Quản Lý Chế Phẩm Sinh Học / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Khó Quản Lý Chế Phẩm Sinh Học

Sử dụng chế phẩm sinh học trôi nổi có thể gây nên những tác hại khôn lường đến sức khỏe người dân thông qua không khí ô nhiễm. Ý thức được điều này, từ năm 2010, Bộ TN-MT đã ban hành quy chế quản lý và sử dụng chế phẩm sinh học. Thế nhưng, cho đến nay quy chế này vẫn không thể triển khai vào thực tế.

Chế phẩm sinh học hiện đang được sử dụng phổ biến là loại chất sử dụng để phun xịt khử mùi. Chế phẩm này được sử dụng hầu hết tại các doanh nghiệp sản xuất và xử lý chất thải. Trên thị trường, có rất nhiều loại chế phẩm sinh học với nhiều giá thành khác nhau. Tuy nhiên, với doanh nghiệp, họ không quan tâm đến tính lợi ích cho môi trường mà chỉ quan tâm đến yếu tố giá và hiệu quả sử dụng.

Lý giải thực tế này, nhiều doanh nghiệp cho rằng, giá thành của loại chế phẩm sinh học đạt tiêu chuẩn môi trường quy định với loại chế phẩm sinh học trôi nổi trên thị trường chênh lệch rất lớn, từ 5 – 10 lần. Cộng với đặc thù sử dụng loại hóa chất này là phun xịt vào không khí nên độ phát tán rất nhanh. Trường hợp cơ quan chức năng muốn kiểm tra để xác định mức độ vi phạm của doanh nghiệp cũng không thể thực hiện được. Đó cũng là lý do tại sao cho đến nay việc kiểm tra xử lý doanh nghiệp sử dụng chế phẩm sinh học dỏm của các cơ quan chức năng vẫn chưa thực hiện. Vì vậy, rất ít doanh nghiệp chịu chấp nhận mua loại hóa chất có giá thành cao.

Việc Bộ TN-MT ban hành quy định về quản lý chế phẩm sinh học là để ngừa những tác hại khôn lường đến sức khỏe người dân thông qua sự phát tán hóa chất này trong không khí. Thế nhưng, phải thừa nhận rằng hiện không có nhân lực cũng như trang thiết bị kiểm tra và kiểm soát việc sử dụng hóa chất này. Thậm chí, bản thân cán bộ quản lý chưa hiểu rõ chế phẩm sinh học có thể gây nguy hại như thế nào đến sức khỏe người dân cũng như không biết cách nào để kiểm tra.

PHÚC ANH

Quản Lý Sức Khỏe Động Vật Thủy Sản Bằng Chế Phẩm Sinh Học

Dựa trên mối quan hệ phức tạp của sinh vật thủy sinh với môi trường bên ngoài, chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản được xác định là sinh vật sống có khả năng phát huy tác dụng hữu ích đến vật chủ theo một hay nhiều cơ chế khác nhau:

2. Bảo đảm cải thiện sử dụng thức ăn bằng cách tăng cường giá trị dinh dưỡng.

3. Tăng cường bảo vệ vật chủ chống lại bệnh tật.

4. Nâng cao chất lượng môi trường xung quanh.

Thay đổi môi trường xung quanh cộng đồng vi khuẩn

Khi phát triển trong thành ruột, vi khuẩn probiotic có thể sản xuất các enzym ngoại bào nhằm cải thiện tiêu hóa, hỗ trợ bảo vệ vật chủ bằng cách sản sinh ra hợp chất ức chế. Điều kiện tiên quyết của bất kỳ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của vật chủ là thiết lập vi khuẩn probiotic như là một phần của hệ vi sinh vật đường ruột.

Hình 1 cho thấy trong cá rô phi tiền trưởng thành ( Oreochromis niloticus), nhờ sử dụng AquaStar® trong nuôi thương phẩm đã cải thiện hệ đường ruột hiệu quả. Vi khuẩn AquaStar® (màu xanh) đã được phát hiện hơn hai tuần sau khi kết thúc điều trị bằng chế phẩm sinh học, mặc dù mật độ giảm nhanh chóng. Vi khuẩn sinh sôi nảy nở trong đường ruột, cá cải thiện việc sử dụng chất dinh dưỡng và dẫn đến việc lưu trữ nitơ tốt hơn trong cơ thể. Chế phẩm sinh học làm giảm hàm lượng nitrat từ chất thải và ít tác động đến môi trường. Có khả năng những lợi ích từ môi trường cũng mở rộng đến chất lượng và số lượng quần thể thực vật phù du trong ao.

Cải thiện giá trị thức ăn

Một số chủng probiotic sản xuất ra enzym tiêu hóa, do đó tạo điều kiện sử dụng thức ăn và tiêu hóa. Kết quả là tăng trưởng được cải thiện. Hình 2 cho thấy các thông số tăng trưởng cá rô phi sau khi bổ sung với AquaStar® trong nuôi thương phẩm. Trọng lượng trung bình cũng như tốc độ tăng trưởng (SGR) tăng lên đáng kể. Tỷ lệ chuyển đổi protein (PER) cao hơn và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) được cải thiện.

Tăng cường các tế bào kháng thể phản ứng đến cá khi không cần mồi. Ngay lập tức cá phát tín hiệu tiêu diệt tế bào bị nhiễm bệnh. Sinh vật có thể bị kích thích trước phản ứng miễn dịch bẩm sinh được thể hiện trong Bảng 1 và Hình 3. Ở mức độ cao hơn, tế bào biểu mô lympho (IELs) bên trong cho thấy có một phản ứng miễn dịch cục bộ ở mức cao (Bảng 1).

Xử Lý Ao Nuôi Bằng Chế Phẩm Sinh Học

Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng KH&CN Hải Phòng đã ứng dụng công nghệ sinh học SX sản phẩm vi sinh chức năng Neo-Polymic phục vụ nuôi thủy sản.

Sau khi cung cấp chế phẩm cho nhiều hộ nuôi đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt.

Từ năm 2012, gia đình ông Vũ Văn Dương (thôn Xuân Sơn 2, xã An Thắng, huyện An Lão, Hải Phòng) sử dụng chế phẩm sinh học Neo-polymic để xử lý môi trường nước trong ao nuôi cá cảnh (cá chép vảy rồng).

Ông Dương cho biết, cá cảnh là loài ưa nước sạch và rất nhạy cảm với thời tiết. Nếu thời tiết không thuận lợi hoặc nước ao bị ô nhiễm, cá rất dễ mắc bệnh và chết hàng loạt. Tuy nhiên, trong ao sử dụng chế phẩm sinh học, dù thời tiết có diễn biến phức tạp, cá chép vảy rồng trong ao của ông vẫn tiêu hóa tốt thức ăn, mau lớn, phát huy tối đa màu sắc sặc sỡ của chúng.

Ông Hoàng Tuấn Mí ở cùng thôn cũng cho biết, ông nuôi cá cảnh (cá vàng mắt lồi và cá vàng ba đuôi) với chế phẩm Neo-polymic với 15.700 đôi/ha. Cá khi xuất bán đảm bảo được các tiêu chuẩn kỹ thuật, không bị nhiễm bệnh, đạt kích cỡ từ 7 – 10 cm.

Hiện toàn xã An Thắng có 12 hộ nuôi cá cảnh với tổng diện tích 5 ha. Theo ông Nguyễn Sỹ Hiệp, Chủ tịch UBND xã An Thắng, nghề nuôi cá cảnh gặp nhiều rủi ro do môi trường nước ô nhiễm nặng, hằng năm thường xảy ra dịch bệnh vào thời điểm nắng nóng kéo dài hoặc mùa nước cạn làm cá chết hàng loạt.

Sử dụng chế phẩm Neo-polymic bà con nuôi có hiệu quả hơn. Với 1 ha ao nuôi cá cảnh trong 1 năm (2 vụ), sử dụng chế phẩm trên có thể thu lợi nhuận trên 230 triệu đồng.

Quy trình kỹ thuật sử dụng chế phẩm cũng khá đơn giản. Ao nuôi cá cảnh đạt các tiêu chuẩn bờ ao chắc chắn, lưới vây quanh cao hơn mặt nước từ 50 – 100 cm; độ sâu của ao ở mức 1,2 – 1,5 m; đáy ao nghiêng về phía cống thoát một góc 3 – 5 độ. Chế phẩm dạng bột được pha với nước, sử dụng định kỳ 1 lần/1 tuần với lượng từ 500 – 600 gr bột cho 1.000 m2 ao nuôi.

KS Ngô Thị Hải Linh, Phòng Công nghệ sinh học, Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng KH&CN Hải Phòng cho biết, chế phẩm Neo-Polymic sử dụng các chủng vi sinh vật đã được phân lập và tuyển chọn bằng các kỹ thuật vi sinh, kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại.

Neo-Polymic có tác dụng làm giảm các độc tố trong ao nuôi xuống mức thấp nhất (chủ yếu là NH3, H2S), giảm mùi hôi của nước, ổn định pH và cân bằng hệ sinh thái trong ao, tăng lượng oxy hoà tan…

Tại xã Tiên Thắng, vùng đồng chiêm trũng có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn của huyện Tiên Lãng, nhiều hộ dân cũng đã sử dụng chế phẩm Neo-polymic cho ao nuôi cá của mình. Qua theo dõi cho thấy các chỉ tiêu theo dõi đánh giá môi trường nước ao sử dụng chế phẩm Neo-polymic đều trong khoảng phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của các nước ngọt.

Ở vụ nuôi mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 8), nắng nóng kéo dài, sự phân hủy các chất hữu cơ diễn ra mạnh mẽ làm phát sinh các khí độc hại dẫn đến hiện tượng các thường xuyên thiếu oxy để hô hấp. Đây cũng là thời điểm thường xuyên có mưa rào làm thay đổi đột ngột pH môi trường ao nuôi.

Ở các ao nuôi không sử dụng chế phẩm, xảy ra hiện tượng cá bị nấm, bệnh, chết, gây thiệt hại lớn cho bà con. Tuy nhiên các ao nuôi sử dụng chế phẩm thì các chỉ số sinh thái có thay đổi nhưng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng hấp thu thức ăn và tốc độ sinh trưởng của cá.

Ông Phạm Văn Chiến ở thôn Mỹ Lộc, xã Tiên Thắng, một hộ tham gia mô hình cho biết, ao nuôi ghép cá trắm, chép, mè, trôi, rô phi của ông, nước hầu như rất ít nhớt và không có mùi hôi, nguồn tảo chết trong ao cũng bị hấp thụ hết.

Cá có được môi trường sống phù hợp nhất nên mau lớn, ít hao hụt, ít nhiễm bệnh. Nhờ sử dụng chế phẩm sinh học mà ông rất ít khi phải dùng thêm hóa chất và thuốc kháng sinh cho cá. Vì thế tiết kiệm được chi phí SX, tăng lợi nhuận lên rõ rệt với năng suất cá đạt gần 8,5 tấn/ha, lợi nhuận gần 131 triệu đồng/ha/năm.

Chia sẻ về kỹ thuật sử dụng chế phẩm sinh học, ông Chiến cho hay, trước khi vào vụ nuôi, ông tiến hành bón vôi diệt tạp đáy áo, phơi ao, sau đó sử dụng 1 – 2 kg chế phẩm cho 1.000 m2 ao nuôi nhằm xử lý ô nhiễm tầng đáy và phát triển hệ vi sinh vật có lợi ở đáy ao.

Sau khi đưa nước cấp vào ao nuôi, tiếp tục sử dụng chế phẩm để xử lý nước ao trước khi thả giống. Trong quá trình nuôi, định kỳ sử dụng chế phẩm để quản lý chất lượng nước nuôi, phòng chống dịch bệnh cho cá.

Bảo Quản Trái Cây Lâu Dài Với Chế Phẩm Sinh Học Chitosan

Trái cây là một trong những thực phẩm không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Vấn đề gây đau đầu nhất cho những hộ chuyên trồng các loại trái cây chính là bảo quản chúng khi đã thu hoạch. Hiểu được điều này, nhóm nghiên cứu của trường ĐH Quốc tế, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Toàn đã nghiên cứu thành công loại chế phẩm sinh học Chitosan và quy trình ứng dụng chế phẩm này để bảo quan các loại trái cây phổ biến.

Chephamsinhhoc.net là một trong những nhà phân phối chính chế phẩm Chitosan. Chế phẩm sinh học Chitosan được tạo ra bằng cách hòa tan 1 gr Chitosan trong Axit axetic loãng 1% và dùng làm dung dịch nguyên. Nồng độ của dung dịch này sẽ có sự khác nhau khi ứng dụng vào việc bảo quản những loại trái cây khác nhau.

Chế phẩm sinh học Chitosan với hiệu quả trong trồng trọt.

Dùng phương pháp phun chế phẩm này lên bề mặt trái cây. Loại trái cây được đem ra làm thí nghiệm đầu tiên chính là chuối bởi chuối dễ bị thối rữa trong điều kiện bảo quản bình thường. Chế phẩm Chitosan được tạo ra từ vỏ tôm, mang tính an toàn sinh học cao, có thê áp dụng cho nhiều loại trái cây khác nhau. Ưu điểm của chế phẩm sinh học Chitosan là kéo dài thời gian bảo quản độ tươi của trái cây gấp 3 lần so với trước đây mà không làm mất đi hương vị tự nhiên cũng như tính an toàn của trái cây. Ngoài ra, nhờ phương pháp phun sương lên trái cây nên có thể ứng dụng chế phẩm này trên diện rộng, tiết kiệm được thời gian và chi phí. Không chỉ có chức năng kéo dài thời gian bảo quản, loại chế phẩm sinh học này còn giúp tăng năng suất, chết lượng cũng như ngăn ngừa và hạn chế một số nấm gây bệnh.