Quy Định Về Phân Bón Giả / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Những Quy Định Về Việc Xử Lý Vi Pham Kinh Doanh Phân Bón Giả

Điều 6 Nghị định số 202/2013/NĐ-CP ngày 27.11 quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong kinh doanh trong kinh doanh phân bón gồm:

Về xử phạt hành chính: Quy định về việc xử lý hành chính đối với lĩnh vực kinh doanh phân bón nằm ở nhiều văn bản khác nhau như Luật Thương mại, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Doanh nghiệp, các nghị định… mỗi hành vi vi phạm sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt tương ứng. Ví dụ:

· Theo Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15.11.2013 của Chính phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” thì:

Người kinh doanh phân bón mà không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng (Khoản 2, Điều 6); bị phạt 100 triều đồng trong trường hợp kinh doanh phân bón đã bị cấm sử dụng trong trường hợp lượng phân bón bị cấm sử dụng có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (điểm k, Khoản 1, Điều 10). Ngoài ra còn bị áp dụng hình thức phạt bổ sung như: Tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh, buộc thu hồi tiêu hủy phân bón đó lưu thông trên thị trường, nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do kinh doanh phân bón đó…

· Theo Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12.11.2013 của Chính phủ thì:

Đối với hành vi vi phạm quy định về điều kiện kinh doanh phân bón (không có chứng từ hợp pháp chứng minh rõ nguồn gốc nơi sản xuất, nhập khẩu hoặc nơi cung cấp phân bón; kinh doanh phân bón không có cửa hàng hoặc địa điểm kinh doanh bảo đảm giữ được chất lượng phân bón; kinh doanh phân bón không có công cụ, thiết bị chứa đựng, lưu giữ bảo đảm chất lượng phân bón; kinh doanh phân bón không có kho chứa phân bón có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 15 triệu đồng, ngài ra còn bị tịch thu phân bón không chứng minh được nguồn gốc nơi sản xuất, nhập khẩu hoặc nơi cung cấp loại phân bón, đình chỉ hoạt động kinh doanh phân bón từ 1 tháng đến 3 tháng… (Điều 21); Đối với hành vi vi phạm quy định về kinh doanh phân bón không đảm bảo chất lượng (kinh doanh phân bón đã quá thời hạn sử dụng, kinh doanh phân bón đã bị đình chỉ sản xuất, đình chỉ tiêu thụ) có thể bị phạt từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng, ngoài ra còn bị tịch thu hoặc buộc tiêu hủy phân bón (Điều 22)…

– Cũng như các hàng hóa khác, việc kinh doanh phân bón giả có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy theo tính chất mức độ của hành vi vi phạm:

Về xử phạt hành chính: hành vi buôn bán phân bón giả không có giá trị sử dụng, công dụng sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 11, Nghị định 185/2013/NĐ-CP. Theo đó mức xử phạt sẽ tương đương với lượng phân bón thật. Người buôn bán phân bón giả có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng trong trường hợp phân bón giả tương đương với lượng phân bón thật có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Và bị phạt gấp đôi số tiền này nếu nhập khẩu phân bón giả mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 6 tháng đến 12 tháng trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm. Đồng thời phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy tang vật; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc tái xuất hàng giả đối với hành vi nhập khẩu hàng giả quy định tại điều này; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điều này; buộc thu hồi tiêu hủy hàng giả đang lưu thông trên thị trường.

Về xử lý hình sự: Do tính đặc thù của loại hàng hóa là phân bón nên Bộ luật Hình sự đã quy định riêng một điều luật (Điều 158) đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là các mặt hàng thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi. Điều này quy định:

“1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi với số lượng lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154, 155, 156, 157, 159 và 161 của bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm:

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

d) Hàng giả có số lượng rất lớn;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội trong trường hợp hàng giả có số lượng đặc biệt lớn hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.”

Nguồn: chúng tôi

Vụ Phân Bón Thuận Phong: ‘Theo Quy Định Pháp Luật Là Giả’

Chia sẻ

Trong khoảng thời gian hai phút phát biểu để làm rõ thêm những vấn đề về vụ việc phân bón Thuận Phong (Đồng Nai) tại Quốc hội (QH) sáng 2/11, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình đã giải đáp nhiều thắc mắc và chốt lại phương án xử lý Thuận Phong.

Ảnh hưởng đến doanh nghiệp nên “cân nhắc rất kỹ”

Trước đó, vào ngày 31/10, đại biểu (ĐB) Lưu Bình Nhưỡng (Bến Tre) đã khơi mào vụ việc phân bón Thuận Phong khi ông nhận xét rằng: “Có một số việc tôi cảm giác như bị chìm xuồng. Vụ Công ty Thuận Phong ở Đồng Nai về phân bón giả, chúng ta chờ mãi mà không thấy Đoàn ĐBQH Đồng Nai lên tiếng”.

ĐB Hồ Văn Năm, Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Đồng Nai (nguyên Viện trưởng VKSND tỉnh này), ngay sau đó đã đăng đàn tranh luận với ĐB Nhưỡng.

Ông Năm khẳng định rằng quan điểm của Đồng Nai, kể cả cấp ủy, chính quyền và Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai, đã cương quyết xử lý về hàng gian, hàng giả. “Đây là vấn đề bức xúc của cử tri, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sinh hoạt của người dân, nhất là ảnh hưởng đến công sức lao động của người dân bỏ ra khi sử dụng hàng gian, hàng giả, đặc biệt là phân bón” – ông Năm nói.

Theo ĐB Năm, sau đó, vụ Thuận Phong đã được giao cho Bộ Công an xử lý, rồi Bộ Công an giao cho Đồng Nai xử lý. Tuy nhiên, các cơ quan tố tụng của Đồng Nai đã họp và nhận định không có dấu hiệu hình sự nên không khởi tố.

ĐB Năm cho rằng: “Vì khởi tố là rất quan trọng, ảnh hưởng đến chính sách, chế độ, nhân phẩm, danh dự của doanh nghiệp đó, có thể dẫn đến phá sản doanh nghiệp. Vì vậy, cân nhắc rất kỹ trước khi tiến hành khởi tố. Để cân nhắc khởi tố, các cơ quan tiến hành tố tụng tiếp tục xin ý kiến và Ban Nội chính Tỉnh ủy đã báo cáo xin ý kiến của Ban Nội chính Trung ương, đề nghị họp các cơ quan tố tụng ở trung ương và địa phương. Để thống nhất đánh giá lần cuối cùng trước khi quyết định khởi tố hay không khởi tố. Điều này là để xử lý cho đúng người, đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm, tránh làm oan người vô tội”.

Theo Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình, chất chính trong phân bón Thuận Phong dưới 70% nên theo quy định của pháp luật là giả. Ảnh: QH

“Cân nhắc gì mà đến tận hai năm vẫn chưa xong”

Phát biểu này của ông Năm tiếp tục gây ra cuộc tranh luận dữ dội tại nghị trường ngày 2/11.

ĐB Nguyễn Bá Sơn (Đà Nẵng) cho biết hai ngày vừa qua các cử tri trong ngành tư pháp gọi điện thoại và nói rằng trả lời như ĐB Hồ Văn Năm là chưa ổn. “Tôi đã đọc lại hồ sơ và cũng thấy như vậy” – ông Sơn nói và kiến nghị QH, Chính phủ đeo bám, chỉ đạo quyết liệt vụ này thì nhân dân mới yên lòng. Không chỉ phân bón mà nạn hàng giả đang hoành hành, cần phải xử lý kiên quyết.

ĐB Sơn vừa dứt lời, ĐB Nguyễn Công Hồng (Đồng Nai), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của QH, lại tranh luận với ĐB Sơn nhằm “xin cung cấp thông tin bởi đang truyền hình trực tiếp, thông tin không chính xác thì cử tri hiểu nhầm”.

Theo ĐB Hồng, đây là vụ việc phức tạp, từng bị xử lý hành chính. Quá trình xem xét vụ việc này cũng có nhiều quan điểm khác nhau, nhiều vấn đề được đặt ra như đó là hành vi buôn bán hàng giả hay hàng kém chất lượng…

“Hiện vụ án đang trong quá trình điều tra, xem xét lại chứ không phải là đã kết luận không có dấu hiệu tội phạm. Có thể ĐB Hồ Văn Năm phát biểu có câu nọ câu kia gây hiểu nhầm” – ông Hồng nhận định.

Theo ĐB Cương, phát biểu của ông Hồ Văn Năm đoàn Đồng Nai “gây ra rất nhiều phẫn uất cho xã hội”. Lưu ý rằng ĐB Năm vốn là viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Nai tại thời điểm mà vụ Thuận Phong bị phát hiện. “ĐB Hồ Văn Năm có nói là việc vì nó ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp nên phải cân nhắc. Xin thưa với QH là cân nhắc gì mà cân nhắc đến hơn hai năm mà vẫn không cân nhắc xong, không nói gì đến thiệt hại của hàng triệu nông dân Việt Nam”.

Trách nhiệm ở các cơ quan tư pháp

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình, Trưởng ban Chỉ đạo 389 Quốc gia, nói trong vụ việc phân bón Thuận Phong, sáu bộ, ngành đã có những tranh luận về “thành phần chất chính và thành phần chính”. Và cuối cùng, “chất chính” trong phân bón của Thuận Phong là dưới 70% nên không đạt.

“Như vậy, theo quy định của pháp luật (phân bón Thuận Phong – PV) là giả” – Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình nói.

Theo Phó Thủ tướng, việc sử dụng kết quả của các bộ, ngành trả lời là do cơ quan tư pháp. Nếu cần thì cơ quan tư pháp trưng cầu giám định. Và VKSND Tối cao đã yêu cầu VKSND tỉnh Đồng Nai hủy quyết định phê chuẩn quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT Công an tỉnh Đồng Nai. CQĐT Đồng Nai đã hủy quyết định không khởi tố vụ án hình sự để điều tra theo quy định của pháp luật.

“Như vậy là CQĐT Công an tỉnh Đồng Nai đang tiếp tục điều tra. Còn việc có tội hay không có tội thì phải thông qua quá trình điều tra, truy tố, xét xử và tòa án sẽ có phán quyết theo thẩm quyền. Quá trình này thì Ủy ban Tư pháp QH, mặt trận đều có thể giám sát” – Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình nói.

Cuối cùng, Phó Thủ tướng kết luận: “Trách nhiệm hiện nay thuộc về các cơ quan tư pháp. Tôi đề nghị chúng ta chờ sự giám sát của Ủy ban Tư pháp và chúng ta không nên tranh luận tiếp về vấn đề này tại diễn đàn QH”.

Theo Plo

Tuyên Truyền, Phổ Biến Các Quy Định Pháp Luật Về Kinh Doanh Phân Bón Vô Cơ

Tại Hội nghị, các đại biểu đã được phổ biến, quán triệt một số văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực phân bón vô cơ: Nghị định 202/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý phân bón; quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phân bón. Hướng dẫn việc cấp phép sản xuất phân bón vô cơ; các quy định về công bố hợp quy phân bón; quy định chỉ tiêu chất lượng chính và yếu tố hạn chế trong phân bón; giải quyết khiếu nại về kết quả kiểm nghiệm phân bón… Các đại biểu tham dự Hội nghị đã sôi nổi đặt ra nhiều câu hỏi, đồng thời cũng đề nghị các cơ quan quản lý tăng cường công tác tuyên truyền, cần liên tục cập nhật các thông tin về tiêu chuẩn, chất lượng phân bón cũng như công bố tên các doanh nghiệp đang làm giả phân bón trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Việc làm này sẽ giúp cho bà con nông dân cũng như các đại lý kịp thời nắm bắt được thông tin, chủ động trong việc phân biệt, phòng tránh được hàng giả, hàng trôi nổi, hàng kém chất lượng.

Cũng trong chương trình Hội nghị, đại diện PVFCCo SW cũng đã giới thiệu về những đặc tính, công nghệ sản xuất bộ sản phẩm phân bón Phú Mỹ, đồng thời, cung cấp các thông tin về các đặc điểm nhận biết trên bao bì các sản phẩm phân bón mang thương hiệu Phú Mỹ cũng như chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm để nhận biết các sản phẩm phân bón có chất lượng, qua đó cũng khuyến cáo những tác hại thật cho cây trồng và cho môi trường khi người tiêu dùng mua và sử dụng phân bón giả, phân bón kém chất lượng.

*PVFCCo khánh thành và bàn giao Trường tiểu học số 1 Cát Tài, tỉnh Bình Định

Tham dự buổi lễ khánh thành về phía địa phương có ông Nguyễn Huỳnh Huyện – Phó chủ tịch thường trực UBND huyện Phù Cát, bà Nguyễn Thị Tuyết Vân – Phó chủ tịch HĐND huyện Phù Cát, đại diện lãnh đạo phòng giáo dục, lãnh đạo xã Cát Tài cùng Ban giám hiệu, các thầy cô, học sinh trường tiểu học số 1 Cát Tài.

BTV

Chứng Nhận Hợp Quy Phân Bón Theo Nghị Định 108/2017/Nđ

Ngày nay nhu cầu về phân bón đang dần phát triển, đi cùng với đó là sự ra đời của nhiều đơn vị cung cấp, sản xuất phân bón. Khi đã có nhiều sản phẩm cạnh tranh chắc chắn khách hàng sẽ chọn lựa dòng sản phẩm uy tín, có chứng nhận hợp quy phân bón quốc tế. Chứng nhận giúp chứng minh quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm đảm bảo, không gây hại cho con người và phát triển tốt với cây trồng để cung ứng sản phẩm trên thị trường.

Chứng nhận hợp quy phân bón là gì?

Chứng nhận hợp quy phân bón là hoạt động bắt buộc doanh nghiệp phải thực hiện trước khi đưa phân bón ra lưu hành trên thị trường, được quy định cụ thể tại Nghị định 108/2017/NĐ-CP ngày 20/09/2017 của Chính phủ về quản lý phân bón.

Theo Nghị định 108/2017/NĐ-CP về quản lý phân bón thì tất cả các loại phân bón trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ đều phải chứng nhận hợp quy. Chứng nhận hợp quy phân bón là hoạt động đánh giá và xác nhận chất lượng sản phẩm phân bón phù hợp với quy chuẩn kĩ thuật theo yêu cầu của cơ quan quản lý.

Đối tượng áp dụng

Theo Nghị định 108/2017/NĐ-CP của Chính phủ, doanh nghiệp muốn kinh doanh, sản xuất phân bón tại Việt Nam thì phải có chứng nhận hợp quy phân bón cho sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. Như vậy, hợp quy phân bón áp dụng bắt buộc cho tất cả các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất sản phẩm phân bón tại Việt Nam.

Điều kiện để được chứng nhận hợp quy phân bón

– Sản phẩm phân bón phải được Công bố lưu hành.

– Doanh nghiệp phải có Giấy phép sản xuất phân bón.

Các loại phân bón phải chứng nhận hợp quy

Theo quy định của Nghị định 22 / 2013NĐ-CP về quản lý phân bón và Thông tư số 29-41 của Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các loại phân sau đây được yêu cầu chứng nhận phù hợp.

– Các loại phân bón đơn (đạm, lân, kali).

– Các loại phân bón hỗn hợp (NPK, NP, NK, PK có/không bổ sung trung lượng, vi lượng).

– Các loại phân bón phức hợp (DAP, APP, nitro phosphat, MAP, kali nitrat, kali dihydrophosphat, MKP).

– Các loại phân khoáng sinh học (là các loại phân bón đơn/phức hợp/hỗn hợp có bổ sung tối thiểu 01 chất sinh học).

– Các loại phân khoáng hữu cơ (là các loại phân bón đơn/phức hợp/hỗn hợp có bổ sung chất hữu cơ).

Phân bón mà các tổ chức và cá nhân sản xuất và buôn bán, hoặc phân bón là kết quả của các dự án nghiên cứu ở cấp chính phủ và cấp bộ đáp ứng tất cả các yêu cầu theo Hướng dẫn kiểm tra phân bón.

Chứng nhận hợp quy phân bón đem lại lợi ích gì?

– Tăng cơ hội cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

– Giúp doanh nghiệp hoàn thiện về thiết bị công nghệ, quy trình sản xuất phân bón và hệ thống quản lý chất lượng phân bón.

– Giảm thiểu chi phí rủi ro do việc thu hồi sản phẩm phân bón không phù hợp và bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng.

– Nâng cao và duy trì chất lượng sản phẩm phân bón theo yêu cầu của quy chuẩn đã được sử dụng để đánh giá, chứng nhận.

– Nâng cao uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường do được bên thứ ba là các tổ chức chứng nhận đánh giá và chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm.

Quy trình đánh giá chứng nhận Hợp quy phân bón

Bước 1: Đăng kí chứng nhận

Chứng nhận Quốc tế ICB tiếp nhận và trao đổi thông tin về đề nghị đăng ký chứng nhận Hợp quy phân bón của khách hàng

Bước 2: Đánh giá chứng nhận hợp quy và thử nghiệm mẫu điển hình

– Phương thức 5: Thử nghiệm mẫu điển hình và đánh giá quá trình sản xuất

Đánh giá thông qua thử nghiệm mẫu lấy tại nơi sản xuất hoặc trên thị trường kết hợp với đánh giá quá trình sản xuất. Hiệu lực của Giấy chứng nhận hợp quy là không quá 3 năm và giám sát hàng năm thông qua việc thử nghiệm mẫu tại nơi sản xuất hoặc trên thị trường kết hợp với đánh giá quá trình sản xuất.

Phương thức này áp dụng đối với các loại sản phẩm được sản xuất bởi cơ sở sản xuất trong nước hoặc nước ngoài đã xây dựng và duy trì ổn định hệ thống quản lý chất lượng, điều kiện đảm bảo quá trình sản xuất theo tiêu chuẩn ISO 9001 hoặc tương đương.

– Phương thức 7: Thử nghiệm, đánh giá lô sản phẩm, hàng hóa

Được áp dụng cho từng lô sản phẩm. Đánh giá sản phẩm điển hình trên cơ sở thử nghiệm mẫu. Có hiệu lực không thời hạn và chỉ có giá trị đối với lô sản phẩm đã được đánh giá

Bước 3: Báo cáo đánh giá, cấp giấy chứng nhận

ICB sẽ thông báo kết quả thử nghiệm mẫu điển hình và đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng cho khách hàng.

Nếu kết quả trên phù hợp với yêu cầu chứng nhận thì khách hàng sẽ được ICB cấp giấy chứng nhận Hợp quy phân bón.

Bước 4: Giám sát định kỳ, duy trì chứng nhận

Giấy chứng nhận Hợp quy phân bón sẽ có giá trị trong vòng 3 năm, do đó mỗi năm khách hàng phải thực hiện đánh giá định kỳ mỗi năm một lần theo quy định.

Công bố Hợp quy phân bón

Sau khi nhận được giấy chứng nhận Hợp quy phân bón, doanh nghiệp nộp hồ sơ công bố hợp quy tại Sở Nông nghiệp trên địa bàn đăng ký kinh doanh nếu là phân bón hữu cơ, nộp tại Sở Công thương nếu là phân bón vô cơ bón rễ.

Về hồ sơ và quy trình chứng nhận hợp quy phân bón vô cơ, hữu cơ cũng tương tự như nhau. Cụ thể, một bộ hồ sơ công bố hợp quy phân bón gồm có những thành phần chính sau:

– Bản công bố hợp quy theo mẫu

– Bản sao chứng chỉ chứng nhận hợp quy của sản phẩm, hàng hóa với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng do tổ chức chứng nhận chỉ định cấp

– Bản mô tả chung về sản phẩm, hàng hoá (đặc điểm, tính năng, công dụng….).

Hỗ trợ khách hàng sau chứng nhận

Với phương châm “Chăm sóc trước khi mua không bằng chăm sóc sau khi bán”. Công ty Chứng Nhận Quốc Tế ICB không chỉ hỗ trợ khách hàng trong quá trình đánh giá chứng nhận. Mà kể cả khi khách hàng đã làm xong chứng nhận tại ICB mà gặp bất cứ khó khăn gì thì chúng tôi vẫn sẽ luôn nhiệt tình giúp đỡ khách hàng với những chính sách hỗ trợ tốt nhất.

– Hỗ trợ về giá cho khách hàng đã sử dụng dịch vụ của ICB.

– Hỗ trợ chứng nhận chuyển đổi miễn phí bộ tiêu chuẩn/quy chuẩn mới (nếu có).

– Hỗ trợ miễn phí quảng bá hình ảnh công ty trên website chungnhanquocte.vn.

Hỗ trợ tư vấn miễn phí các dịch vụ khác có tại ICB

Công Ty Cổ Phần Chứng Nhận Quốc Tế ICB

Hotline : 0916 928 036 (Ms Nhung)

Zalo: 0916 928 036

Email: nhungnguyen.icb@gmail.com

Website: chungnhanquocte.vn