Xu Hướng 12/2022 # Sản Xuất Và Sử Dụng Phân Bón Lá Ở Việt Nam (Tl Tham Khảo) / 2023 # Top 21 View | Duhocaustralia.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Sản Xuất Và Sử Dụng Phân Bón Lá Ở Việt Nam (Tl Tham Khảo) / 2023 # Top 21 View

Bạn đang xem bài viết Sản Xuất Và Sử Dụng Phân Bón Lá Ở Việt Nam (Tl Tham Khảo) / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Mở đầu

Phân bón lá được sử dụng ở Việt Nam từ đầu những năm 1980 của thế kỷ trước, tuy nhiên phải đến năm 2000, thuật ngữ phân bón lá mới được chính thức đề cập trong các văn bản pháp qui của Nhà nước. Vai trò của phân bón lá ngày càng tăng do việc sử dụng lâu dài các nguyên tố dinh dưỡng đa, trung lượng mà không có bổ sung các chất vi lượng; hơn nữa, nhiều nguyên tố, nhất là vi lượng dễ bị kết tủa khi thay đổi môi trường đất, rửa trôi… nên việc đưa các nguyên tố này vào cây trồng thông qua lá là phương pháp hiệu quả. Hầu hết phân bón lá cho hiệu lực nhanh, kinh tế hơn bón vào đất do cây sử dụng đến 95% lượng dinh dưỡng bón vào, trong khi hệ số sử dụng phân bón tương tự khi bón vào đất chỉ đạt 45-50%, thậm chí thấp hơn.

Một trong những nguyên nhân cơ bản là cây trồng tiếp nhận dinh dưỡng do bón qua lá với diện tích bằng 15 – 20 lần diện tích đất ở tán cây che phủ. Như vậy, mục tiêu chính khi sử dụng phân bón lá là:

– Bổ sung thêm các chất dinh dưỡng còn thiếu mà đất và phân bón đa lượng không thể cung cấp đủ;

– Giúp cây trồng khắc phục các hạn chế khi việc cung cấp dinh dưỡng qua đất bị ảnh hưởng của nhiệt độ, cường độ chiếu sáng, phản ứng của đất, hoặc xuất hiện các yếu tố dinh dưỡng đối kháng.

– Cung cấp các chất dinh dưỡng theo hướng tăng cường chức năng, nhất là trong các giai đoạn sinh trưởng sinh thực của cây trồng (hình thành quả, củ, chỉ tiêu chất lượng…).

– Hạn chế mất chất dinh dưỡng trong đất do bị cố định hoặc bị rửa trôi. Một số nguyên tố dinh dưỡng, thậm chí được khuyến cáo chỉ nên bón qua lá như bón sắt vào đất kiềm, bón các nguyên tố vi lượng…

Báo cáo này chủ yếu được rút ra từ kết quả dự án “Điều tra tình hình sản xuất và sử dụng phân bón lá ở Việt Nam” năm 2006 – 2007 do Viện Thổ nhưỡng Nông hóa thực hiện. Do vậy, tính thời sự của số liệu có thể không cao song các qui luật, hạn chế vẫn còn nguyên giá trị trong việc nâng cao năng lực quản lý loại sản phẩm rất đặc thù này.

1. Phân loại phân bón lá

Có thể chia phân bón lá thành các nhóm theo: dạng, thành phần dinh dưỡng và theo cơ chế liên kết các nguyên tố dinh dưỡng.

– Theo dạng thì phân bón lá được chia thành: i) dạng rắn và ii) dạng lỏng.

– Theo thành phần có thể chia phân bón lá thành 3 nhóm: i) Chỉ có các yếu tố dinh dưỡng vô cơ riêng rẽ hoặc phối hợp (đa lượng, trung lượng và vi lượng); ii) có bổ dung chất điều hòa sinh trưởng (kích thích, ức chế…); iii) có thuốc bảo vệ thực vật.

– Theo cơ chế liên kết các nguyên tố dinh dưỡng thì phân bón lá được chia thành 2 nhóm: i) Dạng vô cơ; ii) dạng hữu cơ, trong đó có xelat và iii) hữu cơ-khoáng.

2. Hiện trạng sản xuất phân bón lá

2.1. Nguyên liệu

Trong sản xuất phân bón lá, các nguyên liệu thường sử dụng bao gồm nguyên liệu khoáng, chất hữu cơ, chất điều hòa sinh trưởng… và phối trộn theo các qui trình khác nhau, tùy theo nhu cầu sử dụng.

Các nguyên liệu hữu cơ thường gồm: i) Phụ phẩm từ các cơ sở chế biến thủy sản (Bột, đầu, ruột cá…); ii) phụ phẩm lò giết mổ (Tiết, lông, da, móng, ruột); iii) chất hữu cơ (Than bùn, rác thải và phụ phẩm nông nghiệp khác như tằm, nhộng tằm, lông gà vịt…).

Bảng 1. Nguyên liệu khoáng sử dụng trong sản xuất phân bón lá

Về nguyên tắc, các chất dinh dưỡng vô cơ có thể ở dạng đơn. Một số dinh dưỡng vi lượng trong phân bón lá ở dạng xelat. Các hợp chất hữu cơ là tác nhân tạo phức với nguyên tố vi lượng và được chia thành 3 nhóm: nhóm được tổng hợp và có cường độ mạnh; nhóm hữu cơ tự nhiên chuỗi dài có cường độ trung bình và nhóm hữu cơ hẹp chuỗi ngắn có cường độ thấp (Bảng 2).

Bảng 2. Vi lượng ở dạng xelat (chelate) được phân nhóm theo cường độ tác động

* Một số doanh nghiệp tổng hợp được hợp chất này

** Polyphotphat không ở dạng hữu cơ, nhưng có hoạt tính tương tự như các phân tử hữu cơ dạng xelat (chelate)

Để sản xuất phân bón lá có chứa thêm các chất kích thích sinh trưởng (Hàm lượng ≤ 0,5%) nhằm thúc đẩy sinh trưởng hoặc thúc đẩy ra hoa, kết trái, giảm tỷ lệ rụng quả, thúc đẩy quá trình chín hoặc làm mau ra rễ các doanh nghiệp có thể sử dụng các hợp chất ở bảng 3.

Axít folic axit (tên khác: Folic axit; N-(4-{[(2-amino-4-oxo-1,4-

dihydropteridin-6-yl) metyla]amino}benzoyl)-L-glutamic axit; pteroyl-

L-glutamic axit; vitamin B9; vitamin M; folaxin)

Nguồn: Thông tư số 36/2010/TT-BNNPTNT, ngày 24/6/2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT

2.2. Công nghệ sản xuất phân bón lá (Nguyên tắc chung)

2.2.1. Quy trình công nghệ sản xuất từ nguyên liệu khoáng Các bước trong quy trình công nghệ có thể tóm tắt như sau (Hình 1):

Hình 1. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất phân bón lá từ nguyên liệu khoáng

Bước 1: Tổng hợp các thành phần đa lượng:

– Phối trộn dung dịch K 3PO 4 và (NH 4)NO 3 trong bể trung hoà, pH đạt 6,5.

Bước 2: Tổng hợp các thành phần vi lượng, bao gồm: Tổng hợp phức EDTA của các muối: MgSO 4.7H 2O, MnSO 4.5H 2O, CuSO 4.5H 2O, ZnSO 4.7H 2O, và FeSO 4.7H 2 O.

Bước 3: Phối trộn phần đa lượng và vi lượng.

Bước 4: Kiểm tra tiêu chuẩn chất lượng và đóng gói.

Quy trình sản xuất phân bón lá của các cơ sở liên doanh với nước ngoài cũng tương tự, chỉ khác ở phương thức điều chỉnh các thông số kỹ thuật. Các loại phân bón lá được sản xuất bằng quy trình công nghệ trong nước hoặc liên doanh có thể bổ sung thêm hoặc không bổ sung chất điều hòa sinh trưởng.

2.2.2. Quy trình công nghệ sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ

Sản xuất phân bón lá từ nguyên liệu hữu cơ thường gồm 4 bước sau (Hình 2):

Bước 1: Sơ chế nguyên liệu.

Bước 2: Thủy phân, trung hòa tạo dung dịch hỗn hợp các axít amin. Kiểm tra hàm lượng thành phần dinh dưỡng.

Bước 3: Bổ sung đa, trung, vi lượng cần thiết theo tiêu chuẩn đăng ký.

Bước 4: Đóng gói sản phẩm.

Hình 2. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất phân bón lá từ nguyên liệu hữu cơ

2.3. Số lượng các loại phân bón lá

Đây là con số rất lớn, song lại chưa được quan tâm đến quản lý chất lượng và hướng dẫn sử dụng.

2.4. Tình hình sản xuất và tiêu thụ phân bón lá (Điều tra đến năm 2007)

Kết quả điều tra 26 tỉnh/thành của cả nước, trong đó 11 tỉnh/thành phía Bắc và 15 tỉnh/thành phía Nam trong khuôn khổ dự án: “Điều tra tình hình sản xuất và sử dụng phân bón lá ở Việt Nam” năm 2006-2007 do Cục Trồng trọt là cơ quan quản lý và Viện Thổ nhưỡng Nông hóa là cơ quan chủ trì cho thấy các kết quả sau đây:

2.4.1. Về doanh nghiệp sản xuất

Trong 11 tỉnh/thành điều tra tại phía Bắc có 4 địa phương (Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa và Nghệ An) có cơ sở sản xuất phân bón lá, chiếm tỷ lệ 36,4%. Tại phía Nam, trong số 15 tỉnh/thành điều tra, 12 tỉnh có các cơ sở sản xuất phân bón lá, chiếm tỷ lệ 80,0%. Ba tỉnh/thành không có cơ sở sản xuất phân bón lá là: Đà Nẵng, Đắc Lắc và Khánh Hòa.

Như vậy trên 26 tỉnh/thành theo thống kê có 70 doanh nghiệp sản xuất phân bón lá, dự án đã chọn 48 doanh nghiệp để điều tra chi tiết (chiếm 68,6%).

Trong phạm vi điều tra, 100% doanh nghiệp được cấp phép sản xuất và hầu hết các hoạt động (phía Bắc 100%, phía Nam 97,4%, trung bình của 26 tỉnh/thành là 97,9%).

Đa số các doanh nghiệp phía Bắc có quy mô xưởng sản xuất nhỏ hơn 500 m 2 (chiếm 66,7%). Ngược lại phần lớn các doanh nghiệp phía Nam có quy mô xưởng sản xuất lớn hơn 1000 m 2 (chiếm 73,7%). Trong 26 tỉnh/thành số doanh nghiệp trung bình có quy mô nhà xưởng lớn hơn 1000 m 2 chiếm 63,8 %, có quy mô nhà xưởng nhỏ hơn 500 m 2 chiếm 34,0%, có quy mô nhà xưởng trong khoảng 500-1000 m 2 chiếm 2,2%.

Về hình thức sản xuất, kết quả điều tra cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp tự sản xuất (88,9% ở phía Bắc và 76,3% ở phía Nam 76,3%, trung bình cả nước là 78,7%). Ở phía Nam, số lượng doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài cao hơn, chiếm 23,7%; trong khi ở phía Bắc chỉ chiếm 11,1% (trung bình ở 26 tỉnh/thành là 21,3%).

Về công nghệ, phần lớn doanh nghiệp áp dụng công nghệ trong nước (88,9% ở phía Bắc và 73,7% ở phía Nam). Tính chung cả nước, tại 26 tỉnh/thành có 23,4% doanh nghiệp áp dụng công nghệ của nước ngoài.

Bảng 5. Số doanh nghiệp sản xuất phân bón lá được điều tra

Ghi chú: Số liệu miền Bắc năm 2006; miền Nam năm 2007

Một thông tin đáng quan tâm là mức độ cơ giới hóa trong sản xuất phân bón còn thấp, chỉ đạt 89,5% ở các doanh nghiệp phía Nam và 66,7% doang nghiệp phía Bắc. Tính chung cả nước còn có tới 14,9% số doanh nghiệp sản xuất phân bón thủ công. Thêm nữa, số doanh nghiệp đầu tư thiết bị cho bảo vệ môi trường ở phía Bắc đạt 77,8%, còn ở phía Nam chỉ đạt 47,4% và trung bình của 26 tỉnh/thành còn có tới chiếm 46,8% doanh nghiệp không có đầu tư cho bảo vệ môi trường.

Kết quả điều tra về nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp cho thấy, số người trung bình/doanh nghiệp ở phía Bắc la 19 người, ở phía Nam là 61 người và trung bình ca nước là 40 người. Còn về trình độ chuyên môn, tại phía Nam, 71% doanh nghiệp có cán bộ chuyên môn trình độ từ đại học trở lên (29% doanh nghiệp có thạc sỹ). Con số này tại các doanh nghiệp phía bắc tương ứng là 75% và 22,2%.

2.4.2. Về số lượng và chủng loại phân bón lá sản xuất và tiêu thụ

Về khối lượng, ở phía Bắc 9 doanh nghiệp sản xuất 343,2 tấn/năm, trong đó dạng lỏng 69,7% (239,2 tấn), dạng rắn 30,3% (104,0 tấn). Ở phía Nam, sản lượng của 38 doanh nghiệp là 61.609 tấn, trong đó dạng lỏng 56,3% (34.656,4 tấn) và dạng rắn 43,7 % (26.952,6 tấn). Tổng sản lượng phân bón lá của 47 doanh nghiệp ở cả 2 miền là 61.952,2 tấn, trong đó dạng lỏng 56,3% (34.895,6 tấn), dạng rắn 43,7% (27.056,6 tấn). Khối lượng phân bón lá được tiêu thụ đạt 97,8% (60.573,2 tấn), trong đó dạng lỏng 54,5% (33.798,2 tấn), dạng rắn 43,2% (26.775 tấn).

Về giá thành và giá bán phân bón lá khó có thông tin chính thức từ điều tra. Theo ước tính của nhóm nghiên cứu, giá bán phân bón lá rất khác nhau giữa 2 miền Nam, Bắc. Ở phía Bắc phân bón dạng lỏng bán 30-300 ngàn đồng/lít, dạng rắn 5-320 ngàn đồng/kg. Ở phía Nam phân bón lá dạng lỏng bán 15-250 ngàn đồng/lít, dạng rắn 10-300 ngàn đồng/kg. Giá thành sản xuất phân bón lá chỉ chiếm khoảng 50% so với giá bán.

Về hình thức bán hàng, 100% doanh nghiệp phía Nam bán qua đại lý, trong khi con số này tại phía Bắc chỉ đạt 68,0%.

Tất cả các doanh nghiệp sản xuất phân bón lá đều có hướng dẫn sử dụng dưới dạng tờ rơi và ghi trên bao bì. Loại phân bón lá sử dụng cho nhiều hơn 3 loại cây trồng chiếm 74,7%, sử dụng cho 1-2 loại cây trồng chiếm tỷ lệ 25,3%. Như vậy, phân bón lá chuyên dùng rất ít.

Khối lượng phân bón lá được sản xuất và tiêu thụ theo điều tra đều cao hơn thống kê, tương ứng là 30,1% (1,3 lần) và 125,8% (2,3 lần). Điều này chứng tỏ hoặc doanh nghiệp sản xuất báo cáo không đầy đủ với các cơ quan quản lý nhà nước và ngược lại cơ quan quản lý cũng chưa có biện pháp kiểm tra đối với các doanh nghiệp (Bảng 6).

Qua điều tra các cửa hàng và đại lý cho thấy, chỉ có 37,3% có văn phòng, 69,1% có kho chứa. Không có kho chứa sẽ làm giảm chất lượng phân bón.

Về chất lượng, tỉ lệ phân bón lá không đảm bảo chất lượng cao, trong đó số mẫu vi phạm về đạm là 38,0%; về lân 49,0%; về kaly 46,1%; về canxi 12,8%; vê magiê 39,3%; về lưu huỳnh 21,4%; về đồng 56,0%; về molipden 33,3%; về bo 18,2%; về sắt 35,0% và về kẽm 40,0%. Số mẫu vi phạm 1 chỉ tiêu là 72,2%; vi phạm 2 chỉ tiêu là 34,6% và vi phạm 3 chỉ tiêu là 17,0%.

Bảng 6. So sánh số liệu thống kê từ cơ quan quản lý nhà nước và điều tra doanh nghiệp sản xuất phân bón lá tại 26 tỉnh/thành.

2.4.3. Về nhãn mác và hướng dẫn sử dụng

Hầu hết các loại phân bón lá đều có nhãn mác, trên đó ghi các chỉ tiêu đăng ký chất lượng và hướng dẫn sử dụng. Tuy nhiên trong số 278 loại phân bón lá thu thập ở phía Bắc có 7 loại không ghi rõ đăng ký chất lượng trên bao bì, chiếm tỷ lệ 2,5%. Bảy loại phân bón lá vi phạm quy định nhãn mác bao bì. Ở phía Nam thu thập 275 loại phân bón lá, 12 loại không ghi rõ đăng ký chất lượng trên bao bì, chiếm 4,4%. Mười hai loại phân bón lá vi phạm quy định nhãn mác bao bì. Tại 26 tỉnh/thành thu thập 553 loại phân bón lá có 19 loại không ghi rõ đăng ký chất lượng trên bao bì, chiếm tỷ lệ 3,4%.

3. Hiện trạng sử dụng phân bón lá

Kết quả điều tra của dự án năm 2006-2007 cho thấy mỗi hộ gia đình nông dân phía Bắc sử dụng 4-5 loại phân bón lá, trong khi ở phía Nam tới 10 loại. Còn về khối lượng, số liệu tương ứng cho phía Bắc là 0,5 lít (kg) và phía Nam là 8,7 lít (kg) và cả nước là 4,6 lít (kg) /năm.

Bảng 7. Sử dụng phân bón lá của hộ nông dân

Sử dụng phân bón lá làm tăng năng suất lúa ở 5-15%; tăng năng suất các cây trồng khác 10-25%. Cụ thể với cây hòa thảo (lúa, ngô) có thể tăng 5-15%; cây họ đậu (lạc, đậu tương) tăng 10-30%; cây ăn quả (cam, xoài) tăng 15 – 30%; chè, cà phê tăng 15 – 30%; rau (cà chua, bắp cải,…) tăng 20 – 30% và cây công nghiệp ngắn ngày (mía, thuốc lá, bông) tăng 15-25%.

4. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về phân bón lá

4.1. Hạn chế

1) Hiện tại, các văn bản quản lý của Nhà nước khá đầy đủ và thường xuyên được bổ sung, chỉnh lý cho phù hợp với thực tiễn sản xuất. Tuy nhiên, sự phân công, phân cấp trong quản lý còn nhiều bất cập, không chỉ giữa Bộ Công thương và Bộ Nông nghiệp và PTNT mà còn giữa cấp Trung ương với địa phương. Việc kiểm tra chất lượng cũng như chấp hành qui định chưa thường xuyên và ít hiệu quả.

2) Chế độ báo cáo của các doanh nghiệp sản xuất, cửa hàng

đại lý kinh doanh cho các cơ quan quản lý nhà nước theo quy định chưa nghiêm túc.

3) Các doanh nghiệp sản xuất phân bón lá phần lớn có quy mô nhỏ, chủ yếu sản xuất thủ công, ít sử dụng công nghệ nước ngoài, chưa có đầu tư thỏa đáng cho bảo vệ môi trường.

4) Các cửa hàng, đại lý chủ yếu là bán kèm phân bón lá với các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Nông dân bị thua thiệt nhiều so với khâu trung gian dịch vụ kinh doanh phân bón.

5) Diện tích được sử dụng phân bón lá khá cao, chiếm 69,1%. Lượng phân bón lá được sử dụng cũng khá nhiều, 560,6 lít

(kg)/năm/xã, 4,6 lít (kg)/năm/hộ nông dân, song khâu kiểm định chất lượng gần như bỏ trống do chi phí phân tích cao, với nhiều chỉ tiêu năng lực phòng phân tích chưa thể thực hiện.

4.2. Giải pháp

4.2.1. Giải pháp tổ chức

1) Củng cố hệ thống quản lý thống nhất về phân bón nói chung và phân bón lá nói riêng từ Trung ương (Cục Trồng trọt) tới địa phương (Sở Nông nghiệp và PTNT, Phòng Nông nghiệp). Chuyển chức năng quản lý phân bón lá từ chi cục bảo vệ thực vật sang cho phòng nông nghiệp và theo ngạch phân bón.

4.2.2. Giải pháp kỹ thuật công nghệ

1) Doanh nghiệp cần đầu tư tăng cường thiết bị, công nghệ sản xuất tiên tiến.

2) Cơ quan quản lý nhà nước và viện nghiên cứu, trường đại học cần tổng kết đánh giá thực tiễn sử dụng phân bón lá trong sản xuất để đề xuất phân bón mới, chuyên dùng cũng như phương pháp sử dụng hiệu quả

3) Tăng cường Hợp tác quốc tế, liên doanh liên kết để đưa công nghệ sản xuất phân bón lá hiện đại của nước ngoài vào Việt Nam.

Kết luận

Sử dụng phân bón lá là một trong những giải pháp để cung cấp ngay dinh dưỡng còn thiếu cho cây trồng ở thời điểm khó khăn; khắc phục các hạn chế của bộ rễ cây ở giai đoạn sinh trưởng ban đầu; cung cấp đủ các chất dinh dưỡng để tăng thế phát triển của hạt hoặc quả ở giai đoạn sinh trưởng sinh thực; nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón và hạn chế ô nhiễm môi trường đất, nước.

Do hiệu quả cao, ngày càng nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực sản xuất và kinh doanh phân bón. Hệ thống tổ chức còn trùng chéo. Văn bản quản lý phân bón lá dù đã thường xuyên

được bổ sung, điều chỉnh song vẫn còn bất cập, làm cho việc quản lý, nhất là quản lý chất lượng chưa đạt yêu cầu. Do vậy, cùng với việc hướng dẫn sử dụng phân bón lá khoa học, hiệu quả thì việc đảm bảo quản lý mặt hàng này một cách hiệu quả cũng là một yêu cầu cấp bách.

Tài liệu tham khảo

3. Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 2005. Sổ tay phân bón. NXB Nông nghiệp Hà Nội.

4. Bùi Huy Hiền, Cao Kỳ Sơn (2008). Báo cáo kết quả dự án “Điều tra tình hình sản xuất và sử dụng phân bón lá ở Việt Nam (2006-2007)” của Cục Trồng trọt- Cơ quan quản lý. Viện Thổ nhưỡng Nông hóa – Đơn vị thực hiện.

5. Lê Văn Tri (1992). Cách sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và vi lượng đạt hiệu quả cao. 44 tr. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

6. Nguyễn Văn Uyển (1995). Phân bón lá và các chất kích thích sinh trưởng, 84 tr. NXBNN TP HCM.

7. Kuo, Wang (1993). Khuai- Fong- Shou. Công ty TNHH về chất sinh trưởng thực vật “Khuai- Fong – Shou”. Chương Châu. Tháng 7/1993, tr mở đầu, tr 6-8.

Bùi Huy Hiền – Tổng biên tập Tạp chí Nông nghiệp và PTNT

Nguyễn Văn Bộ – Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Cao Kỳ Sơn – Giám đốc Trung tâm Phân bón và dinh dưỡng cây trồng, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

Bắc Kạn Đẩy Mạnh Sản Xuất Và Sử Dụng Phân Bón Vi Sinh:bắc Kạn Đẩy Mạnh Sản Xuất Và Sử Dụng Phân Bón Vi Sinh / 2023

Các loại phân bón vi sinh mới được người dân Bắc Kạn sản xuất và sử dụng trong nông nghiệp từ khoảng 5 năm trở lại đây. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, phân bón vi sinh sẽ là nguồn vật tư giá trị, trợ giúp đắc lực cho nền nông nghiệp của tỉnh phát triển bền vững.

Nông dân xã Dương Phong (Bạch Thông) sản xuất phân bón vi sinh.

Ông Nông Quang Bính- Giám đốc Trung tâm dạy nghề và Hỗ trợ việc làm tỉnh cho biết: Đầu năm 2005, sau chuyến tập huấn học nghề từ Trung ương Hội, cán bộ Trung tâm Dạy nghề tỉnh bắt đầu chuyển giao quy trình kỹ thuật sản xuất phân bón vi sinh cho người dân một số xã của huyện Bạch Thông. Đến nay đã có khoảng 40 xã, phường trong toàn tỉnh sản xuất và sử dụng phân bón vi sinh với khối lượng ước tính vài trăm tấn/năm, và xu hướng này sẽ ngày một tăng trong những năm tiếp theo.

Lợi ích của việc sử dụng phân bón vi sinh trong sản xuất nông nghiệp là rất to lớn. Với nguồn nguyên liệu dồi dào và sẵn có như: Rơm, bèo tây, cây xanh, mùn cưa nên giá sản xuất phân bón vi sinh rất rẻ, tốn khoảng 300.000 đồng/tấn, chủ yếu là chi phí tiền công. Tận dụng được lượng phế phẩm trong sản xuất nông nghiệp như trên sẽ góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường, đồng thời tạo độ tươi xốp cho đất đai và tạo điều kiện cho vi sinh vật hữu ích phát triển.

Sử dụng phân bón hữu cơ lần đầu sẽ giảm được khoảng 30 – 40% lượng phân bón hoá học trong lần đầu sử dụng, và sẽ giảm đến 60 – 70% lượng phân bón hoá học vào những lần sau, nhưng năng suất cây trồng vẫn tăng được từ 6 – 12% so với chỉ sử dụng phân bón hoá học. Như vậy, xét về mặt kinh tế và môi trường đây là sự lựa chọn hợp lý cho nông dân nhất là trong điều kiện đất đai ngày một thái hoá, còn giá phân bón hoá học ngày tăng cao.

Quy trình kỹ thuật sản xuất loại phân bón này cũng đơn giản, có thể sản xuất ngay tại gia đình, sau khi được cán bộ khuyến nông hướng dẫn cách làm. Người dân chuẩn bị một chiếc hố có che phủ ni lông, sau đó trộn đều phân gia súc, xác thực vật, một lượng nhỏ lân, đạm và men vi sinh ủ kỹ từ 45 – 60 ngày, trong điều kiện độ ẩm 50 – 55 độ c là có thể bón phân. Để nâng cao hiệu quả của phân bón vi sinh nên hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hoá học, đồng thời phát triển những loại thiên địch như: Cóc, ếch, kiến mắt vàng, ong…

Tại xã Đôn Phong, huyện Bạch Thông, địa phương đi đầu trong ứng dụng phân bón vi sinh vào sản xuất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế mang lại cho người dân rất rõ nét. Từ năm 2005 cho đến nay, số hộ và lượng phân bón vi sinh sản xuất đều tăng qua mỗi năm. Trước đó, mỗi năm Đôn Phong phải mua khoảng 100 tấn phân bón hoá học, nhưng từ khi sản xuất được phân bón vi sinh, lượng phân hoá học mua giảm từ 30 – 40%, năng suất cây trồng cũng tăng hơn.

Tuy có nhiều ưu điểm như vậy, nhưng đến nay số địa phương sử dụng phân bón vi sinh trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn chưa nhiều. Một trong những nguyên nhân của thực trạng trên là tâm lý lạm dụng phân bón hoá học của người dân vẫn phổ biến, trong khi đó công tác tuyên truyền, vận động của ngành chức năng còn hạn chế.

Ông Bính cho biết thêm: Muốn nền nông nghiệp Bắc Kạn phát triển theo hướng hiện đại và bền vững thì một trong những ưu tiên đó phải là sử dụng hài hoà phân bón hoá học, kết hợp với phân bón vi sinh. Vì thế, thời gian tới Trung tâm Dạy nghề tỉnh sẽ đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến và chuyển giao quy trình kỹ thuật sản xuất phân bón vi sinh cho người dân thông qua những lớp dạy nghề nông dân. Phấn đấu đến năm 2015, sẽ có khoảng 70% số địa phương trong tỉnh sử dụng phân bón vi sinh trong sản xuất nông nghiệp./.

Tự ‘Sản Xuất’ Và Sử Dụng Phân Bón Lá Atonik, Chưa Bao Giờ Dễ Như Thế! / 2023

Thực chất sản phẩm phân bón lá Atonik là hỗn hợp của ba hoạt chất: Sodium 5 nitroguaia, Sodium O-nitrophenolate và P-Nitrophenolate (Compound Sodium Nitrophenolate) được hòa tan trong nước để sử dụng trên các loại cây trồng mang lại hiệu quả cao.

Tính năng, đặc điểm của sản phẩm phân bón lá Atonik

Là một hoạt chất thúc đẩy tăng trưởng hiệu quả

Ổn định trong điều kiện bình thường

Thúc đẩy lưu thông tế bào chất trong thực vật

Thành phần chất kích thích thực vật Atonik (Compound Sodium Nitrophenolate)

SODIUM 5 NITROGUAIACOL: 17%

SODIUM O-NITROPHENOLATE: 33%

SODIUM P-NITROPHENOLATE: 50%

– Ngoại quan: tinh thể màu nâu đỏ

– Điểm nóng chảy: 105-106 o C

– Độ hòa tan: Dễ dàng hòa tan trong nước và dung môi.

– Ổn định: Ổn định trong điều kiện bình thường

Ứng dụng của phân bón lá Atonik

Chất kích thích sinh trưởng thực vật Atonik được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Nó có ảnh hưởng đến sự phát triển của tế bào thực vật cực mạnh, xâm nhập nhanh vào “cơ thể” thực vật, cung cấp năng lượng cực lớn cho tế bào hoạt động, thúc đẩy lưu thông tế bào chất… giúp cây trồng tăng tốc độ sinh trưởng, phá vỡ trạng thái ngủ nghỉ, kích thích rễ và mầm phát triển mạnh, tăng khả năng hấp thụ dinh dưỡng làm cho cây trồng nở hoa, kết trái sớm hơn. Antonik giúp tăng khả năng miễn dịch của thực vật, điều chỉnh nội tiết tốt thực vật, cân bằng các yếu tố kích thích sinh trưởng nội sinh trong cây trồng như Cytokinin, Etylene, Gibberellic (GA) làm cân bằng sự tăng trưởng sinh sản và dinh dưỡng. Antonik giúp cây trồng nâng cao khả năng chống chịu với các điều kiện thời tiết bất thuận như: hạn hán, ngập úng, rét và làm giảm độc tính của các yếu tố ảnh hưởng như thuốc BVTV, ngộ độc dinh dưỡng… Compound Sodium Nitrophenolate làm tăng chất lượng và năng suất nông sản đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người nông dân. Antonik được sử dụng phù hợp với hầu hết tất cả các loại cây trồng như: Cây lương thực, rau ăn lá, ăn củ, ăn quả, cây lấy dầu, cảnh cảnh và hoa.

1. Sử dụng trực tiếp Atonik ở dạng nguyên chất cho cây trồng

Atonik nguyên chất có thể sử dụng để ngâm hạt giống, tưới vào gốc, lun lên lá, lên hoa với nồng độ 18-22g/ha (nồng độ phun lá 6-10ppm).

2. Sử dụng để trộn với phân bón khác (tăng hiệu quả 200%).

Khi trộn Atonik nguyên chất (Compound Sodium Nitrophenolate) với phân bón giúp tăng hiệu quả, giảm sự đối kháng giữa các thành phần trong phân bón, kích thích sự hấp thu dinh dưỡng của cây trồng, tăng gấp đôi (200%) hiệu quả phân bón. Lượng sử dụng Compound Sodium Nitrophenolate 150-300g/Ha.

3. Tự “sản xuất” phân bón lá Atonik thương phẩm 1.8SL

3.1. Tự phối trộn phân bón lá Atonik

Cân 18g Compound Sodium nitrophenolate 98%TC nguyên chất vào 1 lít nước và khuấy đều. Chúng ta thu được dung dịch đậm đặc 18% (18g/L). Bảo quản dung dịch ở nơi râm mát. Như vậy 100g Compound Sodium nitrophenolate 98%TC hòa được 5,5 lít dung dịch phân bón Atonik 1.8SL (tương đương 550 gói dung tích 10ml hiện đang bán trên thị trường).

3.2. Hướng dẫn cách sử dụng Atonik 1.8SL sau khi phối trộn

Phân bón lá Atonik thương phẩm được hòa với nước theo tỷ lệ 10ml/16 lít (320 – 400 lít/ha) để sử dụng (tưới gốc hoặc phun lên lá) cho các loại cây trồng, có thể sử dụng chung với các loại thuốc BVTV khác hoặc hòa cùng chất bám dính để phun trực tiếp lên lá cây.

Phun Atonik khi cây trồng bị còi cọc, sau ngập úng, giá rét, hạn hán, phun trong giai đoạn cây phát triển, phun sau khi sử dụng các loại phân bón khác để tăng hiệu quả phân bón.

Việt Nam Xuất Khẩu Phân Bón / 2023

(18/6/2012) – Trước đây, Việt Nam là nước nhập khẩu nhiều phân bón. Năm nay, lượng phân bón nhập khẩu giảm mạnh, trong khi lượng phân bón xuất khẩu lại đang gia tăng khá nhanh.

Theo ông Lê Quốc Phong, TGĐ Cty CP Phân bón Bình Điền, năm nay, xuất khẩu phân bón gia tăng mạnh là do nhiều loại phân bón chủ lực như ure, NPK… được sản xuất trong nước, không những đã đủ đáp ứng cho nhu cầu nội địa mà còn dư để xuất khẩu. Phân ure do Nhà máy đạm Cà Mau và Nhà máy đạm Phú Mỹ sản xuất đã được xuất khẩu ra nước ngoài. Phân NPK vốn đã được xuất khẩu từ mấy năm qua, năm nay lượng xuất khẩu lại càng tăng mạnh. Riêng Cty Bình Điền, năm nay đặt kế hoạch xuất khẩu 130 ngàn tấn NPK thương hiệu Đầu Trâu sang Lào và Campuchia, thì đến giờ đã xuất được trên 60 ngàn tấn. Phân DAP tuy vẫn phải nhập thêm từ nước ngoài, nhưng do đã được nhập về nhiều, cộng với sản lượng không nhỏ từ nhà máy DAP Đình Vũ (Hải Phòng), tính ra đang dư so với nhu cầu trong nước, nên nhà máy này cũng đã cho xuất khẩu DAP …

Ông Nguyễn Hạc Thúy, Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam, cho hay, trong năm nay, sản lượng nhiều loại phân bón chủ lực sẽ ở mức rất cao. Chẳng hạn, sản lượng NPK sẽ đạt trên 4 triệu tấn, trong khi nhu cầu trong nước chỉ khoảng trên 3 triệu tấn. Sản lượng ure từ các nhà máy đạm Phú Mỹ, Cà Mau, Ninh Bình, Hà Bắc, cũng sẽ vượt xa so với nhu cầu khoảng 1,8 triệu tấn. Xuất khẩu phân bón năm nay cũng không cần phải có giấy phép như những năm trước. Do đó, các doanh nghiệp đang đẩy mạnh xuất khẩu phân bón ra nước ngoài.

Thông tin từ các doanh nghiệp xuất khẩu phân bón cho thấy, phân bón Việt Nam đang có nhiều thị trường tiềm năng. Gần là các thị trường trong khu vực như Lào, Campuchia, Thái Lan… Xa hơn nữa là Ấn Độ, châu Phi… Theo ông Lê Quốc Phong, xuất khẩu phân bón hiện đang theo 2 dạng: có thương hiệu và không có thương hiệu. Xuất khẩu có thương hiệu là phân bón được đóng bao, in nhãn mác đàng hoàng. Xuất theo dạng này, thị trường tuy có hẹp (hiện nay phân bón thương hiệu mới chỉ xuất sang Lào và Campuchia), nhưng giá bán cao hơn, lợi nhuận tốt hơn, và quan trọng nhất là doanh nghiệp sẽ giữ được thị trường ổn định. Còn xuất không thương hiệu tức là xuất theo dạng hàng rời, không bao bì, nhãn mác gì cả. Nhà nhập khẩu mua phân bón dạng này về đóng bao dưới nhãn mác nào đó của họ rồi tung ra thị trường. Vì thế, phân bón xuất khẩu không thương hiệu thường bị ép giá, dễ bị mất thị trường khi có nước khác chào giá bán thấp hơn đối với sản phẩm cùng loại. Do đó, khi buộc phải xuất khẩu phân bón theo dạng không thương hiệu, các doanh nghiệp chủ yếu chỉ nhắm tới vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho công nhân, gia tăng doanh số, còn lợi nhuận là không đáng kể.

Cập nhật thông tin chi tiết về Sản Xuất Và Sử Dụng Phân Bón Lá Ở Việt Nam (Tl Tham Khảo) / 2023 trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!