trái đẹp nặng cân, tránh úng thối và nổ trái

Ngoài ra, bà con nên thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, loại bỏ lá già, lá sâu bệnh, phát hiện và phòng trừ kịp thời các loài dịch hại.

Trên đay là hướng dẫn chăm sóc cây ớt cơ bản và hiệu quả nhất hi vọng thông tin giúp ích cho bà con nông dân. Mọi thawvs mắc xin vui lòng liên hệ với chúng tôi qua hotline: 0978.455.263

Bài viết khác

Quy Trình Chăm Sóc Cây Bơ Sáp

Ngày đăng: 2024-04-14 15:09:42

Bài viết được giới một số nét chính về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây bơ tập trung trong giai đoạn kiến thiết cơ bản và một phần ở giai đoạn thu hoạch, ngoài ra tác giả mong muốn giới thiệu một số dòng bơ nghịch vụ đến bà con nông dân

1. Đất trồng cây Bơ sáp

trồng được ở nhiều loại đất nhưng thích hợp nhất ở đất đỏ bazan. Địa hình đất trồng bơ bắt buột phải thoát nước tốt, đây là lý do miền Tây Nam bộ khó phát triển được bơ. Độ pH đất từ 5 – 6, trên đất cà phê cần bổ sung vôi. Ở vùng đất quá dốc thì thiết kế theo đường đồng mức, tạo băng để hạn chế xói mòn.

2. Giống trồng cây Bơ sáp

Cây bơ trồng từ hạt phân ly rất lớn trên nhiều tính trạng và chất lượng quả. Phải trồng cây ghép đúng giống tốt, cây sinh trưởng khỏe, chống chịu sâu bệnh, năng suất đạt cao, dạng quả và chất lượng quả đãm bảo được thị trường trong nước và phù hợp một số tiêu chuẩn xuất khẩu. Hiện nay Công ty TNHH Một Thành Viên Dak Farm – Đơn vị duy nhất sở hửu 05 cây đầu dòng bơ mùa nghịch được tỉnh DakLak công nhận qua Hội đồng khoa học theo quyết định số 814/QĐ-SNNNT ngày 29/12/2009 và Thông báo số 29/SNNPTNT-TB ngày 27/04/2010

3. Mật độ, cách trồng cây Bơ sáp

– Điều kiện trồng thuần bơ, thiết kế khoảng cách 8m x 7m hoặc 9m x 6m, trồng xen kết hợp che bóng, chắn gió cho cà phê thiết kế 9m x 9m hoặc 9m x 12m, vườn trồng mới cà phê nên hạn chế xen bơ ở khoảng trống nơi ngã tư

– Hố đào 60 x 60 x 60cm bón lót mỗi hố 15 – 20 kg phân chuồng hoai (bổ sung men vi sinh), 0,5kg lân Ninh Bình, rải 0,3 -0,5kg vôi.

– Dùng dao rạch vòng tròn bỏ đáy túi nilông, cắt bỏ những rễ mọc dài ra khỏi bầu đất, rạch dọc từ đáy lên 10cm, đặt mặt bầu thấp hơn mặt đất 5 cm có ngọn quay về hướng gió và lấp đất

½ bầu cây, rút túi ny lon từ từ kết hợp lấp và nén đất vào xung quanh bầu đất, nên xen kẽ các giống nhóm hoa A, B. Bơ mới trồng rất cần che nắng, cắm cọc.

4. Phân bón cho cây Bơ sáp

Cây con nên bón 4 -5 lần/năm, lượng bón tùy tuổi cây. Khi cây bắt đầu cho quả, nhu cầu phân Kali cao hơn, và lượng bón ổn định ở năm thứ 9, thứ 10. Các giai đoạn sinh trưởng của cây bơ mùa nghịch khác nhiều so với cây cà phê nên cần có chế độ dinh dưỡng cân đối theo tuổi và giai đọan.

Cần bổ sung vôi và phân hữu cơ, phun bổ sung phân qua lá như phân bón lá cao cấp Alpha Super, Antonic, Thần Dược giai đoạn KTCB hoặc sau bón lần 1 và lần 3; Dùng Grow More trước và sau bón lần 4.

5.Tỉa cành tạo tán

Tiến hành 2 -3 lần/năm giai đoạn KTCB hoặc 1 lần sau thu hoạch, chú ý tỉa chồi của gốc ghép, tỉa những cành sâu bệnh sát đất, tỉa trống gốc nâng dần độ cao, tạo tán tròn đều thông thoáng đôi khi lệch về hướng gió lớn. Nên bỏ hoa ra trong năm đầu để cây đủ sức phát triển. Ơ cây còn nhỏ, chưa ổn định, điều kiện chăm kém, thiếu nước, tỉa không hợp lý đôi khi cây ra lệch mùa so với đặc tính giống!

6. Tưới và tủ gốc

Cây bơ cần lượng nước vừa phải nhưng tưới nhiều lần. Có thể tưới 10-15 ngày/lần trong mùa khô kết hợp tủ gốc, không cần tưới quá đẫm hay đầy bồn, kết hợp bón 2 lần phân trong mùa khô.

Việc tưới quá đẫm, sau đó để đất khô nứt sẽ làm đứt rể non, cây không phát triển hoặc chết.

7. Phòng trừ sâu, bệnh

Ở cây bơ, thiệt hại do bệnh nguy hiểm hơn sâu hại và nên quản lý theo hướng IPM (hạn chế dùng thuốc BVTV), nên tạo vườn thông thoáng, dọn sạch tàn dư, hạn chế ẩm ướt và phun thuốc phòng trị cục bộ.

7.1. Bệnh hại phổ biến

– Bệnh Thối rể, nứt thân:

Do nấm Phytophthrora cinamoni, ở các chân đất ẩm ướt, thủy cấp cao, nấm xâm nhập làm hư rể cọc, sau đó nấm lan tràn phá huỷ cả bộ rễ làm cây chết rụi. Cây bị bệnh có tán lá xơ xác, lá đổi sang mầu xanh nhạt rồi rụng, cành chết dần từ ngọn xuống thân chính.

Cần tránh ẩm ướt liên tục ở vùng rể; Phát hiện sớm những vết nứt dọc, xì mũ trên thân và thâm đen trong mạch gỗ.

– Bệnh khô cành: Do nấm Colletotrichum cloeosporiodes, nấm xâm nhập vào trên cành làm cành khô chết. Trên trái đã già, nấm xâm nhập qua vết thương, làm trái bị nhũn (thường là ở phần cuối trái).

Ngoài ra, bệnh còn do nắng nóng rọi trực tiếp trong thời gian dài, trường hợp này xuất hiện rất phổ biến ở những cây mới trồng ít lá.

– Bệnh trên quả già : Nấm bệnh xâm nhập từ khi quả đang phát triển (đường kính 1-3cm) tạo ra các điểm đen nhỏ trên vỏ quả, ở các giống bơ Sáp nhìn khá rỏ vào thời điểm sắp thu hoạch những vết nứt nhỏ, hình dấu cộng trên vỏ quả, các điểm đen này nứt và tách ra, làm giảm mẫu mã và giá bán. Nhìn chung, cần tạo vườn thông thoáng, dọn sạch tàn dư, sau đậu trái nên phun thuốc phòng ngừa

7.2. Sâu hại phổ biến

– Côn trùng hại rể: Gồm các đối tượng thường thấy như mối, sùng, dế, kiến, đặc biệt là rệp sáp, tập trung ở tầng đất từ 0 – 50cm, cây bị bệnh có lá vàng nhạt, cây suy dễ chết.

– Bọ xít: Gồm 2-3 loài, chích hút nhựa đọt non, lá non làm héo và chùm đọt, đặc biệt là trái non tạo ra các chấm đen trên vỏ quả và nhiều hạt chai cứng trong thịt quả, mật số cao sẽ làm rụng nhiều quả, là cửa ngõ xâm nhập của nhiều loại nấm bệnh, làm giảm rất rỏ năng suất và chất lượng quả.

– Mọt đục thân cành:

Xuất khá phổ biến trên các vườn bơ, tạo nhiều lổ đục nhỏ trên thân, cành (khác với sâu đục cành) với lớp phấn trắng ở lổ đục (có thể là nấm) xuất hiện từ giữa mùa mưa khá rộ vào đầu đến giữa mùa khô, lổ đục tuy nhỏ và đường đục ngắn nhưng làm giảm quá trình sinh trưởng, phát triển và cành dễ gãy.

8. Thu hái & vận chuyển theo tiêu chuẩn

8.1. Dụng cụ: Gồm sào thu hái gắng với túi hái có lưỡi cắt, bao, bạt gom quả, kéo cắt cành, sọt chuyên chở và tấm lót

8.2. Xác định độ già thu hoạch

Cây bơ ra nhiều đợt hoa, để đảm bảo chất lượng, vụ bơ nên thu hoạch từ 2 – 4 đợt quả, xác định qua nhiều đặc điểm bên ngoài và bên trong

– Bắt đầu có một vài quả già rụng

– Vỏ quả chuyển màu tím hay xanh nhạt hơn, độ bóng thay đổi, có nhiều u cám hay sần hơn

– Âm thanh phát ra khi lắc quả (hạt lỏng)

– Vỏ lụa, vỏ hạt khô, dai và chuyển sang màu cánh dán

– Màu thịt quả vàng hơn

– Xác định qua hàm lượng % chất khô

8.3 Phân loại, vận chuyển về vựa

– Cắt cuống còn 5mm, phân loại sơ bộ thành 2-3 loại, xếp vào sọt riêng hay theo lớp riêng, lót carton, rơm để chống sốt, trày sướt, che đậy giỏ bơ bằng bạt gom quả.

TIN TỨC KHÁC :

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Xen Ổi Trong Vườn Cam

I. Chuẩn bị đất trồng cho ổi và cam

Tùy theo địa hình đất (cao hay thấp, dễ hay khó thoát nước) mà lựa chọn phương pháp lên luống hay đắp ụ cho phù hợp.

Trồng cây chắn gió, thiết kế hàng rào bảo vệ, hệ thống thoát nước, hệ thống cung cấp nước tưới trước khi trồng cây.

1.2. Mật độ, khoảng cách:

Tùy theo khí hậu từng vùng, đất đai, kỹ thuật canh tác mà xác định khoảng cách trồng cho phù hợp, khoảng cách trồng thích hợp nhất cho cam và ổi là 4 x 4m. Trồng xen kẽ nhau, 1 hàng ổi trồng xen với 2 hàng cam.

+ Trồng ổi trước 6 tháng sau đó mới trồng cam (vụ Xuân trồng ổi, vụ Thu trồng cam hoặc ngược lại).

Đào hố trồng với kích thước: 0,6 x 0,6 x 0,6m. Khi đào, lớp đất mặt để riêng, lớp đất dưới trộn với phân chuồng, vôi bột, lân sau đó lấp hố cao hơn mặt đất 20 – 30cm.

Khi trồng, đào lỗ giữa mô, đặt bầu cây con xuống sao cho mặt bầu cao hơn mặt mô 3 – 5cm. Sau đó dùng đất vun tới mặt bầu rồi dận chặn, tưới nước.

Khi đặt cây phải cắm cọc cố định thân để cây khỏi bị tác hại của gió.

* Chăm sóc thời kỳ chưa mang quả

Những năm đầu cây còn nhỏ chưa giao tán phải làm sạch cỏ gốc. Ở những vùng đất bằng hoặc hơi dốc nên trồng cây phân xanh ở giữa các hàng cây để vừa che phủ đất giữ ẩm, chống cỏ dại, tạo nguồn phân xanh cải tạo đất và cung cấp dinh dưỡng cho cây.

Đối với đất dốc, giữa các hàng cam, ổi gieo 1 hàng rào kép cây phân xanh thuộc loại thân bụi như muồng, cốt khí, keo, đậu, lạc để chống xói mòn và cung cấp chất hữu cơ tại chỗ. Lượng hạt cây phân xanh từ 20-25kg/ha. Diện tích đất trống còn lại trên băng gieo các loại cây họ đậu thân thảo như cây đậu tương, cây lạc, lạc dại.. để che phủ, giữ ẩm đất và chống cỏ dại. Thường gieo trồng cây phân xanh trước khi trồng cam, ổi hoặc ngay sau khi trồng.

Khi cây đạt chiều cao 60 cm, bấm ngọn tạo cành cấp 1, để 03 cành cấp 1 hướng đều về các phía. Sau đó tạo cành cấp 2 và 3 tương tự để tán cây xòe đều không quá rậm rạp.

+ Liều lượng (tham khảo):

Loại phân Lượng phân bón (g/cây)

+ Thời kỳ bón: Bón phân thúc 4-5 lần/năm vào các tháng 2, 4, 6, 10 và tháng 12. Lượng phân chia đều trong các lần bón.

+ Phương pháp bón: Lúc cây còn nhỏ, phân vô cơ được hòa với nước để tưới cho cây kết hợp với các đợt xới xáo làm cỏ.

Khi cây lớn, rạch rãnh xung quanh tán, rãnh sâu khoảng 10 -15 cm, rắc phân vào rãnh rồi lấp đất lại. Mỗi lần bón phân đều phải kết hợp với làm cỏ, xới xáo gốc, tưới nước và tủ gốc cây.

Phân chuồng được bón với lượng 50 – 60kg/cây/năm đối với giai đoạn kiến thiết cơ bản, những năm sau đó bón tăng dần mỗi năm từ 10 đến 20 kg theo tuổi cây, bón 1 lần vào cuối năm. Khi bón phân chuồng, rãnh bón được cuốc sâu và rộng hơn, sâu từ 15 – 20 cm, rộng từ 20 – 30 cm.

* Chăm sóc thời kỳ kinh tế (thời kỳ cây mang qua)

Thường xuyên phát cỏ, tủ gốc để giữ ẩm. Bổ sung nước tưới để duy trì ẩm độ đất đạt từ 70-75% sau khi đậu quả và trong giai đoạn quả lớn.

+ Lượng bón (tham khảo): Vào thời kỳ kinh tế, lượng phân bón chủ yếu dựa vào năng suất vụ trước đó để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho cây.

Lượng phân bón được khuyến cáo sử dụng theo bảng sau:

+ Thời kỳ bón: Bón phân trong thời kỳ cây cho quả được chia làm 3 lần chính: bón sau thu hoạch quả, bón trước khi ra hoa và bón trong thời gian quả lớn. Lần bón thứ 3 có thể được chia thành 2 – 4 lần nhỏ, tùy điều kiện từng nơi. Lượng phân bón được áp dụng theo hướng dẫn trong bảng dưới.

* Bón sau thu hoạch: Rạch rãnh xung quanh tán (rộng 30 cm, sâu 20 cm), rắc phân (phân vô cơ và hữu cơ) vào rãnh rồi lấp đất kín.

* Bón thúc: bón theo rãnh, rãnh sâu 10 cm, rộng 15 cm, mỗi lần bón phân đều phải kết hợp với làm cỏ, xới xáo gốc, tưới nước và tủ gốc lại gốc cây.

Tiến hành cắt tỉa 3 lần trong năm, vào các đợt sau:

+ Đợt 1: Cắt tỉa sau thu quả. Cắt bỏ tất cả những cành trong tán, cành nhỏ, cành yếu, cành sâu bệnh, một số cành vượt, cành mọc đan xen nhau. Cắt tỉa kết hợp với vệ sinh đồng ruộng, đốt bỏ hết tàn dư sâu bệnh trên vườn.

+ Đợt 2: Cắt vào vụ xuân, thời điểm cây ra hoa đậu quả: cắt bỏ những cành yếu, cành có chùm hoa nhỏ, cành sâu bệnh, cành mọc trong tán.

+ Đợt 3: Cắt tỉa vào vụ hè, giai đoạn quả lớn: Cắt bỏ những cành sâu bệnh, tỉa bỏ quả nhỏ quả dị hình.

*Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella)

Là loại sâu ưa tán thấp, cây cao khoảng 1,5 m trở xuống. Ban đêm loại bướm này bay ra đẻ trứng vào chồi non lá non.

Phá hoại chủ yếu ở thời kỳ vườn ươm và cây nhỏ 3-4 năm đầu mới trồng. Trên cây lớn thường phá hoại vào thời kỳ lộc non, nhất là đợt lộc Xuân.

Sâu non nở ra ăn các lớp biểu bì trên lá, tạo thành các lớp ngoằn nghoèo, lá xoăn lại cuối đường cong vẽ trên mặt lá có sâu non bằng đầu kim. Sâu phá hoại mạnh ở tất cả các tháng trong năm, mạnh nhất từ tháng 2-10.

Khi bị sâu vẽ bùa gây hại, cây quang hợp kém, ảnh hưởng đến sức sinh trưởng đồng thời tạo ra những vết thương cơ giới, là cơ hội để bệnh loét xâm nhập.

Phun thuốc phòng 1-2 lần trong mỗi đợt cây có lộc non và hiệu quả nhất (lúc lộc non dài từ 1-2cm).

Khi chồi non 1 – 2 cm phun lần 1, sau 6, 7 ngày chồi non vẫn phát triển thì phun lần 2.

Dùng thuốc Polytrin, liều lượng : 25ml/10lít nước hoặc Selecron, Trebon pha nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất để phòng trừ. Phun ướt hết mặt lá.

*Rầy chổng cánh (Diaphorina citri)

Chúng chích hút lá non, đọt non, cành non là môi giới truyền bệnh vân vàng lá. Thời gian xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 11.

Biện pháp phòng trừ: Phun bằng thuốc Trebon 0,2%, Sherpa 0,2% khi xuất hiện hoặc cung tên 100g/16 lít nước.

* Nhện đỏ (Panonychus citri)

– Phát sinh quanh năm hại lá là chính, chủ yếu vào vụ Đông Xuân. Nhện đỏ rất nhỏ, màu đỏ thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo đi. Trên lá nơi nhện tụ tập thường nhìn trên mặt lá thấy những vòng tròn lá bị bạc hơn so với chỗ lá không có nhện và hơi phồng lên nhăn nheo. Những cây cam gần với nương chè thường hay có nhện đỏ phá hoại.

– Nếu có nhiều nhện đỏ lá cây bạc ra, cành lá non bị vàng. Khi cây đã cho quả ở thời kỳ quả non tháng 1, 2 nếu có nhện đỏ ăn vào phần vỏ quả sau này quả bị rám (màu xám đen).

– Để trừ nhện đỏ dùng thuốc: Comite 10ml/10lít nước; Furmite:12ml + 30ml dàu khoáng SK hoặc Ortus Pegasus pha nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc thuốc có chứa hoạt chất Abamectin kết hợp với dầu khoáng trừ sâu… phun ướt cả mặt lá dưới và phun lúc cây ra lộc non để phòng. Nếu đã bị nhện phá hại nặng phải phun liên tục 2-3 lần, mỗi lần cách nhau 5-7 ngày.

* Nhện trắng (Phyllocoptura oleivora)

– Phát sinh chủ yếu trong thời kỳ khô hạn kéo dài vài tháng( trời âm u hoặc cây bị che bóng bởi các cây khác). Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu xám trắng ở trên vỏ quả.

– Nhện trắng làm lá non và búp non chùn lại

– Để trừ nhện trắng dùng thuốc: Polytrin : 25ml/10lít nước

hoặc Ortus, Pegasus, Comite hoặc dầu khoáng trừ sâu… pha nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất phun ướt cả mặt lá dưới và phun lúc cây ra lộc non để phòng. Nếu đã bị nhện phá hại phải phun liên tục 2-3 lần, mỗi lần cách nhau 5-7 ngày.

– Có thể dùng thuốc Suprasite 20ml/10l nước.

* Sâu đục thân (Chelidonium argentanum),

Do xén tốc hoa từ tháng 4 đến tháng 9 vũ hóa bay ra đẻ trứng vào gốc cây, thân cây, sâu nở ăn thẳng vào vỏ cây

– Thời gian xuất hiện từ tháng 5-8-9.

+ Dùng thuốc Supracide hoặc Ofatox nồng độ 1-1,5/1000 bơm vào lỗ đục của cây sau đó dùng đất sét bịt miệng lỗ lại. Kết hợp phun các loại thuốc lên trên cây để diệt trứng.

Chú ý: sâu đục thân thường đẻ trứng ở các kẽ nứt của vỏ ở phần thân cây và gốc cây, vì vậy vào tháng 11-12 người ta thường dùng hỗn hợp: 10kg bùn ao + 01 kg Basudin + 05 kg phân trâu+ 20 lít nước sạch, khuấy đều thành dung dịch đắc sệt rồi quét từ gốc cây lên đến cành cấp 1 vào tháng 4 và tháng 8 hàng năm sẽ có tác dụng: một là lấp các kẽ nứt ở vỏ cây làm cho sâu không có chỗ đẻ trứng, hai là nếu sâu đẻ trứng thì hỗn hợp thuốc sẽ làm cho trứng bị ung không nở thành sâu non để phá hại được.

* Sâu đục cành (Nadezhdiella cantori).

Từ tháng 4 đến tháng 9 xén tốc đen, xén tóc nâu vũ hóa bay ra đẻ trứng và kẽ lá cành non và bịt lên 1 lớp sáp (tránh mưa, nắng).

Khi sâu non nở ăn lên phần ngọn non làm cành lá non bị héo vài ngày sau sâu to răng khỏe ăn dần xuống cành to.

Nắm được quy luật này về mùa mưa 2 – 3 ngày 1 lần đi kiểm tra quang tán cây nếu cành héo bẻ bỏ đi để tránh sâu ăn xuống.

Nếu nỡ để sâu ăn xuống khoảng 8 – 10 cm, sâu tạo lỗ để đùn phân ra.

Cách trị: dùng tốc mây hoặc dây thép để lấy xác sâu ra hoặc xịt thuốc nồng độ cao vào lỗ có sâu.

*Ruồi vàng: Bactrocera dorsalis

Ruồi vàng (nhỏ hơn con ruồi thường) màu vàng, xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 10 trong năm.

Ruồi vàng chích hút bí, mướp. Đến tháng 8, 9 chích sang cam, bưởi .

Thuốc dùng: Đánh bả protein rất đơn giản, nếu sử dụng để diệt ruồi đực, tẩm 2ml hợp chất dẫn dụ (ME hoặc CuE + 20% thuốc trừ sâu) vào bẫy. Treo bẫy lên cây nơi râm mát ở độ cao 1,5-2m. Mỗi ha treo 20- 30 bẫy, cứ sáu tuần thay bả một lần. Còn nếu dùng bả để phun phòng thì chỉ cần pha 50ml bả protein + 10ml Pyrinex 20EC + 0,95 lít nước để trừ. Khi phun cần phun theo điểm đối với cây ăn quả, mỗi điểm phun 50ml hỗn hợp tương ứng 1m2/cây) vào dưới tán lá, phun định kỳ 5- 7 ngày/lần.

Thuốc diệt ruồi vàng đục trái Vizibon D: Hộp nhỏ chứa 2 chai thuốc gồm 1 chai lớn(chất dẫn dụ ruồi) và 1 chai nhỏ(chất diệt ruồi). khi sử dụng mở nắp 2 chai thuốc. Đổ hết thuốc diệt ruồi vào chai chất dẫn dụ, đậy nắp kín, lắc đều. Sau đó tẫm khoảng 1ml hỗn hợp thuốc đã trộn vào bẫy, treo lên cây. Treo từ 2-3 bẫy cho mỗi 1000m2. Sau 20 ngày treo, đỗ hết xác ruồi chết, tẫm thuốc mới vào bẫy, tiếp tục treo lên cây.

Chú ý: Thuốc đã hỗn hợp nếu không dung hết, đậy nắp kín, để nơi thoáng mát và có thể sử dụng trong vòng 6 tháng

Thời gian cách ly: Ngưng thuốc 4 ngày

* Bệnh loét (Xanthomonas campestris)

– Triệu chứng bệnh: Gây hại nặng tất cả thời kỳ trồng cây cam nếu không được phòng chống tốt. Trên lá xuất hiện các vết bệnh màu nâu, có thể lốm đốm hoặc dày đặc trên mặt lá, hình tròn, bề mặt vết bệnh sần sùi, gồ ghề. Nếu bệnh xuất hiện trên cành thì sẽ nhìn thấy các đám sần sùi như ghẻ lở, màu vàng hoặc nâu. Cành bị nhiều vết bệnh sẽ bị khô và chết, Thời kỳ mang quả bệnh tấn công từ lúc quả còn nhỏ đến khi quả lớn, bệnh nặng làm rụng quả. Năm nào mưa nhiều kèm thời tiết nóng ẩm bệnh phát mạnh thành dịch.

– Trị bệnh loét bằng cách phun boocdo 1% hoặc Kasuran: 0,2%, Koside: 35g/10 lít nước, Oxyclorua Đồng.

– Thuốc phòng là chính.

– Thuốc hiệu quả nhất là boocdo, 15g suphatdong +20g vôi tôi/12lít nước

Phải pha đúng cách với thành boocdo

15gđồng đổ vào 1 thùng 9 lít nước quấy đều cho hoà tan hết.

20g vôi tôi đổ vào 1 thùng 3lít nước hoà tan hết.

Dùng dung dịch đồng đổ vào nước vôi vừa đổ vừa quấy đều với thành boocdo màu xanh da trời, không bị lắng cặn.

Cách thử: nếu nhúng dao mài sắc vào boocdo lưỡi dao màu xỉn xám là pha chuẩn, nếu lưỡi dao màu han gỉ vàng là pha không đúng.

( Nếu pha không đúng gây hại cho cây và không phòng được bệnh).

Nếu thời tiết có độ ẩm cao, mưa nhiều, trời âm u thiếu ánh nắng bệnh nấm phấn trắng phát triển có thể thành dịch, nếu không phòng trừ kịp thời:

– Triệu chứng: Trên lá xuất hiện những đám như bụi phấn màu trắng ở cả mặt trên và dưới lá. Bệnh này lây lan rất nhanh phải phòng trị kịp thời

– Dùng thuốc Anvin 1 hộp/ 100lit nước. Phun kép 2 lần cách nhau 5 ngày, phun ướt cả mặt trên và mặt dưới lá

*Bệnh sẹo (Elsinoe fawcetti Bit. Et Jenk)

– Triệu chứng: Lá và quả có những nốt nổi gồ ghề màu nâu, thường gây hại lá và quả lúc còn nhỏ

– Thuốc dùng: Boocdo phun phòng như ở phần bệnh loét hoặc Kocide 30g/10 lít nước.

* Bệnh chảy gôm (Phytophthora sp )

– Triệu trứng và tác hại của bệnh: Bệnh thường phát sinh ở phần gốc cây, cách mặt đất khoảng 20-30cm trở xuống cổ rễ và phần rễ. Giai đoạn đầu bệnh mới phát sinh thường vỏ cây bị nứt và chảy nhựa( chảy gôm). Bóc lớp vỏ ra, ở phần gỗ bị hại có màu xám và nhìn thấy những mạch sợi đen hoặc nâu chạy dọc theo thớ gỗ.

Bệnh hại nặng, lớp vỏ ngoài thối rữa (giống như bị luộc nước sôi) và rất dễ bị tuột khỏi thân cây, phần gỗ bên trong có màu đen xám. Nếu tất cả xung quanh phần cổ rễ bị hại, cây có thể bị chết ngay, nếu bị một phần thì cây bị vàng úa, sinh trưởng kém, bới sâu xuống dưới có thể thấy nhiều rễ cũng bị thối

+ Đối với vết hại cục bộ phần thân gốc: Cạo sạch vết bệnh, dùng thuốc Aliette nồng độ 0,5% quét vào vết bệnh.

+ Đối với những cây có biểu hiện triệu trứng nhẹ cần phun Aliette nồng độ 0,3% lên toàn bộ cây, thuốc Aliette có tác dụng lưu dẫn trong nhựa cây để diệt nấm Phytophthora sp

+ Chú ý đào rãnh thoát nước tốt cho vườn cây, tránh tình trạng gây úng cục bộ.

* Các bệnh do virus và siêu vi khuẩn không thể chữa trị bằng các loại thuốc hoá học như một số loại bệnh khác mà phải phòng trị bằng các biện kỹ thuật tổng hợp, bắt đầu từ khâu nhân giống sạch bệnh tới các kỹ thuật canh tác, vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ môi giới truyền bệnh…vv

Bệnh virus phổ biến đối với cây có múi là bệnh Greening, Tristeza. Khi phát hiện cây bị bệnh, tốt nhất là chặt bỏ những cây bị bệnh để tránh lây lan sang cây khác.

Đây là bệnh nguy hiểm gây hại quan trọng nhất trên cây có múi. Bệnh lan truyền chủ yếu do giống đã bị nhiễm. Đặc biệt bệnh lan truyền nhanh do môi giới truyên fbệnh là rầy chổng cánh

Triệu chứng: Triệu chứng điển hình là lá bị vàng có đốm xanh, lá vàng có những gân xanh, lưng lá bị sưng và hoá bẩn, khô, những lá mới nhỏ lại mọc thẳng đứng và có màu vàng. Cây thường ra hoa nhiều và ra quả trái vụ nhưng rất dễ rụng, quả nhỏ, quả bị lệch tâm, tép nhỏ, 1số hạt bị thui đen. Cây bị bệnh hệ thống rễ thối nhiều. Giám định bằng triệu chứng phải kết hợp nhiều triệu chứng lại với nhau mới chính xác.

+Trồng cây giống sạch bệnh

+Không nên trồng cây có múi vào vùng có áp lực bệnh quá cao.

+Phun thuốc trừ rầy chổng cánh

+Không nên trồng cây nguyệt quế trong vườn vì rầy chổng cánh rất thích đẻ trứng và chích hút cây này.

II. Đối với cây ổi xá lỵ không hạt ruột trắng

+ Tiêu chuẩn cây con:Trồng bằng cây ghép mắt hoặc cành chiết, chiều cao cây giống đạt 50 – 70 cm, trồng trong túi bầu Polyme màu đen, cây không bị sâu bệnh hại.

– Tưới nước: Tưới ngay sau khi trồng, phải tưới thường xuyên vào mùa nắng. Tưới nước vào lúc cây đang mang trái giúp gia tăng năng suất và kích thước trái.

– Che phủ gốc: Hàng năm nên đắp thêm đất hay bùn ao vào gốc ổi. Vào mùa nắng nên phủ cỏ khô hay rơm rạ vào gốc để giữ ẩm.

– Tỉa cành và xử lý ra hoa ổi

Tỉa cành: Để tỉa cho bằng nhau giữa các cây ổi, người ta cắm một cây đo làm chuẩn và dùng kéo cắt đọt ngang với chiều cao cây đó.

Chiều cao cây 3 – 4 năm tuổi cao: 1,5 m; 5 – 6 năm tuổi cao: 1,6 – 1,7 m; 7 – 8 năm tuổi cao: 2 m

Trường hợp nhánh ổi chưa ra hoa, dùng kéo bấm bỏ đọt sao cho trên nhánh đó chỉ còn mang ba cặp lá kép.

Đối với nhánh ổi đã ra hoa, nếu thấy mới chỉ có một cặp hoa (nụ) thì bấm bỏ đọt nhưng chừa phía trên cặp hoa đó một cặp lá để có thể ra thêm một cặp nụ mới từ cặp lá đó.

Sau khi trên nhánh ổi có đủ hai cặp nụ thì cắt bỏ đọt hết, không chừa cặp lá nào phía trên cặp nụ trên cùng nữa để nhánh ổi có thể tập trung dinh dưỡng nuôi quả.

Việc bấm đọt được tiến hành thường xuyên 1-2 tuần/lần.

Cây ổi tăng trưởng nhanh, ra hoa và trái liên tục nên đòi hỏi nhiều chất dinh dưỡng. Chất đạm và lân cần thiết cho cây phát triển tốt, ra nhánh, ra hoa và trái phát triển. Khi mang trái, cần nhiều Kali để tăng phẩm chất trái.

Cây ổi sẽ được cung cấp phân liên tục từ khi trồng đến khi cho trái. Lượng phân bón cung cấp sẽ gia tăng dần khi cây lớn.

Phân được rãi cách gốc 30cm, bón ở ngoài sâu, trong hơi cạn khi vùi phân vào đất.

Các dạng phân bón và liều lượng (tham khảo)

Hàng năm nên bón thêm phân hữu cơ hoai mục 5 – 10kg/cây. Có thể sử dụng các loại phân chuồng đã được ủ cho hoai mục hoặc dùng các loại phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh đã qua quá trình chế biến công nghiệp

Rầy đeo bám ở đọt non và mặt dưới lá, chích hút nhựa làm quắn đọt, chồi tăng trưởng kém, tạo điều kiện để nấm bồ hóng phát triển.

Cách phòng trị: Phun Bassa 50ND, Trebon 10EC, Applaud 10WP, Sevin 85WP nồng độ 0,1-0,2%.

* Rệp dính, rệp sáp, rệp phấn trắng

Đeo trên thân, dọc theo gân chính ở mặt d¬ới lá chích hút nhựa làm khô lá, giảm kích thước trái.

Cách phòng trị: Bi 58 40 EC, Suppracide 40 ND, Confidor 100 SL, Admire 50 EC nồng độ 0,1-0,2%. Nên kết hợp với chất dính ST 0,1%.

* Ruồi đục trái (Dacus dorsalis)

Thành trùng đẻ trứng bên trong trái, trứng nở thành giò ăn phá thịt trái và làm thối trái. Thành trùng dễ bị quyến rũ bởi chất chua ngọt nên có thể bẫy bắt bằng bã mồi. Thường xuất hiện trên ổi trong mùa mư¬a.

Cách phòng trị: Biện pháp có hiệu quả cao là đặt bẫy. Dùng chất Methyl Eugenol để bẫy ruồi. Hiệu quả cao nếu bẫy màu vàng. Tuy nhiên, hơn 95% ruồi vào bẫy chết là ruồi đực, trong lúc ruồi cái vẫn tiếp tục đẻ trứng ở các cây kế cận. Tránh kéo dài mùa thu hoạch ổi. Nhặt bỏ trái rụng, vệ sinh vườn hạn chế ruồi làm nhộng trong đất.

* Sâu đục cành (Zeuzera coffeae)

Sâu non có màu hồng, đục vào bên trong cành nhất là những cành mọc thẳng đứng, đùn phân và mạt gỗ ra ngoài, thường gặp một sâu phá hại một cành. Sâu làm nhộng bên trong cành. Cành bị chết khô và gãy.

* Bệnh thán thư (anthracnose, do Gloesporium psidii và Glomerella psidii)

Nấm tấn công trên cành, lá, hoa và trái. Triệu chứng bệnh thay đổi tùy điều kiện môi trường.

Triệu chứng trên trái thường dễ gặp, nhất là vào mùa mư¬a. Bệnh làm thành những chấm nhỏ, màu hồng trên trái ch¬a chín, mầm bệnh tồn tại ở trạng thái ngủ suốt trong thời gian trái phát triển và bắt đầu lan rộng thành những đốm tròn, màu nâu đen khi trái chín, trung tâm vết bệnh còn nổi rõ những hạch cứng, trái bệnh nhỏ, cứng, khô và dễ rụng.

Triệu chứng chết đọt cũng thường xảy ra. Chồi và lá non có thể bị nấm tấn công, chồi ngọn trở nên hơi tím, sau đó thành nâu đen, khô giòn và dễ gãy.

Cách phòng trị: Phun Dithane M-45 (Mancozeb 80 WP, Pencozeb 80 WP, Manzate 80 WP), Bayfidan 25 EC, Antracol 70 WP, Ridomil 72 WP nồng độ 0,1-0,2%.

Do nấm Cercospora psidii gây ra. Nấm gây những đốm bệnh tròn, tâm màu nâu nhạt, chung quanh màu nâu đậm. Bệnh làm giảm diện tích lá xanh và làm rụng lá.

Cách phòng trị: Phun Copper-B 65 BHN, Mancozeb 80 WP, Score 250 EC nồng độ 0,1-0,2%.

Nhằm hạn chế sâu bệnh tấn công, nên tiến hành bao trái khi trái non có đường kính khoảng 2,5 – 3 cm; vật liệu bao trái phổ biến hiện nay là dùng bao nilon đã được đục lổ để bao. Những trái được bao lại sẽ có vỏ trái bóng đẹp hơn và dễ tiêu thụ hơn so với những trái ổi không được bao trái.

Đối với quả cam: Tiến hành thu hoặc khi quả chuyển màu vàng. Quả được thu hoạch vào lúc trời khô ráo, không nên thu trái ngay sau mưa hoặc vào những ngày mù sương vì quả dễ bị ẩm thối. Quả thu xong cần để nơi thoáng mát, không nên tồn trữ quá 15 ngày kể từ khi thu hoạh sẽ làm giảm giá trị thương phẩm quả.

Đối với cây ổi: Thời gian thu hoạch ổi tập trung từ tháng 9 đến Tết Nguyên Đán. Tuy nhiên, có những vườn ổi xử lý ra hoa cho trái liên tục quanh năm. Ổi thường được thu hoạch vào buổi sáng, cắt bằng kéo, trái được bao và còn cuống dính lá ở trên thì khi bán sẽ được giá hơn.