Quy Cách Trồng Lan Rừng / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Rừng Luồng

( Dendroclamus Membranaceus Munro)

Luồng là cây ưa sáng, mọc nhanh, thích hợp với nơi khí hậu nóng ẩm, có đặc trưng khí hậu như sau:

– Nhiệt độ trunh bình hàng năm từ 22-26 0C (mùa mưa từ 24-28 0 C)

– Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1600-2000mm, trong năm có mùa mưa tập trung từ tháng 04 đến tháng 10.

2. Địa hình: Độ cao tuyệt đối dưới 400m, độ dốc dưới 25 0

3. Đất đai: Độ dày tâng đất trên 60cm, đất ẩm, thoát nước, độ pHKcl của đất từ 3,8-7; thảm thực bì là cây bụi, cây gỗ; không trồng luồng trên những vùng đất ngập úng, đất mặn, đất phèn, đất đã bị đá ong hóa.

Có thể trồng luồng bằng Luồng bằng các loại giống như: hom gốc, hom thân, hom chét, hom cành chiết qua ươm giống đều cho tỉ lệ sống cao. Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và quy mô trồng rừng luồng mà chọn hom giống cho phù hợp. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu trồng rừng với qui mô lớn và tạo cây con đồng đều, thuận tiện trong vận chuyển trong sản xuất hiện nay thường được sử dụng giống cành chiết qua ươm.

– Thời vụ tạo giống: Vụ Xuân từ tháng 1-3 và vụ Thu từ tháng 7-9

– Kỹ thuật tạo giống: Chọn cây 1-2 tuổi, khỏe mạnh, không bị bệnh, chặt phần thân để lại từ 80-100 cm. Đào đất quanh gốc đến hết phần thân ngầm, dùng dao sắc hoặc xà beng chặt đứt phần cuối thân ngầm dính với cây mẹ (lưu ý không bị dập thân ngầm và chồi ngủ), chặt rễ để lại 2-3cm. Sau khi giống gốc được tách ra khỏi cây mẹ có thể mang đi trồng ngay hoặc giâm tạm thời vào nơi râm mất hoặc vùi gốc vào bùn đặc thêm 1-2 tuần, khi gốc đã bắt đầu nảy lá là đem trồng.

– Thời vụ tạo giống: Vụ Xuân từ tháng 1-3 và vụ Thu từ tháng 7-9

– Kỹ thuật tạo giống: Chọn các gốc chét từ 8-12 tháng tuổi, đường kính trên 2cm, không bị sâu, bệnh. Dùng dao sắc chặt sát phần tiếp giáp với thân cây mẹ sao cho không dập gốc và mắt cua. Chét sau khi chặt có thể trồng ngay hoặc ươm khi ra rễ rồi đem trồng.

– Tạo hom thân: Chọn cây luồng từ 9-15 tháng, thân màu xanh thẫm hoặc màu xanh lá mạ, đường kính từ 6-10cm, cây khỏe, không bị bệnh, hoặc cây bị khuy, gốc cành có vành rễ khí sinh. Chặt mỗi đoạn hom gồm 1 dóng và 2 đốt, phần dưới chặt vát nhọn, phần trên chặt bằng, nếu có cành chặt cành để lại 1 đoạn dài từ 10-15cm, sau đó đem đi trồng ngay hoặc đưa về ươm trong vườn.

– Ươm hom thân:

+ Ươm theo hàng dọc mỗi luống ươm 2-3 hàng, hàng cách hàng 40cm, hom cách hom 5cm. Dùng cuốc rạch thành những hàng dọc theo chiều dài luống sao cho sau khi đặt hom luồng vẫn thấp hơn mặt luống từ 7-10cm.

+ Bón lót phân chuồng hoặc phân xanh ủ hoai từ 2-3kg/m 2

+ Khi ươm cho đất nhỏ xuống đáy rạch, đặt hom luồng nằm ngang, cho cành lọt dưới đất, 2 hàng cành hoặc mắt cua nằm sang hai bên. Đặt hom xong, lấp đất vào rạch dậm chặt, phủ lớp đất mỏng lên trên dày từ 5-7cm. Tiếp đó dùng rơm, rạ phủ 1 lớp dày từ 3-5cm lên trên, sau đó tưới nước.

+ Làm giàn che cho cây ươm với tỷ lệ che sáng 50%. Độ cao của giàn che từ 1,8-2,0m, để thuận lợi cho việc chăm sóc cây ươm.

+ Thường xuyên tưới nước đủ ẩm, làm cỏ và phòng bệnh cho cây ươm.

+ Tiêu chuẩn cây giống luồng từ hom thân khi xuất vườn: Hom đã có thế hệ măng và có lá đầy đủ, rễ phát triển khỏe, dài trên 15cm.

– Cây mẹ lấy cành là những cây luồng sinh trưởng tốt không bị sâu, bệnh và không bị khuy, tuổi cây mẹ từ 8-12 tháng.

– Chọn cành chiết có đường kính phần sát đùi gà ≥ 1cm, thân cành có màu xanh thẫm, bẹ mo phía trên đùi gà đã rụng nhưng còn vết hơi trắng. Chọn cành có đùi gà to, mắt cua không bị sâu thối, có nhiều rễ khí sinh.

– Thời vụ chiết cành: Vụ Xuân từ tháng 1-3 và vụ Thu từ tháng 7 đến tháng 9. Không nên chiết cành khi trời lạnh (nhiệt độ dưới 20 0C) hoặc trời quá nóng (nhiệt độ trên 35 0 C).

– Kỹ thuật chiết cành:

+ Phát bớt ngọn cành, để lại khoảng 3 dóng (30-40cm). Chỉ sử dụng 1/3 số lượng cành hiện có trên cây mẹ để chiết, thường dùng những cành tập trung phía dưới gốc. Dùng dao sắc tách cành chiết, chừa lại 1/5 diện tích mấu cành sao cho không dập các chồi ngủ (mắt cua) ở đùi gà.

Cành chiết được bó ở gốc cành bằng hỗn hợp bùn ao với rơm băm nhỏ (2 bùn ao + 1 rơm), trọng lượng bầu khoảng 200-250 g. Bọc kín bầu bằng nilon rộng 20-25cm, dài 25-30cm, buộc chặt 2 đầu để giữ ẩm. Sau 15-25 ngày cành chiết ra rễ, chọn những cành chiết có rễ màu vàng nhạt cắt về ươm tại vườn. Nếu chưa kịp ươm thì bảo quản cành chiết nơi râm mát, phủ cát hoặc rơm rạ và tưới nước đủ ẩm.

– Ươm các cành chiết trong vườn ươm:

+ Vườn ươm phải bằng phẳng, đất thịt hoặc đất thịt nhẹ, gần nguồn nước sạch, tiện đường vận chuyển. Luống ươm rộng 1.0-1,2m, bón lót 1-3 kg phân chuồng hoai/m 2.

+ Cành chiết sau khi được cắt về tiến hành vệ sinh cành nhánh thứ cấp, bóc bỏ vỏ bầu. Cành được giâm theo rạch cự lý 25x40cm hoặc 25×30 cm. Đặt cành nằm nghiêng một góc 60 0 so với mặt luống.

+ Chèn chặt gốc cành giâm, sau đó lấp đất vào rạch cho bằng mặt luống. Làm giàn che cao 1,8-2,0m so với mặt luống. Thường xuyên tưới nước, làm cỏ, phá váng, bón thúc bằng phân chuồng hoai hoặc NPK chuyên luồng, hòa 100-200g/5 lít nước và tưới cho 1m 2.

+ Giảm dần lượng nước tưới để cho cây con thích nghi với điều kiện sống khi trồng: 10 ngày đầu tiên tưới đều 1 ngày/1 lần, 5 lít/m 2. Sau 10 ngày thì cứ 4-5 ngày tưới 1 lần, trên một tháng 10-20 ngày tưới một lần, mỗi lần tưới 10 lít/m 2.

+ Sau 8-12 tháng, khi cây giống có măng thế hệ 2 tỏa lá xanh tốt, không bị sâu bệnh thì có thể xuất vườn.

+ Lựa chọn những cây giống đủ tiêu chuẩn xuất vườn, dùng xà beng bứng đào gốc (lưu ý không làm dập gốc và mắt cua). Phát bỏ bớt cành ngọn, để lại chiều cao khoảng 60cm. Dùng hỗn hợp bùn ao và rơm quấn quanh gốc và bao bọc bộ rễ đảm bảo cây giống có tỉ lệ sống cao và vận chuyển không bị khô.

1. Phương thức và mật độ trồng

a. Trồng rừng thuần loài: Áp dụng cho rừng sản xuất nguyên vật liệu; mật độc trồng từ 200-250 bụi/ha (Tùy thuộc vào cấp đất để lựa chọn mật độ trồng cho phù hợp), cự ly cây cách cây 5m; hàng cách hàng 8-10m.

b. Trồng rừng hỗn giao áp dụng cho rừng sản xuất và rừng phòng hộ:

+ Trồng rừng hỗn giao theo hàng áp dụng cho rừng sản xuất: Mật độ trồng 600 cây/ha trong đó 200 bụi luồng/ha + 400 cây gỗ/ha (Cự ly Luồng cây cách cây 5m, hàng cách hàng 10m. Keo tai tượng cây cách cây 2,5 m; hàng cách hàng 10m).

+ Trồng rừng hỗn giao theo hàng áp dụng cho rừng phòng hộ: Mật độ trồng 660 cây/ha trong đó có 165 bụi luồng/ha + 330 cây Keo tai tượng/ha + 165 cây gỗ bản địa/ha (Cự ly luồng cây cách cây 5m, hàng cách hàng 12m; keo tai tượng cây cách cây 2,5 m, hàng cách hàng 12 m; cây gỗ bản địa cây cách cây 5m, hàng cách hàng 12m).

2.1. Trồng vào đầu mùa mưa cho đến trước khi kết thúc mùa mưa 1 tháng

– Vụ Xuân: tháng 1 đến tháng 3

– Vu Thu: Tháng 7 đến tháng 9

2.2. Trồng vào những ngày thời tiết râm mát, đất đủ ẩm; không trồng vào lúc trời nắng to hoặc mưa to.

3.1. Xử lý toàn diện: áp dụng cho trồng rừng thuần loài, trồng theo đám, trồng hỗn loài theo hàng , không được đốt.

3.2. Xử lý cục bộ:

a. Trồng bao đồi: Dưới chân đồi phát băng rộng 6m chạy vòng quanh đồi, phát và dọn tất cả các cây trong lòng băng, không được đốt.

b. Trồng rừng theo băng: Băng chặt rộng 6m, băng chừa rộng 10m; phát dọn tất cả các cây trong lòng băng chặt, không được đốt; loại bỏ những cây gỗ có chiều cao trên 6m trong băng chừa.

– Phải chuẩn bị đất xong trước khi trồng 1 tháng

– Phương pháp làm đất cục bộ theo hố

– Cuốc hố kích thước 60x60x50cm

– Lấp hố và bón phân: Lấp đất 2 phần 3 hố bằng lớp đất mặt nhỏ mịn; trộn đều đất trong hố vói một trong các loại phân có thứ tự ưu tiên từ 10 kg đến 20 kg phân chuồng hoai hoặc 1 kg đến 2 kg phân vi sinh hoặc 0,5 đến 1kg phân NPK.

– Vận chuyển và bảo quản giống: Cắt bớt phần ngọn của các thế hệ mới, chừa lại 50-60cm; vận chuyển đi xa phải bó bầu bằng vật liệu sẵn có tại địa phương (như rơm, bẹ chuối,…); không được để giống bị dập, vỡ bầu đất hoặc bị héo; nếu chưa trồng được ngay phải tập kết giống nơi râm mát, phủ một lớp đất mỏng và tưới giữ ẩm

– Kỹ thuật trồng: Dùng cuốc xới đất giữa hố lên, đặt bầu ngay ngắn, bóc tách vỏ bầu rồi lấp đất kín bầu và lèn chặt xung quanh. Dùng lá cây, cỏ khô (sản phẩm khi xử lý thực bì) phủ xung quanh gốc để giữ ẩm.

Phải kiểm tra trồng dặm cây chết, đảm bảo độ đồng đều. Đến vụ trồng sau nếu tỷ lệ cây chưa đạt yêu cầu tiếp tục trồng dặm bằng cây giống phù hợp.

IV. CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ BẢO VỆ

Áp dụng phương thức khai thác chọn từng cây, chỉ được phép khai thác trăng khi rừng bị khuy loạt hoặc rừng tàn kiệt để trồng loài cây khác đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Rừng luồng được khai thác vào mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau).

3. Cường độ và chu kỳ khai thác

– Luân kỳ khai thác từ 1 đến 2 năm tùy theo trình độ thâm canh

– Nếu luân kỳ 1 năm thì cường độ chặt không quá 30% số cây trong bụi (chặt 100% số cây tuổi 5 trở lên, 40-50% cây tuổi 4 và 30% cây tuổi 3 trong bụi).

– Luân kỳ 2 năm thì cường độ chặt dưới 40% số cây trong bụi (chặt 100% số cây tuổi 5 trở lên, 60-80% cây tuổi 4 và 50-60% số cây tuổi 3 trong bụi).

+ Giúp Chủ rừng quản lý được số lượng cây và chất lượng cây có trong bụi hàng năm, từ đó xác định lượng cây đến tuổi 4 và 50-60% số cây tuổi 3 trong bụi).

+ Cách đánh dấu: Mỗi năm nên thực hiện 1 lần trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 12 khi măng phát triển hoàn thiện thành cây luồng. Khi đánh dấu cần ghi rõ số thứ tự của cây trong bụi và năm cây mọc.

4.2. Bài cây khai thác

+ Khi bài cây nên chọn những cây mọc giữa bụi để khi khai thác giúp tránh khỏi việc khó khai thác cây sau này do bị chắn bởi các măng mọc mới xung quanh.

+ Cách bài cây: Dùng sơn đỏ đánh dấu gạch chéo (x) lên thân cây cần khai thác. Độ cao đánh dấu nên cách mặt đất khoảng 1,3m để dễ nhận biết.

– Dọn vệ sinh bụi luồng trước khi khai thác bằng cách chặt bỏ các cây bụi và cành quanh gốc luồng để thuận lợi khi khai thác luồng

– Chiều cao gốc chặt khoảng 7cm; không được làm ảnh hưởng đến cây khác.

– Phải thu dọn cành nhánh mang ra khỏi rừng

– Rừng sau khi khai thác phải được nghiệm thu, bàn giao giữa bên thi công và chủ rừng, đóng cửa rừng.

– Chủ rừng hướng dẫn kỹ thuật chặt cây cho những người khai thác và giám sát thường xuyên để đảm bảo chặt đúng cây đã bài, chặt đúng kỹ thuật và an toàn lao động.

6. Chăm sóc rừng sau khai thác

6.1. Phát dọn vệ sinh rừng luồng

+ Rừng sau khi khai thác phải tiến hành cho chăm sóc ngay; phải chăm sóc xong trước tháng 2 năm sau.

+ Dùng dao sắc phát cây bụi, dây leo trong rừng luồng; đồng thời sửa lại gốc chặt cho đúng yêu cầu, chặt vệ sinh các cây luồng bị sâu bệnh đem ra khỏi rừng nhằm hạn chế sâu bệnh và hiện tượng nâng gốc của bụi luồng.

+ Cuốc xới đất xung quanh theo hình vành khuyên rộng 1m, sâu 20-25cm, cách gốc luồng từ 15-25cm. Giúp cho đất tơi xốp và có thể phá được tổ của cá loài sâu hại như vòi voi trú qua đông trong đất.

+ Bón phân nhằm bổ sung dinh dưỡng thiếu hụt để cây luồng hấp thu sinh trưởng và phát triển tốt, lượng phân NPK từ 1-2kg/bụi.

Cách bón phân: Sau khi đã thực hiện xong xới xáo đất, tiến hành đào rãnh rộng 25cm, sâu 20cm, (hoặc từ 5-10 hố rộng 30cm, sâu 20cm) xung quanh bụi luồng. Rải đều phân xuỗng rãnh hoặc hố rồi lấp kín đất, sau đó phủ lá lên trên để giữ ẩm.

Quy Trình Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Lan Rừng

Ngày đăng: 2016-01-23 07:44:54

Những năm gần đây, chơi lan là một thú chơi tao nhã của những người yêu hoa. Tuy nhiên, người yêu hoa lại muốn hướng tới một giò lan phong cách tự nhiên, hoang dã và không gì khác là lan rừng. Tuy nhiên, khi mua về nuôi trồng trong môi trường nhà thì gặp rất nhiều vấn đề như không phát triển, héo rũ, không ra hoa… Vì vậy, chúng tôi xin giới thiệu bí quyết thuần dưỡng và chăm sóc lan rừng.

Theo kinh nghiệm dân gian, muốn cho lan sinh trưởng tốt môi trường thuận lợi nhất cho lan bám vào cây tươi nơi thoáng gió, ít ánh sáng chói. Vì vậy, khi lan đưa vào trồng trong chậu cần chăm sóc từ từ cho cây quen dần, không bón thúc phân bón hóa học quá sớm. Lúc ấy lan rừng cần bóc cả vỏ gỗ mục (loại lan đang sống) bó lại để nơi thoáng mát, ngày tưới vài ba lần bằng cách phun sương đều cả lá thân rễ. Chăm sóc cho lan 1 tháng rồi chiết thành nhánh trồng vào giò. Chú ý lót giò bằng mùn cưa hay xơ dừa đều không được nén chặt. Tránh để ánh nắng gay gắt, thỉnh thoảng đưa lan ra ngoài trời đềm. Chơi lan không nên bón nhiều phân hóa học, chỉ cần đủ nước, ánh sáng và không gian phù hợp là cây phát triển tốt.

Khi muốn lan ra hoa bất thường, vào dịp tết chẳng hạn, thì bón phân qua lá dành riêng cho lan. Song cần rất hạn chế bón thúc cho hoa vì sau mỗi đợt bón như vậy cây sẽ yếu sức. Tốt nhất là cách hai tháng lại thay lót giò 1 lần bằng xơ dừa mạt cưa. Hoa tàn thì cắt ngay cuống lá để tập trung dinh dưỡng nuôi cây lại sức. Tứơi nước nhẹ đều đặn ngày vài ba lần là cây sống khỏe không cần bón phân.

Cách thức chăm sóc lan rừng

Một trong những đặc điểm sinh học đặc trưng của lan- loài cây khó tính là o ử chỗ có khả năng chịu cớm cao, ưa ẩm và bóng râm nhưng nếu thiếu ánh sáng cũng giảm năng suất và phẩm chất. Còn bị ánh nắng trực tiếp nhất là nắng quá chiều sẽ gây lụi tàn nhanh chóng mặc dù vẫn được cung câp đầy đủ nước và khoáng hòa tan.

Phòng ngừa tác hại của nắng hạn đối với lan, ta cần chủ động tiến hành một số biện pháp sau:

Đối với phong lan: Không để cho nắng trời trực tiếp chiếu vào giỏ, bụi lan và toàn bộ giá thể (lồng lan), đặc biệt “kỵ” với nắng quái chiều và gió Tây (gió Lào). Nếu trồng đại trà thì phải làm giàn che bằng lưới nilon có lỗ để lan vẫn quanh hợp được. Chú ý phun tưới (tốt nhất là phun sương mù nhân tạo) cho tòan bộ cây và giá thể theo kinh nghiệm “2 ướt 1 khô” trong ngày đó là vào các thời điểm trước bình minh và sau hoàng hôn. Lượng nước vừa đủ để làm mát cây, ướt rễ và dự trữ. Phun vấy xối xả sẽ làm thất thoát chất khoáng nuôi cây.

Đối với địa lan: Chăm sóc như đối với phong lan, cần chú ý đảm bảo đất nền tơi xốp, nhiều mầu ở thể hữu cơ đang hoai mục là tốt nhất. Nên bổ sung từ 10-20% vụn gỗ mục (cả vỏ), 10-20% (theo khối lượng tổng thể) các mẩu than gỗ nhỏ luôn ẩm (nhưng không ướt sũng) để nhử rễ ăn ra mà ta quen gọi là hồ rễ. Tránh gió khô, gió lỳa qua phần nổi của cây. Làm mát đất bằng phun tưới nước loang theo bóng tán. Cần loại bỏ ngay những lá già (đã úa vàng) đẻ ngăn chặn sâu bệnh bội nhiễm, tỉa các cành khô, rễ đã hết chức năng hấp thụ hơi nước và cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm nuôi cây.

Không nên dùng NPK- loại dùng cho cây hoa màu, cây lương thực để bón cho lan. Để cây tươi lâu đẹp bền, hoa sai thắm màu, hương đậm có thể thúc cho lan (phun tưới toàn bộ giá thể) nước gạo mới vo, nước ngâm tro hoai và rắc xỉ than (nguồn phân vi lượng tổng hợp). Nếu có điều kiện lấy bông (hoặc vải bông cotton) nhúng vào dung dịch glicerin 10- 15% cuốn vào cổ rễ để giữ ẩm.

Làm Nông

TIN TỨC KHÁC :

Cách Trồng Lan Rừng Trên Gỗ, Các Bước Ghép Lan Rừng Đơn Giản

1.Ghép lan rừng vào gỗ nào tốt nhất

Để có được cây hoa lan rừng phát triển khỏe mạnh cần sử dụng nhiều loại gỗ khác nhau, trong đó có khúc gỗ chỉ phù hợp với dòng lan thân thòng hoặc khúc gỗ phù hợp với dòng lan đơn thân, có rất nhiều loại gỗ khác nhau phù hợp với loại lan khác nhau, sau đây là loại gỗ phù hợp với đặc tính của cây hoa phong lan

Gỗ nhãn, gỗ vú sữa: đây được xem là 2 loại gỗ hàng đầu được rất nhiều người yêu thích khi lựa chọn trồng lan, vì là dòng gỗ có khả năng kháng nấm mốc khá tốt, rất phù hợp để ghép lan vào.

Gỗ cây bách: đây là một loại gỗ rất phù hợp để trồng phong lan, có thể thấy rõ ràng cây gỗ bách có tác dụng chống phân hủy trong môi trường ẩm ướt thường xuyên khi trồng cây lan và hoàn toàn phù hợp để lựa chọn ghép lan rừng tốt nhất.

Gỗ lũa: đây là loại gỗ khá độc đáo cuốn hút người chơi lan vì dáng thế của gỗ lũa thường tạo nên điểm nhấn mới lạ, khi trồng cây hoa lan trên gỗ lũa sẽ tạo nên giá trị của cây hoa lan đẹp hơn, ấn tượng hơn mang đến một vẻ đẹp cuốn hút cho cây hoa lan.

Gỗ giáng hương: đây được xem là loại gỗ khá mềm phù hợp cho cây lan, thân gỗ có khả năng giữ ẩm rất tốt cho lan vì vậy rất thích hợp để trồng hoa lan.

Gỗ mít: là loại gỗ chỉ phù hợp với việc trồng một số loại lan có bộ rễ khỏe mạnh, phù hợp với các loại lan rừng hiên nay, thân gỗ cũng khó hấp thụ nước, có độ ẩm khá thấp nên khi chăm sóc cần phải tưới nhiều nước hơn.

Gốc tre: đây là một trong loại giá thể mới hoàn toàn ,gốc tre sau khi đã cắt tỉa và rửa thật sạch tạo hình thù độc đáo sau đó mới trồng cây hoa lan vào, khi trồng lan vào gốc tre sẽ tạo nên nét độc đáo cuốn hút hấp dẩn đối với hầu hết tất cả cây hoa lan.

2.Chuẩn bị dụng cụ ghép lan vào gỗ

Các dụng cụ cần thiết để ghép lan vào gỗ hay còn gọi là trồng lan vào gỗ

Nên ghép lan vào gỗ vào mùa nào

Nên ghép lan vào gỗ vào sau khi lan nở hoa kéo dài từ tháng 1 đến tháng 5 hàng năm.

3.Các bước cơ bản ghép lan vào gỗ

3.1.Xử lý gỗ trước khi ghép lan vào

Để cho cây lan phát triển khỏe mạnh cần bước đầu tiên là tiến hành xử lý gỗ trước khi gép lan vào để cho cây phát triển, hạn chế sâu bệnh phát triển.

Đối với khúc gỗ: cần xử lý vào trong nước vôi trong trong từ 1-2 ngày tùy vào từng loại gỗ khác nhau, sau đó phơi khô ráo rồi lại ngâm tiếp vào trong nước sạch từ 2-3 ngày cho nước ngấm đều vào trong gỗ.

Rồi vớt lên để ráo, sau đó cho dung dịch xử lý nấm bệnh vào trong thùng hoặc chậu, bỏ tiếp gỗ vào trong thùng hoặc chậu, ngâm trong khoảng 30 phút rồi vớt ra, rửa lại thật sạch vào trong nước sạch rồi đem để khô giáo.

3.2.Tiến hành ghép lan vào trong gỗ

Bước 1: lấy đinh sắt có bọc vỏ nhựa sẵn và đóng đinh vào thân gỗ

Bước 2: dùng dây rút hoặc thép không rỉ cố định lan vào trong thân gỗ, cho bộ rễ vừa chạm tới gỗ là được

Bước 3: dùng khoan tiến hành khoan lỗ nhỏ, chỉ vừa que đũa tre sau đó lắp chiếc đinh hoặc là then cài vào vị trí đã khoan trước đó

Bước 4: dùng dây rút cố định cây vào trong đũa tre cho cây không bị lung lay

Lưu ý khi ghép lan vào gỗ

Trong suốt quá trình ghép lan vào gỗ cần hạn chế đụng chạm vào bộ rễ mới, không nên làm rập lá hoặc rập thân, sau khi ghép xong cần tiến hành phun thuốc kích rễ với các loại thuốc kích rễ phổ biến như B1, atonik, sau khi ghép và phun xong cần để nơi khô thoáng, tránh ánh nắng trực tiếp từ mặt trời và mưa dài ngày.

Cách Nhận Biết Và Cách Trồng Lan Kiếm Rừng

Kiếm rừng là một loài lan có thể nói là trồng và chăm sóc nhàn nhã nhất so với những loài lan khác. Phong lan kiếm lá cứng rừng không đòi hỏi quá khắt khe về khí hậu, vùng miền. Cũng không quá chọn lọc trong việc chọn chất trồng, phân thuốc BVTV. Hầu như ở bất kỳ vị trí nào có ánh sáng trong căn nhà bạn đều có thể nuôi được một giò kiếm. Thậm chí những nơi nắng nóng như sân thượng, ban công, lan kiếm vẫn phát triển bình thường.

Trong tự nhiên lan kiếm rừng có sức sống vô cùng mãnh liệt. Kiếm ít bị sốc khi thay đổi môi trường sống. Có những bụi kiếm bị đốn hạ do phá rừng từ cây cổ thụ cao vút xuống đất vẫn phát triển mạnh mẽ thành bãi kiếm mà trên rừng từng thấy. Rồi có bụi bị lũ dìm cuốn phăng mắc cạn trên cục đá nào đó. Sau mùa xuân lại mọc mầm non cho sự sống tái sinh.

Trong thực tế ta thấy có những giò kiếm sống tốt trên vách bờ rào của nhà ai đó mà cơ duyên nào đó họ có được ( dù họ không biết gì về lan). Khi giò kiếm đã khỏe, nó tự tồn tại mà không cần chăm sóc. Dù ta có công tác hàng tháng trời mà không cần sự hỗ trợ gì khác.

Thân thủ của cây lan kiếm rừng

Lan kiếm chủ yếu sống phụ sinh gồm các thân đơn với chiều cao trung bình tầm 5-7cm. Có thể cao hơn nếu bạn chăm sóc tốt với chế độ phân thuốc đầy đủ. Thân cây thường có màu xanh tuyền, xanh vàng và có thể có sọc trắng mờ dọc theo thân. Khi mới ra mầm cây chưa có thân thì thường mỏng và màu có thể khác 1 chút. Đến khi cây bắt đầu trưởng thành thân cây mới bắt đầu phình ra.

Lá lan kiếm rừng

Bộ lá chính là điểm làm nên thương hiệu của loài lan này. Lá kiếm dày vươn thẳng như những cây kiếm trong truyền thuyết. Cổ lá dạng hình chữ V đến khi dài thì xòe ngang và thường ngả sang 2 bên.

Màu sắc của lá lan kiếm rừng tuỳ thuộc vào môi trường sống của nó. Những nơi nắng nóng, khô hạn lá ngắn lại hơi ngả vàng nhạt màu nắng. Ngược lại những nơi ẩm, ít ánh sáng lá dày và dài hơn màu xanh đậm, mềm hơn nhưng vẫn khoẻ khoắn. Đặc biệt nó sống được vài năm chứ không rụng theo mùa như vài loại lan khác.

Hoa lan kiếm rừng

Nói về hoa, cấu tạo hoa thì như hầu hết loài lan khác, bản thân lan kiếm cũng có nhiều dòng. Nhưng tựu chung lại thì bông kiếm xuất phát từ nách lá trên hành kiếm tạo thành cần hoa, trên cần hoa có khoảng 20-50 hoa. Hầu hết cần hoa thòng xuống kéo dài đến hoa cuối cùng. Cấu tạo hoa gồm cuống hoa, có 3 đài, 2 cánh, 1 trụ nhuỵ, 1 lưỡi, 2 thuỳ nhỏ ôm trụ nhuỵ.

Lan kiếm thường ra hoa vào mùa xuân kéo dài đến hết mùa hè. Hoa lan kiếm rừng thường có màu mắm là đặc trưng. Hiện nay xuất hiện thêm hàng trăm mặt hoa khác nhau rất đẹp. Màu sắc đột biến từ vàng, trắng, hồng đỏ nhìn rất bắt mắt. Tất nhiên giá trị của loại này khá cao so với những cây kiếm mắc rồi.

Trừ những mặt hoa đột biến thì đây là giống lan không quá quý hiếm và cực dễ tính. Chúng cũng rất dễ trồng thuần trong điều kiện môi trường tại các nhà vườn hiện nay. Mình chưa thấy ai trồng kiếm mà bị chết bao giờ cả.

Về cách trồng thì mình đã có bài từ lâu rồi. Bạn có thể giở lại bài cách trồng lan kiếm để xem lại. Trong phần này mình chỉ giới thiệu về cách chăm sóc mà thôi. Về cơ bản để chăm sóc lan kiếm rừng hiệu quả ta cần đảm bảo được các tiêu chí sau:

Giá thể trồng lan kiếm rừng

Giá thể trồng kiếm rất đa dạng nó có thể là vỏ thông, chấu hun, đá, sỏi nhẹ… Nhưng quan trọng nhất là phải sạch, ẩm, thoáng khí và cân bằng nhiệt tốt. Đây chính là nguyên tắc cơ bản nhất trong việc phối trộn giá thể trồng lan kiếm. Kiểu phối trộn thông thường là đá khoảng 60% vỏ thông 30% và 10% còn lại là các chất hữu cơ. Bạn cũng có thể trồng bằng 100% vỏ thông hoặc than củi cũng vẫn được. Tuy nhiên nó đòi hỏi vườn phải đủ độ ẩm và thời gian tưới nhiều hơn.

Nhiệt độ để lan kiếm rừng phát triển

Để có được những cây lan kiếm rừng phát triển ta nên lựa chọn và để cây ở nơi có nhiệt độ vừa phải, tránh ánh nắng trực tiếp từ mặt trời, cây sẽ phát triển rất khỏe mạnh, cây cần lượng ẩm lớn trong quá trình phát triển, nhiệt độ phù hợp từ 20-30 độ C

Ánh sáng giúp cây lan kiếm rừng phát triển.

Chúng ta cần điều chỉnh chế độ ánh sáng một cách hợp lý để cây phát triển theo ý muốn. Điều này phụ thuộc vào vị trí bạn đặt cây lan kiếm rừng có đủ nắng hay không. Luôn đảm bảo lượng ánh sáng cần cung cấp cho cây khoảng từ 60-70% là tốt nhất.

Nên sử dụng các tấm lưới để đảm bảo che nắng mát trong những ngày nắng gay gắt. Tránh để cây dưới ánh nắng trực tiếp sẽ làm cháy lá ảnh hưởng đến sự phát triển sau này.

Tưới nước cho cây lan kiếm rừng

Khi tưới nhớ tưới đẫm để chất trồng trong chậu lan kiếm ngấm đủ nước. Nguyên tắc là chỉ tưới khi chậu kiếm đã khô. Hãy nhớ nguyên tắc này vì người mới thường yêu kiếm lắm. Nhiều bạn yêu quá nên tưới nhiều làm thừa nước thì lá nhăn và củ nhăn đấy.

Thời điểm tưới nước lý tưởng nhất cho những chậu lan kiếm rừng là sáng sớm hoặc chiều tối.

Mùa hè nắng nóng bạn có thể tưới 2 lần đều được. Nhưng đến mùa đông thì ta nên hạn chế tưới nước và giảm lượng phân để giúp cây phát triển khỏe mạnh hơn.

Dùng thuốc cho lan kiếm rừng đúng cách

Muốn cây luôn xanh tốt, không những phải chăm sóc kỹ lưỡng mà cần phải chú ý xịt thuốc phòng bệnh.

Định kỳ 3 tuần đến 1 tháng xịt thuốc nấm phòng bệnh cho cây lan kiếm 1 lần. 1 tháng 1 lần vào mùa nắng để hạn chế tối đa nguy cơ cây bị bệnh.

Nếu cây lan bị bệnh do nấm thì có thể dùng thuốc Rdomil gold, Captan, Aliette,…

Bệnh do vi khuẩn thì xịt các loại thuốc Kasimin, Physan 20, Nacossan,…

Trường hợp bệnh do nhện đỏ thì dùng Pesieu, do côn trùng hay rệp thì dùng Supracide, Mipcin,… Hay nên dùng thuốc Methaldehyde cho lan khi có ốc sên gây hại.

Lan kiếm rừng hiện nay rất da dạng về thân lá và mặt hoa. Trên thế giới, phân chi Kiếm lá cứng gồm 5 loài, trong đó Việt Nam có 4 loài sau:

Lan kiếm lô hội – Cymbidium aloifolium (L.) Sw

Là giống cây lan nhỏ, có chiều rộng lá lên tới 3cm. chiều dài lá từ 50-70cm, bộ lá cứng hơn và hơi cong, củ nhỏ, hoa nở từ tháng 1-4 hàng năm, những dải hoa dài khoảng 60cm, cây có mùi hương thơm nhẹ nhàng, cây phân bổ ở các vùng núi phía bắc là chủ yếu.

Lan kiếm tiên vũ – Cymbidium. Finlaysonianum

Là dòng lan có bộ lá lớn cùng với kích thước lớn, chiều dài của lá có thể lên tới 1m và chiều rộng của bản lá có thể đạt 7cm. hoa kéo dài từ 50cm-1m, cây nở vào khoảng cuối mùa hè và đầu mùa thu.

Lan kiếm hai màu- Cymbidium. Bicolor

Đây là giống phong lan có bộ lá rất cứng, chiều rộng của lá khoảng 3cm, dài tới 70cm, với các giả hành nhỏ, tròn. Lá đanh cứng, hoa có 2 màu viền vàng và nâu đỏ, với chiều dài của những bông hoa lên tới 70cm, mang đến một vẻ đẹp lạ mắt, hoa nở vào mùa xuân.

Lan kiếm treo- Cymbidium. Atropurpureum

Đây là dòng lan kiếm được tìm thấy nhiều tại các tỉnh tây nguyên nước ta. Cây có kích thước nhỏ và thơm, chiều dài của lá khoảng 1m, chùm hoa ngắn khoảng 40cm. Tuỳ vào điều kiện chăm sóc mà trên mỗi cần hoa sẽ có từ 10-20 bông. Hoa nở vào mùa xuân, có mùi hương thơm dễ chịu.

Lan Kiếm Hoàng Long

Hoàng Long có nghĩa là “Rồng Vàng” – biểu tượng của dân tộc Việt Nam. Đây là cây lan kiếm mang vị thế “Quân Vương” bởi vẻ đẹp xuất sắc, toàn diện cả về củ, lá và hoa. Với thân thủ phi phàm, cốt cách và thần thái bậc nhất. Hoàng Long được coi là bảo bối trấn vườn của các kiếm thủ trong làng lan kiếm Việt.

Đặc điểm của lan kiếm Hoàng Long khi trưởng thành củ sẽ mập hơn lon bia, hơi thon phần cổ lá. Bộ lá xòe mở, vút thẳng, bản lá dày và to bậc nhất trong làng kiếm. Thùy lá xanh sạch và lá có thể đạt 5-6cm là rất bình thường. Cây lan kiếm Hoàng Long khi tốt lá có thể đạt 7cm thậm chí hơn. Tình trạng lá láng chuyển sần của khá phổ biến ở cây lan kiếm rừng này. Lá sần mang tính di truyền, cho đến nay chưa có biện pháp chuyển sần thành láng hữu hiệu, bền vững được công bố.

Lan kiếm Hoàng Long có mùi hoa thơm khá đậm. Khi nở hoa sẽ có một màu vàng sáng rực rỡ. Cánh bầu xếp cân đối tương đối khít khi mới nở. Lưỡi trắng ánh hồng quyến rũ, giữa lưỡi có ánh vàng lan vào họng và lên trụ nhụy. Cần hoa xanh, dài, thẳng, dày bông, phân hoa đều, rủ xuống như chuỗi ngọc.

Hoa nở đẹp nhất trong 8-12 giờ đầu khi lưỡi duỗi thẳng, sau đó lưỡi hơi cuộn lại và cánh hoa dần chuyển màu vàng đậm hơn. Còn có dòng “Hoàng Long lùn” với thân lá rất ngắn, có thể do khác biệt lâu ngày về cách cho ăn nắng, cách tách cây, cách phân thuốc.

Lan Kiếm Vàng Củ Chi

Vàng Củ Chi được mệnh danh là cây kiếm “Trấn Môn”, bởi nó khởi nguồn từ Củ Chi – vùng đất thép thành đồng ở cửa ngõ tây bắc Sài Gòn. Nơi đã hiên ngang vượt qua bao tháng năm lửa đạn khốc liệt. Và cũng bởi thần thái dõng dạc của cây lan kiếm mang đậm tính cách của những người con đất phương Nam vừa kiên trung, bất khuất vừa hào sảng, khoáng đạt và chân tình.

Lan Kiếm Vàng Củ Chi có củ nhỏ, lá cứng ngắn vươn thẳng, đa số sần nhẹ. Bản lá vừa phải (thường không quá 4-5 cm), hai thuỳ đầu lá tròn. Thân lá khiêm tốn có thể coi là một điểm trừ của lan kiếm Vàng Củ Chi. Nhưng nuôi trồng tốt sau 1-2 năm thân lá phát triển mướt xanh không thua kém mấy so với các cây kiếm khác.

Lan kiếm Vàng Củ Chi có hoa mùi thơm dịu nhẹ. Khi nở có cánh hoa hơi nhọn bung thẳng căng, đượm một màu vàng dịu rực rỡ không tỳ vết. Lưỡi to hình trái tim không hề bị cụp. Màu trắng pha sắc hồng, có ánh vàng ở giữa lan lên toàn trụ nhụy. Cần hoa dài, dày hoa, với điểm đặc sắc là phân hoa thành chùm một (từng cụm 2-3-4 hoa cách đều nhau).

Lan Kiếm Xanh Huế

Xanh Huế – cây lan kiếm hoa xanh xứ Huế, hoặc gọi đơn giản là kiếm Huế. Xanh Huế được mệnh danh là cây kiếm “Vô Vi”. Vô Vi bởi nét thuần khiết của cây kiếm var. alba, và còn bởi nơi ấy là đất Phật linh thiêng. Vô Vi là vượt lên trên những vô thường, bất toại nguyện của thực tại, như đóa sen vô nhiễm với bùn lầy. Vượt lên bùn lầy dơ tanh để tỏa hương thơm ngát. Phật pháp bất ly thế gian pháp, nên Vô Vi không phải là không làm gì, bàng quan với thực tại, mà là làm thật tốt những việc cần phải làm. Vô Vi nhắc nhở chúng ta có những lựa chọn hợp lý, làm chủ chính mình, hướng đến sự an yên trong lòng.

Theo đó Kiếm xanh Huế là cây lan có bộ lá khỏe giương vút. Bản lá xanh ngát có thể đạt 6-7cm, mầm măng thuần màu nõn chuối.

Khi nở hoa Lan Kiếm Xanh Huế có hoa mùi thơm dịu thanh thoát. Mặt hoa mang 5 cánh màu xanh ngọc (người đất lúa gọi là màu xanh cốm) không tỳ vết. Kết hợp hài hòa với lưỡi hoa cả 3 thùy màu trắng tinh khôi. Nơi cuống lưỡi hoa điểm một vệt xanh ngọc lan lên toàn trụ nhụy. Bông hoa sáng màu tinh khiết, long lanh như có ánh lân tinh dưới nắng. Cần hoa rủ duyên dáng, tương đối dài và dày hoa.

Đặc trưng cần hoa phân không đều ở 3-4 bông đầu tiên. Hoa nở sau vài ngày sẽ chuyển sang màu vàng nhạt, ánh xanh mất dần, lưỡi gập (hơi vẹo chút). Càng ở nơi nhiều nắng gió, hoa nở càng mang ánh vàng nhiều hơn.

Lan Kiếm Vị Hoàng

Vị Hoàng được mệnh danh là cây kiếm “Quốc Dân”. Quốc Dân bởi đây là cây kiếm hầu như phải có trong vườn của mỗi kiếm thủ. Dù là người mới chơi hay nghệ nhân, lão làng ai cũng có thể sở hữu được. Nó không quá hiếm, cũng không quá nhiều giá trị, nhưng vẫn đẹp toàn diện, đủ khác biệt với bao cây lan kiếm khác.

Lan Kiếm Vị Hoàng có 2 thùy đầu lá xanh sạch. Bẹ lá nhiều gân, bản lá vừa phải (5cm đổ lại) không dầy nhưng khá cứng, vươn không oằn èo.

Khi nở, hoa có mùi thơm dịu nhẹ. Ba cánh đài của hoa lan kiếm Vị Hoàng sạch sẽ. Hai cánh tràng còn vương vấn chút hơi đồng nơi gốc và chót cánh. Thùy giữa của lưỡi vươn ra có viền trắng và các chấm hoa văn đa dạng sắc thái. Hai thùy bên của lưỡi đượm màu mắm làm bệ đỡ cho trụ nhụy vàng óng. Chính cái trụ nhụy sạch, vàng rực rỡ là điểm nhấn làm nên tên tuổi của Vị Hoàng Kiếm.

Cần hoa xanh, thẳng với sự phân hoa đều nhau trên cần. Hoa văn của lưỡi mỗi lần đơm hoa có thể biến thiên ít nhiều. Đầu trụ nhụy (mũi) sạch hoàn toàn, nhưng cuống trụ nhụy một số bông có thể biến thiên, lem chút màu sẫm.

Nguồn: https://landotbien…./lan-kiem-rung/

Với hơn 10 năm trong lĩnh vực – bằng cái tâm của những người làm khoa học, Trung tâm bảo tồn giống hoa lan cam kết:

✔️ Đảm bảo chất lượng chuẩn giống

✔️ Giá cả cạnh tranh so với thị trường

✔️ Ship cod toàn quốc

✔️ Đội ngũ nhân viên tư vấn tâm huyết, nhiệt tình

✔️ Hỗ trợ, hướng dẫn khách hàng chăm sóc cây giống sau khi mua hoàn toàn miễn phí

TRUNG TÂM BẢO TỒN GIỐNG HOA LAN – HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Địa chỉ: Phòng Trưng Bày Và Giới Thiệu Sản Phẩm, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, TT.Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội

Fanpage: https://www.facebook.com/gionglancaymo

Hotline: 0967 614 066

Bến Tre, Bình Định, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cần Thơ, Cao Bằng, Đà Nẵng, Đắk Lắk, Đắk Nông, Điện Biên, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Giang, Hà Nam, Hà Nội, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, Hậu Giang, hào Bình, Hưng Yên. Khánh Hòa, Kiên Giang, Kon Tum, Lai Châu, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Lào Cai, Long An, Nam Định, Nghệ An, Ninh Bình, Ninh Thuận, Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Sơn La, Tây Ninh, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang, TP. Hồ Chí Minh, Trà Vinh, Tuyên Quang, Vĩnh Long,Vĩnh Phúc, Yên Bái.