Hướng Dẫn Phương Pháp Bón Phân Cho Cây Cà Phê

Trong đất trồng trọt bao giờ cũng có hàm lượng chất hữu cơ nhất định. Đất mới khai phá có tỷ lệ hữu cơ khá cao và giảm dần theo thời gian và thời vụ canh tác.

Theo kết quả khảo sát của Bộ Nông nghiệp, lúc mới khai phá, hàm lượng chất hữu cơ trong đất Tây Nguyên ban đầu là 5.5%. Sau 4 năm canh tác thì chỉ còn 1.7%.

b.Tầm quan trọng của chất hữu cơ c.Biện pháp quản lý chất hữu cơ

Đặc tính của chất hữu cơ là làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, giữ ẩm. Là điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật có ích trong đất phát triển. Khi chất hữu cơ không còn nữa thì hệ vi sinh vật có ích cũng mất đi. Đất trở nên bó chặt và chai cứng. Bên cạnh đó, việc sử dụng phân hóa học một cách tùy tiện và không cân đối khiến cho đất bị chua (độ PH thấp). Hoạt tính của đất mất đi. Sự trao đổi chất giữa cây và môi trường thông qua đất bị hạn chế. Làm cho sự phát triển của cây bị đình trệ. Thể trạng suy yếu nên dễ bị sâu bệnh gây hại. Năng suất kém, và không có tính bền vững.

Cỏ và rễ cây của chúng có vai trò nhất định trong việc chống rửa trôi hữu cơ và đốt cháy hữu cơ. Ngoài ra, chúng có vai trò bù đắp lại hữu cơ cho đất. Do vậy, không sử dụng thuốc trừ cỏ mà chỉ làm cỏ bằng tay, hoặc dùng máy để phát cỏ. Không gom cỏ và lá cây để đốt mà nên ép xanh hoặc dồn đống để ủ phân hữu cơ vi sinh. Như vây, dinh dưỡng mà cỏ lấy từ đất sẽ được trả lại cho đất. Đồng thời vẫn bảo toàn được nguồn hữu cơ trong đất.

Cách bón phân cho cây cà phê (bón phân hữu cơ)

Cà phê trồng mới được bón lót phân hữu cơ theo liều lượng ở phần trồng mới. Trong những năm kiến thiết cơ bản và kinh doanh thì cứ 2 – 3 năm bón phân cho cây cà phê lại một lần với liều lượng 20 – 30 m³/ha. Để tránh áp lực về nhu cầu phân bón hữu cơ, có thể bón phân hữu cơ hàng năm, mỗi năm bón 10 m³.

Đối với cà phê chưa giao tán, đào rãnh theo hình chiếu của tán cà phê sâu 20 – 25 cm, rộng 25 – 30 cm ( có thể đào khoảng ¼ – ½ theo chu vi tán).

Đối với cà phê kinh doanh đã giao tán thì có thể đào rãnh giữa 2 hàng cà phê. Nếu năm nay đào theo chiều ngang thì sang năm đào theo chiều dọc. Nếu lượng phân hữu cơ không nhiều thì đào 1 hàng bỏ 1 hàng, lần bón phân cho cây cà phê sau đào tiếp hàng còn lại. Kích cỡ rãnh đào cũng tương tự như đã trình bày trên.

Lưu ý :

Sau khi đã đào rãnh, bỏ phân xuống. Nếu ép thêm tàn dư thực vật (lá cành) trên lô. Hoặc thân lá các loại cây họ đậu xuống rãnh thì nên mỗi hố có thể bón thêm từ 200 – 500 g lân nung chảy. Và một ít đạm để tăng nhanh tốc độ phân giải. Sau đó lấp đất lại. Việc bón phân hữu cơ nên được tiến hành trong khoảng thời gian từ đầu cho tới giữa mùa mưa.

Không nên bón phân hữu cơ chưa hoại mục. Bởi vì trong phân chuồng tươi còn có nhiều hạt cỏ dại, nhiều kén nhộng, côn trùng, nhiều bào tử nấm, xạ khuẩn, vi khuẩn, và tuyến trùng gây bệnh. Việc ủ phân nhằm sử dụng nhiệt độ tương đối cao trong quá trình phân hủy chất hữu cơ vừa để tiêu diệt hạt cỏ dại và mầm mống sâu bệnh, vừa để thúc đẩy quá trình phân hủy chất hữu cơ. Đẩy nhanh quá trình khoáng hóa. Như vậy, khi bón vào đất, phân hữu cơ mới có thể nhanh chóng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây.

Không nên bón phân hữu cơ trên mặt đất, vì nếu bón trên mặt đất sẽ bị nắng thiêu đốt. Gây nên hiện tượng đốt cháy hữu cơ (tiêu diệt hệ vi sinh vật có ích) và bị rửa trôi. Nếu được chôn lấp và có độ ẩm nhất định thì sẽ tạo điều kiên thuận lợi để vi sinh vật có ích phát triển. Mặt khác, khi được chôn lấp thì chất hữu cơ dưới dạng những hạt mùn kết hợp với keo đất sẽ giúp giữ lại các khoáng chất dư thừa trong quá trình bón phân vô cơ để cung cấp dần cho cây. Hạn chế được hiện thượng rửa trôi và bốc hơi của phân vô cơ

Cách bón phân cho cây cà phê (bón phân hóa học)

NĂM THỨ 1

– 11 tấn phân chuồng + 220 kg vôi

– Bón 13 kg u-rê + 50 kg ka-li (KCl)

– Chia đều liều lượng trên ra bón làm 2 lần.

NĂM THỨ 2

Tưới lần 2 : SA 100 kg/ ha

Đầu mùa mưa: U-rê: 70 kg + ka-li 60 kg + lân nung chảy 650 kg.

Giữa mùa mưa : U-rê 80 kg + ka-li 60kg.

Gần cuối mùa mưa: U-rê 70 kg + ka-li 60 kg.

Tổng cộng cả năm: SA 100kg + u-rê 220 kg + ka-li 180 kg + lân nung cháy 650 kg.

NĂM THỨ 3

Tưới lần 2: SA 150 kg

Đầu mùa mưa: U-rê: 80 kg + ka-li 70 kg + lân nung chảy 650 kg

Giữa mùa mưa: U-rê 100 kg + ka-li 80 kg

Gần cuối mùa mưa: U-rê 80 kg + ka-li 70kg

Tổng cộng cả năm: SA 150kg + u-rê 260 kg + ka-li 220 kg + lân nung cháy 650 kg.

THỜI KÌ KINH DOANH

Tưới lần 2: SA 200 kg

Đầu mùa mưa: U-rê: 150 kg + ka-li 130 kg + lân nung chảy 650 kg

Giữa mùa mưa: U-rê 180 kg + ka-li 150 kg.

Gần cuối mùa mưa: U-rê 120 kg + ka-li 120 kg

Tổng cộng cả năm: SA 200kg + u-rê 450 kg + ka-li 400 kg + lân nung cháy 650 kg.

Khi năng suất cao hơn 3 tấn, ngoài lượng phân bón đã nêu trên, ta cần phải bổ sung thêm lượng phân bón cho 1 tấn nhân bội thu/ha như sau: 150 kg u-rê + 130 ka-li + 100 kg lân nung chảy.

Nếu dùng phân NPK hỗn hợp thì trong năm trồng mới và các năm kiến thiết cơ bản nên dùng các loại phân NPK có thành phần N và P cao. Nhưng bắt đầu từ khi vườn cà phê cho nhiều quả nên dùng các loại phân NPK có thành phần N và K cao ngang nhau, lân thấp hơn. Ví dụ, ta có thể bón như sau:

Trồng mới : Loại phân NPK 16-16-8: 350 – 400 kg/ha/năm (bón thúc 2 – 3 lần)

Năm 2: Loại phân NPK 16-16-8: 700 – 750 kg/ha/năm

Năm 3: Loại phân NPK 16-16-8: 950 – 1000 kg/ha/năm

Năm 4 và các năm kinh doanh: Loại phân NPK 16-8-16: 1500 – 1600 kg/ha/năm

Từ năm thứ 2, 3 và ở những năm kinh doanh, ta chia lượng phân trên ra làm 3 phần để bón trong mùa mưa. Lần giữa mùa mưa bón nhiều hơn lần đầu và lần cuối. Vào mùa khô, bón bổ sung 200 kg u-rê khi tưới nước. Tương tự như khi bón phân đơn, khi năng suất vượt 3 tấn nhân/ha. Lượng phân bổ sung cho 1 tấn nhân bội thu/ ha là 400 – 500 kg NPK (16-8-16).

Cách bón phân vô cơ đa lượng

– Đối với cà phê năm thứ 1

Trộn 550 kg lân nung chảy với 11 tấn phân chuồng và 220 kg vôi bột để bón lót trước khi trồng 1 tháng.

Căn cứ vào lượng phân bón của năm thứ nhất, chia 130 kg u-rê + 50 kg ka-li ( KCl) ra để bón làm 2 lần trong năm. Phân u-rê vả ka-li có thể trộn chung và bòn ngay. Trước khi bón phải rạch rãnh rộng 10 – 20 cm sâu 5 – 7 cm quanh tán cây cà phê sau đó cho phân vào và lấp đất lại để tránh sự thất thoát phân do bị rửa trôi hoặc bay hơi trong trường hợp thời tiết bất lợi như nắng nóng hay mưa nhiều.

– Đối với cà phê năm thứ 2 trở đi

Phân lân: Bón riêng và bón tất cả 1 lần vào đầu mùa mưa. Nên bón vào lúc trời khô ráo.

Phân đạm và phân ka-li có thể trộn chung và bón ngay vào các thời điểm trong mùa mưa, khi đất đủ ẩm. Nếu trời không mua thì phải rạch rãnh rộng 20 – 30 cm sâu 5 – 10 cm quanh tán cây cà phê sau đó cho phân vào lấp lại.

Trong mùa khô phải bón phân với kết hợp tưới nước đầy đủ. Bón đến đâu thì tưới ngay đến đó

Vôi vừa có lợi vừa có hại nên cần sử dụng vôi sao cho có lợi nhiều nhất và có hại ít nhất.

Chỉ dùng vôi khi đất bị chua chứ không dùng cho mục đích cung cấp can xi.

Chỉ bón riêng lẻ chứ không nên trộn lẫn với các loại phân hóa học. Tốt nhất nên bón vôi sau khi thu hoạch.

Giai đoạn thích hợp để bón vôi như sau: bón sau đợt bón phân cuối cùng của vụ trước 1 tháng. Hoặc bón trước đợt bón phân của vụ tới 1 tháng để vôi không gây tác động tiêu cực đối với các loại phân bón.

Nếu đất có tính kiềm quá cao, sẽ khiến cây không hấp thụ được một số dưỡng chất như sắt, man-gan, kẽm, phôt-pho. Ngoài ra sẽ làm hạn chế quá trình phân giải của một số loại phân vốn chỉ tan trong môi trường a-xít yếu (hơi chua). Ngoài ra việc bón quá nhiều vôi có thể góp phần gây nên hiện tượng chai đất.

Tác dụng của vôi

– Trung hòa a-xit và cân bằng độ pH, theo đó giúp đạt được năng suất cao nhất.

– Làm cho lân dễ hấp thu hơn đối với cây trồng.

– Ngăn chặn hiện tượng thiếu mô-líp-den.

– Làm cho giun đất và những vi khuẩn cố định đạm hoạt động mạnh hơn. Ngoài ra cũng giúp cho các vi khuẩn có trong phân hữu cơ nhả đạm, phốt-pho, sun-phua và các nguyên tố vi lượng để cây hấp thu.

– Cải thiện hoạt tính của phân bón.

– Ngăn chặn sự gia tăng độ độc của nhôm và man-gan.

– Điều chỉnh sự thiếu hụt can-xi và ma-giê.

– Cải thiện cấu trúc của đất sét nặng.

Đối với đất đỏ ba-zan tại các vườn cà phê hiện nay, độ pH khoảng 4,5 (thuộc loại hơi chua). Do vậy, việc bón vôi cho cà phê là rất cần thiết. Lượng vôi cần bón khoảng 0.5kg/cây và định kì 2 năm bón 1 lần là hợp lý.

Lưu ý

– Vôi, lân bón riêng, (không trộn chung với u-rê và ka-li) và bón vào lúc trời nắng và khô ráo.

– Bón phân kết hợp tưới nước nếu đất không đủ độ ẩm.

– Mùa khô nên bón phân kết hợp với tưới nước

Đặc tính của phân vi lượng rất nhạy. Nếu dùng liều lượng cao hơn hướng dẫn của nhà sản xuất có thể làm cây phát triển chậm lại, xoăn lá, rụng hoa hoặc chết.

– Phân vi lượng đơn: như sun-phát ma-giê, sun-phát kẽm, sun-phát đồng, Bo (axit boric), sắt. Thời điểm bón phân thích hợp là sau khi cà phê ra hoa đậu trái khoảng 2 tháng.

– Phân vi lượng tổng hợp ( còn gọi là phân bón lá): một số loại vi lượng phù hợp cho cây cà phê trên thị trường hiện nay được dùng để bón lá như: Komix, HCR, Nucafe.

Đối với cây cà phê, nên phun phân bón lá vào giai đoạn từ tháng 5 – 8 và giai đoạn sau thu hoạch là phù hợp nhất. Thông thường, nên phun vào thời gian từ 8 – 10 giờ và từ 16 – 17 giờ. Phun đều trên và dưới mặt lá. Tránh phun phân bón lá vào lúc trời mưa và nắng gắt. Ngoài ra cần tuân thủ nghiêm túc liều lượng theo chỉ dẫn của nhà sản xuất.

Để nâng cao hiệu quả, cần bón theo nhu cầu của từng loại cây trồng và từng giai đoạn sinh trưởng. Đảm bảo năng suất và tránh lãng phí. Dù là phân bón đơn hay phân bón hữu cơ cần dựa theo nguyên tắc 5 đúng. đó là: đúng loại, đúng lúc, đúng liều lượng, đúng tỷ lệ và đúng cách.

Các Phương Pháp Và Quy Trình Gieo Ươm Cây Cà Phê.

Cây cà phê có nhiêu giống. Tuy nhiên ở nước ta chủ yếu là giống cà phê vối và cà phê chè. Y5cafe cũng đã có nhiều bài viết hướng dẫn trồng và chăm sóc cây cà phê. Hôm nay xin được giới thiệu đến bà con các phương pháp và quy trình gieo ươm cây cà phê.

Có 2 phương pháp gieo ươm chính: 1. Gieo trong túi bầu

2. Gieo vào luống đất Cả 2 cách này đều phải bố trí trong vườn ươm có giàn che chắn, để chăm sóc.

Nhiều năm trở lại đây, các cơ sở trồng cà phê cũng như trồng cây ăn quả nói chung, người ta chủ yếu gieo ươm cây con trong túi bầu để thay cho việc gieo ươm vào luống như thời gian trước đây.

Gieo ươm trong túi bầu có những ưu điểm là: việc chăm sóc bón chỉ tập trung trong túi bầu; tiết kiệm được rất nhiều diện tích vườn ươm; khi trồng đảm bảo tỷ lệ sống cao, vận chuyển cây con trong bầu không ảnh hưởng đến bộ rễ.

Tuy vậy, giá thành cây con cao hơn vì phải chi phí túi ni lông và công đưa đất vào bầu. Gieo ươm vào luống thì không phải chi phí túi bầu và đỡ tốn công đưa đất vào bầu. Nhưng khi trồng mới phải tốn công đào bứng bầu, mà rất dể làm ảnh hưởng bộ rễ cây con. Cách này, hiện nay không được khuyến cáo trong việc ươm cây lâu năm kể cả cây rừng.

Thu hoạch và chuẩn bị hạt cà phê

Những quả cà phê đã chín phải được hái từ những cây cà phê cho năng suất cao và không bị bệnh. Hãy bóc vỏ quả cà phê bằng tay, rửa lại với nước, sau đó cho lên men trong một bồn chứa nhỏ cho tới khi vỏ quả cà phê tách ra hoàn toàn. Bạn cũng có thể xát hạt cà phê bằng tay trong quá trình lên men.Rửa lại bằng nước sạch.

Những hạt cà phê nổi trên bề mặt phải bị loại ra. Sau đó bạn hãy sấy khô hạt cà phê cho đến khi chỉ còn khoảng 20% nước bằng trên một tấm lưới đặt nơi khô thoáng, tránh tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Sau khi bóc vỏ, hạt cà phê chỉ còn chứa khoảng 60-70% nước, nên bạn sẽ biết phải dừng lúc nào bằng cách đem cân xem khối lượng cà phê là bao nhiêu. Nếu không bạn cũng có thể kiểm tra bằng cách cắn thử hạt cà phê : nếu thấy khô ở ngoài và ẩm ở trong là được. Ở một vài vùng, hạt cà phê đã được bóc vỏ có thể đem ra trồng luôn.

Gieo ươm trong túi

Túi bầu bằng ni lông, kích thước 17cmx25cm, không nên dùng túi có kích cỡ nhỏ hơn, vì cây cà phê được ươm ít nhất 6 tháng, cần cung cấp đủ dinh dưỡng và đủ độ sâu để bộ rễ phát triển tự nhiên, nhất là rễ cọc phải được ăn sâu và thẳng đứng. Ở đáy túi cần đục 8 lỗ nhỏ để khi tưới dễ thoát nước.

Đất bỏ vào bầu gồm: – 1,8kg đất mặt (mầu tốt, sạch cỏ và tạp chất, tơi xốp) – 0,25kg phân chuồng hoai mục – 8g supe lân.

Căn cứu vào tỷ lệ trên chuẩn bị đất thành đống, trộn đều kỹ với phân, sau đó cho vào túi nilon, mỗi túi 2kg và lặc vừa phải cho đất bám sát và căng đáy túi

Xếp túi bầu vào nhau thành luống dài; bề ngang luống rộng 1-1,2m, luống cách luống 40-45cm để đi lại chăm bón. Độ dài của luống tùy theo số túi nhiều hay ít và phụ thuộc vào kích thước vườn ươm. Xung quanh luống nên lấp đất cao 1/3 túi bầu. Vườn ươm cần làm giàn che và có phên quây xung quanh. Mái giàn che phải đủ cao để dễ dàng đi lại chăm sóc cây (1,8-2 m) và kết cấu mái thành từng tấm phiên để tiện xê dịch, điều chỉnh ánh sáng khi cần thiết.

Trước khi gieo hạt vào túi bầu, hạt cần được xử lý và ủ như sau:

Lấy nửa cân vôi tôi hoặc bột đem hoà vào 20 lít nước, khuấy kỹ, để lắng rồi gạn lấy nước vôi trong đem đun nóng tới 60°C, đổ hạt vào ngâm trong 20-24 giờ, vớt hạt ra đem rửa kỹ cho sạch nhớt, chú ý đãi và loại bỏ hết hạt nổi, hạt đen, lép, xấu. Những hạt tốt đem ủ.

Nếu lượng hạt ít nên ủ trong sọt, thúng, ở đáy lót một lớp cỏ, rơm khô sạch và bên trên phủ lớp bao tải sạch; đổ hạt lên lớp bao tải rồi phủ trên hạt bằng lớp bao tải. Những ngày tiếp theo cần tưới nước ấm 60°C để lượng hạt đủ ẩm và luôn giữu nhiệt độ 30-32°C. Sau 2-3 tuần, hạt bắt đầu nẩy mầm. Ở miên Bắc, ủ hạt vào tháng 11-12, nếu gặp các đợt gió mùa đống bắc, phải chú ý giữ ấm cho hạt.

Khi cần gieo ươm lượng hạt lớn sau khi xử lý, đem ủ vào góc nhà (kho, bếp)… trên nền cứng (gạch, xi măng) kín gió, để giữ nhiệt. Đổ lớp cát sạch dày 4-5cm, phủ lớp bao tải lên và đổ hạt dàn đều, dày 4-5 cm; rắc lớp cát vừa phủ kín lớp hạt và trên cùng phủ bao gải và rơm, cỏ khô. Hàng ngày dùng nước ấm 60oC tưới đều khắp cho tới lớp cát dưới cùng có đủ nước vào buổi sáng và chiều tối. Kinh nghiệm cho thấy giữ đủ ấm và ẩm liên tục, đều đặn thì hạt mau và dễ nảy mầm. Khi gặp gió rét phải che chắn, chống gió lùa làm mất nhiệt độ.

Sau vài tuần, kiểm tra thấy hạt nảy mầm đem gieo vào bầu hoặc vào mặt luống vườn ươm, (hàng ngày sau khi có những hạt đầu tiên nảy mầm, lựa hạt nẩy mầm đem gieo trước). Chọc một lỗ sau 1 cm ở giữa bầu đất, đất hạt cà phê vào đó nhớ phải đắt úp hạt (mặt phẳng hạt xuống dưới, mặt cong lên trên) và đặt nằm ngang hoàn toàn. Lấp hạt bằng lớp đất bột, mỏng, bên trên phủ một lớp mùn cưa hoặc trấu dầy 1 cm rồi tưới cho độ ẩm.

Khi gieo hạt, cứ 10-15 bầu thì có 1 bầu gieo 2 hạt để lấy cây dự trữ khi cần trồng dặm.

Tưới nước là khâu quan trọng để chăm sóc cây con, nhất là trong mùa khô hạn. Sau gieo 2-3 ngày, cần tưới nước theo cách phun mưa bằng thùng odoa hoạc bình bơm thuốc sâu (được rửa sạch) tuỳ theo mức độ khô hạn nhiều hay ít mà vài ba ngày tưới nước 1 lần. Cây con được bón thúc bằng nước phân khi cây có một cặp là sò và 2 cặp lá thật: pha loãng phân chuồng hoai mục, ngâm kỹ theo tỷ lệ 1 phân 20 nước lã+ nước phân ure nồng độ 0,1% (nửa lạng ure pha 50 lít nước). Sau mỗi lần phun nước phân như vậy, phải phun rửa lá ngay bằng nước lã để lá cà phên khỏi bị cháy.

Nơi ươm hạt cần có rãnh thoát nước khi gặp mưa to. Mặt khác cũng đắp bờ chắn không cho nước mưa tràn vào vườn ươm.

Khi bắt đầu có mưa xuân việc tưới nước có thể kéo dài 5-7 ngày thậm chí 10 ngày một lần. Tưới nước phân thúc cho cây con cứ 20-25 ngày 1 lần. Thường xuyên nhổ cỏ dại mới mọc ở các túi bầu, nếu mặt bầu bị đóng váng dù thanh tre nhọn để phá váng.

Nếu có dế cắn cây con cần bắt diệt hoặc phun padan 0,1% nếu nhiều cây bị lở cổ rễ thì phun validacin pha 0,5%. Nói chung nên hạn chế dùng thuốc trừ sâu bệnh.

Cây cà phê con cần được huấn luyện cho quen dần với ánh sáng nắng trong quá trình sinh trưởng tại vườn ươm để sau này đem trồng cây để sẽ cứng cáp hơn. Cây con được huấn luyện khi có một cặp lá thật bằng cách xê dịch phên che mái, lúc đầu khe hở ít sau dần mở rộng hơn, tới khi cây có 5-6 cặp lá thật (tức là trước khi đem trồng 30 ngày) khi dỡ bỏ mái che.

Khi cây xuất vườn đem trồng, cây con phải đạt các chỉ số: ươm được 6-7 tháng, cao trên 20cm, có hơn 5 cặp lá thật, không có sâu bệnh, không bị dị dạng như: thân mọc cong queo, lá ngọn xoăn. Có hộ gia đình còn kiểm tra cả rễ cái phát triển thẳng mới trồng, bằng cách quan sát đáy bầu hoặc gỡ nhẹ bầu để kiểm tra. Cách này đòi hỏi phải có kinh nghiệm và thận trọng vì dễ ảnh hưởng tới bộ rễ cây con.

Nếu không có điều kiện gieo ươm trong túi bầu thì làm luống để gieo. Sau khi cày bừa kỹ bón lót 4 tạ phân chuồng hoại cho 100m2 vườn ươm, luống rộng 1,2m, cao 20-25cm.

Hạt được xử lý và ủ, khi hạt nảy mầm đặt vào mặt luống như cách đặt hạt vào bầu. Hạt cách hạt và hàng cách hàng 20x20cm, lấp hạt bằng lớp đất bột mỏng, bên trên phủ mùn cưa hoặc trấu dầy 1cm. Sau đó tiến hành chăm sóc như đối với gieo ươm trong túi bầu.

Mô Hình Kĩ Thuật Trồng Cà Phê Công Nghệ Cao Bằng Phương Pháp Nuôi Cấy Mô

Cà phê từ lâu đã trở thành loại thức uống phổ biến không thể thiếu đối với con người nói chung và người Việt Nam nói riêng. Nó đã trở thành một biểu tượng gắn liền với các quán nước cùng những chiếc bàn dài. Đã có ai từng cầm trên tay ly cà phê và tự hỏi làm thế nào để có được một loại thức uống ngon như vậy? Đó là cả một quá trình dài để tạo ra những hạt cà phê chất lượng, sau đó đem xay và thành quả cuối cùng là ly cà phê thơm phức đen sóng sánh. Vậy quá trình tạo ra những hạt cà phê đó diễn ra như thế nào? Thời đại ngày nay ngày càng phát triển, kỹ thuật về lĩnh vực nông nghiệp ngày càng tiến bộ và có nhiều bước đột phá. Kĩ thuật trồng cây mới được áp dụng đem lại hiệu quả rất nhiều cho người trồng trọt về kinh tế và sản lượng. Trồng cà phê cũng vậy, hiện nay đã được áp dụng theo mô hình trồng cà phê công nghệ cao mang lại năng suất cao cho người nông dân.

Mô hình trồng cà phê công nghệ cao

Nhắc đến Tây Nguyên người ta liền nghĩ tới ngay tới hình ảnh những vườn cà phê sai trịu quả, nơi sản xuất ra những hạt cà phê chất lượng, hương vị đặc trưng nức lòng. Và ở nơi đây, người nông dân đã có cho mình những bước đột phá trong công trình áp dụng mô hình tạo giống trồng cà phê bằng phương pháp nuôi cấy mô. Sau 2 năm nghiên cứu, Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã nhân giống thành công cây cà phê bằng cách nuôi cấy mô cho ra cây giống có nhiều điểm vượt trội về chiều cao, độ lớn của cây và quan trọng là có thể sản xuất ra được một lượng lớn giống chất lượng cao chỉ trong thời gian ngắn để đáp ứng kịp thời nhu cầu tái canh cây cà phê ở khu vực Tây Nguyên. Sau 3 năm, cây cà phê đã cho ra trái bói, năng suất trên một héc ta là từ 2 đến 3 tấn, cao hơn nhiều với phương pháp cũ từ   5%-7% và được nông dân đánh giá cao. Quy trình của phương pháp này bao gồm 8 bước: Bước 1: Lấy mẫu lá Bước 2: Vô trùng mẫu lá Bước 3: Tạo mô sẹo (tạo khối tế bào) Bước 4: Nhân mô sẹo Bước 5: Tái sinh phôi Bước 6:Chuyển sang môi trường tạo cây có lá mầm Bước 7: Tạo thành cây hoàn chỉnh Bước 8: Huấn luyện cây làm quen với môi trường bên ngoài để có được các cây giống thành phẩm.

Trong giai đoạn tái sinh phôi để chuyển sang môi trường tạo cây lá mầm, các nhà khoa học đã áp dụng phương pháp Bioreactor sẽ cho cây giống có đặc tính tốt, có bộ rễ đạt tiêu chuẩn cây trồng, làm giảm thời gian sản xuất cây cà phê từ 2-3 tháng. Với ước tính hằng năm tái canh từ 1-3% diện tích cà phê. Khối lượng cây giống cà phê cần được sản xuất từ 5-15 triệu cây mỗi năm.

Lợi ích của việc áp dụng trồng cây cà phê công nghệ cao

Theo như lời anh H., một người nông dân trồng cà phê thuộc địa bàn Đắc Lắc, tỉnh Tây Nguyên. Từ khi gia đình anh và người dân nơi đây áp dụng mô hình này, đã đem lại rất nhiều lợi ích. Quá trình trồng đã trở nên dễ dàng hơn, tiết kiệm thời gian, công sức, sau 3 năm là có thể thu hoạch. Cây cà phê khi đã ra hạt có hạt đều, to hơn và có màu sắc đẹp, chất lượng và năng suất cho cao hơn, giá thành được náng lên. Ngoài ra, trên cây cà phê thành phẩm không còn hiện tượng đốm lá, đốm thân, ít sâu bệnh, cành cây phát triển tốt, thời gian chăm sóc ít đi. Một trong lợi ích góp phần quan trọng trong nữa là việc tăng sản lượng, tăng năng suất khi mà số lượng cây giống được cung cấp đủ cho việc tái canh mang lại hiệu quả kinh tế cao. Anh chia sẻ thêm, bên cạnh áp dụng mô hình nhân giống nuôi cấy mô, anh còn kết hợp thêm một mô hình công nghệ cao đó chính là mô hình tưới tiết kiệm nước – mô hình tưới nước nhỏ giọt để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Nông dân làm giàu không khó, chỉ cần biết cách áp dụng phương pháp kĩ thuật công nghệ mới có thể đem lại hiểu quả đáng mong đợi.

Trồng Cà Chua Theo Phương Pháp Thủy Canh

Đó là cách trồng cà chua cực đẹp của nông dân Nguyễn Văn Đẹp, 52 tuổi, ở ấp Bến Liễu, Phú An, Bến Cát, tỉnh Bình Dương trồng trên diện tích 2.000 m2 theo phương pháp thủy canh.

Khi bước chân vào vườn cà chua rộng 2.000 m2 của ông Nguyễn Văn Đẹp, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên vì vườn cà chua quá lạ mắt! Những thân cây cà chua thẳng, ít cành ngang, được định hướng chạy xiên nghiêng một góc khoảng 40 độ so với mặt đất.

Khác hẳn cà chua thông thường, những chùm cà trồng theo phương pháp thủy canh ấy có độ bóng sáng và tùy theo mỗi giống cà chua khác nhau mà trái cà chua có những kích cỡ lớn nhỏ, hình dáng tròn dẹp hoặc phân khía thành các múi khác nhau… Trong đó, kích cỡ lớn nhất là trái cà chua có nguồn gốc của Nhật, Israel, nhỏ nhất nhưng lại dính chùm đẹp mắt là cà chua giống của VN.

I. Sạch tuyệt đối

– Yếu tố quyết định sự thành bại của phương pháp trồng cà chua mới này chính là sự cách ly tuyệt đối với môi trường bên ngoài. Vật dụng cách ly phía trên mái là tấm bạt nhựa màu trong suốt, hoàn toàn kín. Bốn bên được vây quanh bởi lớp lưới dày, bảo đảm không một loại côn trùng nào có thể lọt vào…

“Tạo môi trường trồng rau sạch ở mức tuyệt đối này chính là nguyên tắc hoàn toàn khác biệt để cho ra đời sản phẩm cà chua sạch và an toàn tuyệt đối” – ông Đẹp cho biết.

Một điều đặc biệt nữa là ngay tại cửa ra vào vườn cũng được thiết kế có một phòng trống hình chữ nhật có diện tích hẹp, để lỡ khi có côn trùng theo người lọt vào thì vẫn chưa “lạc” thẳng vào vườn rau gây hại mà sẽ dừng lại để bị “xử lý” ngay tại phòng này.

Ngoài ra, hệ thống nước tưới của vườn hoàn toàn tự động theo hình thức ống dẫn “tiêm” trực tiếp xuống gốc cây. Điều đáng lưu ý là kèm với nước chính là lượng phân bón đã được hòa tan với nồng độ thích hợp.

Đây là phương pháp giúp vườn rau không có mùi của phân bón mà thay vào đó toàn khu vườn toát lên mùi thơm dịu mát của những trái cà chua chín, mùi ngai ngái nồng của lá cà chua xanh mởn…

Ông Đẹp cho biết thêm hiện vườn cà chua của ông đang cho thu hoạch mỗi ngày hơn 200 kg. Giá bán tại chợ khoảng 8.000 đồng/kg, cao gấp đôi cà chua Đà Lạt nhưng vẫn được người tiêu dùng ưa chuộng chọn mua vì sự nổi trội về hình thức và chất lượng.

II. Hành trình của ông Đẹp

Đang làm nghề sửa chữa điện xe gắn máy tại thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương nhưng chỉ một lần nghe lời rủ rê của người em trai bên Úc, ông đã trở thành một nông dân thực thụ khi quyết tâm bỏ công bỏ của ra làm thí nghiệm mô hình sản xuất cà chua theo công nghệ Úc (phương pháp thủy canh).

“Lúc đó tôi nghĩ mình cần là người tiên phong. Nếu thành công thì mình sẽ là người phổ cập thứ công nghệ trồng cà chua này cho bà con nông dân”- ông Đẹp cho biết.

Quá trình thí nghiệm của ông với cây cà chua không thể kể hết những gian nan! Những sai sót nhỏ nhặt nhất, như lần ông sơ ý để một con bướm bay vào vườn đã gây hậu quả là phải phá bỏ toàn bộ vườn cà chua đang cho thu hoạch.

Bởi trong môi trường cách ly, những con sâu được sản sinh từ con bướm này phát tán nhanh đến độ chỉ sau một – hai ngày, lượng sâu đã đan kín mặt đất… khiến ông buộc phải cho tiêu hủy toàn bộ khu vườn.

Sau sự cố đó, vườn ông Đẹp còn thêm hai lần nữa phải tiêu hủy hoàn toàn do sự phát sinh bệnh nấm và đốm lá… nguyên nhân là do mấy cơn bão lốc đã hất tung mái che làm mưa gió đổ xuống khu vườn.

Tính đến thời điểm này, việc bán trái cà chua của ông vẫn chỉ mang tính chất chào hàng và thăm dò thị trường chứ không nhằm mục đích thu hồi vốn. Bởi lẽ, so với số vốn bỏ ra hơn 500 triệu đồng ban đầu, cộng số vốn phát sinh do bị hư hại liên miên… thì việc mỗi ngày bán ra vài trăm ký cà chua là không thấm vào đâu. Và “so với mục tiêu phấn đấu đạt năng suất chuẩn của vườn hơn 400 tấn/ha, thì với mức thu 200 kg mỗi ngày trên diện tích 2.000 m2 hiện tại mới chỉ là “bước khởi đầu”, cần có thêm thời gian để tôi tiếp tục thử nghiệm, tiếp tục nghiên cứu… chưa tính đến chuyện lỗ lãi ở đây!” – ông Đẹp cho biết.

III. Nông dân cũng cần năng động

– Bản tánh hiền hòa, bỗ bã khi nói cười, chân thành trong câu chuyện… nhưng cũng chính ông lại rất rành rọt về các ứng dụng của khoa học công nghệ thông tin vào việc trồng cà chua và “độc chiêu” là ông cũng rành rẽ cả việc thông thương mua bán, trao đổi thông tin về giống qua mạng Internet. Hai ngày một lần, ông chụp hình cây cà chua gửi qua Úc, nhìn những hình ảnh của ông những người làm kỹ thuật ở Úc sẽ hiểu là cây đang cần chất gì, bao nhiêu phần trăm… để có những điều chỉnh giúp ông tìm ra công thức chăm bón hiệu quả nhất.

“Mình không thể rập khuôn mô hình bên Úc được. Mà tôi cũng sợ nhất là sự áp dụng rập khuôn vì như thế sẽ làm triệt tiêu sự sáng tạo của bản thân mình.

Nông dân cũng cần năng động và sáng tạo chứ!” – ông chân tình. Những sáng tạo của ông là việc thử nghiệm với nhiều loại giá thể như mùn cưa, tro trấu, xơ dừa… và những thử nghiệm này cũng đã cho ông được những đúc kết có giá trị.

Về giống cà chua, ông cũng đang trong quá trình thử nghiệm với hơn 20 loại giống của 20 quốc gia trên thế giới đã được ông mua thông qua Internet… và đương nhiên mỗi loại giống cũng đã cho ông có được những kết luận cho riêng mình…

Đặc biệt, trong quá trình thí nghiệm hiện tại ông vẫn quan tâm đến việc “sáng chế” những công cụ vật dụng có thể thay thế việc nhập thiết bị nhằm giảm thiểu những chi phí đầu tư ban đầu.

Chẳng hạn, ông đã chế tác thành công những bình tưới nước nhỏ giọt thay cho hệ thống ống dẫn nước tiêm xuống gốc cà chua vốn là một yếu tố đầu vào chiếm nhiều vốn nhất. Rồi ông cũng khuyến khích việc sử dụng hệ thống khung vườn bằng cây tre, gỗ… thay vì khung sắt…

Được biết, sắp tới đây Sở Khoa học – Công nghệ tỉnh Bình Dương kết hợp với Phòng Nông nghiệp huyện Bến Cát sẽ chọn vườn cà chua của ông để thực hiện đề án trồng cà chua bằng phương pháp thủy canh với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của Bình Dương.

Phương Pháp Trồng Cà Chua Bi Hồ Lô

– Hạt giống cà chua bi hồ lô: Hiện nay hạt giống cà chua bi được bày bán nhiều tại các cửa hàng bán hạt giống. Có hạt giống cà chua bi hồ lô màu vàng, hạt giống cà chua bi hồ lô màu đỏ. Việc lựa chọn hạt giống cà chua bi hồ lô, nên tìm đến các cửa hàng bán hạt giống uy tín để mua.

-Vị trí trồng: Cà chua bi hồ lô thích hợp với những nơi có đầy đủ ánh nắng mặt trời, ít nhất là 6 – 7 tiếng/ngày. Cà chua cần rất nhiều ánh nắng ấm áp để có hương vị thơm ngon.

– Đất trồng: Sử dụng đất giàu dinh dưỡng, tơi xốp, có khả năng thoát nước tốt. Đối với đất trồng, cần thêm nhiều phân xanh hữu cơ đã ủ cho mục nát, lớp phân này dày khoảng 6 – 8 cm. Hoặc bạn có thể dùng đất tribat để tiến hành gieo trồng.

– Khay hoặc thùng xốp để trồng.

– Ươm hạt: Thông thường, sẽ tiến hành ươm hạt và trồng cây con sẽ tiết kiệm được thời gian gieo trồng và chăm sóc. Bỏ đất vào khay, sau đó gieo hạt trực tiếp lên đất. Đặt khay ở những nơi thoáng mát. Khi cây có 2 – 3 lá, lúc đó sẽ chuyển sang đấtt rồng.

– Trồng cây con: Cây non phải được trồng sâu xuống đất từ 50 – 75% chiều cao thân. Rễ mới sẽ mọc dọc theo phần thân được trồng trong đất, cung cấp một bộ rễ khỏe mạnh cho cây. Khi vừa trồng cây xuống, bạn nên dùng nước ấm để tưới cho cây.

– Với những vùng lạnh, khoảng cách thích hợp để trồng cà chua bi hồ lô là 45 – 90cm. Nếu ở vùng khí hậu ấm áp hơn, khoảng cách lại còn một nửa, từ 25 – 45cm.

3. Chăm sóc cà chua bi hồ lô

– Tưới nước: Tưới nước đều đặn cho cây trong 7 ngày đầu kể từ khi trồng. Dùng nước ấm sẽ tốt cho cây phát triển. Tuy nhiên chú ý không để nước ướt dúng sẽ làm chết bộ rễ và tạo điều kiện cho nấm phát triển.

Giữ độ ẩm cho đất bằng cách phủ một lớp rơm khô hoặc lá khô xung quanh gốc. Độ dày lớp phủ khoảng 2 – 3cm.

Nếu đất bị sũng nước sẽ giết chết bộ rễ và tạo điều kiện để nấm phát triển, nhất là khi trời thực sự ấm áp hoặc nóng.

– Làm giàn: Sau khi trồng cà chua bi hồ lô được 14 ngày sẽ tiến hành làm giàn leo, cọc hoặc lồng để hỗ trợ cây phát triển. Cọc thường có đường kính ít nhất 3 – 5cm, cao 1.8 – 2.4 mét, chôn sâu xuống đất từ 30 – 60 cm. Có thể dùng cọc tre, gỗ hoặc ống nước, sắt.

– Bón phân: Cà chua bi hồ lô có thể dùng phân bón hữu cơ để tưới. Khi tưới chú ý hòa cùng nước và tưới đều lên gốc. Cách 15 ngày tưới phân một lần.

– Phòng trừ sâu bệnh: Nếu vệ sinh sạch sẽ cây ngay từ khâu trồng sẽ phòng tránh được sâu bệnh.

– Thu hoạch: Sau 50 – 70 ngày kể từ khi trồng, cây sẽ cho quả. Ban đầu quả nhỏ, hình hồ lô và có màu xanh. Khi đã đạt kích thước hoàn chỉnh, quả sẽ chuyển sang màu đỏ hoặc màu vàng. Điều này có nghĩa quả đã bắt đầu chín và sẵn sàng để thu hoạch.