Khó Quản Lý Chế Phẩm Sinh Học

Sử dụng chế phẩm sinh học trôi nổi có thể gây nên những tác hại khôn lường đến sức khỏe người dân thông qua không khí ô nhiễm. Ý thức được điều này, từ năm 2010, Bộ TN-MT đã ban hành quy chế quản lý và sử dụng chế phẩm sinh học. Thế nhưng, cho đến nay quy chế này vẫn không thể triển khai vào thực tế.

Chế phẩm sinh học hiện đang được sử dụng phổ biến là loại chất sử dụng để phun xịt khử mùi. Chế phẩm này được sử dụng hầu hết tại các doanh nghiệp sản xuất và xử lý chất thải. Trên thị trường, có rất nhiều loại chế phẩm sinh học với nhiều giá thành khác nhau. Tuy nhiên, với doanh nghiệp, họ không quan tâm đến tính lợi ích cho môi trường mà chỉ quan tâm đến yếu tố giá và hiệu quả sử dụng.

Lý giải thực tế này, nhiều doanh nghiệp cho rằng, giá thành của loại chế phẩm sinh học đạt tiêu chuẩn môi trường quy định với loại chế phẩm sinh học trôi nổi trên thị trường chênh lệch rất lớn, từ 5 – 10 lần. Cộng với đặc thù sử dụng loại hóa chất này là phun xịt vào không khí nên độ phát tán rất nhanh. Trường hợp cơ quan chức năng muốn kiểm tra để xác định mức độ vi phạm của doanh nghiệp cũng không thể thực hiện được. Đó cũng là lý do tại sao cho đến nay việc kiểm tra xử lý doanh nghiệp sử dụng chế phẩm sinh học dỏm của các cơ quan chức năng vẫn chưa thực hiện. Vì vậy, rất ít doanh nghiệp chịu chấp nhận mua loại hóa chất có giá thành cao.

Việc Bộ TN-MT ban hành quy định về quản lý chế phẩm sinh học là để ngừa những tác hại khôn lường đến sức khỏe người dân thông qua sự phát tán hóa chất này trong không khí. Thế nhưng, phải thừa nhận rằng hiện không có nhân lực cũng như trang thiết bị kiểm tra và kiểm soát việc sử dụng hóa chất này. Thậm chí, bản thân cán bộ quản lý chưa hiểu rõ chế phẩm sinh học có thể gây nguy hại như thế nào đến sức khỏe người dân cũng như không biết cách nào để kiểm tra.

PHÚC ANH

Thực Trạng Quản Lý Chế Phẩm Sinh Học

Khi hóa chất, kháng sinh ngày càng bị “thất sủng” trong nuôi trồng thủy sản, sự phát triển của chế phẩm sinh học là tất yếu. Thế nhưng, hiện nay, công tác quản lý mặt hàng này vẫn rất gian nan. Người dân thay đổi lựa chọn

Có dịp theo chân đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh Sóc Trăng, điều ghi nhận đầu tiên của chúng tôi là có rất ít sản phẩm thuốc thú y thủy sản hiện diện tại các đại lý, cửa hàng kinh doanh vật tư đầu vào phục vụ nuôi tôm. Nguyên nhân được các chủ đại lý, cửa hàng cho biết là do rất khó tiêu thụ vì hiện hầu hết người nuôi tôm đều không còn sử dụng thuốc thú y thủy sản để phòng trị bệnh cho tôm, mà chuyển sang sử dụng các chế phẩm vi sinh là chủ yếu.

Ông Đào Văn Bảy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y Sóc Trăng, cho biết: “Chi cục chúng tôi chỉ quản lý thuốc thú y, còn các chế phẩm vi sinh và chất cải tạo môi trường do Chi cục Thủy sản phụ trách. Qua kiểm tra cho thấy, hiện chỉ còn một vài sản phẩm thuốc thú y thủy sản đang lưu hành, nhưng số lượng người sử dụng cũng rất ít vì hiệu quả không cao, dễ tồn dư trong tôm lúc thu hoạch làm giảm giá bán”.

Bất cập quản lý chất lượng

Theo ông Võ Quan Huy, Chủ tịch Hiệp hội Tôm Mỹ Thanh, giá các chế phẩm sinh học dùng trong nuôi tôm từ nhà sản xuất đến tay người nuôi có loại tăng đến 50%, còn trung bình thì cũng 30 – 40%. Tuy nhiên, vấn đề mà ông Huy cũng như người nuôi tôm quan tâm chính là chất lượng của các chế phẩm này chưa được quản lý tốt, nhất là một số chế phẩm được nhập khẩu về sau đó san chiết, đóng gói bao bì mới.

Cùng chia sẻ mối quan tâm về sự nhập nhằng giữa thuốc thú y với chế phẩm sinh học, ông Nguyễn Hoàng Anh, Chủ tịch Hiệp hội Tôm giống Bình Thuận cho rằng, vẫn còn tình trạng bao bì là chế phẩm vi sinh, nhưng thực chất bên trong vẫn có thành phần thuốc thú y thủy sản. Ông Hoàng Anh đề xuất: “Tổng cục Thủy sản cần có quy định rạch ròi giữa thuốc thú y với men vi sinh hoặc chế phẩm sinh học nhằm tránh tình trạng gian lận, bảo vệ người nuôi tôm”.

ThS Quách Thị Thanh Bình, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản Sóc Trăng cũng thừa nhận, tình hình sản xuất, kinh doanh chế phẩm sinh học phục vụ nuôi thủy sản trước khi có Luật Thủy sản năm 2024 là rất bát nháo và rất khó cho công tác quản lý. Theo đó, trước đây, doanh nghiệp chỉ cần có giấy phép đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp, sau đó lấy mẫu sản phẩm đi kiểm tra đạt thì đăng ký lưu hành. Do đó, phần lớn các doanh nghiệp, cơ sở cung ứng chế phẩm sinh học trước đây đều đăng ký kinh doanh tại TP Hồ Chí Minh, nên địa phương không thể quản lý hết. Cũng có một số cơ sở đăng ký hoạt động tại tỉnh nhưng khi kiểm tra thì không có sản xuất gì hết mà chủ yếu là đóng gói.

Tạp chí thủy sản

Bảo Quản Hoa Quả Bằng Chế Phẩm Sinh Học

Từ tinh bột sắn, chế phẩm từ vỏ cua ghẹ tôm, kết hợp với công nghệ nano, TS. Lê Đại Vương, Trường cao đẳng Công nghiệp Huế cùng TS.Võ Văn Quốc Bảo, Trường đại học Nông lâm Huế và các cộng sự đã nghiên cứu, tạo ra chế phẩm sinh học bảo quản hoa quả an toàn, thân thiện môi trường.

Bảo quản được 37 ngày

Việc nghiên cứu các chế phẩm sinh học bảo quản hoa quả được nhóm nghiên cứu bắt đầu từ năm 2024. Bước đầu, chế phẩm cho hiệu qủa bảo quản đối với quýt Hương Cần.

TS. Lê Đại Vương trong phòng nghiên cứu

TS.Lê Đại Vương chia sẻ: “Trước đây, chúng tôi tham gia khá nhiều nghiên cứu về công nghệ nano trong bảo quản thực phẩm. Ban đầu là màng bọc thực phẩm cho táo, cà chua đến bao bì bảo quản hoa quả tươi. Riêng đối với nhóm đặc sản có múi của Thừa Thiên Huế, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu hỗn hợp dung dịch tạo lớp phủ trên bề mặt sản phẩm thay thế lớp sáp bảo vệ tự nhiên và cung cấp một lớp chắn ẩm, oxy cho thực phẩm, giảm bớt quá trình hô hấp và kiểm soát sự mất độ ẩm”.

Trước khi tiến hành nghiên cứu chế phẩm bảo quản, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân lập, định danh nấm từ quả quýt Hương Cần rồi tiến hành cấy nấm trên môi trường PDA (môi trường nuôi cấy vi sinh vật và nấm) có nồng độ nano bạc khác nhau để xác định được tính kháng khuẩn của dung dịch nano bạc. Từ đó, khẳng định dung dịch nano bạc có tính kháng khuẩn tốt dù nồng độ thấp (10ppm). Từ đó, nhóm chọn mẫu nano có nồng độ 30ppm, và 50ppm để tạo chế phẩm sinh học .

TS.Lê Đại Vương lý giải, ở nồng độ 10ppm tính kháng khuẩn của nano yếu hơn so với 30ppm, 50ppm, 100ppm, 150ppm. Ở nồng độ cao sẽ tiêu tốn nhiều bạc nitrat để chế tạo nano bạc làm tăng giá thành sản phẩm. Bạc cũng là một kim loại nếu sử dụng với một lượng lớn sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe. Vì vậy, chúng tôi chọn nano có nồng độ 30ppm và 50ppm để chế tạo màng bảo quản quả tươi. Để biết được những biến đổi của quýt trong quá trình bảo quản chúng tôi tiến hành khảo sát một số yếu tố như: cảm quan, hao hụt khối lượng, vitamin C, hàm lượng đường.

Theo kết quả nghiên cứu, trong điều kiện phòng thí nghiệm quýt có thể bảo quản trong 12 ngày. Quả quýt Hương Cần được phun chế phẩm nano có thể tươi lâu đến 37 ngày, vẫn giữ được độ ngọt, mùi vị và màu sắc. Các hạt nano bạc có diện tích mặt rất lớn, gia tăng tiếp xúc của chúng với vi khuẩn hoặc nấm, và nâng cao hiệu quả diệt khuẩn và diệt nấm. Nhờ cách bảo quản thân thiện với môi trường này, quýt Hương Cần có thể vận chuyển đi xa trong thời gian dài.

Dễ nhân rộng

Việc áp dụng chế phẩm màng bảo quản quả tươi sẽ hạn chế việc thu hoạch quýt Hương Cần trước thời điểm thu hoạch, đảm bảo các chỉ tiêu chất lượng và vitamin C trong quýt Hương Cần; tăng thời gian bảo quản giúp người dân giải quyết vấn đề bảo quản nông sản khi vận chuyển dài ngày, hạn chế thất thoát khối lượng, giữ được màu sắc và hương vị trái cây.

TS.Lê Đại Vương thông tin, sản xuất chế phẩm màng bảo quản quả tươi có nguồn gốc tự nhiên nên an toàn cho con người và môi trường. Sản phẩm được chế tạo theo 2 dạng: dạng dung dịch dễ dàng cho bà con nhúng các quả tươi có vỏ để bảo quản và dạng bao bì để bà con bảo quản những loại trái cây có vỏ mỏng một cách thuận lợi và dễ dàng. Giá thành của chế phẩm nano này tương đối rẻ, nếu sản xuất bao bì thì chỉ tương đương với các túi nilon thường. Vì thế, chế phẩm này có thể thay thế được các loại hóa chất nguy hại mà người dân vẫn sử dụng bảo quản hoa quả.

Sắp tới, khi máy sản xuất bao bì được nhập về chúng tôi sẽ cung ứng hàng loạt các loại màng bảo quản sinh học cho người dân trong tỉnh và ngoài tỉnh. Cùng với đó, nhóm sẽ tiếp tục nghiên cứu chế phẩm sinh học bảo quản cam Nam Đông và thanh trà Thủy Biều, triển khai hướng dẫn chi tiết kỹ thuật cho người dân để đưa chế phẩm này vào bảo quản một số hoa quả.

Sau 2 năm nghiên cứu, giải pháp ứng dụng nano bạc trong sản xuất chế phẩm màng bảo quản một số quả tươi đã chứng minh hiệu quả với quả quýt Hương Cần, cà chua. Đề tài đạt giải nhì tại Hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc lần thứ 14 năm 2024.

Bài, ảnh: Hoàng Thảo Nguyên

Quản Lý Sức Khỏe Động Vật Thủy Sản Bằng Chế Phẩm Sinh Học

Dựa trên mối quan hệ phức tạp của sinh vật thủy sinh với môi trường bên ngoài, chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản được xác định là sinh vật sống có khả năng phát huy tác dụng hữu ích đến vật chủ theo một hay nhiều cơ chế khác nhau:

2. Bảo đảm cải thiện sử dụng thức ăn bằng cách tăng cường giá trị dinh dưỡng.

3. Tăng cường bảo vệ vật chủ chống lại bệnh tật.

4. Nâng cao chất lượng môi trường xung quanh.

Thay đổi môi trường xung quanh cộng đồng vi khuẩn

Khi phát triển trong thành ruột, vi khuẩn probiotic có thể sản xuất các enzym ngoại bào nhằm cải thiện tiêu hóa, hỗ trợ bảo vệ vật chủ bằng cách sản sinh ra hợp chất ức chế. Điều kiện tiên quyết của bất kỳ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của vật chủ là thiết lập vi khuẩn probiotic như là một phần của hệ vi sinh vật đường ruột.

Hình 1 cho thấy trong cá rô phi tiền trưởng thành ( Oreochromis niloticus), nhờ sử dụng AquaStar® trong nuôi thương phẩm đã cải thiện hệ đường ruột hiệu quả. Vi khuẩn AquaStar® (màu xanh) đã được phát hiện hơn hai tuần sau khi kết thúc điều trị bằng chế phẩm sinh học, mặc dù mật độ giảm nhanh chóng. Vi khuẩn sinh sôi nảy nở trong đường ruột, cá cải thiện việc sử dụng chất dinh dưỡng và dẫn đến việc lưu trữ nitơ tốt hơn trong cơ thể. Chế phẩm sinh học làm giảm hàm lượng nitrat từ chất thải và ít tác động đến môi trường. Có khả năng những lợi ích từ môi trường cũng mở rộng đến chất lượng và số lượng quần thể thực vật phù du trong ao.

Cải thiện giá trị thức ăn

Một số chủng probiotic sản xuất ra enzym tiêu hóa, do đó tạo điều kiện sử dụng thức ăn và tiêu hóa. Kết quả là tăng trưởng được cải thiện. Hình 2 cho thấy các thông số tăng trưởng cá rô phi sau khi bổ sung với AquaStar® trong nuôi thương phẩm. Trọng lượng trung bình cũng như tốc độ tăng trưởng (SGR) tăng lên đáng kể. Tỷ lệ chuyển đổi protein (PER) cao hơn và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) được cải thiện.

Tăng cường các tế bào kháng thể phản ứng đến cá khi không cần mồi. Ngay lập tức cá phát tín hiệu tiêu diệt tế bào bị nhiễm bệnh. Sinh vật có thể bị kích thích trước phản ứng miễn dịch bẩm sinh được thể hiện trong Bảng 1 và Hình 3. Ở mức độ cao hơn, tế bào biểu mô lympho (IELs) bên trong cho thấy có một phản ứng miễn dịch cục bộ ở mức cao (Bảng 1).

Lắp Đặt Kho Lạnh Bảo Quản Chế Phẩm Sinh Học

Chế phẩm sinh học được sử dụng thay thế các chế phẩm hóa học, tốt hơn cho sức khỏe của cong người. Bảo quản các chế phẩm sinh học yêu cầu đảm bảo điều kiện về nhiệt độ, độ ẩm, để không làm biến đổi tính chất lý hóa học. Phương pháp lắp đặt kho lạnh bảo quản chế phẩm sinh học đáp ứng được các yêu cầu về nhiệt độ và độ ẩm bảo quản, giữ cho các chế phẩm ở trạng thái ổn định nhất. Lựa chọn lắp đặt kho lạnh bảo quản chế phẩm sinh học còn giúp nâng cao hiệu quả kinh tế, đảm bảo quy mô cần thiết.

Lắp đặt kho lạnh bảo quản chế phẩm sinh học đáp ứng yêu cầu về điều kiện bảo quản

Các chế phẩm sinh học gồm nhiều loại được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực: như các lại men vi sinh ứng dụng trong lĩnh vực thực phẩm, các chế phẩm ứng dụn trong ngành sản xuất thức ăn gia súc, hay ứng dụng vào bảo quản các sản phẩm nông sản… Trong đó từng loại chế phẩm yêu cầu điều kiện bảo quản khác nhau.

Bảo quản ở điều kiện bình thường: nhiệt độ từ 15-30 độ C, ẩm độ không quá 70%.

Bảo quản mát: nhiệt độ từ 8-15 ο C.

Bảo quản lạnh: nhiệt độ từ 2-8 ο C.

Bảo quản đông lạnh: nhiệt độ tối thiểu -10 ο C.

Tránh ánh sáng trực tiếp, ô nhiễm từ môi trường bên ngoài.

Hàng hóa sắp xếp trong kho gọn gàng, khoa học, để trên giá, kệ, cách nền và tường tối thiểu 20cm; các giá cách nhau tối thiểu 30cm để đảm bảo độ thông thoáng, dễ nhập, xuất hàng và vệ sinh tiêu độc.

Thiết kế, lắp đặt kho lạnh bảo quản chế phẩm sinh học đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật:

Vỏ kho lạnh được ghép bởi các tấm panel cách nhiệt, hai mặt bọc tole có tính thẩm mỹ cao, đảm bảo giữ nhiệt tốt cho phòng lạnh.

Cửa kho lạnh là cửa được thiết kế chuyên dùng cho kho lạnh, đảm bảo cách nhiệt tốt, có gioăng cửa và cơ chế chống nhốt người bên trong.

Hệ thống lạnh bao gồm máy nén được nhập khẩu từ nước ngoài; được thiết kế công suất phù hợp với yêu cầu của khách hàng.

Ngoài ra việc thiết kế, lắp đặt kho lạnh bảo quản chế phẩm sinh học còn được lắp hệ thống điều khiển có hiển thị nhiệt độ phòng lạnh, cảnh báo sự cố (nếu có), để kiểm soát sự hoạt động của cả hệ thống kho lạnh.

Địa chỉ: Số 23, Ngõ 1, Phố Đại Linh, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội: Điện thoại: 024 3839 0745 Hotline: 0923 199 968Email: [email protected] Website: http://dienlanhfocviet.comFanpage: https://www.facebook.com/dienlanhfocviet/