Xu Hướng 2/2024 # Thị Trường Phân Bón Tháng Đầu Năm 2024 # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thị Trường Phân Bón Tháng Đầu Năm 2024 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thị trường phân bón thế giới tiếp tục trầm lắng kể từ cuối năm 2024, mặc dù giá có tăng tại một số thị trường, nhưng không bền vững do các nước bước vào kỳ nghỉ Lễ Giáng sinh và Tết Dương lịch. Thị trường phân bón trong nước nhu cầu tiêu thụ chậm lại. Tại các khu vực lượng hàng tồn kho đang ở mức cao, các doanh nghiệp đều tập trung giải phóng hàng tồn kho. Dự kiến trong thời gian tới nhu cầu tiêu thụ sẽ không đột biến do cả nước bước vào kỳ nghỉ Tết Nguyên đán 2024.

Trên thị trường thế giới, tại Mỹ giá phân bón tăng nhẹ trung bình 5% ở hầu hết các chủng loại. Kết thúc tuần đến ngày 11/1/2024, trong 8 loại phân bón chính thì có tới 7 tăng giá. Cụ thể, DAP tăng 3 USD lên 508 USD/tấn; MAP tăng nhẹ lên 533 USD/tấn; Kali tăng 6 USD lên 381 USD/tấn; phân hỗn hợp 10-34-0 tăng 6 USD lên 461 USD/tấn; UAN28 tăng 6 USD đạt 267 USD/tấn và UAN tăng 2 USD lên 304 USD/tấn. Tuy nhiên, giá ure giảm nhẹ so với tháng trước xuống còn 407 USD/tấn.

Căn cứ vào giá cơ sở N, giá ure bình quân ở mức 0,44 USD/lb; N, anhydrous là 0,35 USD/lb; N, UAN28 0,48 USD/lb và N, UAN32 0,47 USD/lb.

Nếu so sánh với cùng kỳ năm 2024, thì tất cả 8 loại phân bón chính hiện đều tăng, theo đó UAN28 tăng 22%; UAN32 tăng 18%; ure tăng 17%; phân hỗn hợp 10-34-0 tăng 13%; DAP tăng 11%; Kali tăng 10% và MAP tăng 9%.

Trước đó, kết thúc năm 2024, chỉ số giá phân bón tháng 12/2024 chỉ đạt 89,41 điểm, giảm 75,11 điểm (tương đương 3,97%) so với tháng 11/2024 là 93,11 điểm và giảm 20,64% so với tháng 12/2024.

Theo Dow Jones, trong tuần đầu tháng 1/2024 Công ty Mosaic đã ký kết bản ghi nhớ (MOU) với Sinochem – công ty nông nghiệp lớn nhất của Trung Quốc. Sinochem dự định mua đá phốt phát và phân lân, bao gồm các sản phẩm cao cấp từ Mosaic.

Các điều khoản và điều kiện mua hàng sẽ được nêu trong hợp đồng riêng giữa hai công ty.

Theo nguồn tin từ Argus Media, Công ty Dầu khí nước Cộng hòa Azerbaijan (SOCAR) đã ra mắt sản phẩm phân bón ure được sản xuất tại một nhà máy với công suất 2.000 tấn/ngày.

Nhà máy này của một doanh nghiệp trong ngành công nghiệp lớn nhất ở Sumgayit (Azeberbaijan), nhưng không thuộc ngành công nghiệp dầu mỏ với tổng chi phí của dự án khoảng 800 triệu euro (910 triệu USD). Nhà máy có thể sản xuất 650 – 660 nghìn tấn ure dạng hạt/năm bằng khí đột tự nhiên với 435 triệu m3/năm.

Hiện tại, nhu cầu ure của Azebaijan là 150 nghìn tấn/năm, nhưng cũng có thể tăng lên 200 nghìn tấn/năm khi nhà máy này đi vào vận hành. Nhà máy mới sẽ đáp ứng đủ phân ure cho thị trường nội địa và khoảng 70% dự kiến sẽ được xuất khẩu, theo báo cáo của SOCAR. Cũng theo SOCAR, việc ure được sản xuất trong nước sẽ giúp giảm chi phí nhập khẩu lên tới 90 triệu USD/năm.

Tại thị trường nội địa, dẫn nguồn tin từ Apromaco, nhu cầu tiêu thụ chậm, các khu vực lượng hàng tồn kho ở mức cao, các doanh nghiệp tập trung giải phóng hàng tồn kho.

Tại Lào Cai:

Trong thời gian 15 ngày đầu năm 2024 thị trường phân bón tại Lào Cai tiếp tục diễn biến chậm. Giá và lượng hàng phân bón nhập khẩu chững lại do nhu cầu tiêu thụ thấp.

Trong thời gian tới bên phía Trung Quốc chuẩn bị vào kỳ sản xuất mới, Dự kiến ngày 20/01/2024 nhà máy sản xuất Amoni clorua Đông Xuân sẽ hoạt động trở lại sau thời gian bảo dưỡng.

Thời điểm hiện tại giá cả vẫn chưa có nhiều đột biến, lượng nhập khẩu trong kỳ chủ yếu vẫn là mặt hàng DAP Vân Thiên Hóa ủy quyền Traco điều chuyển thẳng Hải Phòng và bên phía đối tác Trung Quốc trả hàng theo hợp đồng đã ký.

Tình hình nhập khẩu các loại mặt hàng qua cửa khẩu Lào Cai như sau:

– Mặt hàng phân bón DAP nhập khẩu giảm mạnh về số lượng, các đơn vị nhập khẩu tạm dừng nhập khẩu do nhu cầu tiêu thụ thấp và giá đang có chiều hướng giảm tại các khu vực miền Nam.

– Mặt hàng MAP tạm dừng nhập khẩu, các doanh nghiệp chưa ký hợp đồng mới do nhu cầu tiêu thụ thấp.

– Mặt hàng NPK 16-44-4 tạm dừng nhập khẩu.

– Mặt hàng Lân trắng tạm dừng nhập khẩu do các đơn vị đã hết giấy phép nhập khẩu.

– Mặt hàng Amoni clorua đang triển khai về hàng. Trong thời gian tới do giá cả giảm mạnh và lượng hàng tồn kho tương đối cao các doanh nghiệp hầu như tạm dừng để giải phóng hàng tồn kho.

– Mặt hàng phân bón Amonium sulphate (SA): Do giá cả trong thời gian qua liên tục giảm mạnh khiến lượng hàng nhập khẩu không nhiều, các doanh nghiệp đã ký kết hợp đồng với đối tác Trung Quốc hiện đang triển khai về hàng.

Giá đầu vào của một số mặt hàng theo hợp đồng thương mại hai bên tham khảo tại thời điểm cụ thể như sau:

Tại Hải Phòng:

Các mặt hàng phân bón tại thị trường Hải Phòng chững lại và có xu hướng giảm giá so với cùng kỳ tháng trước.

Tại Đà Nẵng:

Khu vực Duyên hải miền Trung đang chuẩn bị vào vụ chăm bón, nhu cầu mua bán đang được tăng nhanh, một số mặt hàng tiếp tục đang được điều chỉnh giảm như: Urea và Kali

Giá tham khảo một số mặt hàng phân bón bán ra thị trường tại khu vực Đà Nẵng như sau:

Tại Quy Nhơn & các tỉnh Tây Nguyên:

Bước vào những ngày đầu năm mới 2024, thị trường phân bón khu vực Quy Nhơn hết sức trầm lắng, quy luật thời tiết, mùa vụ, thị trường diễn biến trái chiều và rất khó dự đoán.

Những ngày cuối tháng 12/2024, các tỉnh đồng bằng duyên hải Miền trung & Tây Nguyên bị ảnh hưởng bởi những cơn bão xuất hiện và đổ bộ vào đất liền. Mưa bão, lũ lụt trái mùa làm ảnh hưởng đến việc thu hoạch nông sản của bà con nông dân, sản xuất nông nghiệp bị đình trệ nên nhu cầu sử dụng phân bón đã chậm lại.

Bên cạnh đó giá nông sản thấp cộng với việc giá các loại phân bón đang có xu hướng giảm khiến các đại lý chưa mạnh dạn nhập hàng về kho.

Giá tham khảo một số mặt hàng phân bón bán ra tại thị trường Quy Nhơn:

Tại TP. Hồ Chí Minh & Đồng bằng Nam bộ:

Toàn bộ các tỉnh miền tây đã xuống xong giống cho vụ đông xuân nên nhu cầu phân bón cho vụ đông xuân thấp. Tại thành phố Hồ Chí Minh giá tương đối ổn định, lượng hàng giao dịch ít.

Cụ thể giá các loại hàng hóa tại thời điểm như sau:

Nguồn: Vinanet

Tổng Hợp Thị Trường Phân Bón Giữa Tháng 6

Giá mặt hàng Urea trên thị trường quốc tế tiếp tục có nhiều biến động do nhu cầu tại một số khu vực đang tăng cao trong khi nguồn cung về mặt hàng này đang hạn chế. Thị trường trong nước, nguồn cung phân bón ổn định, giá các loại mặt hàng phân bón trong kỳ không có nhiều thay đổi.

Tại Lào Cai

Lượng hàng nhập khẩu trong kỳ vẫn chủ yếu dựa trên các Hợp đồng nhập khẩu DAP. Mặt hàng Amonium Sulphate (SA) giá cả vẫn trong trạng thái ổn định.

Tình hình nhập khẩu các loại mặt hàng qua cửa khẩu Lào Cai như sau:

– Phân bón DAP lượng nhập khẩu trong kỳ khoảng 11.500 tấn.

– Mặt hàng MAP tạm dừng nhập khẩu.

– Mặt hàng NPK 16-44-4 tạm dừng nhập khẩu.

– Mặt hàng Lân trắng tạm dừng nhập khẩu

– Mặt hàng Amoni Clorua lượng nhập khẩu trong kỳ khoảng 1.000 tấn.

– Mặt hàng phân bón Amonium Sulphate (SA) giá cả ổn định. Lượng hàng nhập khẩu trong kỳ khoảng 1.000 tấn.

Giá đầu nhập của một số mặt hàng theo hợp đồng thương mại tham khảo như sau:

Tại Đà Nẵng & Duyên hải miền trung:

Khu vực Duyên hải Miền Trung đang trong giai đoạn xuống giống cho vụ Hè Thu. Tình trạng nắng nóng kéo dài khiến nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp đang bị hạn chế.

Giá tham khảo một số mặt hàng phân bón bán ra thị trường tại khu vực Đà Nẵng như sau:

Tại Quy Nhơn & khu vực Tây Nguyên

Khu vực Tây Nguyên bắt đầu bước vào mùa mưa nhưng lượng mưa không nhiều cũng tác động một phần tới việc chăm sóc và sản xuất nông nghiệp. Giá các loại phân bón bán ra tại Quy Nhơn và khu vực Tây nguyên tương đối ổn định.

Giá tham khảo một số mặt hàng phân bón bán ra thị trường tại Quy Nhơn & khu vực Tây Nguyên như sau:

Tại TP. HCM & khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Giá tham khảo một số mặt hàng phân bón bán ra tại TP. HCM và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long như sau:

Nguồn: Apromaco

Thị Trường Phân Bón: Ổn Định Giá

(Nguồn: Công thương) Theo ghi nhận, thị trường phân bón đầu vụ hè thu trên cả nước thời điểm này khá dồi dào về chủng loại, nguồn cung; giá cả có xu hướng giảm so với cùng kỳ các năm trước.

Giá ‘hạ nhiệt” tại khu vực ĐBSCL

Tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nhu cầu phân bón cho vụ hè thu ổn định, giá các chủng loại phân bón ít biến động. Lý giải về nguyên nhân phân bón giữ giá này, các chủ đại lý phân bón cho rằng, dù nhu cầu tiêu thụ đang tăng do nhiều tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL bước vào vụ sản xuất lúa hè thu 2024 nhưng giá nhiều loại phân bón vẫn có xu hướng giảm do nguồn cung dồi dào và thị trường có sự cạnh tranh giữa nhiều loại phân bón khác nhau. Hơn nữa, gần đây do sức tiêu thụ phân bón không tăng mạnh như mong muốn, nhiều cửa hàng kinh doanh vật tư nông nghiệp cũng chủ động giảm giá để dễ bán hàng, nhất là đối với khách mua trả tiền ngay. So với cùng kỳ năm trước, giá nhiều loại phân bón đang thấp hơn từ 40.000 – 60.000 đồng/bao.

Tương tự tại nhiều cửa hàng vật tư nông nghiệp (VTNN) trên địa bàn chúng tôi Lãnh (Đồng Tháp), hiện phân bón đạm Cà Mau giá dao động từ 375.000 – 380.000 đồng/bao (50kg), đạm Phú Mỹ giá 390.000 đồng/bao; giá các loại DAP dao động từ 530.000- 610.000 đồng/bao; kali hạt nhuyễn bột 372.000 đồng/bao; kali hạt miểng 402.000 đồng/bao; kali trắng 445.000 đồng/bao. Đối với phân urê Trung Quốc giá 350.000 đồng/bao; urê Ninh Bình 365.000 đồng/bao…

Ghi nhận tại Bình Định cũng có nhiều biến chuyển. Các năm trước, khi bước vào vụ sản xuất hè thu, thường thì giá các loại phân bón trên thị trường có sự biến động lớn, giá tăng do nông dân ồ ạt mua dự trữ để bón cho cả vụ. Tuy nhiên, trong vụ hè thu này, giá trên địa bàn tỉnh khá ổn định do nguồn cung dồi dào. Ông Trần Ngự Vũ- Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Kim Vũ Bích- kinh doanh phân bón ở thị xã An Nhơn- cho biết: Để cung ứng cho vụ sản xuất hè thu, đơn vị đã chuẩn bị được khoảng 7.000 – 8.000 tấn phân các loại, gồm: urê, ka li, DAP, SA, lân, NPK… Riêng đối với mặt hàng phân urê, gần đây, do giá phân trên thị trường thế giới giảm kéo theo giá urê trong nước cũng giảm từ 100 – 150 đồng/kg. Dự báo giá phân urê sẽ còn tiếp tục giảm trong thời gian tới do nguồn cung dồi dào và sự cạnh tranh của hàng phân bón nhập khẩu giá rẻ. Các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật hiện cũng đang giữ mức giá ổn định do nguồn nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất rất phong phú, dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt về giá giữa các công ty trong và ngoài nước.

Nhập khẩu tăng, xuất khẩu giảm

Cùng với câu chuyện giá phân bón trong nước có xu hướng giảm từ đầu năm đến nay, lượng nhập khẩu phân bón cũng tăng, đồng thời xuất khẩu giảm. Theo số liệu thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, tháng 3/2024, cả nước đã nhập khẩu 281,2 nghìn tấn phân bón các loại, trị giá 86,9 triệu USD tăng 25,3% về lượng và tăng 21,5% về trị giá so với tháng 2. Con số này nâng lượng phân bón nhập khẩu từ đầu năm đến hết tháng 3 lên 829,9 nghìn tấn, trị giá 257,3 triệu USD, tăng 6,4% về lượng và tăng 2,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2014.

Ngược lại với nhập khẩu, 3 tháng đầu năm, cả nước đã xuất khẩu 164,6 nghìn tấn phân bón, trị giá 59,4 triệu USD, giảm 38,3% về lượng và giảm 36% về trị giá so với cùng kỳ, tính riêng tháng 3/2024, lượng phân bón xuất khẩu đạt 77,9 nghìn tấn, trị giá 26,5 triệu USD, tăng 187,1% về lượng và tăng 165,5% về trị giá so với cùng kỳ.

Nguyễn Duyên

Tổng Quan Thị Trường Phân Bón Hiện Nay

1. Diễn biến thị trường trong nước

Theo ước tính từ Tổng cục Thống kê, sản xuất phân Urê tháng 5/2013 đạt khoảng 177,7 nghìn tấn, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm ngoái, đưa tổng sản lượng sản xuất Urê 5 tháng đầu năm 2013 đạt 855,3 nghìn tấn, tăng 58,7% so với cùng kỳ năm 2012; sản xuất phân hỗn hợp NPK tháng 5/2013 đạt 227,7 nghìn tấn, giảm 11,5% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2013 sản xuất phân hỗn hợp NPK đạt 972,7 nghìn tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước.

– Diễn biến giá

Nửa cuối tháng 5 đầu tháng 6/2013, thị trường phân bón vẫn khá ảm đạm. Nhu cầu phân bón vẫn ở mức thấp, nguồn cung khá dồi dào, giá thế giới tiếp tục giảm. Giá phân bón biến động nhẹ nhưng chủ yếu vẫn trong xu hướng giảm, đặc biệt là giá Urê Trung Quốc. Nhiều khả năng tình hình này có thể còn tiếp tục trong thời gian tới. Cụ thể như sau:

Tại các tỉnh phía Bắc, nhu cầu phân bón giảm do đã hết vụ chăm bón, giá Urê giảm mạnh, đặc biệt là Urê Trung Quốc. Cụ thể: giá Urê Phú Mỹ giảm 50 đồng/kg, xuống còn 9.850-9.900 đồng/kg; Urê TQ giảm 275 đồng/kg, xuống còn 8.800-8.900 đồng/kg.

Trái ngược với giá thế giới, tại nhiều địa phương ơ miền trung và miền nam giá Urê lại tăng nhẹ. Cụ thể, tại Đà Nẵng, giá Urê Phú Mỹ tăng 100 đồng/kg, lên 10.000-10.050 đồng/kg; Urê TQ giảm 100 đồng/kg, xuống còn 9.100-9.250 đồng/kg.

Tại Quy Nhơn giá Urê Phú Mỹ tăng 50 đồng/kg, lên 9.000 – 9.150 đồng/kg; giá Urê TQ ổn định ở mức 9.000 – 9.100 đồng/kg.

Tại TP.Hồ Chí Minh, giá Urê Phú Mỹ tăng 40 đồng/kg, lên 9.700 – 9.750 đồng/kg; giá Urê Trung Quốc giảm 290 đồng/kg, xuống còn 8.900 – 8.920 đồng/kg.

Tại Tiền Giang, giá phân bón vẫn khá ổn định, giá Urê Phú Mỹ là 9.900 đồng/kg; giá Urê Trung Quốc là 9.100 đồng/kg.

– Dự báo: Nhu cầu phân bón trong thời gian tới có thể sẽ tăng nhưng do nguồn cung phân bón khá dồi dào, giá thế giới vẫn chưa ngừng giảm, nên giá phân bón trong thời gian tới vẫn sẽ ổn định, thậm chí có thể giảm.

Tham khảo giá bán lẻ một số chủng loại phân bón tại các tỉnh thành trong nửa đầu tháng 5

2. Tình hình nhập khẩu phân bón 5 tháng đầu năm 2013

Theo số liệu thống kê ước tính, nhập khẩu phân bón của Việt Nam tháng 5/2013 ước đạt khoảng 350 nghìn tấn, kim ngạch 142 triệu USD, tăng 6% về lượng và tăng 7,6% về kim ngạch so với tháng trước. Lũy kế nhập khẩu phân bón 5 tháng đầu năm 2013 đạt 1,43 triệu tấn, kim ngạch 583,3 triệu USD, tăng 25,2% về lượng và tăng 14,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, nhập khẩu Urê tháng 5/2013 đạt 24 nghìn tấn với kim ngạch 11 triệu USD, giảm 45,1% về lượng và giảm 31,2% về kim ngạch so với tháng trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2013 nhập khẩu Urê đạt gần 90 nghìn tấn, kim ngạch 35,27 triệu USD, giảm 34% về lượng và giảm 39% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu DAP tháng 5/2013 đạt khoảng 39 nghìn tấn, kim ngạch 18 triệu USD, giảm 31,2% về lượng và giảm 40,5% về kim ngạch so với tháng trước, lũy kế 5 tháng đầu năm 2013 đạt 268 nghìn tấn, kim ngạch 141 triệu USD, tăng 40,0% về lượng và tăng 28,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2012; nhập khẩu SA tháng 5/2013 đạt 57 nghìn tấn, kim ngạch 12 triệu USD, đưa tổng SA 5 tháng đầu năm 2013 lên 363,04 nghìn tấn, kim ngạch 75,16 triệu USD, tăng 11,9% về lượng nhưng lại giảm 5,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.

3. Thị trường phân bón thế giới

Thị trường phân bón thế giới vẫn khá trầm lắng mặc dù được hỗ trợ từ một số tín hiệu tích cực như hồ sơ mời thầu mới từ Ấn Độ và Mexico cùng với đó là giá dầu tăng. Giá Urê tiếp tục giảm ở nhiều khu vực, đặc biệt giá Urê hạt trong tại Trung Quốc giảm 8,5% so với nửa đầu tháng 5/2013, xuống còn 315-330 USD/tấn; Giá Urê hạt đục tại Vịnh Mỹ giảm 11,2%, xuống còn 330-333 USD/tấn(CFR). Nguyên nhân khiến giá giảm mạnh là do áp lực dư cung lớn trong khi nhu cầu nhập khẩu về cơ bản là rất yếu. Giá một số chủng loại phân bón cụ thể như sau:

Tại Yuzhny giá Urê hạt trong giảm 7,9% so với kỳ trước, xuống còn 320-325 USD/tấn (FOB); tại Trung Quốc giảm 8,5%, xuống còn 315-330 USD/tấn; tại Brazil giảm 6,9%, xuống còn 350-355 USD/tấn; tại Baltic giảm 8,5%, xuống còn 315-320 USD/tấn (CFR).

Giá Urê hạt đục tại Ai Cập giảm 5,2%, xuống còn 360 USD/tấn; Vịnh Mỹ giảm 11,2%, xuống còn 330-333 USD/tấn; tại Iran giảm 2,8%, xuống còn 340-345 USD/tấn; tại Vịnh Ả Rập giảm 4,9%, xuống còn 330-335 USD/tấn (CFR).

Giá DAP thế giới tiếp tục giảm do nhu cầu vẫn chưa được cải thiện trong khi nguồn cung vẫn khá dồi dào. Tại Vịnh Mỹ giá DAP giảm 2,9%, xuống còn 470 – 477 USD/tấn; tại Tampa giảm 1%, xuống còn 485-490 USD/tấn; tại Baltic giảm 2,6%, xuống còn 470-475 USD/tấn.

Dự báo, giá Urê sẽ tiếp tục chịu sức ép do dư cung lớn và nhu cầu vẫn chưa được cải thiện.

Tham khảo giá một số chủng loại phân bón trên thị trường thế giới trong trong nửa cuối tháng 5 năm 2013

Sản lượng Urê tháng 4/2013 của Trung Quốc đạt 6,53 triệu tấn, cao kỷ lục và vượt 21,5% so với tháng trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm, sản xuất Urê tại Trung Quốc đạt 24,06 triệu tấn, tăng 13,8% so với cùng kỳ.

Nhiễu Loạn Thị Trường Phân Bón, Thuốc Trừ Sâu

Nhiễu loạn thị trường phân bón, thuốc trừ sâu

Với quá nhiều chủng loại phân bón và thuốc trừ sâu, nông dân khó tìm được sản phẩm chất lượng phục vụ sản xuất.

Thời điểm này, nông dân miền Trung đang bước vào vụ Đông Xuân – vụ lúa quan trọng nhất trong năm. Đây cũng là lúc thị trường phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sôi động hơn bao giờ hết nhưng đi cùng đó là nỗi lo phân bón giả, thuốc trừ sâu kém chất lượng quay trở lại với nông dân.

Nông dân và cơ quan quản lý đều cho rằng kiểm soát chất lượng các mặt hàng này thực sự là điều vô cùng khó khăn. Một trong các nguyên nhân là thị trường phân bón, thuốc trừ sâu luôn ở trong tình trạng nhiễu loạn chủng loại mặt hàng. Nhiều nông dân thừa nhận, đầu vụ sản xuất như hiện nay đến bất kỳ cửa hàng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật nào cũng hoa mắt trước quá nhiều mặt hàng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật được bày bán.

Trên 3.500 tên thương mại thuốc bảo vệ thực vật có không dưới 6.000 sản phẩm phân bón. Đây chỉ là con số thống kê còn thực tế chắc chắn nhiều hơn. Chỉ riêng điều này đã đủ thấy việc quản lý thị trường phân bón, thuốc bảo vệ thực vật là điều không hề dễ dàng. Hơn nữa, số lượng cơ sở kinh doanh mặt hàng này chỉ riêng một địa phương như tỉnh Phú Yên đã lên đến con số 600 cơ sở.

Việc quản lý mặt hàng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật được tăng cường vào thời điểm đầu vụ sản xuất như hiện nay. Tuy nhiên, không ít nông dân buộc chấp nhận thực tế rất có thể phân bón, thuốc bảo vệ thực vật mua về không tác dụng, nhưng lại không dám phản hồi bởi đa phần đều mua nợ các đại lý.

Nguồn: vtv.vn

Phản hồi của bạn đọc

 

Họ tên:

Email:

Nội dung:

Mã bảo vệ:

FMR0VP

Bài viết khác

Thị Trường Phân Bón Quốc Tế Tuần Từ 07/04

Việc tăng giá nhiều nhất vẫn là ở Mỹ, các nước khác cũng bắt đầu mua vào, và tại thị trường châu Á, Mỹ Latinh sẽ cung cấp một lượng hàng vững chắc cho nhu cầu Ure tháng năm và tháng 6.

Bên cạnh Ấn Độ, Pakistan cũng đang lên kế hoạch đấu thầu cho Ure để giao hàng trong mùa hè này. Thái Lan đang bước vào vụ mùa cao điểm và sẽ yêu cầu ít nhất 250.000 tấn/tháng Ure hạt đục cho tháng 5-tháng 6.

I/THỊ TRƯỜNG URÊ        Urê hạt trong:

Yuzhny: 493 – 500 đô/tấn fob                         Baltic: 500 – 505 đô/tấn fob

Trung Quốc: 460 – 465 đô/tấn fob                   Brazil: 503 – 505 đô/tấn cfr.

Urê hạt đục:

Vịnh Ả Rập: 455 – 745 đô/tấn fob                   Iran: 430 – 450 đô/tấn fob

Ai Cập: 575 – 705 đô/tấn fob                        Vịnh Mỹ: 667 – 777 đô/tấn cfr

Giá Ure đã tăng lên cao hơn nữa trong tuần này đạt 500 đô/tấn fob cho Ure hạt trong của Nga và Ucraina. Đây là mức đỉnh của Baltic và Biển Đen vào năm 2011.

Trong tháng Brazil nhu cầu tăng lên ít nhất 200.000 tấn và Mexico cần thêm 4 – 5 lô hàng cho tháng 5. Trong khi một số miễn cưỡng mua mức 500 đô/tấn fob cho ure hạt trong.

Các thương nhân Trung Quốc đã bắt đầu mua Ure trên thị trường địa phương để xuất khẩu trong tháng 7. Thay vì chờ đợi đến cuối mùa xuân thì mức giá sẽ giảm, họ đã mua lên đến 100.000 tấn ure với giá hiện hành. Lý do chính là sức mạnh của thị trường quốc tế đang tăng cao.

Giá ure hạt đục tiếp tục mức độ tăng nhanh, mặc dù tháng 3 ở mức rất thấp, nhưng hiện tại đã đạt mức lịch sử. Bán hàng nhanh tại Mỹ và Canada tiếp tục ở mức trên 700 đô/tấn fob tại Ai Cập cho số lượng nhỏ. Người mua tại Mỹ Latinh được trả mức 530 đô/tấn cfr cho Ure hạt đục.

Tại FSU, Đông Âu:

Yuzhny: Thị trường Ure yên tĩnh bất thường. Các nhu cầu đã bán cho tháng 4, hạn chế tháng 5. Cả NF và DniproAzot cũng không được cung cấp Ure. AFT bán 3.000 tấn Ure ở mức 493 đô/tấn fob đến Israel, hiện đang tiếp nhận hồ sơ dự thầu ở mức 500 đô/tần fob, trong khi yêu cầu là 510 đô/tấn fob.

Romania: Interagro đã bán Ure trong tuần này, di chuyển ở mức 490 – 495 đô/tấn fob. Bắt đầu tuần này đã ở mức 540 đô/tấn fob.

Baltic:

Giá Ure đã di cuyển lên 505 đô/tấn fob trong tuần này, bằng mức đỉnh điểm trong tháng 6 và tháng 9 năm 2011.

Uralchem: Đã bán 25.000 tấn Ure hạt trong đến Keytrade ở mức hơn 500 đô/tấn fob tại St Peterburg.

Acron: Được cung cấp 19 – 20.000 tấn ure hạt trong ở mức 505 đô/tấn fob.

Sibur: Có 25.000 tấn Ure hạt trong bán cho lô hàng tháng 5 đến Kotka. Giá ý tưởng trên 500 đô/tấn fob.

Châu Phi:

Ai Cập: Helwan đã mời thầu cho 5.000 tấn vào ngày 1/5

Mopco: Tổ chức đấu thầu 1.500 tấn Ure hạt đục còn lại trong kho. Trammo đã mua với mức 700 đô/tấn fob.

Trung Đông:

Sản xuất đã bán hết cho tháng 4, và không có sẵn để cung cấp Ure cho tháng 5. Việc mua tại chỗ ở mức 600 đô/tấn fob cho Mỹ, đã tăng kỳ vọng cho các nhà sản xuất và rất khó để xác định giá cho các thị trường khác. Cung cấp ở Thái Lan tương đương với 505 – 515 đô/tấn fob, nhưng không có bán hàng thực tế ở cấp đó. Hàng hoá hợp đồng ở mức gần 450 – 460 đô/tấn fob. Bán hàng tịa Nam Mỹ phản ánh mức 490 – 495 đô/tấn fob tại Ả Rập.

Iran: Emmsons có khoảng 100.000 tấn ure của Shiraz để tải cho Ấn Độ. Hồ sơ dự thầu cho Ure hạt đục đã di chuyển lên 430 – 450 đô/tấn fob.

Châu Á:

Ấn Độ: Emmsons được để cử Diana Bolton để tải 30.000 tấn Ure tại Iran cho Kandla. Sẽ có hồ sơ dự thầu mới trong tuần tới.

Thái Lan: Ure đang trở nên chặt chẽ cho tháng 4 và tháng 5. Hàng hoá ợp đồng trong tháng 4 ở mức 450 đô/tấn cfr tại Chia Tai đã được bán với mức giá tương đương 485 đô/tấn cfr, nhưng giá đang vẫn tiếp tục di chuyển lên.

Thương nhân được cung cấp hàng hoá tại chỗ ở mức 530 – 540 đô/tấn cfr cho tháng 5. Một hàng hoá Ure hạt đục của Iran đã được cung cấp tại 480 đô/tấn cfr. Giá sẽ phải tăng lên cả ở nhập khẩu, thị trường dự kiến sẽ hoạt động nhiều hơn khi các lễ hội Songkran kết thúc.

Trung Quốc: Các công ty Trung Quốc đã bắt đầu mua Ure từ các nhà sản xuất cho cả thị trường nội địa và xuất khẩu cho tháng 7. Trước đây, các thương nhân đợi chờ cho giá nội địa giảm, nhưng bây giờ quyết định mua với giá hiện hành vì thị trường Ure quốc tế đang tăng cao.

CNAMPGC đã mua 60 – 70.000 tấn Ure từ các nhà máy khác nhau.

Các nhà sản xuất đang bán với mức 2.170 – 2.180 nhân dân tệ/tấn, không có giá cả được thoả thuận về đồng đô la cho xuất khẩu, tương đương với mức 445 đô/tấn fob tại các cảng biển.

Khoảng 15.000 tấn Ure hạt đục đã được cung cấp từ kho ngoại quan với mức 510 đô/tấn fob. Đây là số lượng Ure còn lại từ cửa sổ thuế xuất khẩu năm 2011 cho người mua Thái Lan.

Philipines: Nhà nhập khẩu đã mua 5 – 6.000 tấn Ure hạt trong ở mức 458 – 459 đô/tấn cfr.

Việt Nam: Giá Ure Trung Quốc tái xuất từ Hải Phòng đã vững chắc đáp ứng với giá cao hơn tại Trung Quốc, giá chào bán Ure hạt trong đã di chuyển lên 465 đô/tấn fob trong tuần này.

Indonesia: Indevco đã mua 30.000 tấn Ure hạt đục từ Kaltim ở mức 470.10 đô/tấn fob.

Châu Mỹ:

Mỹ: Các sà lan đã hoạt động chậm lại so với việc kinh doanh dữ dội từ tuần trước. Người mua vẫn phải đối mặt với mức giá cộng với phí bảo hiểm 700 – 710 đô/tấn fob tại Nola.

Trammo đã bán Ure hạt đục của Ai Cập ở mức 690 đô/tấn fob

Canada: Trammo đã bán được 5 – 10.000 tấn Ure hạt đục ở mức giá trở lại trên 700 đô/tấn fob tại Ai Cập.

Brazil: Heringer đã mua 25 – 30.000 tấn Ure hạt trong từ một thương gia ở mức 502 – 503 đô/tấn cfr.

Uruguay: Isusa đã mua 8.000 tấn Ure hạt đục của Trung Đông từ Indagro ở mức 500 đô/tấn cfr.

II/THỊ TRƯỜNG PHOSPHATE

Giá DAP tại một số thị trường:

Vịnh Mỹ: 470 – 480 đô/tấn fob                         Baltic: 505 – 565 đô/tấn fob

Brazil: 550 – 560 đô/tấn cfr                               Trung Quốc: 530 – 540 đô/tấn cfr.

PhosAgro đã đặt 600.000 tấn DAP cho nhu cầu của Mỹ Latinh. Các nhà sản xuất của Nga bán cho thương nhân tại 550 đô/tấn fob cho lô hàng tháng 5, trong khi Brazil trả 560 đô/tấn cfr. Các nhà sản xuất cam kết hàng hoá thoải mái cho tháng 5.

Thị trường phosphate hoạt động mạnh ở phái Tây của kênh đào Suez với nhu cầu hiện rất cao cho cả MAP và TSP. PhosChem đã bán gần 30.000 tấn chủ yếu là DAP của Argentina ở mức 563 đô/tấn cfr, tổ chức xuất khẩu 525 đô/tấn tại Tampa, tăng 20 đô/tấn so với tuần trước

Nhu cầu của Brazil duy trì thông qua tháng 5, được bán ở mức 560 đô/tấn.

Giá tại Ấn Độ đã di chuyển đến gần 550 đô/tấn cfr. Giá tại trong nước Trung Quốc giảm nên các nhà sản xuất chú ý đến xuất khẩu hơn. Những lô hàng xuất khẩu cho đến tháng 9 sẽ ít hơn 4.1 triệu tấn so với năm 2011 do chi phí sản xuất.

Giá sà lan tại Mỹ đã di chuyển lên đến 475 – 480 đô/tấn fob tại Nola. Nhu cầu tại châu Âu và châu Úc là không nhiều.

III/THỊ TRƯỜNG POTASH

Giá hợp đồng tại một số nơi trên các thị trường:

Vancouver: 450 – 455 đô/tấn fob                   FSU: 420 – 425 đô/tấn fob

Ấn Độ: 490 – 530 đô/tấn cfr                                            Israel: 440 – 445 đô/tấn fob

Tuần trước, nhu cầu cho MOP tại Brazil và Mỹ tăng cao. Canpotex báo cáo rằng kể từ khi kết thúc hợp đồng tại Trung Quốc đã có một lượng đáng kể potash được mua ở châu Á và Mỹ Latinh.

Biểu đồ 3: Biểu đồ so sánh giá MOP

Nhu cầu tại Brazil lên đáng kể. Nhu cầu trong Q.2 là cực kỳ mạnh mẽ và nhu cầu mạnh mẽ này được dự kiến sẽ tiếp tục thông qua quý thứ 3. Canpotex đã đóng cửa bán hàng với khách hàng truyền thống của Brazil vào tháng 4 và tháng 5, hy vọng giá sẽ tăng trong thị trường này ít nhất là 550 – 560 đô/tấn cfr.

Biểu đồ 3: Biểu đồ MOP

Trung Quốc: Có những báo cáo rằng Quinghai đã tăng giá MOP lên 50 nhân dân tệ/tấn, sau khi trở lại sản xuất sau mùa đông. BPC cũng sẽ tăng giá DAF qua biên giới khoảng 10 đô/tấn có hiệu lực từ ngày 01/5.

Ấn Độ: Người mua đang từ từ trở lại thị trường và nâng khối lượng hợp đồng. Ước tính có khoảng 2 triệu tấn hợp đồng MOP vẫn phải vận chuyển đến 30/6.

               

IV/THỊ TRƯỜNG SULPHUR

Giá hợp đồng Sulphur tại một số thị trường:

Vancouver: 195 – 198 đô/tấn fob    Vịnh Mỹ: 180 – 185 đô/tấn fob

Trung Quốc: 205 – 215 đô/tấn cfr    Trung Đông: 180– 200 đô/tấn fob

                Giá tại Trung Đông được chấp nhận bởi mức 195 đô/tấn fob cho các lô hàng hợp đồng Q.2 tại Saudi và Kuwait. Cấp độ này tương đương với 212 – 215 đô/tấn cfr tại Paradeep hoặc 220 – 225 đô/tấn cfr tại các cảng Trung Quốc. ADNOC đã đóng cửa ở Bắc Phi cho Q.2 ở gần mức giá fob này, tương đương với 220 đô/tấn cfr.

Biểu đồ 4: Biểu đồ so sánh giá Sulphur.

Nhu cầu ở Bắc Phi cao hơn, cung cấp chặt chẽ ở Trung Đông do hạn chế nghiêm trọng về khả năng vận chuyển đường sắt.

Giá trong nước tại Trung Quốc giảm ở mức 205 đô/tấn cfr. Hàng hoá nhập khẩu mới đã được để ở mức 220 đô/tấn cfr. Tuy nhiên, tuần này các thương nhân chỉ trả 215 đô/tấn cfr.

Các nhà cung cấp Sulphur được khuyến khích bởi giá quốc tế ngày càng tăng trong thị trường DAP.

Apromaco

Cập nhật thông tin chi tiết về Thị Trường Phân Bón Tháng Đầu Năm 2024 trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!