Quy Định Phân Bón Giả / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Vụ Phân Bón Thuận Phong: ‘Theo Quy Định Pháp Luật Là Giả’

Chia sẻ

Trong khoảng thời gian hai phút phát biểu để làm rõ thêm những vấn đề về vụ việc phân bón Thuận Phong (Đồng Nai) tại Quốc hội (QH) sáng 2/11, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình đã giải đáp nhiều thắc mắc và chốt lại phương án xử lý Thuận Phong.

Ảnh hưởng đến doanh nghiệp nên “cân nhắc rất kỹ”

Trước đó, vào ngày 31/10, đại biểu (ĐB) Lưu Bình Nhưỡng (Bến Tre) đã khơi mào vụ việc phân bón Thuận Phong khi ông nhận xét rằng: “Có một số việc tôi cảm giác như bị chìm xuồng. Vụ Công ty Thuận Phong ở Đồng Nai về phân bón giả, chúng ta chờ mãi mà không thấy Đoàn ĐBQH Đồng Nai lên tiếng”.

ĐB Hồ Văn Năm, Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Đồng Nai (nguyên Viện trưởng VKSND tỉnh này), ngay sau đó đã đăng đàn tranh luận với ĐB Nhưỡng.

Ông Năm khẳng định rằng quan điểm của Đồng Nai, kể cả cấp ủy, chính quyền và Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai, đã cương quyết xử lý về hàng gian, hàng giả. “Đây là vấn đề bức xúc của cử tri, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sinh hoạt của người dân, nhất là ảnh hưởng đến công sức lao động của người dân bỏ ra khi sử dụng hàng gian, hàng giả, đặc biệt là phân bón” – ông Năm nói.

Theo ĐB Năm, sau đó, vụ Thuận Phong đã được giao cho Bộ Công an xử lý, rồi Bộ Công an giao cho Đồng Nai xử lý. Tuy nhiên, các cơ quan tố tụng của Đồng Nai đã họp và nhận định không có dấu hiệu hình sự nên không khởi tố.

ĐB Năm cho rằng: “Vì khởi tố là rất quan trọng, ảnh hưởng đến chính sách, chế độ, nhân phẩm, danh dự của doanh nghiệp đó, có thể dẫn đến phá sản doanh nghiệp. Vì vậy, cân nhắc rất kỹ trước khi tiến hành khởi tố. Để cân nhắc khởi tố, các cơ quan tiến hành tố tụng tiếp tục xin ý kiến và Ban Nội chính Tỉnh ủy đã báo cáo xin ý kiến của Ban Nội chính Trung ương, đề nghị họp các cơ quan tố tụng ở trung ương và địa phương. Để thống nhất đánh giá lần cuối cùng trước khi quyết định khởi tố hay không khởi tố. Điều này là để xử lý cho đúng người, đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm, tránh làm oan người vô tội”.

Theo Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình, chất chính trong phân bón Thuận Phong dưới 70% nên theo quy định của pháp luật là giả. Ảnh: QH

“Cân nhắc gì mà đến tận hai năm vẫn chưa xong”

Phát biểu này của ông Năm tiếp tục gây ra cuộc tranh luận dữ dội tại nghị trường ngày 2/11.

ĐB Nguyễn Bá Sơn (Đà Nẵng) cho biết hai ngày vừa qua các cử tri trong ngành tư pháp gọi điện thoại và nói rằng trả lời như ĐB Hồ Văn Năm là chưa ổn. “Tôi đã đọc lại hồ sơ và cũng thấy như vậy” – ông Sơn nói và kiến nghị QH, Chính phủ đeo bám, chỉ đạo quyết liệt vụ này thì nhân dân mới yên lòng. Không chỉ phân bón mà nạn hàng giả đang hoành hành, cần phải xử lý kiên quyết.

ĐB Sơn vừa dứt lời, ĐB Nguyễn Công Hồng (Đồng Nai), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của QH, lại tranh luận với ĐB Sơn nhằm “xin cung cấp thông tin bởi đang truyền hình trực tiếp, thông tin không chính xác thì cử tri hiểu nhầm”.

Theo ĐB Hồng, đây là vụ việc phức tạp, từng bị xử lý hành chính. Quá trình xem xét vụ việc này cũng có nhiều quan điểm khác nhau, nhiều vấn đề được đặt ra như đó là hành vi buôn bán hàng giả hay hàng kém chất lượng…

“Hiện vụ án đang trong quá trình điều tra, xem xét lại chứ không phải là đã kết luận không có dấu hiệu tội phạm. Có thể ĐB Hồ Văn Năm phát biểu có câu nọ câu kia gây hiểu nhầm” – ông Hồng nhận định.

Theo ĐB Cương, phát biểu của ông Hồ Văn Năm đoàn Đồng Nai “gây ra rất nhiều phẫn uất cho xã hội”. Lưu ý rằng ĐB Năm vốn là viện trưởng VKSND tỉnh Đồng Nai tại thời điểm mà vụ Thuận Phong bị phát hiện. “ĐB Hồ Văn Năm có nói là việc vì nó ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp nên phải cân nhắc. Xin thưa với QH là cân nhắc gì mà cân nhắc đến hơn hai năm mà vẫn không cân nhắc xong, không nói gì đến thiệt hại của hàng triệu nông dân Việt Nam”.

Trách nhiệm ở các cơ quan tư pháp

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình, Trưởng ban Chỉ đạo 389 Quốc gia, nói trong vụ việc phân bón Thuận Phong, sáu bộ, ngành đã có những tranh luận về “thành phần chất chính và thành phần chính”. Và cuối cùng, “chất chính” trong phân bón của Thuận Phong là dưới 70% nên không đạt.

“Như vậy, theo quy định của pháp luật (phân bón Thuận Phong – PV) là giả” – Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình nói.

Theo Phó Thủ tướng, việc sử dụng kết quả của các bộ, ngành trả lời là do cơ quan tư pháp. Nếu cần thì cơ quan tư pháp trưng cầu giám định. Và VKSND Tối cao đã yêu cầu VKSND tỉnh Đồng Nai hủy quyết định phê chuẩn quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT Công an tỉnh Đồng Nai. CQĐT Đồng Nai đã hủy quyết định không khởi tố vụ án hình sự để điều tra theo quy định của pháp luật.

“Như vậy là CQĐT Công an tỉnh Đồng Nai đang tiếp tục điều tra. Còn việc có tội hay không có tội thì phải thông qua quá trình điều tra, truy tố, xét xử và tòa án sẽ có phán quyết theo thẩm quyền. Quá trình này thì Ủy ban Tư pháp QH, mặt trận đều có thể giám sát” – Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình nói.

Cuối cùng, Phó Thủ tướng kết luận: “Trách nhiệm hiện nay thuộc về các cơ quan tư pháp. Tôi đề nghị chúng ta chờ sự giám sát của Ủy ban Tư pháp và chúng ta không nên tranh luận tiếp về vấn đề này tại diễn đàn QH”.

Theo Plo

Các Quy Định Về Quản Lý Phân Bón Mới Nhất

I. CÁC VĂN BẢN DOANH NGHIỆP PHÂN BÓN CẦN BIẾT:

II. CÁC GIẤY PHÉP DOANH NGHIỆP PHÂN BÓN PHẢI CÓ TỪ 2020:

Đối tượng áp dụng:

Doanh nghiệp, hộ gia đình sản xuất phân bón. Doanh nghiệp, hộ gia đình có hoạt động sang chiết, đóng gói phân bón.

Thời hạn giấy phép: 05 năm, hết thời hạn làm thủ tục gia hạn

Đối tượng áp dụng:

Doanh nghiệp nhập khẩu phân bón chưa được công nhận lưu hành tại Việt Nam;

Các nhóm phân hay khảo nghiệm: thủ tục nhập khẩu phân bón npk và phân vi sinh

Doanh nghiệp sản xuất phân bón chưa được công nhận lưu hành tại Việt Nam. Trừ một số loại phân bón không phải khảo nghiệm

Thời hạn giấy phép: 05 năm, hết thời hạn làm thủ tục gia hạn

Đối tượng áp dụng:

Doanh nghiệp có phân bón sản xuất trong nước chưa được công nhận lưu hành tại Việt Nam và đã thực hiện khảo nghiệm.

Doanh nghiệp nhập khẩu phân bón chưa được công nhận lưu hành tại Việt Nam và đã thực hiện khảo nghiệm.

Thời hạn giấy phép: 05 năm, hết thời hạn làm thủ tục gia hạn

III. PHÂN LOẠI PHÂN BÓN THEO NGHỊ ĐỊNH 84/2019/NĐ-CP VỀ QUẢN LÝ PHÂN BÓN:

Các loại phân bón được sản xuất từ nguyên liệu chính là các chất vô cơ hoặc hữu cơ tổng hợp, được xử lý qua quá trình hóa học hoặc chế biến khoáng sản và tùy theo thành phần, hàm lượng hoặc chức năng của chỉ tiêu chất lượng chính đối với cây trồng hoặc liên kết hóa học của các nguyên tố dinh dưỡng trong phân bón được phân loại chi tiết trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Các loại phân bón được sản xuất từ nguyên liệu chính là các chất hữu cơ tự nhiên (không bao gồm các chất hữu cơ tổng hợp), được xử lý thông qua quá trình vật lý (làm khô, nghiền, sàng, phối trộn, làm ẩm) hoặc sinh học (ủ, lên men, chiết) và tùy theo thành phần, chức năng của các chỉ tiêu chất lượng chính hoặc quá trình sản xuất được phân loại chi tiết trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Các loại phân bón được sản xuất thông qua quá trình sinh học hoặc có nguồn gốc tự nhiên, trong thành phần có chứa một hoặc nhiều chất sinh học như axít humic, axít fulvic, axít amin, vitamin hoặc các chất sinh học khác và tùy theo thành phần hoặc chức năng của chỉ tiêu chất lượng chính trong phân bón được phân loại chi tiết trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Sử dụng để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua bộ rễ hoặc có tác dụng cải tạo đất.

Sử dụng để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua thân, lá

IV. QUY ĐỊNH VỀ KIỂM TRA NHÀ NƯỚC TRƯỚC KHI THÔNG QUAN ĐỐI VỚI PHÂN BÓN NHẬP KHẨU:

Phân bón nhập khẩu phải được kiểm tra nhà nước về chất lượng trước khi thông quan.

Kiểm tra nhà nước bằng Phương thức 7: thử nghiệm, đánh giá lô phân bón, cấp Giấy chứng nhận hợp quy cho lô phân bón được đánh giá và Giấy này chỉ có hiệu lực đối với lô phân bón được đánh giá. Phân bón nhập khẩu công bố hợp quy dựa trên kết quả chứng nhận của Tổ chức chứng nhận hợp quy được chỉ định.

Phân bón nhập khẩu trước khi làm thủ tục thông quan, doanh nghiệp có thể làm công văn gửi Hải quan để đưa hàng về Kho của doanh nghiệp bảo quản.

Chế độ miễn giảm kiểm tra chất lượng phân bón nhập khẩu: Áp dụng đối với phân bón cùng tên phân bón, mã số phân bón, dạng phân bón của cùng một cơ sở sản xuất, cùng xuất xứ, cùng nhà nhập khẩu, sau 3 lần liên tiếp có kết quả thử nghiệm kiểm tra nhà nước về chất lượng đạt yêu cầu nhập khẩu.

Thời hạn miễn giảm kiểm tra: 12 tháng.

Trình tự kiểm tra và lấy mẫu như sau:

Bước 1: Doanh nghiệp nhập khẩu phân bón nộp bộ hồ sơ sau đến Cơ quan kiểm tra nhà nước (Tổ chức được chỉ định bởi Cục BVTV)

Giấy đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng phân bón nhập khẩu;

Bước 2: Trong 01 ngày làm việc, cơ quan nhà nước kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ Bước 1 và xác nhận vào đơn đăng ký, tiến hành lấy mẫu. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Bước 4: Thông báo kết quả kiểm tra trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi lấy mẫu kiểm tra (Nếu kết quả phù hợp thì phân bón được thông quan, còn nếu không đạt thì sẽ xử lý theo quy định về xử phạt đối với hàng hóa không phù hợp chất lượng).

V. QUY ĐỊNH VỀ BAO BÌ, NHÃN PHÂN BÓN:

Phân bón khi lưu thông trên thị trường phải được ghi nhãn theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa. Hiện nay, cách ghi nhãn hàng hóa đối với phân bón được quy định trong Luật trồng trọt 2018 và Nghị định 43/2017/NĐ-CP.

Nhãn hàng hóa là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa.

Nội dung bắt buộc trên nhãn đối với phân bón:

Nội dung bắt buộc trên nhãn đối với phân bón lá: Phải ghi rõ cụm từ “Phân bón lá”

Nội dung bắt buộc trên nhãn đối với phân bón vi sinh: Ghi thêm chủng, số lượng vi sinh vật

VI. XỬ PHẠT VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ NHÃN PHÂN BÓN:

Hiện nay việc xử phạt vi phạm quy định về nhãn đối với hàng hóa nói chung và nhãn phân bón nói riêng được quy định trong Nghị định 119/2019/NĐ-CP và Thông tư 18/2018/TT-BKHCN.

Hàng hóa có nhãn (kể cả tem hoặc nhãn phụ) hoặc tài liệu kèm theo không ghi đủ hoặc ghi không đúng các nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa hoặc nội dung bắt buộc phải thể hiện trên nhãn theo tính chất hàng hóa theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa

Kinh doanh hàng hóa theo quy định phải có nhãn hàng hóa mà không có nhãn hàng hóa; không có nhãn gốc hoặc có nhãn gốc nhưng bị thay đổi;

Gắn nhãn hàng hóa giả, gồm hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác; hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa

Ngoài ra, công ty Luật Glaw Vietnam chuyên tư vấn thủ tục nhập khẩu phân bón. Các cá nhân hoặc doanh nghiệp đang có nhu cầu nhập khẩu phân bón hoặc muốn tìm hiểu thêm về thủ tục có thể liên hệ Hotline: 0945.929.727 hoặc email: info@glawvn.com.

Quy Định Mới Về Điều Kiện Kinh Doanh Phân Bón Vô Cơ

Điều 8. Điều kiện sản xuất phân bón

1. Có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong đó có ngành nghề về sản xuất phân bón do cơ quan có thẩm quyền cấp.

2. Đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất – kỹ thuật, gồm:

a) Địa điểm, diện tích, nhà xưởng, kho chứa phù hợp với công suất sản xuất phân bón;

b) Máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ phù hợp với công suất và chủng loại phân bón sản xuất;

c) Áp dụng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng; có tiêu chuẩn áp dụng cho nguyên liệu đầu vào đảm bảo các điều kiện về quản lý chất lượng sản phẩm phân bón;

d) Có phòng thử nghiệm, phân tích hoặc có thỏa thuận với tổ chức thử nghiệm, phân tích /được chỉ định hoặc công nhận và đã đăng ký lĩnh vực hoạt động thử nghiệm, phân tích theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa để quản lý chất lượng sản phẩm;

(Điểm đ bị bãi bỏ)

a) Có ít nhất một cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên một trong các chuyên ngành sau: Hóa, lý, sinh học, nông nghiệp, trồng trọt, khoa học cây trồng, nông hóa thổ nhưỡng;

b) Người lao động trực tiếp sản xuất phân bón phải được huấn luyện, bồi dưỡng kiến thức về phân bón.

Điều 8a. Điều kiện sản xuất phân bón vô cơ

Các điều kiện sản xuất phân bón vô cơ quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 8 được thực hiện như sau:

1. Dây chuyền sản xuất phải được cơ giới hóa và phải bảo đảm được chất lượng loại phân bón sản xuất. Máy móc, thiết bị để sản xuất phân bón phải có nguồn gốc rõ ràng và hợp pháp. Máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và thiết bị đo lường thử nghiệm phải được kiểm định, hiệu chuẩn, hiệu chỉnh theo quy định.

2. Quy trình công nghệ sản xuất đối với từng loại phân bón phải phù hợp với máy móc thiết bị và công suất sản xuất.

3. Phòng thử nghiệm của cơ sở sản xuất phân bón phải có khả năng phân tích được các chỉ tiêu chất lượng quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm đầu ra và các chỉ tiêu chất lượng quy định tại tiêu chuẩn áp dụng đối với nguyên liệu đầu vào để kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Cơ sở sản xuất phân bón vô cơ không có phòng thử nghiệm hoặc có phòng thử nghiệm nhưng không thử nghiệm được hết các chỉ tiêu chất lượng quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì phải có hợp đồng với phòng thử nghiệm được chỉ định hoặc được công nhận để kiểm soát chất lượng phân bón sản phẩm.

4. Tổ chức, cá nhân thuê tổ chức, cá nhân khác sản xuất phân bón vô cơ phải có hợp đồng bằng văn bản và phải đáp ứng các điều kiện về chủ thể theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định 202/2013/NĐ-CP. Tổ chức, cá nhân nhận thuê sản xuất phân bón vô cơ phải đáp ứng các điều kiện về chủ thể quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định 202/2013/NĐ-CP và yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ thuật, tài liệu kỹ thuật quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này. Tổ chức, cá nhân thuê tổ chức, cá nhân khác sản xuất phân bón vô cơ lập hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép sản xuất phân bón vô cơ theo quy định của Bộ Công Thương.

Điều 15a. Điều kiện kinh doanh phân bón vô cơ

Các điều kiện kinh doanh phân bón vô cơ quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 15 được thực hiện như sau:

1. Cửa hàng hoặc địa điểm kinh doanh, nơi bày bán phân bón vô cơ phải có biển hiệu, có bảng giá bán công khai từng loại phân bón, niêm yết tại nơi dễ thấy, dễ đọc. Phân bón bày bán phải được xếp đặt riêng, không để lẫn với các loại hàng hóa khác, phải được bảo quản ở nơi khô ráo, đảm bảo giữ được chất lượng phân bón và điều kiện vệ sinh môi trường.

2. Bao bì, các dụng cụ, thiết bị chứa đựng, lưu giữ, vận chuyển phải bảo đảm được chất lượng phân bón, bảo đảm vệ sinh môi trường, không rò rỉ, phát tán phân bón ra ngoài ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Phải có biện pháp xử lý bao bì, vỏ chai, lọ và phân bón đã quá hạn sử dụng.

3. Kho chứa phải đảm bảo các yêu cầu về vị trí xây dựng, yêu cầu về thiết kế phù hợp với phân bón đang kinh doanh, đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường, về phòng chống cháy nổ. Trong kho chứa, phân bón phải được xếp đặt riêng rẽ, không để lẫn với các loại hàng hóa khác.

4. Phân bón nhập khẩu phải có nhãn mác, nguồn gốc xuất xứ theo quy định của pháp luật, thông báo kết quả kiểm tra nhà nước chất lượng nhập khẩu phân bón đối với lô hàng nhập khẩu trước khi lưu thông. Phân bón trong nước phải có hóa đơn, chứng từ hợp pháp chứng minh rõ nguồn gốc nơi sản xuất, nơi nhập khẩu hoặc nơi cung cấp loại phân bón kinh doanh.

5. Đối với các cửa hàng bán lẻ phân bón vô cơ, trường hợp không có kho chứa thì các công cụ, thiết bị chứa đựng phân bón phải đảm bảo được chất lượng phân bón, vệ sinh môi trường và phòng, chống cháy nổ.

Điều 5. Hướng dẫn thực hiện điều kiện sản xuất phân bón vô cơ

Các điều kiện sản xuất phân bón vô cơ quy định tại các Điểm a, b, c, d Khoản 2 Điều 8 Nghị định 202/2013/NĐ-CP được hướng dẫn thực hiện như sau:

1. Diện tích mặt bằng, nhà xưởng, kho chứa nguyên liệu, kho chứa thành phẩm phân bón phải phù hợp với công suất sản xuất. Công suất tối thiểu của cơ sở sản xuất phân bón vô cơ được quy định tại Phụ lục 1 kèm theo Thông tư này.

2. Dây chuyền sản xuất phải đáp ứng công suất sản xuất, được cơ giới hóa và phải bảo đảm được chất lượng loại phân bón sản xuất. Máy móc, thiết bị để sản xuất phân bón phải có nguồn gốc rõ ràng và hợp pháp. Máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và thiết bị đo lường thử nghiệm phải được kiểm định, hiệu chuẩn, hiệu chỉnh theo quy định.

3. Quy trình công nghệ sản xuất đối với từng loại phân bón phải phù hợp với máy móc thiết bị và công suất sản xuất.

4. Phòng thử nghiệm của cơ sở sản xuất phân bón phải có khả năng phân tích được các chỉ tiêu chất lượng quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm đầu ra và các chỉ tiêu chất lượng quy định tại tiêu chuẩn áp dụng đối với nguyên liệu đầu vào để kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Cơ sở sản xuất phân bón vô cơ không có phòng thử nghiệm hoặc có phòng thử nghiệm nhưng không thử nghiệm được hết các chỉ tiêu chất lượng quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì phải có hợp đồng với phòng thử nghiệm được chỉ định hoặc được công nhận để kiểm soát chất lượng phân bón sản phẩm.

5. Kho chứa nguyên liệu, kho chứa thành phẩm phân bón phải phù hợp với năng lực, công suất sản xuất. Kho chứa có các phương tiện bảo quản chất lượng phân bón trong thời gian lưu giữ. Phân bón xếp trong kho phải đảm bảo yêu cầu an toàn cho người lao động và hàng hóa. Kho chứa phân bón phải có nội quy thể hiện được nội dung về đảm bảo chất lượng phân bón và vệ sinh, an toàn lao động.

6. Tổ chức, cá nhân thuê tổ chức, cá nhân khác sản xuất phân bón vô cơ phải có hợp đồng lập thành văn bản và phải đáp ứng các điều kiện về chủ thể theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định 202/2013/NĐ-CP. Tổ chức, cá nhân nhận thuê sản xuất phân bón vô cơ phải đáp ứng các điều kiện về chủ thể quy định tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định 202/2013/NĐ-CP và yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ thuật, tài liệu kỹ thuật quy định từ Khoản 1 đến Khoản 5 Điều này. Tổ chức, cá nhân thuê tổ chức, cá nhân khác sản xuất phân bón vô cơ lập hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép sản xuất phân bón vô cơ theo quy định tại Điều 6 Thông tư này.

Điều 13. Hướng dẫn thực hiện điều kiện kinh doanh phân bón vô cơ

Các điều kiện kinh doanh phân bón vô cơ quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 15 Nghị định 202/2013/NĐ-CP được hướng dẫn thực hiện như sau:

1. Cửa hàng hoặc địa điểm kinh doanh, nơi bày bán phân bón vô cơ phải có biển hiệu, có bảng giá bán công khai từng loại phân bón, niêm yết tại nơi dễ thấy, dễ đọc. Phân bón bày bán phải được xếp đặt riêng, không để lẫn với các loại hàng hóa khác, phải được bảo quản ở nơi khô ráo, đảm bảo giữ được chất lượng phân bón và điều kiện vệ sinh môi trường.

2. Bao bì, các dụng cụ, thiết bị chứa đựng, lưu giữ, vận chuyển phải bảo đảm được chất lượng phân bón, bảo đảm vệ sinh môi trường, không rò rỉ, phát tán phân bón ra ngoài ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Phải có biện pháp xử lý bao bì, vỏ chai, lọ và phân bón đã quá hạn sử dụng.

3. Kho chứa phải đảm bảo các yêu cầu về vị trí xây dựng, yêu cầu về thiết kế phù hợp với phân bón đang kinh doanh, đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường, về phòng chống cháy nổ. Trong kho chứa, phân bón phải được xếp đặt riêng rẽ, không để lẫn với các loại hàng hóa khác.

4. Phân bón nhập khẩu phải có nhãn mác, nguồn gốc xuất xứ theo quy định của pháp luật, thông báo kết quả kiểm tra nhà nước chất lượng nhập khẩu phân bón đối với lô hàng nhập khẩu trước khi lưu thông. Phân bón trong nước phải có hóa đơn, chứng từ hợp pháp chứng minh rõ nguồn gốc nơi sản xuất, nơi nhập khẩu hoặc nơi cung cấp loại phân bón kinh doanh.

5. Đối với các cửa hàng bán lẻ phân bón vô cơ, trường hợp không có kho chứa thì các công cụ, thiết bị chứa đựng phân bón phải đảm bảo được chất lượng phân bón, vệ sinh môi trường và phòng, chống cháy nổ.

Điều 5, 13 Thông tư 29/2014/TT-BCT

Đồng Nai: Triệt Phá Xưởng Sản Xuất Phân Bón Giả Quy Mô Lớn

Dưới sự chỉ đạo quyết liệt từ Tổng cục QLTT, Đội QLTT số 1 – Cục QLTT Đồng Nai phối hợp với Cục Nghiệp vụ QLTT và Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03) vừa xóa sổ thành công xưởng sản xuất phân bón giả trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Xưởng sản xuất trên thuộc chi nhánh Công ty TNHH Thương mại Châu Rhino có địa chỉ tại 272/81 Tổ 9A, Khu phố 4, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

Không chỉ phân phối tại thị trường Đồng Nai, mặt hàng phân bón giả do chi nhánh Công ty TNHH Thương mại Châu Rhino sản xuất còn được bày bán tại một số cơ sở kinh doanh trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

Trước đó, chiều 02/10/2020, tại Lâm Đồng, Đội QLTT số 2 đã phối hợp với Cục Nghiệp vụ QLTT, Cục Cảnh sát kinh tế, Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh Lâm Đồng, Đội Cảnh sát kinh tế Công an huyện Đức Trọng tiến hành kiểm tra hộ kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật do ông Trần Thành Lương (địa chỉ: Thôn 6, xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng) làm chủ hộ.

Tại đây Đoàn kiểm tra phát hiện 40 tấn phân bón trung lượng XNK 111 HLS Supper Lân Canxi do chi nhánh Công ty TNHH Thương mại Châu RHINO, địa chỉ: 272/81 Tổ 9A, Khu phố 4, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai sản xuất có dấu hiệu vi phạm kinh doanh phân bón khi không xuất trình được Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam. Đội QLTT số 2, Cục QLTT tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành các thủ tục để tạm giữ toàn bộ số lô hàng trên đồng thời lấy mẫu kiểm nghiệm thành phần chất lượng.

Chiều cùng ngày, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, lực lượng chức năng tiếp tục kiểm tra Cơ sở kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật Thu Thảo do bà Nguyễn Thị Thu Thảo làm chủ tại địa chỉ số 15, Tổ 1, ấp Ngọc Lâm 2, xã Phú Thanh, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, Đoàn kiểm tra phát hiện 13 tấn phân bón trung lượng XNK 111 HLS Supper lân canxi do Công ty TNHH Thương mại Châu RHINO sản xuất có dấu hiệu vi phạm tương tự như cửa hàng tại Lâm Đồng. Đội QLTT số 6, Cục QLTT Đồng Nai tiếp tục lấy mẫu để kiểm nghiệm đồng thời làm thủ tục tạm giữ toàn bộ số phân bón trên đưa về kho bảo quản.

Trước các dấu hiệu vi phạm từ các cơ sở kinh doanh mặt hàng trên, bằng biện pháp nghiệp vụ, lực lượng chức năng nhanh chóng xác định và tìm ra nơi sản xuất của các mặt hàng trên. Đến 17h chiều 2/10, Đoàn kiểm tra liên ngành Ban chỉ đạo 389 tỉnh Đồng Nai phối hợp với Cục Nghiệp vụ QLTT, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03) bất ngờ ập đến kiểm tra Xưởng sản xuất phân bón nằm tại địa chỉ 30A9/10, Khu phố 11, phường Tân Phong, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai thuộc chi nhánh Công ty TNHH Thương mại Châu RHINO.

Thời điểm lực lượng chức năng ập đến, hàng trăm m3 nguyên liệu, bột màu, đá vẫn ngổn ngang tại xưởng. Các máy móc, thiết bị cùng các loại xe nâng, ủi, xúc, băng chuyền… đều đầy đủ và sẵn sàng cho việc sản xuất.

Kiểm đếm thực tế, Đoàn kiểm tra ghi nhận 8,5 tấn thành phẩm phân bón trung lượng XNK 111 HLS Supper Lân Canxi; 28,5 tấn phân bón hữu cơ trùn quế; khoảng 5 tấn phân hạt đen chưa đóng bao bì; 25m3 nguyên liệu, bột màu dùng để sản xuất phân, 100m3 đá nguyên liệu và 31.700 vỏ bao bì phân bón các loại; phương tiện sản xuất gồm: 01 máy xúc, 01 xe nâng, 01 băng chuyền, 01 máy nghiền, 01 bồn chứa nguyên liệu, 01 bồn quay ly tâm và 01 máy may miệng bao.

Đoàn kiểm tra đã tiến hành tạm giữ toàn bộ lô hàng để kiểm nghiệm, tiếp tục điều tra, làm rõ.

61,5/90 tấn phân bón được kiểm nghiệm là hàng giả

Kết quả được trả về từ Trung tâm phân tích và thử nghiệm 2 – Vinacontrol và Trung tâm kỹ thuật đo lường chất lượng 3 – Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng ngày 19/10 đã thể hiện 61,5 tấn phân bón các loại như Phân trung lượng XNK 111 HLS Supe Lan Canxi; Phân trung lượng XNK 111 HLS Super Lan canxi; Phân hữu cơ vi sinh Brown Toad Lân đen Humic Đạm cá được Cục QLTT Đồng Nai và Cục QLTT Lâm Đồng kiểm tra và tạm giữ mới đây không đạt chỉ tiêu chất lượng, là hàng giả, không có giá trị sử dụng.

Hiện, Cục QLTT Đồng Nai đang hoàn chỉnh hồ sơ vụ việc để chuyển sang Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03) đối với các hành vi: sản xuất phân bón không có giấy phép sản xuất, sản xuất phân bón không có quyết định lưu hành phân bón tại Việt Nam và sản xuất phân bón giả.

Trong thời gian qua, Tổng cục QLTT đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo Cục QLTT các tỉnh, thành phố chủ động phối hợp với cơ quan Công an, Thanh tra Sở NNPTNT, Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng… tăng cường kiểm tra nhằm ngăn chặn tình trạng sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp nhập lậu, giả, kém chất lượng.

Qua công tác quản lý địa bàn, các Cục QLTT đã phân loại đối tượng để xây dựng kế hoạch kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật; đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật nhằm nâng cao nhận thức cho các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phân bón trên địa bàn, tổ chức cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh ký cam kết không kinh doanh phân bón nhập lậu, phân bón giả, phân bón kém chất lượng và tổ chức kiểm tra sau khi ký cam kết, xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm.

Quyên LưuTổng cục Quản lý thị trường

https://dms.gov.vn/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/phat-hien-so-luong-cuc-lon-phan-bon-gia-tai-%C4%91ong-nai-25108-1.html