Cách Chăm Sóc Cây Đào Ở Miền Nam / 2023 / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Duhocaustralia.edu.vn

Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Hồng Giòn Ở Miền Bắc / 2023

Chọn đất:

Ở các tỉnh miền Bắc, những vùng có độ cao trên 300m so với mực nước biển đều có thể trồng hồng được. Nhưng để có quả hồng chất lượng cao, nên trồng hồng ở những vùng có độ cao trên 500m. Đất có tầng canh tác dày 70cm, có mực nước ngầm thấp. Độ pH: 4.5- 6. Nếu đất có độ pH thấp quá, cần dùng vôi để nâng độ pH lên. Vùng trồng nhiều hồng giòn hiện nay tập trung ở Hòa Bình và Sơn La

Thiết kế vườn trồng: Tốt nhất các vườn quả được bố trí cạnh hoặc gần nguồn nước, chủ động nước tưới trong điều kiện khô hạn, có rãnh thoát nước chống úng trong mùa mưa lũ.

Trồng theo hướng Bắc Nam. Mục đích là để tạo khoảng cách giữa các cây thông thoáng, không bị lấp bóng lẫn nhau, giúp cây quang hợp và cành ngang phát triển tốt.

Thiết lập vườn quả trên đất dốc cần tạo các luống bậc thang rộng 3- 5m theo đường đồng mức.

Kỹ sư Đặng Đình Thắng khuyến cáo trồng cả giống hồng cho phấn( hồng chát) và giống hồng ta kinh doanh(hồng không chát) sẽ tốt hơn. Bởi vì nếu trồng duy nhất giống hồng giòn thì khả năng đậu quả rất kém, đặc biệt khi thời tiết bất thuận như độ ẩm đất cao làm cho giống hồng này rụng quả hàng loạt.

Trồng với tỷ lệ 1:10 tức một cây hồng chát, bố trí 10 cây hồng không chát.

Sau khi thiết kế vườn trồng xong, tiến hành đào hố để trồng. Với đất vườn, đào hố sâu 50 – 60cm và rộng 60 – 70cm. Với đất đồi, đào hố sâu 60 -80 và rộng 80 -100cm.

Để cây hồng phát triển tốt, trước khi trồng chúng ta cần bón lót cho cây.

Trồng cây:

Thời vụ trồng: tốt nhất là vào tháng 11, 12 dương lịch (thời kỳ cây hồng ngủ nghỉ).

Chọn những cây đạt tiêu chuẩn đem trồng: Sau một năm, gốc ghép có đường kính 1,5 – 2cm và đoạn cành ghép có chiều cao 20-25 cm trở lên.

Trong điều kiện thâm canh trung bình, vườn quả thiết kế cho kiểu tán hình phễu, có thể lựa chọn :

+ Mật độ trồng 400 cây/ha: Hàng cách hàng 5 mét, cây cách cây 5 mét đối với đất vườn.

+ Mật độ trồng 500 cây/ha: Hàng cách hàng 5 mét, cây cách cây 4 mét đối với đất đồi.

Trong điều kiện thâm canh cao, thiết kế vườn quả kiểu tán hình rẻ quạt hoặc kiểu chữ Y có hệ thống dây thép chống đỡ, có thể áp dụng: Mật độ trồng: 800 – 1000 cây/ha (2,5 – 3 x 5m).

Sau khi trồng, tiến hành tưới nước. Để cây không bị lung lay khi gặp mưa gió bão, dùng cọc hoặc que tre nhỏ cắm cố định cây lại. Sử dụng rơm rạ, cây cỏ hoạc các tàn dư thực vật có trong vườn để tủ xung quanh gốc. Mục đích để giữ ẩm, tránh cỏ dại, tránh rửa trôi và tránh xói mòn khi gặp mưa.

Sau trồng một hai năm đầu, cây hồng giòn chưa giao tán, giữa cách hàng cây chúng ta có thể trồng thêm cây họ đậu. Cây rau không những giữ được độ ẩm cho đất, tăng thêm sự màu mỡ mà còn giúp tăng thêm thu nhập cho bà con.

Quản lý vườn quả

Bón phân:

– Phân chuồng: 25 – 30 kg/ cây, bón bổ sung 2 – 3 năm một lần vào cuối mùa đông. – Cách bón: Bón sâu 5 – 10 cm xung quanh vùng tán cây, bón phân xong lấp lại. – Bón lần thứ 2: 1/3 lượng phân còn lại vào tháng 7 – 8. – Bón lần thứ nhất: 2/3 lượng phân trong năm vào cuối tháng 12 đến tháng 1 năm sau.

Làm cỏ:

Song song quá trình bón phân chúng ta tiến hành làm cỏ.

Ngoài ra, những năm lượng mưa xuân ít hoặc khô hạn, để đảm bảo năng suất và chất hồng chúng ta cần tưới đủ ẩm cho cây, nhất là thời kỳ ra hoa và phát lộc.

Đốn tỉa tạo hình:

Việc đốn tỉa giúp cây sự thông thoáng, các cành không bị che khuất lẫn nhau. Do vậy, không những giúp cây quang hợp tốt mà còn dễ phòng trừ sâu bệnh.

Trong giai đoạn thiết kế cơ bản: Sau trồng 6 tháng – 1 năm, cây phát triển được 50cm chúng ta tiến hành bấm ngọn để tạo cành khung cấp. Sau khi cành cấp 1 mọc được 40- 45cm đều ra các hướng chúng ta tiến hành cắt tiếp tạo ra cành cấp 2.

Thời gian đốn tỉa thích hợp nhất tỉa vào mùa đông cuối đông và mùa xuân.

Trong thời kỳ kinh doanh: đốn vào mùa đông và mùa hè.

Hồng có 3 kiểu đốn tỉa chính, kiểu hình phễu, hình chữ Y và tán rẻ quạt. Thông thường đốn tỉa theo kiều hình phễu là dễ đốn tỉa nhất và cho năng suất ổn định hơn kiểu tán kia.

Kiểu tán hình phễu chúng ta tiến hành đốn như sau: Giữ một thân chính cao 0,5m sau đó cắt ngọn. Để 3 – 4 cành cấp 1 phân bố đều ra các phía. Đốn khống chế các cành cấp 1 không dài quá 45 cm, tạo cành cấp 2. Giữ 4 – 6 cành cấp 2 phân bố đều ra 2 phía. Khi đốn dùng kéo cắt nghiêng một góc 45 độ, vết cắt gọn để hạn chế sâu bệnh qua vết cắt khi gặp mưa.

Đốn tạo quả:

Tỉa loại bỏ những cành yếu mọc tập trung, cành đã bị khô chết, cành vượt, duy trì kiểu tán như thời kỳ kiến thiết cơ bản (hình phễu hoặc rẻ quạt). Đốn một phần những cành mọc ngang quá dài, đối với kiểu tán hình phễu để lại dưới 60 cm, hình rẻ quạt dưới 40 cm.

Thời gian đốn: Đốn một lần trong năm vào thời kỳ ngủ nghỉ trong mùa đông.

Sâu bệnh hại hồng và biện pháp phòng trừ

Sâu ăn lá: hại hồng giòn chủ yếu vào cuối mùa xuân và đầu hè (từ tháng 4 – tháng 6), đặc biệt hại nặng thời kỳ kiến thiết cơ bản, cây phát triển nhiều ngọn chồi. Sâu non màu xanh nhạt, ăn trụi các búp non và các lá xung quanh búp, có thể gây chết cả cây thời kỳ kiến thiết cơ bản hoặc làm cây sinh trưởng chậm lại.

Bọ cánh cứng: xuất hiện vào mùa hè, gây hại chồi và lá, đặc biệt gây hại nặng cho các vườn hồng gần bìa rừng. Sâu có thể ăn trụi chồi và lá cây thời kỳ kiến thiết cơ bản, gây chết hoặc cũng làm chậm sinh trưởng.

Để phòng trừ sâu ăn lá và bọ cánh cứng hại cây, sử dụng thuốc Sherpa, Fastax pha theo nồng độ khuyến cáo.

Ruồi đục quả: Chúng ăn phần nhu mô quả, gây rụng quả ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cũng như chất lượng quả.

Để phòng ruồi đục quả, tiến hành đốn tỉa cho cây thông thoáng, hạn chế mầm vượt và trồi vượt; thu hoạch quả kịp thời; thu dọn hết quả rụng trên vườn, chôn sâu xuống đất cũng làm giảm ruồi đục quả.

Về bệnh, hồng giòn hay mắc bệnh giác ban và bệnh đốm tròn. 2 bệnh này thường xuất hiện vào những tháng có mưa nhiều đó là tháng 7 – 8 – 9.

Cách phòng: chăm sóc cây phát triển tốt, thường xuyên kiểm tra vườn quả loại bỏ toàn bộ cành bị bệnh thu gom về một khu vực để xử lý. Nếu làm tốt các khâu mà cây vẫn có bệnh, có thể dùng thuốc để phun: Kepanlazin, Bavectin, Dithan hoặc Booc-đô. Liều lượng và cách sử dụng thực hiện theo chỉ định của nhà sản xuất.

Hồng giòn là một trong những cây ăn quả cho giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao. Sau 3,5 – 4,5 năm bắt đầu cho quả bói, một cây cho khoảng 20 – 50kg với giá bán trung bình 20.000 đ/kg, trừ chi phí bà con có thể thu lãi 250 – 300 triệu đồng /ha. Nếu chăm sóc tốt những năm về sau sẽ cho thu hoạch nhiều quả hơn.

Kỹ Thuật Trồng Sầu Riêng Ở Miền Tây Nam Bộ / 2023

Trong 10 năm trở lại đây, sầu riêng là một trong những loại cây mang lại hiệu quả kinh tế rất cao và được mệnh danh là “cây tiền tỷ”, bởi lẻ chỉ với 1 ha sầu riêng, người nông dân đã có thể thu lãi từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng nếu chăm sóc đúng cách. Cây sầu riêng trồng được ở Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và cả Tây Nam Bộ. Tuy nhiên do điều kiện địa chất và khí hậu khác nhau nên ở mỗi vùng cần có những lưu ý riêng để đạt được hiệu quả kinh tế cao. Bài viết này tôi xin giới thiệu với các bạn về kỹ thuật trồng sầu riêng ở miền Tây Nam Bộ

Cây sầu riêng có thể sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ từ 24 – 30­ ­­­­­­ oC, độ ẩm không khí vào khoảng 75-80%. Khi cây ra hoa cần có nhiệt độ không khí từ 20-22 o C, ẩm độ 50-60%

Cây sầu riêng có thể trồng được ở nơi có lượng mưa từ 1.600-4.000 mm/năm , nhưng tốt nhất vào khoản 2.000 mm/năm. Cần chủ động được nguồn nước tưới trong những tháng mùa khô.

Kỹ thuật trồng sàu riêng không đòi hỏi khắc khe về cao độ. Tại Thái Lan trồng sầu riêng ở cao độ 30-300m so với mặt nước biển, tại Malaysia trồng sầu riêng ở cao độ 800m so với mặt nước biển, ở Việt Nam vùng Di Linh, Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng có cao độ vào khoảng 1.000m so với mặt nước biển cây sầu riêng vẫn phát triển tốt. Tuy nhiên, thời gian ra hoa ở vùng cao sau vùng đồng bằng từ 1 đến 2 tháng. Vì vậy, người dân ở vùng đồng bằng Tây Nam Bộ có thể tận dụng ưu thế này làm trái sớm để bán được giá cao.

Cây sầu riêng có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là đất thịt, thoát nước tốt, gần nguồn nước tưới. Đặc biệt sầu riêng là loại cây rất nhạy cảm với độ mặn, đất trồng và nguồn nước tưới tuyệt đối không được có hàm lượng muối cao hơn 0.02%. Người dân ở đồng bằng sông Cửu Long phải hết sức chú ý đến vấn đề này, chuẩn bị các thiết bị đo, theo dõi tình hình thủy văn và dự trữ nguồn nước tưới trong những tháng mùa khô (nước mặn xâm nhập).

Còn nhớ đợt hạn mặn đầu năm 2016 (là đợt hạn mặn nghiêm trọng nhất trong 100 năm qua) đã gây hậu quả vô cùng nặng nề cho các tỉnh miền Tây Nam Bộ, đã có 10 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long công bố thiên tai, trong đó các tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là Kiên Giang, Cà Mau, Bến Tre, Bạc Liêu,…

Kỹ thuật trồng sầu riêng yêu cầu đất trồng có độ PH từ 4.5 đến 6.5 nhưng nên điều chỉnh PH đất trong khoản 5.5 đến 6.5 để góp phần hạn chế sự phát triển của nấm Phytophthora-palmivora gây bệnh xì mủ thối rể hại cây (đây là loại dịch bệnh nguy hiểm nhất đối với cây sầu riêng, có thể làm chết cây trên diện rộng nếu không phòng trị đúng cách)

Cây sầu riêng ở vùng đồng bằng song Cửu Long chủ yếu được trồng trên nền đất phù sa (chiếm khoảng 30% diện tích) với đặt tính là thoát nước kém, cộng với hệ thống sông ngòi chằng chịt nên kỹ thuật trồng sầu riêng yêu cầu phải đắp đê, đào mương, lên liếp và đắp mô để đạt hiệu quả cao (cây sầu riêng chịu ngập úng rất kém). Các bạn cần đắp đê sao cho đảm bảo vườn cây không bị ngập úng vào các đợt triều cường hàng năm, đào mương rộng 1-2m, liếp rộng 6-7m nếu trồng hàng đơn hoặc 8-9m nếu trồng hàng đôi.

Mô sầu riêng được đắp với đường kính 1-1.2m, cao 0.6-0.8m. Không nên đắp mô quá lớn, vì trong 1-2 năm đầu, rễ cây chưa ăn ra đến phía ngoài sẽ dễ làm chai đất (nhất là với các vườn sử dụng phân bón hóa học thường xuyên). Thay vào đó chỉ đắp mô vừa phải kết hợp bón phân hữu cơ và bồi mô hàng năm sẽ giúp cây sầu riêng phát triển tốt hơn.

Công đoạn này khá tốn kém, trung bình mỗi ha mất từ 30-50 triệu đồng tùy vào vị trí và hiện trạng đất trước khi cải tạo. Tuy nhiên, điều này tạo ra một lợi thế lớn so với vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, đó là việc xử lý cho trái nghịch vụ hàng năm. Sầu riêng nghịch mùa thường có giá bán rất cao, từ 80-120 nghìn/kg (cao gấp 2-3 lần chính vụ). Nếu được chăm sóc tốt, vườn cây đạt năng suất cao có thể mang về lợi nhuận trung bình 100 triệu đồng/1.000m 2 (tham khảo Kỹ thuật xử lý sầu riêng nghịch vụ)

Cây sầu riêng thuộc họ gòn, nên thân mềm dễ gãy đỗ. Vì vậy. nếu các bạn trồng ngoài đồng trống cần chọn các loại cây khác có chiều cao hợp lý, gỗ chắc, khó ngã đổ để trồng quanh vườn làm cây chắn gió.

Sầu riêng là cây lâu năm, tán rộng vì vậy kỹ thuật trồng sầu riêng ở đồng bằng sông Cửu Long thông thường là 8 x 8 m/cây, tương đương mật độ 170 – 200 cây/ha. Tuy nhiên, xu thế hiện nay là trồng với khoản cách vừa phải (có thể là 7 x 7 thậm chí 6 x 6) để tận dụng diện tích đất (diện tích đất nông nghiệp/đầu người thấp) kết hợp với khống chế chiều cao của cây để tiện cho việc chăm sóc, tiết kiệm chi phí và đạt hiệu quả cao.

Hiện nay trên thị trường có nhiều giống sầu riêng, tuy nhiên để đạt hiệu quả cao các bạn nên chọn những giống đã được đông đảo người tiêu dùng ưa chuộng như Ri6, Monthong, Chín Hóa hay chuồng bò hoặc các giống mới nhiều tiềm năng như Musang King, sầu riêng không mùi,…

Hoa sầu riêng có thể tự thụ phấn hoặc thụ phấn chéo, nhưng trái sầu riêng tự thụ phấn sẽ nhỏ và dễ bị méo mó hơn thụ phấn chéo. Vì vậy kỹ thuật trồng sầu riêng yêu cầu trồng ít nhất 2 giống trong cùng một vườn xen kẻ lẫn nhau để tận dụng việc thụ phấn chéo. Cần dựa vào điều kiện sản xuất và mục đích kinh tế để lựa chọn giống phù hợp (tham khảo Kỹ thuật chọn giống sầu riêng). Có thể bố trí giống theo các mô hình gợi ý như sau:

Sơ đồ 1: bố trí 2 giống với số lượng cây ngang nhau trên vườn.

Sơ đồ 2: Bố trí 2 giống sầu riêng trên vườn, cứ 2 hàng giống A (giống chủ lực) thì 1 hàng giống B.

Cây sầu riêng có thể trồng được quanh năm, nhưng nên trồng vào đầu mùa mưa để giảm bớt chi phí chăm sóc.

Để cây phát triển tốt kỹ thuật trồng sầu riêng yêu cầu đào hố trồng trên mặt mô với kích thước 0.6 x 0.6 x 0.6 m, xử lý thuốc sát trùng và phơi đất từ 20-30 ngày trước khi xuống giống. Khi trồng cần bón lót 100-200g phân lân vào đáy mỗi hố trông, dùng 5-10 kg phân hữu cơ đã ủ oai với nấm trichoderma trộn với đất tốt để trồng cây. Đặt cây con vào hố trồng, lắp đất ngang mặt bầu cây con, cắm cọc giúp cây khỏi đổ ngã, che bớt ánh sáng và tưới nước ngay sau khi trồng.

Chú ý khi vận chuyển cây ra vườn trồng và khi tháo bỏ bao ni-lông phải thật cẩn thận để không làm tổn thương cây con, khi che nắng cho cây con không che quá 50% ánh nắng mặt trời (tốt nhất là che 30% nắng, ưu tiên che phía mặt trời lặn). Sau khi trồng cây xong cần dùng rơm hoặc cỏ khô phủ kín mô đất một lớp dày 10-20cm để giữ ẩm cho đất, cách gốc cây 10-50 cm tùy cây lớn hay nhỏ để hạn chế nấm bệnh tấn công gốc cây.

Trong thời gian cây sầu riêng chưa khép tán, cỏ dại phát triển mạnh, kỹ thuật trồng sầu riêng khuyến khích tận dụng không gian để trồng xen các loại cây ngắn ngày phù hợp để nâng cao hiệu quả, lấy ngắn nuôi dài hoặc ưu tiên diệt cỏ bằng phương pháp thủ công.

Lan Rừng Miền Nam Việt Nam / 2023

Theo Helmut Bechtel (1982), hiện nay trên thế giới có hơn 700 giống lan rừng gồm 25.000 loài được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ lan lai không thể thống kê chính xác số lượng.

Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 5 khu vực:

– Châu Á nhiệt đới gồm các giông Bulbophylium, Calanthe, Coelogyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Vanda, Phalaenopsis.

– Châu Mỹ nhiệt đới gồm các giống Brassavola, brassia, Catasetụm. Cattleya, Cynoches, Pleurothailiis, Stanhopea, Zygopetalum.

– Châu Phi gồm các giống Lissochius, Polystachiya, Ansellia, Disa

– Châu Úc gồm các giống Bulbophyllum, Calanthe, Cymbidium, Dendrobium, Eria, Phaius, Pholidota, Sarchochiius, Spatìioglottis. Riêng Tân Ghi nê trên 2.500 loài trong đó phần nhiều là Dendrobium và Bubophyllum.

– Vùng ôn đới của châu âu, Bắc Mỹ và Đống Bắc á châu gồm các giống Cypripedium. Orchis, Spiranthes.

Việt Nam là một nước Đông Nam Á nằm trong khu vực cháu Á nhiệt đới, là một trong hai khu vực tập trung nhiều lan đẹp nhất trên thế giới: châu Á và Nam Mỹ

Theo Phạm Hoàng Hộ (1993) lan rừng Việt Nam được biết gồm hơn 750 loài khác nhau, phần giới thiệu sau đây chỉ tập trung vào một số loài lan có hoa đẹp, trữ lượng nhiều, có triển vọng kinh doanh trong lĩnh vực thương mại trong tương lai.

Mỗi loài lan rừng đều yêu cầu một điều kiện sinh thái nhất định, ngoại trừ một vài loài lan có khá năng thích nghi biên độ khí hậu rộng. Thường mỗi loài dều cự ngụ tại nguyên quán thích hợp. Các nhà săn lan nhận thây rằng các vùng ven suối vùng trũng, trong rừng sâu mật độ lan cao hơn và mất hẳn khi gần trảng trống, Tuy nhiên, ơ mức độ giới hạn nào đó, càng vào sâu trong rừng mật dộ lan sẽ giảm dần, cũng phải kể một trường hợp cá biệt khác là loài Hạc đỉnh chỉ mọc trên các trảng trống trong rừng, xen kẽ vổi các loài cỏ dại.

Rừng Việt Nam có nhiều loài lan quý nhưng chưa được quản lý và khai thác một cách hợp lý. Điển hình nhất là loài lan hài Hồng Paphiopedilum Delenatii. Trước đây nhiều nước yêu cầu Việt Nam xuất khẩu sang cho họ loài lan này, nhưng giờ không tìm ra. Đến năm 1993 khi phát hiện loài lan này thì thương nhân Đài Loan đã mang về nước họ gần 3 tấn (khoáng 100.000 cây) làm Việt Nam mất hàng triệu Đôla. Đây là loài lan quí, nhưng vì chưa có chính sách quản lý nên nhiều người xuất lậu dưới dạng bán kg. Một sự thất thoát tài nguyên vô lý ! Tháng 2/1995 nhiều chủng loại lan rừng Việt Nam được trưng bày tại TOKYO (Nhật Bản) và dã gây được sự chú ý của giới lan chuyên nghiệp trên thế giới, Đầu năm 1997 Canada cũng mời Việt Nam trưng bày, và giới thiệu một số mẫu lan rừng nhưng chúng ta không tham gia được.

Với sộ lượng 500 loài của riêng các tỉnh miền Nam, chưa kể một số loài do điều kiện chiến tranh chúng ta chưa tìm kiếm được. Việt Nam cũng thuộc là một trong những nước có lan nhiều trên thế giới.

Về màu sắc, lan Việt Nam có nhiều màu từ nhạt sang dậm, màu trắng tuyền như’ loài Thạch hộc (Dendrobium crumenatum), Tuyết Ngọc (Coelogyne mooreana) Màu vàng như các loài Kim Điệp (Dendrobium capillipes). Màu cam như Ascocentrum miniatum. Màu đổ như Huyết nhung (Renanthera coccinea). Màu hồng như Hồng lan (Cymbidium insigne). Màu trắng xanh như Mỹ dung dạ hương (Vanda denisoniana). Màu cà phê sữa như Hạc đỉnh (Phaius Tankervilliae) Màu nâu như Đoản kiếm (Cymbidium aloifolium) màu tím hoa cà như Giả hạc (Dendrobium anosmum) (Chỉ riêng màụ đen không xuất hiện trên bất kỳ một loài lan nào, ở Việt Nam hay trên thế giới?). Với một số lượng màu đa dạng như vậy, nếu được lai tạo lan Việt Nam sẽ có một tổ hợp về màu sắc rất phong phú. Chưa kể một số loài lan khảm có sẳn trong thiên nhiên như loài Đuôi cáo (Aerides multiflora) Ngọc điểm (Rhynchostylis gigantea), cểm báo (Hygrochilus parishii), Bò cạp (Arachnis annamensis), Long nhãn kim điệp (Pendrobium fimbriatum) Thái bình (Dendrobium pulchellum).

Về độ bền của lan, Việt Nam có nhiều giống lan rừng nở trên 2 tháng như Mỹ dung dạ hương, Huyết nhung, Hoàng lan, Hồng lan… Có loại trung bình 1- 2 tuần như Long tu (Dendrobium primulinum), Kim điệp, Đuôi cáo, Ngọc điểm… Thậm chí có loài chỉ nở một ngày như loài Thạch hộc.

Về kích thước, lan rừng Việt Nam có nhiều loài hoa bé như các loài của giống Eria. Các loài khác có kích thước trung bình. Một vải loài có kích thước lớn hơn 10cm như Hạc đỉnh, Huyết nhung, Mỹ dung dạ hương.

Về hương thơm, đây là ưu điểm chính của các loài lan Việt Nam. So với các loài lan lai, lan rừng Việt Nam có kích thước bé hơn nhưng nhờ đa sô’ có mùl thơm nên vẫn hấp dễn các người ái mộ như Mỹ dung dạ hương, Hạc đỉnh, Đuôi cáo, Ngọc điểm. Thạch hộc, Thanh ngọc, Nhất điểm hồng, Giả hạc…

Lan Việt Nam là lạn của vùng nhiệt đới chịu ảnh hưởng bởi 2 mùa nắng mưa rõ rệt, vì thế đa số các loài lan mỗi năm chỉ cho một kỳ hoa, trừ loài Thạch hộc có thể nở bất kỳ trong năm. Mùa nở hoa tập trung vào 2 thời kỳ vào khoảng tháng 2 (tức tết âm lịch) và tháng 4 trong mùa nắng do sự thọ hàn và quang kỳ tính và tháng 7 tháng 8 do sự khô hạn.

Với các đặc điểm trên, lan Việt Nam là nguồn thuận lợi để lai giống lan, nếu chúng dược khai thác đúng mức trên khía cạnh di truyền học.

Có thể tạm chia lan rừng của các tỉnh miền Nam làm 4 khu vực khác nhau : 1. VÙNG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

Đây là vùng rừng khô đã bị khai thác nhiều lần, tầng trên còn ít gỗ quí, tầng dưới là các loại gỗ tạp mới tái sinh, trải dài từ biên giới Cambodia đến biển Đông như các vùng : Xuyên Mộc, Bình Giả, Mã Đà, Lộc Ninh…

Ớ đây lan mọc nhiều nhất trên các cây Vừng (Careya arborea) Cây Râm (Anogeissus acuminata). Rải rác lan cũng mọc trên vỏ cây các loài khác như Sến mủ (Shorea roxburghii). Sao (Hopea odorata), Thành ngạnh (Cratoxylon sp.) Bằng lăng (Lagerstroemia sp), Dầu con rái (Dipterocapus alatus).

Vùng này tập trung các loài có hoa đẹp như :

– Đuôi cáo (Aerides miltiflora) – Ngọc điếm (Rhynchostylis gigantea) – Giáng Hương (Aerides fcdcata). – Đuôi chồn (Rhynchostylis retusa). – Hỏa hoàng (Ascocentrum miniatum)

Vùng này còn có một loài lan đất là lan Bầu rượu (Calanthe cardioglossa) có nhiều ở trên các sườn núi đá ớ Vũng Tàu, Bà Rịa, Long Khánh.

Ngoài ra ở đây còn có một sô loài khác, không có giá trị về phương diện thẩm mỹ như:

– Tổ Yến (Acriopsis indica): Xuân Lộc. – Chân rết (Appendicula cornuta): gần suối. – Sậy lau (Arundina graminifolia): gần suối. – Thanh hoàng (Calanthe graminifolia): Vũng Tàu. – Lọng lan (Bulbophylỉum eberhardtii): gần suối. – Hoàng yến (Coelogyne massengeana): Định Quán. – Thanh đạm xanh (Coelogyne brachyptera): gần suối. – Đoản kiếm (Cymbidium aloifolium): khắp nơi. – Thanh ngọc (Cymbidium ensifolum): suối. – Bạch câu (Dendrobium crumenatum): khắp nơi. – Nhất điểm hồng (Dendrobium draconis): khắp nơi. – Tép dẹp (Dendrobium flabellum): gần suối. – Ý thảo (Dendrobium gratiosissimum): khắp nơi. – Vảy rùa (Dendrobium nathanìelis): Long Khánh – Báo hỉ (Dendrobium secundum): khắp nơi. – Nỉ lan (Eria globilifera): khắp nơi. – Cành giao (Luisia psyche): Đồng Nai – Da beo (Staurochilus fasciatus): Gần suối – Bắp ngô (Acampe rigida): khắp nơi.

2. VÙNG TRUNG NGUYÊN

Đây là vùng có cao độ trung bình 700 – 1.000 m . Nhờ nhiệt độ thấp, khí hậu ẩm mát, địa hình nhiều đồi núi. Rừng bị khai thác nhiều lần, nếu rừng nguyên thủy bị xâm chiếm bởi các rừng tre, lồ ô, thông 2 lá, ở đây còn có rừng hỗn giao giữa rừng thông 2 lá và dầu trà beng. Điều lưu ý là lan không bao giờ mọc ở rừng tre và hiếm khi mọc ở rừng thông. Nhiều nhât ở rừng diệp loại và rải rác ở rừng hỗn giao, nhưng cây chủ vấn là cầy diệp loại.

Ớ vùng này, đa số các loài lan mọc trên các loại cây chủ yếu sau đây : như Cà chắc (Shorea obtusa), cẩm liên (Swrea siamensis) Cà gần (Terminalia tomentosa) Chò xót (Schima crenata Korth) Các loại Dẻ sồi (Quercus, lithocarpus…), Sao (Hopea odorat), Sến (Shorea roxburghii) Vừng ( Carey a aborea) các loài trâm, các loài Bằng lăng, Thành ngạnh vì có vỏ láng và thay vỏ hàng năm nên các loài lan chỉ mọc được trong các bọng cây. Một số loài phong lan và địa lan lại mọc trên đá, ven suối. Vùng này có các loài địa lan mọc trên các vùng đầm lầy, trong các thung lũng giữa các dãy núi.

Đây là vùng tập trung nhiều giống Dendrobium có hoa đẹp nhất Việt Nam. Một tập đoàn Dendrobium gồm các loài: Lụa vàng (D.heterocarpum), Hoàng phi hạc (D. signatum) Thủy tiên các loại (D.densiflorum, D.haveynum, D. farmeri, D. thyrsiflorum), Long tu (D.primulinum), Kim điệp (D.capillipes) mọc xen kẽ nhau trên cóc cây dẻ, sồi trâm trong các quần thể rừng diệp loại, dọc theo triền núi, khe suối. Loài

Nhất điểm hồng (D.draconis) trên các cây Dầu trà beng hoặc Dầu đồng, Dẻ trong các rừng hỗn giao. Loài Giả hạc (D.anosmum) nhiều nhất trên cây cà chí, đôi khi trên các cây giẻ sồi, một số ít mọc trên đá, nhiều nhất ở vùng Tam Bố (Lâm Đồng) trải dài theo hướng Tây qua biên giới tỉnh Đắc Lắc rải rác loài này cũng mọc dọc đèo Ngoạn Mục, Đơn Dương, nhưng loại ở đây trổ hoa chậm sau tết 15 ngày. Loài Long nhãn kim điệp (Dendrobium fimbriatum) hầu như chỉ mọc trên đá dọc suôi ở Di Linh, loài Ý thảo (D.gratiosissimum) mọc trêncác cây Dẻ về phía Đông hướng về Phan Rang, Phan Thiết. Loài Đại ý thảo (D.aphyllum) chưa bao giờ được tìm thấy trên độ cao khỏi đèo Bảo Lộc. Loài Vảy cá (D.lindleyi) có ở Liên Khàng và Phi vàng. Loại Thạch hoa (D.linguella) hiếm gặp, loài Huyết nhung (Renanthera imschootiaha) mọc trên các cây Dẻ sồi, gần bờ suối, hoặc trên vách đá lưng chừng xuống chân núi. Loài Bò cạp (Arachnis annamensis) mọc trên các dông núi vùng rừng rậm có nhiều ở núi vôi, loài Mỹ dung dạ hương (Vanda denisoniana) chỉ mọc từ Di Linh đến Đơn Dương, Ca-đô có nhiều, loài này mọc nhiều trên cây Keo dậu, ở các đồn điền như Phi Vàng. Loài Đuôi cáo mọc nhiều trên các cây rừng thưa từ đèo Phú Hiệp đến thác Pông-gơ. Loài Hạc đỉnh (Phaius tankervilliae) mọc ở trảng trống trong rừng vùng đầm lầy hay vùng trũng thường mọc chung với loại lan khác là Ngãi Bưởi (Dipodium paludosum) rất thơm và loài Cau diệp ngà (Spathoglottis eburhea), có nhiều từ Di Linh đến Lang Hanh, vùng Tàu, có một đồng băng dài 10 – 50 km trước đây có rất nhiều hạc đỉnh.

Hiện nay khu rừng này đã bị phá và làm lúa. Loài Vân hài (Paphiopedilum cailosum) mọc trên đất dựa suôi hoặc ven các dầm lầy với các loài Hạc đỉnh và Ngài bưởi. Loại kim hài (Paphiopedilum Villosun) mọc nhiều thành từng dám trên thân cây Dẻ, Loại Xích thử mọc trên cây li hi, từ đèo Ông Cố đến Lang Hanh. Loài Bầu rượu cò nhiều ở Phương Lâm và núi Chứa Chan. Một loài đặc biệt chỉ mọc trên cây thông là loài Bạch Hỏa hoàng (Dendrobium bellatulum)

3. VÙNG CAO NGUYÊN

Đâylà vùng có cao độ trên l.000m, nhờ khí hậu lạnh ẩm, điều hòa, địa hình đồi núi, đây là nơi ưu thế ciia rừng thông 3 lá. Tuy nhiên các loài lan chỉ xuất hiện ở các thung lũng hoặc trên sườn núi có nhiều cáy diệp loại như sồi, dẻ.

Vùng này có các loài lan được biết đến là :

Hồng lan (Cymbidium insigne) mọc trên đất thường chung với cỏ tranh trên các dòng núi. Loài Hoàng lan (Cymbidium iridioides) mọc trên các bọng cây hoặc các cồy bạch tùng (Podocarpus imbricatus) có nhiều rêu vùng rừng rậm. Loại Hổng hoàng (C.insigne x.c.iridioides) một cây lan lai tự nhiên giữa Hoàng lan và Hồng lan thường mọc trên các cây bạch tùng. Loài Bạc lan (Cymbidium erythrostylum) loài Tử cán (Cymbidium dayanum) loài Thanh lan (CymbidiUììì cyperifolium) hiếm hơn được trồng có hoa rất thơm từ Đà Lạt. Loài Tuyết ngọc (Coelogyae mooreana) và nhiều loài Coelogyne khác có nhiều ờ núi Bà Laubiang và các thác, thung lũng ẩm. Loại Nhất điểm hoàng (Dendrobium flavum) có trên các cây Sồi Dẻ ở đèo Pren và Đà Lạt.

4. VÙNG NAM VÀ TRUNG TRUNG BỘ

Đây là vùng tập trung nhiều loài lan qúy và đặc hữu của Việt Nam. Nếu đi từ Ninh Thuận, Khánh Hòa về phía cao nguyên Buôn Mê Thuột thì sự xuât hiện của các loài lan gần giống vùng Bảo Lộc – Di Linh với các loài Thủy Tiên, Nhât điểm hồng; Loài Ngọc Bích (Rhynchostylis coelestis) chỉ mọc trong các kiểu rừng bán thay lá từ Bình Thuận đến Khánh Hòa – Loài Ngọc điểm từ Bình Tuy kéo dài đến Nha Trang ra tận nhừng đáo xa, ngược lêu sông Krõng Bách ân giáp qua Tô hợp, Ngọc Điểm ơ đày có trữ lượng rất lớn khoảng vài chục vạn cây và có cả loài Ngọc điểm trắng. Vùng này bị ảnh hướng của gió biển nhiều nên lan mọc rất thấp dưới 5m dễ lấy và thường mọc trên gộp đá có rêu. Vùng đèo Đại Lảnh, từ cầu sắt đến Đồ Sơn cạnh hồ sen có một loài Hài màu trắng chưa định danh khá đẹp.

Ở Dục Mỹ, vùng Hòn tre, Hòn ngang có loài Giá Hạc. Nếu qua khỏi đèo Phượng Hoàng, vùng Khánh Dương có các loài Thúy tiên tím (Dendrobium amabile), Hoàng Thao Xoán (Dendrobium tortile) Tím Huế (Dendrobium hercoglossum). Tại vùng giáp ranh giữa Ninh Thuận – Khánh Hòa và Đaklak còn có các loài lan đăc hừu và quý hiếm như :

Hài Hồng (Paphiopedilum delenatii). Huyết Nhung giún (Renanthera coccinea) Huyết Nhung trơn (Renanthera imshootiana) Thái Bình (Dendrobium pulchellum) Đơn Cam (Dendrobium unicum)

Trong vùng này còn có hai loài lan mới vừa được công bố trên thế giới năm 1993 bởi Tiến sĩ Haager (Viện Hàm Lâm Khoa Học Tiệp Khắc)

Loài thứ nhất là Ascocentum christensonianum (Tứ Hoàng) mọc trong rừng bán thay lá gió mùa, Phan Rang ở dộ cao 100 – 150m, ở dây chúng mọc chung vối loại Ngọc điểm (Rhynchostyiis gigantea), Điểu lan (Dendrobium delacourii),… loài này còn gặp ở Buôn Ya Vầm (Đaklak).

Loài thứ hai là Christensonia vietnamien (Uyên Ương) mọc trong rừng ẩm cao độ l00m, dọc theo suối Ea Dong gần làng Ninh Tây (Khánh Hòa). Loài này còn gặp ở cấc khé suôi dọc theo dèo Mang Yang (Gia Lai). Đây là một giống lan mới cho thế giới được đặt tên cho Tiến sĩ Eric A. Ghristenson, một chuyên gia lan nổi tiếng của thế giới về tông Aeridinae. Hiện loài này đã được lai tạo thành công ở Việt Nam.

Thực ra, từ năm 1984 loài này đã được chúng tôi mang về trồng tại thành phố Hồ Chí Minh từ nhà một người bạn ở Phan Rang. Và vì lần đầu tiên ra hoa tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ có hai hoa nên chúng tôi đặt tên là “Uyên Ương” vả tặng cho nghệ nhân

Nguyễn Văn Để một trong nhiều cây đem về. Năm 1990, một trong những cây đó đã đoạt giải nhất hội thi lan rừng nhân kỷ niệm 19/5 – 100 năm ngày sinh Hồ Chủ Tịch vì vậy nó có tên là “Cù lao Minh” quê hương của nghệ nhân Nguyễn Văn Để, hiện là phó chủ tịch Hội hoa lan cây cảnh thành phố Hồ Chí Minh.

Chăm Sóc Dâu Tây Ở Miền Bắc Theo Cách Của Chimi Farm / 2023

Dâu tây là thực vật hạt kín với vị vừa chua lại ngọt, mùi thơm nhẹ, được nhiều người ưa thích vì giá trị dinh dưỡng cao và mẫu mã đỏ mọng đẹp mắt. Dâu tây có nguồn gốc từ vùng khí hậu ôn đới và được người Pháp đưa vào trồng ở Đà Lạt từ những năm cuối thế kỷ 19, do khí hậu ở Đà Lạt mát mẻ quanh năm rất thích hợp với loại cây này.

Cách chăm sóc dâu tây ở Miền Bắc có khó không? Là câu hỏi được nhiều người quan tâm, vì miền Bắc thường có khí hậu khắc nghiệt hơn mùa hè thì nắng nóng gay gắt, mùa đông thì giá lạnh. Nhưng hiện nay với khoa học kỹ thuật phát triển một số nhà vườn ở phía Bắc đã trồng thử nghiệm rất thành công cây dâu tây cho ra trái chất lượng không thua kém gì Đà Lạt.

Dâu tây có rất nhiều giống nhưng các loại hay được trồng và thích hợp với khí hậu ở Việt Nam nhất là của Mỹ đá, New Zealand và Nhật. Các giống dâu của Nhật thường có độ ngọt đậm hơn so với hai giống còn lại.

Điều kiện phát triển: Là loại cây chịu hạn kém và ưa ẩm bạn nên trồng cây ở nơi thoáng mát, nhiều ánh sáng như ban công, vì khi thiếu ánh nắng dâu tây sẽ bị bệnh vàng lá và khó phát triển. Nhưng lưu ý thời gian chiếu sáng cũng không được quá 12 tiếng/ngày sẽ khiến cây phát triển tốt nhưng lại không ra trái.

Loại đất tốt cho dâu tây là đất tơi xốp, bạn có thể dùng đất thường sạch trộn thêm xơ dừa và phân bón, trấu. Bạn có thể mua các loại phân hữu cơ bón cho cây dâu tây ở bất cứ cửa hàng phân bón nào, nhưng lưu ý nên bón với lượng vừa phải để tránh cây bị xót. Trước khi trồng bạn trộn đều đất, trấu, xơ dừa và các loại phân bón với liều lượng phù hợp. Thường khi bạn mua cây giống tại các cửa hàng thì bầu cây dâu tây cũng đã được ươm sẵn trong đất và có phân bón. Bạn chỉ cần thi thoảng bón thêm phân hữu cơ bổ sung dinh dưỡng cho cây khoảng 10 ngày/lần. Dâu tây là loại cây quả mọc thấp sát gốc, nên bạn có thể rải thêm một lớp rơm để nâng đỡ quả và giữ độ ẩm cho cây.

Được nhiều người biết đến với tên gọi Trang trại dâu tây lớn nhất Việt Nam. Nên Chimi farm cũng thường xuyên nhận được những câu hỏi của những người quan tâm và muốn tìm hiểu về cây dâu tây, câu hỏi cách chăm sóc dâu tây ở Miền Bắc đang được nhiều người quan tâm nhất hiện nay.

Dâu tây là loại cây thích hợp ở nơi có nhiều ánh nắng, nhưng lại ưa ẩm bạn cần tưới nước 2 lần/ngày, tưới nước cho đất thật ẩm vào sáng sớm và chiều khi đã tắt nắng. Nếu trồng ở nhà bạn có thể tận dụng nước vo gạo tưới cây, các chất dinh dưỡng trong nước gạo sẽ giúp cây phát triển tốt. Tuy nhiên lưu ý chỉ tưới nước gạo lúc cây mới trồng, khi cây đã phát triển tốt chỉ nên tưới nước bình thường.

Sau một thời gian trồng cây cho ra hoa thì bạn nên ngắt chùm hoa đầu tiên để kích thích những bông hoa sau ra tốt hơn. Đến khi ra quả bạn nhớ quan sát thường xuyên để tránh sâu bệnh ăn, hướng quả ra ngoài thành chậu để quả phát triển tốt. Bạn nên ngắt bỏ lá, hoa, quả để cây tập trung dinh dưỡng nuôi quả được tốt hơn.

Khi bạn thấy ra ngó dài nếu muốn nhân giống cây thì có thể đợi ngó dâu tây ra rễ trắng dài khoảng 0,5cm thì bạn mua viên nén ươm hạt (trong viên ươm đã có sẵn các thành phần và chất dinh dưỡng) có bán sẵn tại các cửa hàng cây giống và phân bón. Bạn chỉ cần ngâm viên ươm vào nước cho nở ra rồi cắm rễ của ngó dâu tây vào viên, bạn không nên tách cây sớm vì lúc này chưa đủ dinh dưỡng để tự nuôi, đợi cho ngó dâu tây phát triển thành cây con cứng cáp rồi mới tách ra khỏi cây mẹ.

Trong thời gian đang chuẩn bị ra hoa và quả bạn nên bón thêm các loại phân hữu cơ nhưng lưu ý không bón quá nhiều sẽ khiến cây chết. Nếu không muốn cây bị sâu bệnh hại bạn cần thường xuyên theo dõi nếu thấy có biểu hiện thì nên bắt sâu thủ công, thường xuyên tỉa bớt lá già, lá vàng hay lá bị sâu ăn.