Quy Trình Chăm Sóc Cây Bơ / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Chăm Sóc Cây Bơ Sáp

Ngày đăng: 2017-04-14 15:09:42

Bài viết được giới một số nét chính về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây bơ tập trung trong giai đoạn kiến thiết cơ bản và một phần ở giai đoạn thu hoạch, ngoài ra tác giả mong muốn giới thiệu một số dòng bơ nghịch vụ đến bà con nông dân

1. Đất trồng cây Bơ sáp

trồng được ở nhiều loại đất nhưng thích hợp nhất ở đất đỏ bazan. Địa hình đất trồng bơ bắt buột phải thoát nước tốt, đây là lý do miền Tây Nam bộ khó phát triển được bơ. Độ pH đất từ 5 – 6, trên đất cà phê cần bổ sung vôi. Ở vùng đất quá dốc thì thiết kế theo đường đồng mức, tạo băng để hạn chế xói mòn.

2. Giống trồng cây Bơ sáp

Cây bơ trồng từ hạt phân ly rất lớn trên nhiều tính trạng và chất lượng quả. Phải trồng cây ghép đúng giống tốt, cây sinh trưởng khỏe, chống chịu sâu bệnh, năng suất đạt cao, dạng quả và chất lượng quả đãm bảo được thị trường trong nước và phù hợp một số tiêu chuẩn xuất khẩu. Hiện nay Công ty TNHH Một Thành Viên Dak Farm – Đơn vị duy nhất sở hửu 05 cây đầu dòng bơ mùa nghịch được tỉnh DakLak công nhận qua Hội đồng khoa học theo quyết định số 814/QĐ-SNNNT ngày 29/12/2009 và Thông báo số 29/SNNPTNT-TB ngày 27/04/2010

3. Mật độ, cách trồng cây Bơ sáp

– Điều kiện trồng thuần bơ, thiết kế khoảng cách 8m x 7m hoặc 9m x 6m, trồng xen kết hợp che bóng, chắn gió cho cà phê thiết kế 9m x 9m hoặc 9m x 12m, vườn trồng mới cà phê nên hạn chế xen bơ ở khoảng trống nơi ngã tư

– Hố đào 60 x 60 x 60cm bón lót mỗi hố 15 – 20 kg phân chuồng hoai (bổ sung men vi sinh), 0,5kg lân Ninh Bình, rải 0,3 -0,5kg vôi.

– Dùng dao rạch vòng tròn bỏ đáy túi nilông, cắt bỏ những rễ mọc dài ra khỏi bầu đất, rạch dọc từ đáy lên 10cm, đặt mặt bầu thấp hơn mặt đất 5 cm có ngọn quay về hướng gió và lấp đất

½ bầu cây, rút túi ny lon từ từ kết hợp lấp và nén đất vào xung quanh bầu đất, nên xen kẽ các giống nhóm hoa A, B. Bơ mới trồng rất cần che nắng, cắm cọc.

4. Phân bón cho cây Bơ sáp

Cây con nên bón 4 -5 lần/năm, lượng bón tùy tuổi cây. Khi cây bắt đầu cho quả, nhu cầu phân Kali cao hơn, và lượng bón ổn định ở năm thứ 9, thứ 10. Các giai đoạn sinh trưởng của cây bơ mùa nghịch khác nhiều so với cây cà phê nên cần có chế độ dinh dưỡng cân đối theo tuổi và giai đọan.

Cần bổ sung vôi và phân hữu cơ, phun bổ sung phân qua lá như phân bón lá cao cấp Alpha Super, Antonic, Thần Dược giai đoạn KTCB hoặc sau bón lần 1 và lần 3; Dùng Grow More trước và sau bón lần 4.

5.Tỉa cành tạo tán

Tiến hành 2 -3 lần/năm giai đoạn KTCB hoặc 1 lần sau thu hoạch, chú ý tỉa chồi của gốc ghép, tỉa những cành sâu bệnh sát đất, tỉa trống gốc nâng dần độ cao, tạo tán tròn đều thông thoáng đôi khi lệch về hướng gió lớn. Nên bỏ hoa ra trong năm đầu để cây đủ sức phát triển. Ơ cây còn nhỏ, chưa ổn định, điều kiện chăm kém, thiếu nước, tỉa không hợp lý đôi khi cây ra lệch mùa so với đặc tính giống!

6. Tưới và tủ gốc

Cây bơ cần lượng nước vừa phải nhưng tưới nhiều lần. Có thể tưới 10-15 ngày/lần trong mùa khô kết hợp tủ gốc, không cần tưới quá đẫm hay đầy bồn, kết hợp bón 2 lần phân trong mùa khô.

Việc tưới quá đẫm, sau đó để đất khô nứt sẽ làm đứt rể non, cây không phát triển hoặc chết.

7. Phòng trừ sâu, bệnh

Ở cây bơ, thiệt hại do bệnh nguy hiểm hơn sâu hại và nên quản lý theo hướng IPM (hạn chế dùng thuốc BVTV), nên tạo vườn thông thoáng, dọn sạch tàn dư, hạn chế ẩm ướt và phun thuốc phòng trị cục bộ.

7.1. Bệnh hại phổ biến

– Bệnh Thối rể, nứt thân:

Do nấm Phytophthrora cinamoni, ở các chân đất ẩm ướt, thủy cấp cao, nấm xâm nhập làm hư rể cọc, sau đó nấm lan tràn phá huỷ cả bộ rễ làm cây chết rụi. Cây bị bệnh có tán lá xơ xác, lá đổi sang mầu xanh nhạt rồi rụng, cành chết dần từ ngọn xuống thân chính.

Cần tránh ẩm ướt liên tục ở vùng rể; Phát hiện sớm những vết nứt dọc, xì mũ trên thân và thâm đen trong mạch gỗ.

– Bệnh khô cành: Do nấm Colletotrichum cloeosporiodes, nấm xâm nhập vào trên cành làm cành khô chết. Trên trái đã già, nấm xâm nhập qua vết thương, làm trái bị nhũn (thường là ở phần cuối trái).

Ngoài ra, bệnh còn do nắng nóng rọi trực tiếp trong thời gian dài, trường hợp này xuất hiện rất phổ biến ở những cây mới trồng ít lá.

– Bệnh trên quả già : Nấm bệnh xâm nhập từ khi quả đang phát triển (đường kính 1-3cm) tạo ra các điểm đen nhỏ trên vỏ quả, ở các giống bơ Sáp nhìn khá rỏ vào thời điểm sắp thu hoạch những vết nứt nhỏ, hình dấu cộng trên vỏ quả, các điểm đen này nứt và tách ra, làm giảm mẫu mã và giá bán. Nhìn chung, cần tạo vườn thông thoáng, dọn sạch tàn dư, sau đậu trái nên phun thuốc phòng ngừa

7.2. Sâu hại phổ biến

– Côn trùng hại rể: Gồm các đối tượng thường thấy như mối, sùng, dế, kiến, đặc biệt là rệp sáp, tập trung ở tầng đất từ 0 – 50cm, cây bị bệnh có lá vàng nhạt, cây suy dễ chết.

– Bọ xít: Gồm 2-3 loài, chích hút nhựa đọt non, lá non làm héo và chùm đọt, đặc biệt là trái non tạo ra các chấm đen trên vỏ quả và nhiều hạt chai cứng trong thịt quả, mật số cao sẽ làm rụng nhiều quả, là cửa ngõ xâm nhập của nhiều loại nấm bệnh, làm giảm rất rỏ năng suất và chất lượng quả.

– Mọt đục thân cành:

Xuất khá phổ biến trên các vườn bơ, tạo nhiều lổ đục nhỏ trên thân, cành (khác với sâu đục cành) với lớp phấn trắng ở lổ đục (có thể là nấm) xuất hiện từ giữa mùa mưa khá rộ vào đầu đến giữa mùa khô, lổ đục tuy nhỏ và đường đục ngắn nhưng làm giảm quá trình sinh trưởng, phát triển và cành dễ gãy.

8. Thu hái & vận chuyển theo tiêu chuẩn

8.1. Dụng cụ: Gồm sào thu hái gắng với túi hái có lưỡi cắt, bao, bạt gom quả, kéo cắt cành, sọt chuyên chở và tấm lót

8.2. Xác định độ già thu hoạch

Cây bơ ra nhiều đợt hoa, để đảm bảo chất lượng, vụ bơ nên thu hoạch từ 2 – 4 đợt quả, xác định qua nhiều đặc điểm bên ngoài và bên trong

– Bắt đầu có một vài quả già rụng

– Vỏ quả chuyển màu tím hay xanh nhạt hơn, độ bóng thay đổi, có nhiều u cám hay sần hơn

– Âm thanh phát ra khi lắc quả (hạt lỏng)

– Vỏ lụa, vỏ hạt khô, dai và chuyển sang màu cánh dán

– Màu thịt quả vàng hơn

– Xác định qua hàm lượng % chất khô

8.3 Phân loại, vận chuyển về vựa

– Cắt cuống còn 5mm, phân loại sơ bộ thành 2-3 loại, xếp vào sọt riêng hay theo lớp riêng, lót carton, rơm để chống sốt, trày sướt, che đậy giỏ bơ bằng bạt gom quả.

TIN TỨC KHÁC :

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Bơ

Quy trình kỹ thuật trồng bơ ngắn gọn giúp bà con nông dân dễ hiểu để biết cách chăm sóc cây bơ hiệu quả đạt được năng suất cao nhất

1. Chuẩn bị đất trồng bơ

Cây bơ thích hợp trồng ở rất nhiều loại đất khác nhau, tuy nhiên đối với bà con Tây Nguyên thì đất đỏ bazan là phù hợp nhất, bên cạnh đó đất phù sa pha cát và bằng phẳng hoặt ít dốc cũng rất thích hợp để trồng cây bơ. Cây bơ không có khả năng chịu được ngập úng, nên khi trồng phải tính đến phương án thoát nước tốt nhất. Đất trồng cần phải sạch sẽ không được có cỏ rác và cần được cày bừa trước khi đào hố 1 vài lần cho tơi xốp, độ pH của đất thông thường phải ở mức 4 – 6. Nếu ở những vùng đất quá dốc thì cần thiết kế theo đường đồng mức, tạo băng để hạn chế xói mòn.

2. Chọn giống bơ phù hợp

3. Thời vụ trồng bơ:

Đối với điều kiện đất đai và khí hậu Tây Nguyên nói chung, thích hợp nhất là vào tháng 6 đến tháng 7 dương lịch (tuy nhiên bà con nông dân vẫn có thể trồng vào mùa khô sau tết âm lịch)

4. Mật độ và khoảng cách:

– Trồng thuần: Khoảng cách trồng 6 x 8 m (đối với đất đỏ bazan) hoặc 4 x 6 m (đối với đất khác), với mật độ từ 200 – 400 cây/ ha. – Trồng xen: Có thể trồng xen trong vườn cà phê, ca cao, chè,… trồng mới, tái canh (ghép cải tạo hoặc trồng lại) và vườn kinh doanh, khoảng cách trồng 9 x 12 m, xen ngã tư giữa 4 cây và ven lô. Mật độ khoảng 100 cây/ ha.

5. Đào hố trồng bơ:

Kích thước hố 50 x 50 x 50 cm, bón lót mỗi hố 20 – 25 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg lân + 0,5 kg vôi. Khi đào nên để riêng lớp đất mặt sang 1 bên, sau khi bỏ phân gạt lớp đất này xuống và trộn đều trước khi trồng 1 tháng.

6. Cách trồng

Dùng dao rạch 1 đường dọc bầu Bơ sau đó bỏ túi nilon và cắt bỏ những rễ mọc dài ra khỏi bầu đất sau đó đặt xuống hố và lấp đất lại nén chặt đất xung quanh bầu đất, khi lấp đất nên vun đất tại gốc bơ cao hơn một chút nhằm mục đích hạn chế ứ đọng nước tại gốc khi gặp mưa lớn kéo dài. Ngay sau khi trồng cần cắm một cọc nhỏ bên cạnh gốc để cố định cây chống đổ gãy do mưa gió.Lưu ý khi mới trồng, nếu gặp trời nắng kéo dài cần tưới cho mỗi gốc khoảng 10 -20 lít nước. Cần thiết phải rải thêm khoảng từ 5 – 10 g Furadan 3H hoặc Confidor trước khi bỏ phân vào hố nhằm trừ mối và tuyến trùng.

a. Làm cỏ, bẻ chồi vượt và trồng xen: Trong thời kỳ cây còn nhỏ nên làm từ 4 – 5 đợt cỏ hàng năm vào mùa mưa với bán kính xung quanh gốc khoảng 1 -2 m. Trồng xen cây ngắn ngày như các loại đậu đỗ, lạc, vừng, khoai lang,… để hạn chế cỏ dại, tăng thu nhập và có tác dụng cải tạo đất. Thường xuyên bẻ chồi vượt mọc phía dưới vết ghép cho cây. Nên trồng 1 hàng cây chắn gió giữa các hàng bơ bằng hạt muồng hoa vàng hoặc Flemingia, xung quanh vườn bơ trồng 1 hàng keo dậu để bảo vệ. Trong mùa khô cần chú ý tủ gốc cho cây bơ nhỏ và phòng chống cháy. b. Tỉa cành, tạo tán: Khi cây bước vào năm thứ 2 -3 thì tiến hành tạo tán, tỉa những cành bị sâu bệnh, sát mặt đất và các cành mọc ra từ thân trong khoảng từ 0,8 m đến 1 m tính từ mặt đất. Nên tỉa cành 2 lần/ 1 năm.

Tùy vào điều kiện cụ thể của mùa khô, nên tưới nước từ 2 – 4 lần/năm. Trong các năm kiến thiết cơ bản nên tưới khoảng từ 40 – 60 lít/lần/cây, các năm kinh doanh nên tưới khoảng từ 200 – 400 lít/lần/cây.

10. Phòng trừ sâu, bệnh:

Thời kỳ kiến thiết cơ bản cây đang phát triển cành lá, thời điểm này có thể xuất hiện sâu ăn lá, đục cành. Một số loại thuốc trừ sâu như: Sherpa, Decis, Monceren,… thuốc trừ bệnh như: Agrifos, Aliette, Bordeaux, Ridomil, Confidor,… có thể được sử dụng (nồng độ, lượng dùng theo hướng dẫn trên bao bì) để phòng sâu, bệnh cho bơ. Khi cây bơ vào thời kỳ kinh doanh nên dùng Bordeaux 1:4:15 (01 CuSO4 + 04 CaO + 15 H2O) quét gốc từ mặt đất lên 1 m để phòng sâu đục thân.

11. Thu hoạch và bảo quản:

Cây bơ thường được thu hoạch chính vụ vào tháng 6 – 8, tuy vậy vẫn có thể sớm hơn vào tháng 3 – 5 hoặc muộn hơn đến tháng 9 – 11. Vào mùa thu hoạch nên thu hái khi trái đã già, trái có biểu hiện chuyển từ màu xanh sang màu tím. Lưu ý khi thu hoạch nên tránh gây tổn thương vỏ quả, không được để quả rụng xuống đất, không làm gãy cành hoặc rung cây, khi hái phải chừa lại phần cuống khoảng 1 – 2 cm và tiến hành phân loại quả theo kích cỡ.

Như vậy phân bón Xanh Đồng đã chia sẽ tới bà con nông dân phương pháp kỹ thuật trồng và cách chăm sóc cây bơ tóm tắt và đầy đủ với mong muốn đem lại cho bà con nắm bắt những kiến thức về cây bơ một cách dễ hiểu nhất. Chúc bà con có một mùa màng bội thu !!!

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Và Cách Chăm Sóc Bơ Hiệu Quả

Quy trình kỹ thuật trồng bơ ngắn gọn giúp bà con nông dân dễ hiểu nhất để biết cách chăm sóc cây bơ hiệu quả đạt được năng suất cao nhất, tài liệu được cung cấp bởi Viện Eakmat chia sẻ.

1. Chuẩn bị đất trồng bơ

Cây bơ thích hợp trồng ở rất nhiều loại đất khác nhau, tuy nhiên đối với bà con Tây Nguyên thì đất đỏ bazan là phù hợp nhất, bên cạnh đó đất phù sa pha cát và bằng phẳng hoặt ít dốc cũng rất thích hợp để trồng cây bơ. Cây bơ không có khả năng chịu được ngập úng, nên khi trồng phải tính đến phương án thoát nước tốt nhất. Đất trồng cần phải sạch sẽ không được có cỏ rác và cần được cày bừa trước khi đào hố 1 vài lần cho tơi xốp, độ pH của đất thông thường phải ở mức 4 – 6. Nếu ở những vùng đất quá dốc thì cần thiết kế theo đường đồng mức, tạo băng để hạn chế xói mòn.

2. Chọn giống bơ phù hợp

3. Thời vụ trồng bơ:

Đối với điều kiện đất đai và khí hậu Tây Nguyên nói chung, thích hợp nhất là vào tháng 6 đến tháng 7 dương lịch (tuy nhiên bà con nông dân vẫn có thể trồng vào mùa khô sau tết âm lịch)

4. Mật độ và khoảng cách:

– Trồng thuần: Khoảng cách trồng 6 x 8 m (đối với đất đỏ bazan) hoặc 4 x 6 m (đối với đất khác), với mật độ từ 200 – 400 cây/ ha. – Trồng xen: Có thể trồng xen trong vườn cà phê, ca cao, chè,… trồng mới, tái canh (ghép cải tạo hoặc trồng lại) và vườn kinh doanh, khoảng cách trồng 9 x 12 m, xen ngã tư giữa 4 cây và ven lô. Mật độ khoảng 100 cây/ ha.

5. Đào hố trồng bơ:

Kích thước hố 50 x 50 x 50 cm, bón lót mỗi hố 20 – 25 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg lân + 0,5 kg vôi. Khi đào nên để riêng lớp đất mặt sang 1 bên, sau khi bỏ phân gạt lớp đất này xuống và trộn đều trước khi trồng 1 tháng.

6. Cách trồng

Dùng dao rạch 1 đường dọc bầu Bơ sau đó bỏ túi nilon và cắt bỏ những rễ mọc dài ra khỏi bầu đất sau đó đặt xuống hố và lấp đất lại nén chặt đất xung quanh bầu đất, khi lấp đất nên vun đất tại gốc bơ cao hơn một chút nhằm mục đích hạn chế ứ đọng nước tại gốc khi gặp mưa lớn kéo dài. Ngay sau khi trồng cần cắm một cọc nhỏ bên cạnh gốc để cố định cây chống đổ gãy do mưa gió.Lưu ý khi mới trồng, nếu gặp trời nắng kéo dài cần tưới cho mỗi gốc khoảng 10 -20 lít nước. Cần thiết phải rải thêm khoảng từ 5 – 10 g Furadan 3H hoặc Confidor trước khi bỏ phân vào hố nhằm trừ mối và tuyến trùng.

7. Chăm sóc

a. Làm cỏ, bẻ chồi vượt và trồng xen: Trong thời kỳ cây còn nhỏ nên làm từ 4 – 5 đợt cỏ hàng năm vào mùa mưa với bán kính xung quanh gốc khoảng 1 -2 m. Trồng xen cây ngắn ngày như các loại đậu đỗ, lạc, vừng, khoai lang,… để hạn chế cỏ dại, tăng thu nhập và có tác dụng cải tạo đất. Thường xuyên bẻ chồi vượt mọc phía dưới vết ghép cho cây. Nên trồng 1 hàng cây chắn gió giữa các hàng bơ bằng hạt muồng hoa vàng hoặc Flemingia, xung quanh vườn bơ trồng 1 hàng keo dậu để bảo vệ. Trong mùa khô cần chú ý tủ gốc cho cây bơ nhỏ và phòng chống cháy. b. Tỉa cành, tạo tán: Khi cây bước vào năm thứ 2 -3 thì tiến hành tạo tán, tỉa những cành bị sâu bệnh, sát mặt đất và các cành mọc ra từ thân trong khoảng từ 0,8 m đến 1 m tính từ mặt đất. Nên tỉa cành 2 lần/ 1 năm.

8. Phân bón

* Ghi chú: Nếu bón NPK thì khỏi bón các loại phân đơn và ngược lại. Đây là lượng phân tối thiểu cần bón, nếu nông hộ có điều kiện đầu tư có thể tăng gấp 1,5 lần ở tất cả các loại phân bón trong bảng hướng dẫn này. – Cách bón: Nên bón 2 – 3 đợt vào mùa mưa và khi bón cần vét rãnh sâu khoảng 5 – 10 cm quanh gốc khi mới trồng và tùy vào mép tán cây khi cây đã phát triển, rải phân đều xuống rãnh rồi lấp đất lại.

9. Tưới nước

Tùy vào điều kiện cụ thể của mùa khô, nên tưới nước từ 2 – 4 lần/năm. Trong các năm kiến thiết cơ bản nên tưới khoảng từ 40 – 60 lít/lần/cây, các năm kinh doanh nên tưới khoảng từ 200 – 400 lít/lần/cây.

10. Phòng trừ sâu, bệnh:

11. Thu hoạch và bảo quản:

Cây bơ thường được thu hoạch chính vụ vào tháng 6 – 8, tuy vậy vẫn có thể sớm hơn vào tháng 3 – 5 hoặc muộn hơn đến tháng 9 – 11. Vào mùa thu hoạch nên thu hái khi trái đã già, trái có biểu hiện chuyển từ màu xanh sang màu tím. Lưu ý khi thu hoạch nên tránh gây tổn thương vỏ quả, không được để quả rụng xuống đất, không làm gãy cành hoặc rung cây, khi hái phải chừa lại phần cuống khoảng 1 – 2 cm và tiến hành phân loại quả theo kích cỡ.

Như vậy chúng tôi đã chia sẽ tới bà con nông dân phương pháp kỹ thuật trồng và cách chăm sóc cây bơ tóm tắt và đầy đủ với mong muốn đem lại cho bà con nắm bắt những kiến thức về cây bơ một cách dễ hiểu nhất. Ở phần sau chúng tôi sẽ gửi đến bà con tài liệu nghiên cứu một số giống bơ có năng suất cao tại các tỉnh phía Nam của VIỆN KHKT NÔNG LÂM NGHIỆP TÂY NGUYÊN. Để bà con có thể đưa ra cho mình sự lựa chọn giống bơ tốt phù hợp với vùng đất của mình

Quy Trình Chăm Sóc Cây Sầu Riêng

I. Trồng cây chắn gió

Sầu riêng tuy là cây to, nhưng gỗ lại giòn dễ gãy, vì thế cần trồng những hàng cây cao lớn, chắc chắn, khó đỗ gãy xung quanh vườn sầu riêng, để tránh đổ cây gãy cành, rụng trái… đồng thời hàng cây chắn gió này còn giúp điều hòa nhiệt độ và ánh sáng trong khu vườn.

Cây trồng để chắn gió cần chọn những loại cây phát triển nhanh, mạnh, dẻo dai, rễ cọc ăn sâu, không hoặc ít bị những loại sâu bệnh thường gây hại nhiều cho cây sầu riêng. Theo kinh nghiệm của nhà vườn ở những tỉnh phía Nam thì có thể dùng một số loại cây như Mít, cóc, dừa, phi lao, bạch đàn, xoài, xà cừ…

II. Làm cỏ, xới xáo, trồng xen che phủ đất

Thường xuyên làm cỏ, vệ sinh vườn tược, xới xáo cho đất tơi xốp và sạch cỏ dại. Mùa khô nên tủ gốc bằng rơm rạ, cỏ khô, lá cây…để giữ ẩm.

Cây trồng xen phải trồng cách xa gốc cây sầu riêng ít nhất là 0,5 mét. Phải làm sạch cỏ xung quanh gốc gốc để hạn chế độ ẩm vùng xung quanh gốc để hạn chế bớt tác hại của nấm Phytophthor cho cây sầu riêng. Vào mùa khô dùng rơm rạ, cỏ khô…phủ xung quanh gốc một lớp dày khoảng 10-20cm (Cách gốc 20 cm để vùng gốc luôn khô ráo) để giữ ẩm cho cây. Vào mùa mưa gỡ bỏ lớp che phủ.

III. Bồi mô, bồi liếp, vun gốc

Đối với những vùng đất thấp phải dắp mô để trồng thì những năm đầu mỗi năm phải bồi thêm đất vào chân mô để mở rộng chân mô. Từ năm thứ 3 thứ 4 trở đi thì bồi đất lên mặt liếp mỗi năm một lần vào đầu mùa khô để nâng dần độ cao của liếp.

Đối với những vùng đất cao đào hốc và trồng trực tiếp trên mặt vườn thì hàng năm dùng đất tốt vun rải một lớp mỏng vào xung quanh gốc.

hàng năm, kết hợp với mỗi lần bón phân làm gốc cần xới nhẹ xung quanh gốc ( đường kính khoảng 1,2-1,5 mét) sâu 5 cm.

IV. Tưới nước

Mặc dù là cây sợ ngập úng, nhưng cây sầu riêng lại rất cần nước, đặc biệt là thời kỳ cây con và giai đoạn ra hoa kết trái. Mùa khô cần tưới nước thường xuyên để đảm bảo đủ ẩm cho cây. Vào giai đoạn cây đang ra hoa kết trái chỉ cần tưới đủ ẩm , tránh tưới quá nhiều dễ gây rụng hoa , rụng trái và sau này cơm trái có thể bị nhão.

Để hạn chế bốc hơi nước trong mùa khô nên dùng rơm rạ, cỏ khô tủ xung quanh gốc, nhưng đến mùa mưa thì phải gỡ bỏ sạch sẽ lớp che phủ này để gốc không bị ẩm ướt. Trong vườn cần có hệ thống thoát nước để kịp thời thoát nước mỗi khi có mưa, tránh vườn bị ngập úng, ẩm ướt, tạo điều kiện cho nấm bệnh gây thối rễ phát triển.

V. Bón phân

Lượng phân bón nhiều hay ít tùy thuộc vào tuổi cây đã lớn hay còn nhỏ, mức độ sinh trưởng của cây tốt hay xấu, đất đai màu mỡ hay cằn cỗi…

Lượng phân bón cho mỗi cây sầu riêng như sau:

Năm thứ nhất khoảng 0,2-0,3 kg Urea, 0,3 kg Super Lân và 0,1 kg Sulfat Kali. Còn ở năm thứ hai và thứ ba thì mỗi năm bón khoảng 0,7 kg Urea, 0,6 kg Super Lân và 0,2 kg Sulfat Kali

Cách bón và thời điểm bón phân: Chia ra làm 2 lần bón vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa. Ngoài ra, ở những năm đầu mỗi năm bón 10-15 kg phân hữu cơ cho một cây.

Khi cây đã bắt đầu cho trái mỗi năm bón cho mỗi cây khoảng 1 kg Urea, 1,5 kg Super Lân và 0,5 kg Sulfat Kali và 15-20 kg phân hoai mục. Số phân này được này được chia ra bón làm 3 lần như sau:

Lần 1: 1/3 Đạm, 1/2 Kali trước lúc cây ra hoa.

Lần 1: 1/3 Đạm, 1/2 Kali khi trái có đường kính 10-15 cm.

Lần 3: 1/3 Đạm, toàn bộ phân Lân và phân hữu cơ hoai mục.

Khi cây đã bước vào giai đoạn cho trái ổn định, có thể bón như sau:

Lần 1: Sau khi thu hoạch trái, tiến hành cắt tỉa cành và bón khoảng 20-30 kg phân hữu cơ cho một cây, 0,7 kg Urea, 1,1 kg Super Lân và 0,15 kg Sulfat Kali và 0,05 kg Sulfat Magie. Khi cây lớn có thể tăng lượng phân này lên gấp đôi.

Lần 2: Bón trước khi cây ra hoa 30-40 ngày, giai đoạn này cây cần nhiều Lân để xúc tiến quá trình phân hóa mầm hoa và ra hoa thuận lợi, vì thế cần tăng cường thêm phân Lân. Tỷ lệ pha trộn phân NPK lần này là 10:50 và 7. Liều lượng cụ thể của từng loại phân đơn để pha trộn như sau: cú 1,2 kg Ure thì trộn với 17 kg super Lân và 1,8 kg Sulfat Kali, và bón cho mỗi cây khoảng 2-3 kg hỗn hợp phân này.

Lần 3: Bón vào giai đoạn trái lớn cỡ trứng gà để nuôi trái. Lần bón này chú ý tăng cường thêm phân Đạm, Kali và bón thêm Magie. Tỷ lệ pha trộn các loại phân này với nhau là 12:12:17:2. Cụ thể là cứ 3,7 kg Ure + 11kg Super Lân + 5 kg Sulfat Kali + 0,3 kg Magie. Và bón cho mỗi gốc khoảng 2-3 kg hỗn hợp này.

Lần 4: Trước khi thu hoạch trái khoảng 1 tháng , bón cho mỗi gốc khoảng 2-3 kg phân NPK loại 16:16:8, kết hợp với 1-1,5 kg KNO3. không nên bón trễ hay sớm hơn vì sẽ làm cho trái sượng hoặc nhão.

Cách bón: Hai năm đầu pha phân loãng trong nước rồi tưới xung quanh gốc. Từ năm thứ 3 trở đi xới một lớp mỏng đất xung quanh gốc rồi rải phân sau đó phủ lớp đất hoặc rơm rạ, cỏ khô…lên trên, tưới nước cho phân tan và nằm xuống đất cung cấp dần cho cây. Đối với phân hữ cơ thì đào rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu của tán cây, rãnh rộng 0,3 mét, sâu 0,3-0,4 mét rải phân xuống rồi lấp đất.

VI. Cắt tỉa tạo tán

Việc cắt tỉa tạo tán phải được làm sớm ngay từ khi cây còn nhỏ. Mỗi cây chỉ để một thân chính mọc thẳng, trên cây mang nhiều cành cấp 1 mọc ngang tạo với thân chính một góc 450-900 độ, chỉ chừa lại những cành khỏe, mọc đều cành nọ cách cành kia ít nhất 30 cm. Cắt bỏ những cành sườn nhỏ yếu, mọc quá gần nhau , những cành mọc thấp dưới 1 mét kể từ mặt đất. Tsaoj cho vườn cây luôn thông thoáng, giúp cho cây thụ phấn thuận lợi. Hàng năm sau khi thu hoạch, cần tỉa bỏ những cành nhỏ mọc đứng, cành bên trong tán, cành ốm yếu, cành biij sâu bệnh hại nặng, cành mọc quá gần mặt đất, cành bị chết khô, dập gãy…kết hợp với việc bón phân làm gốc cho cây.

VII. Tỉa hoa, tỉa bỏ bớt trái trên cây

Sầu riêng là cây cho rất nhiều hoa, số lượng hoa cao hơn rất nhiều lần so với số lượng trái cần có trên cây, nếu gặp điều kiện thuận lợi cho việc thụ phấn thụ tinh cho hoa thì cây sẽ cho khá nhiều trái, như vậy cây sẽ không đủ dinh dưỡng cung cấp nuôi hết số hoa số trái trên cây, nên cần phải tỉa bớt để tránh việc cạnh tranh dinh dưỡng làm rụng hoa hoặc hoa phát triển không đầy đủ, ảnh hưởng đến thụ phấn, thụ tinh, đậu trái. Khi đã đậu trái cũng cần tỉa bỏ những chỗ trái mọc dày, trái bị méo mó, trái bị sâu bệnh…

Cây sầu riêng thường ra 2-3 đợt trái trong năm, nhà vườn nên cân nhắc, tính toán sao cho việc tỉa bỏ đợt nào, giữ lại đợt nào để có lợi nhất. Sau khi đậu trái, mỗi cành cũng chỉ nên để lại 3-5 trái là vừa.

Tỉa làm 3 lần:

Lần 1: Vào tuần thứ 3-4 sau khi hoa nở, trước khi trái bước vào giai đoạn phát triển nhanh. Lần này cần tỉa bỏ những trái ở chỗ mọc dày đặc, những trái nhỏ, dị hình hoặc bị sâu bệnh trên chùm, mỗi chòm chỉ nên để lại một rái.

Lần 2: Vào tuần thứ 8 sau khi hoa nở. Tỉa bớt những trái phát triển không bình thường, nhỏ, không cân đối, méo mó để điều chỉnh lại cân bằng về mặt dinh dưỡng, giúp cho quá trình tạo cơm trái được thuận lợi.

Lần 3: Vào tuần thứ 10 sau khi hoa nở. Tỉa bỏ những trái có hình dạng không đặc trưng của gióng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phất triển của cơm, kích thước và hình dạng trái.

VIII. Thụ phấn bổ sung

Hoa sầu riêng là hoa lưỡng tính, thường nở vào khoảng 17-18 giờ . Ngay từ khi hoa hé nở cho đến sáng hôm sau núm nhụy cái đã sẵn sàng nhận hạt phấn của nhị đực để thụ tinh. Nhưng bao phấn của nhị đực lại chỉ bắt đầu nứt và tung phấn vào lúc 19-20 giờ cho đến khoảng 23 giờ đêm thì chấm dứt vì nhị đực bị rụng tự nhiên.

Vì vậy từ nửa đêm trở về sáng trên hoa chỉ còn lại nhụy cái, còn các phần tử khác của nhị đực , lá đài phụ, lá dài trong và các cánh hoa đã bị rụng từ nửa đêm. Vì thế vào buổi tối nếu thời tiết tốt, không có mưa gió và côn trùng hoạt động mạnh thì hoa sầu riêng sẽ thụ phấn dễ dàng, thuận lợi. Ngược lại, vào thời gian từ 19-23 giờ nếu gặp điều kiện bất lợi, núm nhụy cái không nhận được hạt phấn nào thì sau đó hoa sẽ tự rụng.

Như vậy hoa sầu riêng có khả năng tự thụ phấn để đậu trái , nhưng nếu gặp điều kiện bất lợi thì khả năng tự thụ phấn sẽ không cao, tỷ lệ đậu trái sẽ ít. Đặc biệt, trái tự thụ phấn thường nhỏ, hình dạng không cân đối so với những trái được thụ phấn chéo. Vì vậy, nếu có điều kiện nên giúp cây thụ phấn thêm bằng tay vào lúc 20-22 giờ đêm để quá trình thụ phấn được diễn ra đầy đủ trên đầu nhụy, nhằm tạo ra những trái sầu riêng đầy đặn không bị lép.

Thụ phấn bằng tay có thể tiến hành như sau: Vào buổi sáng cắt một số hoa của cây giống dùng làm bố, cắt lấy các chùm nhị được cho vào đĩa sứ hoặc thủy tinh trên phủ kín bằng vải màn rồi đặt vào nơi khô ráo, thoáng mát đến chiều là bao phấn nơ, tung phấn.

Đến tối gỡ bỏ cuống nhị và xác bao phấn gom phấm lại. Vào khoảng 20-22 giờ đêm dùng một cây bút lông (cây cọ) nhỏ chấm vào phấn rồi phết nhẹ vào đầu nhụy của hoa trên cây mẹ để truyền hạt phấn đến đầu nhụy giúp quá trình thụ tinh diễn ra dễ dàng.

Ngoài giúp cây thụ phấn bằng tay, có thể áp dụng biện pháp trồng xen các giống sầu riêng khác nhau trong cùng một vườn để trăng khả năng thụ phấn chéo cho cây.