Tóm Tắt Và Giải Hóa Lớp 9 Bài 11: Phân Bón Hóa Học

a) Phân bón hóa học

– Phân bón hóa học là những hợp chất hóa học chứa các nguyên tố dinh dưỡng, được bón cho cây nhằm nâng cao năng suất cây trồng.

– Các nguyên tố dinh dưỡng cần cho cây trồng như: N, K, P, Ca, Mg, B, Cu, Zn,…

b) Những phân bón hóa học thường dùng

Phân bón đơn (chỉ chứa một trong ba nguyên tố dinh dưỡng chính là N, P, K)

Phân đạm (chứa N): Một số phân đạm thường dùng là

– Ure CO(NH 2) 2, tan trong nước, chứa 46% nitơ.

– Amoni nitrat NH 4NO 3, tan trong nước, chứa 35% nitơ.

Phân lân (chứa P): Một số phân lân thường dùng là

– Photphat tự nhiên thành phần chính chứa Ca 3(PO 4), không tan trong nước, tan chậm trong đất chua.

Phân kali (chứa K):

Những phân kali thường dùng là KCl, K 2SO 4,… đều dễ tan trong nước.

Phân bón dạng kép (chứa hai hoặc cả ba nguyên tố dinh dưỡng N, P, K)

Phân bón vi lượng: chứa một lượng nhỏ các nguyên tố như: bo, kẽm, mangan,…dưới dạng hợp chất.

2. Hướng dẫn giải bài tập Hóa học 9 bài 11: Bài 1 trang 39

a) Hãy cho biết tên hóa học của những phân bón nói trên.

b) Hãy sắp xếp những phân bón này thành 2 nhóm phân bón đơn và phân bón kép.

c) Trộn những phân bón nào với nhau ta được phân bón kép NPK ?

a) Tên hóa học của phân bón :

KCl: Kali clorua

NH 4 Cl: Amoni clorua

KNO 3: Kali nitrat

b) Hai nhóm phân bón :

– Phân kali: KCl

c) Phân bón kép NPK :

Bài 2 trang 39

Trích mẫu thử.

Cho dung dịch Ca(OH) 2 vào các ống nghiệm chứa ba mẫu phân bón trên và đun nóng :

Không có hiện tượng là KCl.

Bài 3 trang 39

a) Nguyên tố dinh dưỡng nào có trong loại phân bón này?

b) Tính thành phần phần trăm của nguyên tố dinh dưỡng trong phân bón.

c) Tính khối lượng của nguyên tố dinh dưỡng bón cho ruộng rau.

m N = 2 x 14 x 1 = 28 (g)

Thành phần phần trăm của nguyên tố dinh dưỡng trong phân bón :

c) Khối lượng của nguyên tố dinh dưỡng bón cho ruộng rau :

→ x = (28 x 500) / 132 = 106 (g)

Vậy khối lượng của nguyên tố dinh dưỡng bón cho ruộng rau là 106 (g)

3. Hướng dẫn giải bài tập Sách bài tập Hóa học 9 bài 11: Bài 11.1 trang 14

Ba nguyên tố cơ bản là chất dinh dưỡng cho thực vật, đó là : nitơ (N), photpho (P), kali (K).

Hợp chất của nitơ làm tăng trưởng lá cây và tinh bột trong ngũ cốc. Hợp chất của photpho kích thích bộ rễ phát triển và hoa quả chín sớm.

Hợp chất của kali tăng cường sức chịu đựng cho thực vật.

Dùng số liệu của bảng, hãy :

a) Vẽ biểu đồ biểu thị chất dinh dưỡng trong mẫu phân bón 1.

b) Vẽ biểu đồ so sánh hàm lượng của nitơ có trong 4 loại phân bón.

c) Giới thiệu mẫu phân bón cho ngô, khoai để có hàm lượng nitơ bằng hàm lượng photpho và có hàm lượng kali cao.

a) Biểu đồ biểu thị chất dinh dưỡng

Bài 11.2 trang 14

Lấy một lượng nhỏ mỗi mẫu phân bón vào ống nghiệm. Thêm 4 – 5 ml nước, khuấy kĩ và lọc lấy nước lọc.

– Lấy 1 ml nước lọc của hai loại phân bón còn lại, thử bằng dung dịch AgNO 3, nếu có kết tủa trắng thì phân bón đó là KCl :

– Nước lọc nào không có phản ứng hoá học với hai thuốc thử trên là NH 4NO 3.

Bài 11.3 trang 14

Trong công nghiệp, người ta điều chế phân đạm urê bằng cách cho khí amoniac NH 3 tác dụng với khí cacbon đioxit CO 2 :

Ghi chú : Ngoài ra còn có những phương pháp hoá học khác.

Để có thể sản xuất được 6 tấn urê, cần phải dùng

a) Bao nhiêu tấn NH 3 và CO 2 ?

a) Phương trình hóa học :

2.17g 44 g 60 g

? tấn ? tấn 6 tấn

m NH3 = (6,2 x 17) / 60 = 3,4 (tấn)

m CO2 = 6,44 / 60 = 4,4 (tấn)

b) Phương trình hóa học :

Số mol urê là :

n urê = m / M = 6000000/60 = 100000 (mol)

Theo phương trình hóa học, ta có :

n NH3 = 2n ure = 2 x 100000 = 200000 (mol)

V NH3 = n x 22,4 = 200000 x 22,4 = 4480000 = 4480 (m 3)

Theo phương trình hóa học, ta có :

V CO2 = 100000 x 22,4 = 2240000 lít = 2240 (m 3)

Bài 11.4 trang 15

Điều chế phân đạm amoni nitrat NH 4NO 3 bằng phản ứng của canxi nitrat Ca(NO 3) 2 với amoni cacbonat (NH 4) 2CO 3.

a) Viết phương trình hoá học.

b) Phản ứng này thuộc loại phản ứng nào ? Vì sao phản ứng này có thể xảy ra được ?

c) Cần phải dùng bao nhiêu tấn canxi nitrat và amoni cacbonat đế sản xuất được 8 tấn phân đạm amoni nitrat ?

a) Phương trình hoá học :

b) Phản ứng này thuộc loại phản ứng trao đổi giữa hai dung dịch muối. Phản ứng xảy ra được vì tạo thành chất kết tủa là CaCO 3.

c) Tính khối lượng các chất tham gia :

Để sản xuất được 8 tấn NH 4NO 3 cần :

Và (168 x 8)/160 = 8,2 tấn Cu(NO 3) 2

Bài 11.5 trang 15

Cho 6,8 kg NH 3 tác dụng với dung dịch H 3PO 4 thấy tạo ra 36,2 kg hỗn hợp hai muối NH 4H 2PO 4 và (NH 4) 2HPO 4 theo phương trình hoá học :

a) Hãy tính khối lượng axit H 3PO 4 đã tham gia phản ứng

b) Tính khối lượng mỗi muối được tạo thành.

a) Theo định luật bảo toàn khối lượng, ta có :

b) Gọi khối lượng muối (NH 4) 2HPO 4 là x kg ⇒ m NH3 phản ứng là 34x/132 (kg)

Ta có:

Đây là nội dung tóm tắt và giải bài tập Chương 1 bài 11: Phân bón hóa học của chương trình hóa học lớp 9 mà các bạn có thể tham khảo. Mời các bạn cùng tham khảo các bài viết tương tự trong chuyên mục : Hóa học lớp 9

Tìm Hiểu Chi Tiết Về Phân Bón Hoá Học Lớp 11

Cây trồng muốn sinh trưởng và phát triển tốt, ngoài điều kiện nguồn nước và ánh sáng thì cần cung cấp thêm phân bón hoá học cho cây. Vậy phân bón hoá học là gì và vì sao trong nông nghiệp luôn sử dụng chúng, ta cùng tìm hiểu bài Phân bón hoá học lớp 11.

Phân bón hoá học là những hoá chất có chứa các nguyên tố dinh dưỡng, được bón cho cây trồng nhằm nâng cao năng suất mùa màng.

I. Phân bón hoá học lớp 11: PHÂN ĐẠM

– Nguyên tố dinh dưỡng: Ni tơ

– Tác dụng: Tăng cường quá trình sinh trưởng của cây trồng.

Tỉ lệ protêin thực vật tăng.

Cây phát triển mạnh, tăng sản lượng, củ quả có nhiều dinh dưỡng.

Phân đạm có tác dụng rất lớn đối với cây trồng và thực vật nói chung, đặc biệt là cây lấy lá như rau.

– Độ dinh dưỡng: đánh giá thông quá % Nitơ có trong phân.

– Để phân loại phân đạm ta dựa vào thành phần hoá học: phân đạm amoni, phân đạm nitrat, phân đạm urê.

1. Phân đạm Amoni:

– Trong thành phần phải chứa gốc amoni NH 4+, ví dụ như NH 4Cl (amoni clorua), (NH 4) 2SO 4 (amoni sunfat), NH 4NO 3 (amoni nitrat)

– Điều chế: Cho amoniac tác dụng với axit tương ứng.

Ví dụ:

– Tính chất: vì thành phần chứa muối tan nên dễ tan trong nước, dễ chảy rửa, do đó cây dễ dàng hấp thu nhung cũng dễ bị rửa trôi.

– Phân đạm amoni sử dụng cho đất ít chua.

Giải thích: Trong thành phần của phân amoni có chứa gốc bazo yếu là NH 4+, bị thuỷ phân trong nước tạo môi trường có tính axit, làm tăng độ chua cho đất.

– Những nơi đất chua sử dụng vôi bột khử chua thì không dùng phân amoni vì:

2. Phân đạm Nitrat:

– Trong thành phần phải chứa gốc nitrat NO 3-, ví dụ như NaNO 3 (natri nitrat), Ca(NO 3) 2 (canxi nitrat),…

Ví dụ:

– Tính chất: vì thành phần chứa muối tan nên dễ tan trong nước, dễ chảy rửa, do đó cây dễ dàng hấp thu nhung cũng dễ bị rửa trôi, tương tự phân amoni.

3. Phân đạm Urê:

– Điều chế:

– Ion cây trồng đồng hoá: NH 4+

+ Bị phân huỷ dưới tác dụng của vi sinh vật sinh ra amoniac.

+ Tác dụng với nước tạo ra muối cacbonat:

– Tính chất: là chất rắn màu trắng, tan tốt trong nước, chứa 46, 67% N.

– Trong 3 loại phân đạm trên, hàm lượng N trong phân urê là cao nhất nên là loại phân đạm tốt nhất nên được sử dụng nhiều.

– Không dùng phân này cho đất kiềm vì:

NH 3 không phải là dạng cây trồng hấp thu.

Amoni

Muối amoni NH 4Cl, (NH 4) 2SO 4, NH 4NO 3

Tan tốt trong nước, dễ chảy rửa.

Cho amoniac tác dụng với axit tương ứng

Nitrat

Muối nitrat NaNO 3 , Ca(NO 3) 2 ,…

NO 3–

Tan tốt trong nước, dễ chảy rửa.

Urê

NH 4+

Chất rắn màu trắng, tan tốt trong nước

Hàm lượng N cao nhất.

II. Phân bón hoá học lớp 11: PHÂN LÂN

– Nguyên tố dinh dưỡng: photpho.

– Dạng ion: ion photphat (PO 43-).

– Tác dụng: ở thời kì sinh trưởng, thúc đẩy các quá trình sinh hóa, trao đổi chất và năng lượng của thực vật. Được bón phân lân giúp cành lá xum xuê, hạt chắc, quả củ to.

– Phân lân gồm: supephotphat và phân lân nung chảy,…

1. Supephotphat

– Bao gồm: supephotphat đơn và supephotphat kép

– Thành phần chính: Ca(H 2PO 4) 2 (canxi dihidrophotphat).

a) Supephotphat đơn

– Điều chế: Cho quặng photphorit hoặc quặng apatit tác dụng với axit sunfuric đặc.

– CaSO 4 không tan trong nước, là phần không có ích, làm rắn đất.

b) Supephotphat kép

– Điều chế: Cho quặng photphorit hoặc quặng apatit tác dụng với axit sunfuric đặc theo 2 giai đoạn:

– Vì điều chế theo 2 giai đoạn nên CaSO 4 đã được loại bỏ, hàm lượng P 2O 5 sẽ cao hơn và đất trồng không bị rắn.

2. Phân lân nung chảy

– Nguyên liệu: bột quặng apatit, đá xà vân (thành phần chính gồm magie silicat) và than cốc.

– Quy trình: cho hỗn hợp nguyên liệu vào lò đứng trên 10000C. Sản phẩm nóng chảy từ lò được làm lạnh nhanh bằng nước, sau đó sấy khô và nghiền nát thành bột.

– Thành phần chính: hỗn hợp photphat và silicat của canxi và magie.

– Hàm lượng: chứa 12-14% P2O5.

– Thích hợp cho đất chua.

Giải thích: Các muối này không tan trong nước, đất chua có tính axit nên có khả năng hoà tan chúng.

Supephotphat đơn

Ca(H 2PO 4) 2 và CaSO 4

14-20%

Supephotphat kép

Ca(H 2PO 4) 2

theo 2 giai đoạn:

40-50%

Lân nung chảy

Hỗn hợp photphat và silicat của canxi và magie.

Nung hỗn hợp bột quặng apatit, đá xà vân (thành phần chính gồm magie silicat) và than cốc trong lò đứng với nhiệt độ trên 10000C.

12-14%

III. Phân bón hoá học lớp 11: Phân kali

– Nguyên tố dinh dưỡng: kali dưới dạng K+.

– Tác dụng: thúc đẩy quá trình tạo đường, bột, chất xơ, chất dầu; tăng cường sức chống rét, chống sâu bệnh và chịu hạn của cây.

– Độ dinh dưỡng được đánh giá qua % K 2 O.

IV. Phân bón hoá học lớp 11: Một số loại phân bón khác 1. Phân hỗn hợp và phân phức hợp:

– Chứa đồng thời một số nguyên tố dinh dưỡng cơ bản.

– Phân hỗn hợp: Chứa nitơ, photpho, kali được gọi chung là phân NPK.

Ví dụ: nitrophotka là hỗn hợp (NH 4) 2HPO 2 và KNO 3.

Khi trộn lẫn các loại phân bón với tỉ lệ N:P:K khác nhau ta thu được phân hỗn hợp, tuỳ theo loại đất và cây trồng.

– Phân phức hợp: hỗn hợp các chất được tạo ra đồng thời bằng tương tác hoá học các chất.

Ví dụ: amophot là hỗn hợp các muối NH 4H 2PO 2 và (NH 4) 2HPO 2, thu được khi cho amoniac tác dụng với axit photphoric

2. Phân vi lượng

Phân vi lượng cung cấp cho cây các nguyên tố như bo, kẽm mangan, đồng, molipden,… ở dạng hợp chất.

Cây trồng chỉ cần một lượng rất nhỏ loại phân bón này để tăng khả năng kích thích quá trình sinh trưởng và trao đổi chất, tăng hiệu lực quang hợp,…

– Các nguyên tố trên đóng vai trò như những vitamin cho thực vật.

– Phân vi lượng được đưa vào đất cùng với phân bón vô cơ hoặc phân bón hữu cơ.

– Loại phân bón này chỉ có hiệu quả cho từng loại cây và từng loại đất, dùng quá lượng quy định sẽ có hại cho cây.

Từ những kiến thức chi tiết về phân bón hoá học lớp 11 các em đã có thêm kiến thức về phân bón, thành phần dinh dưỡng, cây trồng cần chúng trong những giai đoạn nào từ đó có thể giải thích được các kiến thức thực tế đời sống.

Bài 11: Phân Bón Hóa Học

Bài tập minh họa

Bài 1:

Kinh nghiệm sản xuất của người nông dân được đúc kết trong câu ca dao sau:

“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

Nghe tiếng sấm động mở cờ mà lên”

Hãy dùng kiến thức Hóa học để giải thích câu ca dao trên.

Hướng dẫn:

Khi có sét (tia lửa điện) khí N2 và O2 trong không khí kết hợp với nhau thành khí NO, NO bị oxi hóa thành NO2. Khí NO2 tác dụng với nước mưa tạo ra axit nitric, axit này rơi xuống đất sẽ tác dụng với chất kiềm có trong đất như vôi, tro bếp tạo ra muối nitrat (là phân đạm) nên tốt cho lúa.

N2 + O2 → 2NO (ở điều kiện nhiệt độ cao như tia lửa điện)

2NO + O2 → 2NO2

4NO2 + O2 + H2O → 4HNO3

HNO3 + KOH → KNO3 + H2O

Bài 2:

Vì sao không nên bón đạm với vôi cùng lúc?

Hướng dẫn:

Vì khi bón đạm (NH4NO3)với vôi cung lúc thì xảy ra phản ứng:

CaO + H2O → Ca(OH)2

2NH4NO3 + Ca(OH)2 → Ca(NO3)2 + NH3↑ + 2H2O

⇒ Khí NH3 thoát đi làm hao phí một lượng đạm.

Bài 3:

Trong các loại phân bón sau, loại phân bón nào có hàm lượng N cao nhất: NH4NO3; (NH4)2SO4; CO(NH2)2?

Hướng dẫn:

Để biết được loại phân bón nào có hàm lượng N cao nhất, các em hãy tính thành phần phần trăm về khối lượng của N có trong các loại phân bón.

(% {N_{N{H_4}N{O_3}}} = frac{{14 times 2}}{{80}}.100 = 35%)

(% {N_{{{(N{H_4})}_2}S{O_4}}} = frac{{14 times 2}}{{18 times 2 + 96}}.100 = 21,21% )

(% {N_{CO{{(N{H_2})}_2}}} = frac{{14 times 2}}{{60}}.100 = 46,67%)

Vậy hàm lượng N trong phân bón CO(NH2)2 cao nhất

Bài 4:

Nêu phương pháp nhận biết KCl, NH4NO3 và Ca3(H2PO4)2.

Hướng dẫn:

Đun nóng với dung dịch kiềm chất nào có mùi khai là NH4NO3

Cho dd Ca(OH)2 vào, chất nào tạo kết tủa trắng là Ca3(H2PO4)2

Còn lại là KCl.

7 Câu Hỏi Về Em Bé Mà Cha Mẹ Mới Có Con Hỏi Trong Lớp Học Làm Cha Mẹ

Lời thoại của video ’7 câu hỏi về em bé mà mọi phụ huynh mới có con đều hỏi: video Lớp học làm cha mẹ nhỏ’

Bạn có biết rằng em bé của bạn đang phát triển trí nhớ từ khi còn nhỏ hai hoặc ba tuần tuổi?

Một đứa trẻ hai hoặc ba tuần tuổi sẽ nhớ mùi của bạn.

Bạn đã hỏi tôi rất nhiều câu hỏi mà nhiều bậc cha mẹ có về đứa con nhỏ của họ lớn lên và tôi đã ở đây để trả lời chúng.

Xin chào, tên tôi là Giáo sư Frank Oberklaid và đây là Lớp học Làm cha mẹ Nhỏ của tôi.

Tại sao bé ngủ nhiều?

Em bé không có nhận biết rằng theo thói quen và giờ sinh học chúng ta là ngủ vào ban đêm và thức vào ban ngày. Vì vậy, các con ngủ trong ba hoặc bốn giờ thường xuyên, thức dậy để ăn và sau đó trở lại giấc ngủ.

Khi bộ não của các bé phát triển, có những lý do làm các bé không ngủ bởi vì có những điều các bé tò mò muốn tìm hiểu; Các bé bước vào thế giới của mình, cha mẹ nói chuyện với các bé, đọc cho bé nghe. Vì vậy, các bé nhận thức và bắt đầu thói quen thức trong thời gian dài hơn, tham gia và tương tác với cha mẹ và người chăm sóc các bé và thế giới xung quanh, rồi lại ngủ thiếp đi.

Não bé có thể được kích thích trong khi nó vẫn còn trong bụng mẹ không?

Một thời gian, một số năm trước đây, người ta đã nghĩ rằng những đứa trẻ được tiếp xúc với âm nhạc cổ điển làm cho chúng thông minh hơn.

Không có bằng chứng xác thực nào cho thấy trẻ sơ sinh nghe nhạc cổ điển khiến chúng thông minh hơn.

Mặt khác, nó chắc chắn không làm tổn thương. Vì vậy, nếu cha mẹ muốn giới thiệu âm nhạc vào gia đình, thì đó là một ý tưởng tuyệt vời bởi vì cha mẹ nhẹ nhàng thưởng thức âm nhạc, cảm giác đó được truyền sang các bé và các bé cũng cảm nhận được cảm giác bình yên đó.

Vì vậy, có rất nhiều lý do tại sao âm nhạc tốt cho trẻ nhỏ còn việc đó có giúp bé trở nên thông minh hơn không thì chắc chắn không phải chỉ có mỗi nghe nhạc đâu.

Dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ như thế nào?

Một em bé sẽ nhận được tất cả các nhu cầu dinh dưỡng cần thiết từ sữa mẹ và chúng tôi nói rằng nó thực sự quan trọng đối với các bà mẹ khi nỗ lực cho con bú.

Sau đó, sẽ đến thời kỳ nguy hiểm đối với trẻ nhỏ ở một số quốc gia nơi an toàn vệ sinh thực phẩm, chất lượng cũng như sự đa dạng có vấn đề, nơi mà thức ăn không có đủ thức ăn để đặt lên bàn.

Điều đó có thể dẫn đến cả việc còi cọc về nhận thức – nghĩa là trẻ bị chậm phát triển cả trí não và thể trạng.

Tại sao trẻ sơ sinh cần sự tiếp xúc của con người?

Hiện tại có một bằng chứng nghiên cứu khá tốt về tầm quan trọng của sự đụng chạm da kề da với trẻ sơ sinh, không chỉ đối với con người mà trên thực tế, tất cả các loài động vật.

Đôi khi chúng tôi nói về việc chăm sóc chuột túi, về việc đặt một đứa trẻ sơ sinh lên người mẹ từ giai đoạn rất sớm và điều đó an ủi cho đứa trẻ, nó [cũng] làm dịu cho người mẹ. Vì vậy, vì rất nhiều lý do, việc liên lạc rất quan trọng.

Bạn tích cực chơi với con bao nhiêu là đủ?

Trẻ em vô cùng tò mò; các con muốn khám phá môi trường xung quanh của mình. Mọi thứ đều rất mới, đó là một thế giới rộng lớn ngoài kia và vì thế cha mẹ không nên cản trở điều đó. Điều cha mẹ cần làm là đảm bảo con mình được an toàn tuyệt đối.

Đừng cố gắng và uốn nắn trẻ quá nhiều. Nhưng có rất nhiều cơ hội đê học ví dụ, hát cho trẻ nghe, đọc cho trẻ nghe, đưa trẻ đi dạo trên phố – ở đó, một cây, có một con chó con, có một chiếc ô tô, có một ngôi nhà.

Thức tế thì có rất nhiều điều như thế, nhưng đừng cản trở trẻ vì các con rất sinh ra rất tò mò muốn khám phá.

Làm thế nào để chúng ta tiếp cận và khuyến khích các con học ngôn ngữ?

Khi còn là trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ mới biết đi bắt đầu phát triển ngôn ngữ như, những điều rất đơn giản – ‘con chó,‘ bye bye’, ‘ta ta’ v.v.

Trẻ nhỏ thích lặp đi lặp lại, vì vậy để nghe cùng một bài hát hết lần này đến lần khác, đọc cùng một cuốn sách, chúng sẽ bắt đầu thấy những mô hình ngôn ngữ là gì. Vì vậy, chúng tôi khuyến khích cha mẹ nói chuyện với trẻ nhỏ rất nhiều, để hát cho trẻ nhỏ.

Đồng thời không nên quá áp đặt quan điểm của mình vào cuộc trò chuyện; thay phiên nhau trao đổi, đôi khi chúng tôi gọi cách trò chuyện này ‘đưa đi đưa lại – các con hỏi điều gì đó, cha mẹ trả lời điều đó và ngược lại. Quan trọng nhất là chúng ta có thể phản ánh những gì trẻ nói.

Điều gì là cách tốt nhất để dạy con bạn các ngôn ngữ khác nhau?

Tôi nghĩ điều quan trọng là cần có sự nhất quán, để trẻ không bị nhầm lẫn. Vì vậy, có những lúc cha mẹ sử dụng chung một ngôn ngữ sẽ thấy hiệu quả. Đôi khi một hoạt động, một ngôn ngữ cũng hiêu quả. Nhưng cuối cùng thì bọn trẻ sẽ tự sắp xếp và sử dụng cả hai ngôn ngữ một cách thích hợp.

Trong những năm đầu đời, những gì bé cần là sự chăm sóc chu đáo. Các bé cần một môi trường nuôi dưỡng. Các con cần cha mẹ điều chỉnh phù hợp cho trẻ nhỏ. Cha mẹ chính là thầy cô giáo đầu tiên của em bé.

Khi cha mẹ nói chuyện với trẻ, hát cho trẻ nghe, đọc cho trẻ nghe, tạo ra những trải nghiệm kích thích này, đã tạo ra sự thôi thúc học tập này – tất cả mạng lưới này mạng này đang được phát triển trong não. Và những nền tảng học tập trong những năm đầu tiên đó rất quan trọng bởi vì chúng đặt nền móng cho sự nghiệp

Nếu cha mẹ cung cấp tất cả những thứ đó, thì bộ não của đứa trẻ sẽ phát triển và trưởng thành và hoàn thành tất cả những tiềm năng mà chúng ta muốn từ tất cả những đứa trẻ của chúng ta.

Giáo sư Frank Oberklaid, Giám đốc Trung tâm Sức khỏe Trẻ em Cộng đồng tại Bệnh viện Hoàng gia Trẻ em Melbourne và Viện Nghiên cứu Trẻ em Murdoch.

Liên Hệ Thực Tế Qua Bài Dạy “Phân Bón Hóa Học” Của Lớp 11

Bài”Phân bón hoá học” được trình bày trong chương trình sách giáo khoa Hoá học lớp 11 còn bỏ ngỏ phần liên hệ thực tế. Căn cứ vào mục đích của đổi mới cách dạy và học môn Hoá trong chương trình phổ thông cũng như liên hệ với thực tế địa phương và muốn truyền tải đến học sinh những kiến thức bảo vệ sức khoẻ bản thân, gia đình và bảo vệ môi trường sống khi các em trưởng thành, tôi xin đưa ra một số ví dụ minh hoạ về sự liên hệ thực tế của bài “Phân bón hoá học” để các đồng nghiệp cùng tham khảo.

Vĩnh Phúc vốn là một tỉnh thuần nông đang chuyển đổi cơ cấu, tổng diện tích đất tự nhiên trong tỉnh là 1.370,73 km 2, trong đó, đất nông nghiệp là 66.659,73 ha, chiếm 49% tổng diện tích nên học sinh phần đông trong tỉnh là con em gia đình làm nông nghiệp. Việc truyền đạt những kiến thức liên hệ giữa phân bón hoá học và sử dụng phân bón hoá học như thế nào trong nông nghiệp cho thích hợp, hiệu quả, giúp tiết kiệm, bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe con người cho học sinh là cách gây hứng thú học tập, đồng thời giúp các em sử dụng những kiến thức thu thập được của mình qua bài học để trao đổi với bố mẹ và có những kiến thức giúp ích bản thân, xã hội.

Thực tế cuộc sống thì việc sử dụng phân bón hóa học không đúng hàm lượng, mục đích đã gây ra những bức xúc, lo ngại của cộng đồng đối với sức khoẻ con người và môi trường sống.

* Giải thích: Đất chua là đất có độ pH<7 (do dư thừa ion H+), đất chua gây ra nhiều bất lợi cho việc giữ gìn và cung cấp thức ăn cho cây, đồng thời làm cho đất ngày càng suy kiệt cả về lý tính, hóa tính và sinh học . Khi bón phân đạm có chứa ion NH 4+ ion này sẽ sinh thêm ion H+ theo phương trình NH 4+ “NH 3 + H+ ,làm tăng độ chua của đất.

Nguyên tố N có chức năng là đạm bị giải phóng ra dưới dạng NH 3 nên phân bón kém chất lượng. Tại sao trời rét đậm không nên bón phân đạm?

* Giải thích: Trời rét đậm không nên bón phân đạm cho cây vì phân đạm khi tan trong nước thu nhiệt làm nhiệt độ hạ, cây không hấp thụ được, có trường hợp cây còn bị ngộ độc và chết.

* Giải thích: Tưới nước giải chính là bón đạm cho cây vì trong nước giải có chứa hàm lượng ure

* Trả lời: Cần bón đủ liều lượng cho từng loại rau theo quy trình kĩ thuật. Tránh bón phân đạm quá mức sẽ gây tồn dư nitơ trong rau. Hàm lượng đạm (N0 3–) ở mứcbình thường khi hấp thu vào cơ thể con người không gây ngộ độc. Nó chỉ gây hại khi hàm lượng đó vượt quá ngưỡng cho phép. Bởi trong hệ tiêu hóa của con người khi hấp thụ N0 3–, từ N0 3– nó chuyển thành N0 2. Mà N0 2 là một trong những chất chuyển biến Hemoglobin (chất vận chuyển Oxi cho máu) chở thành Methahemoglobin (là chất không hoạt động); nếu ở mức độ cao nó dẫn đến triệu chứng suy giảm hô hấp của tế bào và làm tăng phát triển của các khối u. Đặc biệt trong cơ thể con người, nếu hàm lượng N0 3– cao nó sẽ kết hợp với amin bậc 2,3 để trở thành Nitroamin là tiền đề gây ra bệnh ung thư. Vì vậy tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo hàm lượng N0 3– trong sản phẩm rau tươi sống không vượt quá 300mg/kg rau tươi. Tuy nhiên từng loại rau khác nhau thì hàm lượng N0 3– được phép cũng khác nhau.

* Giải thích: Khi urê hòa tan trong nước thì thu một lượng nhiệt khá lớn, giúp hải sản giữ được lạnh và ức chế vi khuẩn gây thối do vậy hải sản không bị ươn, hỏng, làm cho hải sản tươi lâu.

Urê là chất rất tốt cho cây trồng nhưng không tốt cho con người, vì thế việc ướp hải sản bằng urê rất độc hại. Theo các tài liệu nghiên cứu thì khi ăn phải các loại hải sản có chứa dư lượng phân urê cao thì người ăn có thể bị ngộ độc cấp tính với các triệu chứng đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy và tử vong. Nếu ăn hải sản có hàm lượng urê ít nhưng trong một thời gian dài sẽ bị ngộ độc mãn tính, thường xuyên đau đầu không rõ nguyên nhân, giảm trí nhớ và mất ngủ.

*Giải thích: Phân lân nung chảy là muối trung hoà của cation một bazơ mạnh và anion gốc axit một axit trung bình nên có tính kiềm (pH=8), do vậy có tác dụng khử chua

Giải thích: Trong tro có chứa K 2CO 3 nên bón tro cho cây trồng là bón phân kali cho cây.

Phân bón hóa học có thể phá hủy hệ sinh thái và chuỗi thức ăn của vi sinh vật. Đất cần vi khuẩn để phân hủy các chất hữu cơ, đất tốt cần có 1 tỷ vi khuẩn trong 1 muỗng cà phê! Phân hóa học làm tăng lượng nitơ trong rễ cây; giun, vi khuẩn,… không thể sống trên đó, đất trở thành đất chết! Tệ hại hơn,việc phun bón thừa phân hóa học gây lắng đọng nitrat, ô nhiễm nguồn nước ngầm và môi trường xung quanh, dẫn đến bệnh chậm phát triển ở trẻ em và ung thư dạ dày, vòm họng ở người lớn. Do vậy khi bón phân hóa học cần chú ý:

Trần Thị Hải Minh-THPT Chuyên Vĩnh Phúc