Xu Hướng 2/2024 # Quy Trình Kỹ Thuật Canh Tác Cây Chuối Laba # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Quy Trình Kỹ Thuật Canh Tác Cây Chuối Laba được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Phạm vi điều chỉnh: Quy trình áp dụng cho tất cả các vùng trồng chuối trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

2. Đối tượng áp dụng: Các tổ chức, cá nhân trồng chuối trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

II. ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU VỀ ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH:

1. Đặc đểm thực vật học: Cây chuối tên khoa học là Musa sapientum L., thuộc họ Musaceae. Chuối là loại cây ăn quả nhiệt đới, ngắn ngày, dễ trồng và cho sản lượng khá cao, trung bình có thể đạt năng suất 20-30 tấn/ha.

– Cây cao từ 3-3,5m, eo lá và vỏ bẹ lá có màu tím, buồng dài nhiều trái, quả chuối thon, dài và hơi cong; vỏ dày và bóng, chín có màu vàng tươi. Thịt quả có màu vàng sánh, dẻo, ngọt và có mùi thơm đặc trưng, v ào mùa đông hay những lúc mưa nhiều, vỏ chuối có nhiều chấm đen li ti như đốm trứng cuốc.

2. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh:

– Điều kiện sinh thái:

Nhiệt độ: Chuối sinh trưởng và phát triển thuận lợi từ 25-35 0C, khi nhiệt độ giảm đến 10 0 C thì quả nhỏ, phẩm chất kém, sinh trưởng chậm, chuối sợ rét và sương muối, khi gặp sương muối kéo dài lá chuối sẽ xám lại và héo khô.

Nhu cầu về nước:Hàm lượng nước trong các bộ phận cây chuối rất cao, trong thân già 92,4%, trong rễ 96%, trong lá 82,6% và trong quả 96%, độ bốc hơi của lá rất lớn, dưới ánh nắng mặt trời, sức tiêu hao nước của chuối từ 40-50mg/dm 2/phút. Chú ý vào mùa khô thường khô hanh, ít mưa nên cần có biện pháp tưới ẩm để cung cấp đủ nước cho chuối.

Ánh sáng: Có khả năng thích ứng trong phạm vi cường độ ánh sáng tương đối rộng. Cho nên lượng ánh sáng ở điều kiện nước ta cũng cho phép cây chuối sinh trưởng và phát triển tốt.

Đất trồng chuối: Là loại cây dễ trồng, yêu cầu về đất không nghiêm khắc. Tốt nhất là đất thịt nhẹ, đất pha cát, đất phù sa (tốt hơn cả), đất thoáng có cấu tượng tốt và độ xốp cao. Về hóa tính đất, chuối rất cần các chất khoáng trong đất như N, , , Ca, Mg, trong đó hai yếu tố chính là N và .

Chuối mọc bình thường trên đất có pH từ 4,5-8, tốt nhất trong khoảng 6-7,5. Trường hợp đất quá chua hoặc quá kiềm có thể gây ra hiện tượng thiếu vi lượng trong đất, ảnh hưởng đến sinh trưởng của chuối. Chuối chịu úng và chịu hạn kém, do đó đất trồng phải có độ cao so với mực nước ngầm tối thiểu 0,6m, thoát nước tốt.

3. Giống chuối la ba:

– Giống tiêu cao (thường gọi là giống chuối già hương vì khi chín có hương thơm hấp dẫn): Cây cao từ 3,5-5m, buồng hình trụ, quả thẳng và to, đuôi hơi lõm, ăn ngọt và thơm. Năng suất rất cao nhưng khó thu hoạch; cây dễ bị bệnh héo rủ, dễ bị đổ ngã khi gặp gió bão.

– Giống tiêu vừa (thường gọi là chuối già Laba): Cây cao 2,8-3m, buồng hình trụ, trung bình có từ 10-12 nải/buồng, trái hơi cong, ăn ngọt, thơm ít.

– Giống tiêu thấp (thường gọi là chuối lùn Laba): Cây cao 2-2,5m, buồng hình nón cụt, 12- 14 nải/buồng, trọng lượng bình quân 35 kg/buồng, nhiều buồng đạt tới 50kg nếu được chăm sóc tốt.

Chuối trồng được quanh năm, tốt nhất nên trồng khi đất đủ ẩm hoặc vào đầu mùa mưa, cây sinh trưởng tốt cho tỉ lệ sống cao hoặc xác định thời điểm trổ buồng, thu hoạch mà chọn thời gian trồng thích hợp với điều kiện chủ động được nước tưới, trồng tốt nhất từ tháng 5 đến tháng 10.

III. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC:

1. Giống: Đối với chuối La ba cấy mô.

Chiều cao cây đo từ mặt bầu đến điểm giao nhau 2 bẹ lá trên cùng 25-35cm; đường kính thân đo cách gốc 2cm lớn hơn 2cm; số lá thật hơn 7 lá; chiều rộng lá hơn 15cm, chiều dài lá lớn hơn 30cm tính từ lá thứ 7; không có dấu hiệu nhiễm sâu, bệnh và được huấn luyện hoàn toàn ngoài ánh sáng từ 10-15 ngày.

2. Chuẩn bị đất: Trước trồng 1 tháng dọn sạch đất, vệ sinh xung quanh, cày ải toàn bộ đất trồng, cầy sâu 30cm, đào hố kích thước 40x40x40cm.

Trồng chuối nên trồng theo hướng Đông-Tây để tận dụng tốt ánh sáng mặt trời, trồng theo hình chữ nhật hoặc nanh sấu.

3. Kỹ thuật, mật độ, khoảng cách trồng: Tùy theo địa hình, đất tốt xấu, khoảng cách trồng: 3x3m, mật độ 1.111 cây/ha hoặc 3x4m, mật độ 833 cây/ha.

– Dùng cuốc xới lại hố đào sau đó đặt bầu đất chuối cấy mô xuống hố trồng, mặt bầu đặt thấp hơn mặt hố từ 10-15cm, rồi lấp đất lại và nén xung quanh gốc, không nén quá chặt sẽ làm dập con chuối. Nếu trời nắng quá có thể che tủ cây con trong tuần lễ đầu.

Trồng củ: Đặt mặt cắt của củ cây giống từ cây mẹ về một phía để khi trổ buồng, buồng cũng hướng về một phía, thuận lợi cho thu hoạch. Nếu trồng trên sườn đồi thì đặt mặt cắt của củ cây giống hướng xuống phía chân đồi để khi cây trổ buồng chuối sẽ ở phía trên và làm như vậy để khi chuối có buồng, các buồng sẽ kéo cây vào phía trong làm cây đỡ bị đổ.

– Làm cỏ, tưới nước, các kỹ thuật chăm sóc khác:

Khi cây chuối trổ buồng rất cần nước nên cần chú ý tưới nước và bón phân đầy đủ để quả chuối phát triển tốt, vào mùa mưa (từ tháng 5-11 dương lịch) chú ý thoát nước tốt cho vườn chuối để hạn chế ngập úng.

Sau khi trồng 5 tháng có thể tiến hành tỉa chồi, nên chọn những chồi con mập, khỏe mọc cách xa cây mẹ 20cm, mỗi bụi chuối chỉ nên để 3 cây và có thời gian sinh trưởng cách nhau từ 3-4 tháng.

Việc tỉa chồi con cây chuối để đem trồng có ảnh hưởng nhất định đến năng suất buồng chuối, nên tỉa chồi con khi cây chuối mẹ đã trổ buồng và định hình quả, chỉ tải tối đa một phần tư vùng gốc cây chuối mẹ sau đó tích cực chăm sóc, bón phân để mau phục hồi. Nếu tỉa chồi con khi cây mẹ chưa ra quả sẽ ảnh hưởng đến năng suất và cây mẹ hay bị đổ ngã khi mưa gió.

Ở những nơi có mật độ con bù lạch cao khi buồng chuối mới nhú cần phun xịt thuốc trừ sâu kết hợp với các loại thuốc phòng bệnh như Zinep xanh, Macozeb, Kocide,… để diệt trừ bù lạch cắn phá và nấm quả chuối.

Tiến hành cắt bỏ những bẹ lá chuối cạ vào buồng để buồng chuối thông thoáng không bị trầy xước.

Sau khi ở cuối buồng chuối xuất hiện nải toàn hoa đực thì tiến hành cắt bắp để tập trung dinh dưỡng cho các nải chuối.

Dùng túi nylon màu xanh dương có đục lỗ để bao quày, mục đích giữ cho màu sắc vỏ trái được đẹp hơn, hạn chế bù lạch chích hút trái non và giúp tăng năng suất quày. Khi quày chuối lớn nên dùng cây chống quày tránh đổ ngã.

4. Phân bón và cách bón phân cho chuối la ba:

a. Với khoảng cách trồng: 3x3m, mật độ 1.100cây/ha, lượng phân bón:

Phân hữu cơ: 16,5 tấn phân hữu cơ hoai;

Phân hóa học nguyên chất:222,2 kg N; 55,6 kg P 2O 5; 277,6 kg K 2 O.

: Chuyển đổi phân hóa học nguyên chất qua phân đơn hoặc NPK tương đương:

Cách 1:Ure: 483 kg; super lân: 347,5 kg; KCl: 463 kg.

Cách 2: NPK 20-20-15: 1.112 kg; Ure: 120 kg; KCl: 92 kg.

Phân hữu cơ: 12,5 tấn phân hữu cơ hoai;

Phân hóa học nguyên chất:166,6 kg N; 41,7 kg P 2O 5; 208,3 kg K 2 O.

: Chuyển đổi phân hóa học nguyên chất qua phân đơn hoặc NPK tương đương:

Cách 1: Ure: 326 kg; super lân: 216 kg; KCl: 347 kg.

Cách 2: NPK 20-20-15: 834 kg; Ure: 90 kg; KCl: 69 kg.

– Cách bón phân với trường hợp trồng cây mô:

Bón lót 15kg phân hữu cơ hoai + 400gr lân + 300gr vôi bột cho 1 hố, sau đó trộn với lớp đất mặt, lấp lại khoảng 25 cm, trước khi trồng 1-2 ngày rắc thuốc mocap hoặc Basudine hạt và trộn đều với đất để trừ sâu.

Bón thúc:Sau khi trồng từ 7-15 ngày, bón kết hợp với phun xịt phân qua lá và thuốc phòng trừ sâu bệnh, thuốc kích thích tăng trưởng để giúp cho chuối phát triển nhanh, sau đó trung bình từ 15-30 ngày bón 1 lần, bón 1kg phân NPK cho 30-50 gốc, bón phân theo hốc hoặc xới nhẹ cách gốc 10-20cm, sau đó tiến hành rải phân và lấp đất lại.

– Bón cho vườn chuối kinh doanh, trong 1 năm thông thường chia làm 3 lần bón:

Lần 1: Sau trồng 1 tháng bón 30% lượng N, 30% lượng K 2 O.

Lần 2: Sau trồng 4,5 tháng bón 40% lượng N, 40% lượng K 2 O.

Lần 3: Sau trồng 7,5 tháng bón 30% lượng N, 30% lượng K 2 O.

Tùy vào độ màu mỡ của đất, khả năng cho sản lượng của cây mà có lượng phân bón thích hợp cho từng gốc, ngoài ra còn căn cứ vào các triệu chứng thiếu phân biểu hiện trên cây, lá mà cung cấp lượng phân thích hợp.

IV. SÂU HẠI CHÍNH VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ:

1. Sùng đục củ và thân chuối(Cosmopolites sordidus): Ấu trùng có màu trắng, đục thành những đường bên trong củ, chất bài tiết có màu vàng nâu, mịn, làm thối củ, cây tăng trưởng kém, buồng nhỏ, trái lép không phát triển được.

– Đặc điểm gây hại: Ngoài thiệt hại trực tiếp, vết đục của ấu trùng trên thân cây còn là nơi xâm nhập của các loài nấm bệnh tiếp theo, làm cho cây bị yếu, sức đề kháng của cây đối với những điều kiện bất lợi rất kém.

– Biện pháp phòng trừ:

Không lấy cây giống ở những vườn đang bị sâu gây hại. Trước khi trồng nên cắt bỏ hết những bẹ, những cuống lá bị thối ở cây giống, thu gom tất cả những bộ phận cắt bỏ này đem chôn hoặc tiêu hủy.

Vệ sinh vườn trồng, thu gom những bẹ lá, cuống lá bị thối, bị khô, dọn sạch lá già, cỏ rác. Tỉa bỏ những cây con dư thừa, tạo thông thoáng.

Với những vườn đã bị sâu hại nhiều, sau khi thu hoạch buồng cần chặt bỏ sát gốc, đào bỏ hết cả phần củ rồi đưa ra khỏi vườn tiêu hủy.

Dùng những cây chuối vừa thu hoạch buồng, chặt thành những khúc dài khoảng 70-80cm, bổ đôi thành hai mảnh rồi úp mặt vừa chẻ xuống mặt đất xung quanh gốc chuối hoặc chẻ dọc ở một đầu làm hai hoặc làm bốn khe, sau đó đặt đầu chẻ xuống đất gần các gốc chuối. Ban đêm con trưởng thành sẽ mò ra ăn và ẩn nấp phía dưới của các mảnh thân cây chuối và ở những khe chẻ này, sáng sớm hôm sau lật khúc chuối lên để bắt con trưởng thành. Trong sản xuất biện pháp này thường mang lại hiệu quả cao.

2. Sâu cuốn lá : (Erionata thorax): Sâu non màu trắng đầy phấn, cắn lá chuối cuộn lại làm nhộng bên trong, gây hại tập trung vào đầu và cuối mùa mưa.

Phòng trừ : Biện pháp thông thường là ngắt bỏ các lá bị cuốn và giết sâu.

– Đặc điểm gây hại: Sâu hại nặng cả phiến lá có thể bị cuốn hoàn toàn, tạo ra rất nhiều tổ sâu treo trên gân chính. Cây chuối trở nên xơ xác, không còn lá để quang hợp, làm cho cây bị mất sức, buồng nhỏ, trái có thể bị lép. Nếu cây bị sâu tấn công sớm, gây hại nặng có thể không cho trái.

3. Bù lạch : Chysannoptera thripidae) Thành trùng rất nhỏ, có màu nâu hay đen thường tập trung ở các lá bắc để chích hút các trái non, làm trái có những chấm màu nâu đen (ghẻ) làm mất vẻ đẹp, rất khó xuất khẩu.

– Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Vệ sinh vườn, làm sạch cỏ dại là ký chủ của bọ trĩ.

4. Tuyến trùng: Xâm nhiễm vào rễ làm vỡ vách tế bào, ngăn cản rễ hút dinh dưỡng, cây sinh trưởng kém, quày nhỏ, trái lép rễ có các vết u, thối đen.

Phòng trừ : Loại cây bệnh ra khỏi vườn, rải thuốc Basudin, Furadan 20-30 kg/ha. Phải xử lý đất và xử lý cây giống trước khi trồng.

5. Bệnh đốm lá : Sigatoka vàng (Mycosphaerella musicola) và Sigatoka đen (Mycosphaerella fijiensis).

– Bệnh thường xuất hiện trên các lá thứ 2, 3 hoặc 4 (tính từ trên ngọn xuống). Vết bệnh lúc đầu là các đốm nhỏ 1 – 10 mm, rộng 0,5 – 1 mm màu vàng lợt hay nâu. Các đốm thường xếp dọc theo các gân phụ của phiến lá, các vết đốm phát triển thành hình thoi nhỏ, màu nâu đen với vầng vàng xung quanh. Nhiều vết đen liên kết tạo thành những mảng khô lớn. Cây bị bệnh nặng thường không phát triển được các lá đọt. Trong mùa mưa nấm bệnh lan theo nước chảy trên lá, làm các vết bệnh xếp thành hàng, vào mùa khô các đốm bệnh phát triển ở chóp lá, làm cháy mép hay ngọn lá, nải nhỏ, trái lâu chín, ruột trái màu vàng hay hồng lợt, ăn có vị chát.

– Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Tránh trồng chuối trên đất chua, đất trồng phải thoát nuớc tốt, trồng với mật độ thích hợp, bảo đảm độ thông thoáng cho vườn chuối. Bón phân đầy đủ, tăng cường bón lân, kali tăng sức đề kháng cho cây, cắt bỏ lá già, lá bệnh có thể hạn chế được bệnh. Chọn giống chống bệnh và sạch bệnh.

Biện pháp hóa học: Có thể sử dụng thuốc hoá học gốc Thiophanate-Methyl (Kuang Hwa opsin 70WP )để phòng trừ bệnh.

– Triệu chứng: Ban đầu bệnh xuất hiện ở những lá phía dưới, lá bị vàng dần từ bìa lá trở vào, sau đó lan dần lên các lá phía trên. Đồng thời với quá trình này thì cuống lá bị gẫy gập xuống, rồi cả phiến lá bị chết khô.Khi lá phía dưới bị bệnh, thì lá phía trên ngọn tuy sống nhưng đã chuyển sang màu xanh lạt hơi vàng, méo mó, sau đó héo úa, gẫy gập rồi chết khô. Sau khi lá bị chết, tuy cây chưa bị đổ gẫy nhưng các bẹ lá phía ngoài đã bị nứt, sau này cả cây bị thối, khô và gẫy gập xuống. Những cây con mới ra chưa có biểu hiện bị bệnh ngay, nhưng về sau lá cũng bị vàng héo rụi và chết dần.Nếu bị bệnh sớm, cây có thể bị chết hoặc không cho buồng. Nếu cây trưởng thành mới bị bệnh, thì cây vẫn cho buồng, nhưng trái nhỏ. Chẻ dọc thân cây bệnh, sẽ thấy có mùi hôi, các bẹ phía ngoài có sọc mầu nâu, các bẹ non bên trong có sọc mầu vàng. Cắt củ chuối ra, sẽ thấy các bó mạch bị hư tạo thành các đốm vàng, đỏ nâu.

– Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Lên luống cao hình mai rùa giúp thoát nước tốt trong mùa mưa. Những vườn nằm ở vùng trũng nên có mương rãnh sâu, để rút bớt nước trong vùng rễ của cây xuống mương rãnh vào mùa mưa. Không bón quá nhiều phân đạm, phải bón cân đối giữa đạm, lân và kali, tăng cường phân chuồng hoai, Nên bón vôi vào các hố trồng để khử chua cho những vườn đất bị chua phèn. Vệ sinh vườn sạch sẽ, thường xuyên cắt bỏ những lá bệnh đem đốt. Chọn đất có pH trung hòa hoặc hơi kiềm để trồng chuối. Tuyệt đối không lấy cây con ở những vườn đã bị bệnh làm giống cho vườn khác. Khi phát hiện cây bệnh nên đào bỏ các gốc bệnh và rải vôi khử đất.

Nếu vườn chuyên canh chuối mà bị bệnh nặng nên ngưng canh tác, cho ngập nước từ 2-3 tháng để diệt mầm bệnh. Với những cây đã bị bệnh, phải chặt bỏ rồi bứng hết gốc rễ đem ra khỏi vườn tiêu hủy, sau đó rải vôi bột vào chỗ vừa nhổ bỏ cây để khử trùng đất trước khi trồng chuối trở lại.

Bệnh lây lan trực tiếp qua cây con giống và trung gian truyền bệnh rầy mềm Pentalonia nigronervosa sống ở các bẹ lá chuối.

– Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Không lấy cây chuối con ở những vườn chuối, khóm chuối đã bị bệnh gây hại làm giống cho vụ sau. Thường xuyên kiểm tra vườn chuối để phát hiện sớm cây bị nhiễm bệnh. Nếu phát hiện cây đã bị bệnh phải chặt bỏ ngay, bứng hết cả gốc rồi đưa ra khỏi vườn chôn sâu hoặc tiêu hủy để tránh lây lan sang cây khác. Không nên lập vườn chuối ngay bên cạnh những vườn đang bị bệnh gây hại nặng để tránh bệnh lây lan sang vườn mới lập.

Vệ sinh vườn, dọn sạch cỏ dại, cắt tỉa, bỏ bớt những lá già, lá khô, tỉa bớt những cây con nếu thấy vườn quá dày… để vườn luôn thông thoáng, giảm bớt ẩm độ trong vườn, nhất là vào mùa mưa. Không nên trồng chuối liên tục nhiều năm trên cùng một mảnh đất, nên luân canh với cây trồng khác.

Biện pháp hóa học: Để trừ rệp là môi giới truyền bệnh có thể dùng thuốc Phosalone (Pyxolone 35 EC) hoặc có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc gốc Abamectin. Trước khi sử dụng đại trà, cần phun thử trên diện tích hẹp để đánh giá hiệu lực và ảnh hưởng của thuốc đối với cây trồng.

V. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN:

– Từ trồng đến lúc chuối trổ buồng khoảng 6-10 tháng và từ trổ buồng đến thu hoạch khoảng 60-90 ngày tùy theo giống, thường độ chín của quả được xác định qua màu sắc vỏ, độ no đầy và góc cạnh của trái.

– Lúc thu quày tránh làm cho trái bị trầy xước, sau đó tách ra từng nải nhúng vào dung dịch Tecto 0,2% để ráo, đặt vào thùng giấy và vận chuyển đến nơi tiêu thụ.

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cây Chuối Laba

Ngày đăng: 2024-03-30 07:24:36

I. Đặc điểm và yêu cầu ngoại cảnh: 1. Đặc đểm thực vật học:

Cây chuối tên khoa học là Musa sapientum L., thuộc họ Musaceae. Chuối là loại cây ăn quả nhiệt đới, ngắn ngày, dễ trồng và cho sản lượng khá cao, trung bình có thể đạt năng suất 20-30 tấn/ha.

– Cây cao từ 3-3,5m, eo lá và vỏ bẹ lá có màu tím, buồng dài nhiều trái, quả chuối thon, dài và hơi cong; vỏ dày và bóng, chín có màu vàng tươi. Thịt quả có màu vàng sánh, dẻo, ngọt và có mùi thơm đặc trưng, vào mùa đông hay những lúc mưa nhiều, vỏ chuối có nhiều chấm đen li ti như đốm trứng cuốc.

2. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh:

– Điều kiện sinh thái:

Nhiệt độ: Chuối sinh trưởng và phát triển thuận lợi từ 25-350C, khi nhiệt độ giảm đến 100C thì quả nhỏ, phẩm chất kém, sinh trưởng chậm, chuối sợ rét và sương muối, khi gặp sương muối kéo dài lá chuối sẽ xám lại và héo khô.

Nhu cầu về nước:Hàm lượng nước trong các bộ phận cây chuối rất cao, trong thân già 92,4%, trong rễ 96%, trong lá 82,6% và trong quả 96%, độ bốc hơi của lá rất lớn, dưới ánh nắng mặt trời, sức tiêu hao nước của chuối từ 40-50mg/dm2/phút. Chú ý vào mùa khô thường khô hanh, ít mưa nên cần có biện pháp tưới ẩm để cung cấp đủ nước cho chuối.

Ánh sáng: Có khả năng thích ứng trong phạm vi cường độ ánh sáng tương đối rộng. Cho nên lượng ánh sáng ở điều kiện nước ta cũng cho phép cây chuối sinh trưởng và phát triển tốt.

Đất trồng chuối: Là loại cây dễ trồng, yêu cầu về đất không nghiêm khắc. Tốt nhất là đất thịt nhẹ, đất pha cát, đất phù sa (tốt hơn cả), đất thoáng có cấu tượng tốt và độ xốp cao. Về hóa tính đất, chuối rất cần các chất khoáng trong đất như N, P2O5, K2O, Ca, Mg, trong đó hai yếu tố chính là N và K2O.

Chuối mọc bình thường trên đất có pH từ 4,5-8, tốt nhất trong khoảng 6-7,5. Trường hợp đất quá chua hoặc quá kiềm có thể gây ra hiện tượng thiếu vi lượng trong đất, ảnh hưởng đến sinh trưởng của chuối. Chuối chịu úng và chịu hạn kém, do đó đất trồng phải có độ cao so với mực nước ngầm tối thiểu 0,6m, thoát nước tốt.

3. Giống chuối la ba:

– Giống tiêu cao (thường gọi là giống chuối già hương vì khi chín có hương thơm hấp dẫn): Cây cao từ 3,5-5m, buồng hình trụ, quả thẳng và to, đuôi hơi lõm, ăn ngọt và thơm. Năng suất rất cao nhưng khó thu hoạch; cây dễ bị bệnh héo rủ, dễ bị đổ ngã khi gặp gió bão.

– Giống tiêu vừa (thường gọi là chuối già Laba): Cây cao 2,8-3m, buồng hình trụ, trung bình có từ 10-12 nải/buồng, trái hơi cong, ăn ngọt, thơm ít.

– Giống tiêu thấp (thường gọi là chuối lùn Laba): Cây cao 2-2,5m, buồng hình nón cụt,12- 14 nải/buồng, trọng lượng bình quân 35 kg/buồng, nhiều buồng đạt tới 50 kg nếu được chăm sóc tốt.

Chuối trồng được quanh năm, tốt nhất nên trồng khi đất đủ ẩm hoặc vào đầu mùa mưa, cây sinh trưởng tốt cho tỉ lệ sống cao hoặc xác định thời điểm trổ buồng, thu hoạch mà chọn thời gian trồng thích hợp với điều kiện chủ động được nước tưới, trồng tốt nhất từ tháng 5 đến tháng 10.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây chuối laba 1. Chọn Giống: Đối với chuối La ba cấy mô.

Chiều cao cây đo từ mặt bầu đến điểm giao nhau 2 bẹ lá trên cùng 25-35cm; đường kính thân đo cách gốc 2cm lớn hơn 2cm; số lá thật hơn 7 lá; chiều rộng lá hơn 15cm, chiều dài lá lớn hơn 30cm tính từ lá thứ 7; không có dấu hiệu nhiễm sâu, bệnh và được huấn luyện hoàn toàn ngoài ánh sáng từ 10-15 ngày.

2. Chuẩn bị đất trồng cây chuối laba:

Trước trồng 1 tháng dọn sạch đất, vệ sinh xung quanh, cày ải toàn bộ đất trồng, cầy sâu 30 cm, đào hố kích thước 40x40x40cm.

Trồng chuối nên trồng theo hướng Đông-Tây để tận dụng tốt ánh sáng mặt trời, trồng theo hình chữ nhật hoặc nanh sấu.

3. Kỹ thuật, mật độ, khoảng cách trồng cây chuối laba:

Tùy theo địa hình, đất tốt xấu, khoảng cách trồng: 3x3m, mật độ 1.111 cây/ha hoặc 3x4m, mật độ 833 cây/ha.

– Dùng cuốc xới lại hố đào sau đó đặt bầu đất chuối cấy mô xuống hố trồng, mặt bầu đặt thấp hơn mặt hố từ 10-15cm, rồi lấp đất lại và nén xung quanh gốc, không nén quá chặt sẽ làm dập con chuối. Nếu trời nắng quá có thể che tủ cây con trong tuần lễ đầu.

Trồng củ: Đặt mặt cắt của củ cây giống từ cây mẹ về một phía để khi trổ buồng, buồng cũng hướng về một phía, thuận lợi cho thu hoạch. Nếu trồng trên sườn đồi thì đặt mặt cắt của củ cây giống hướng xuống phía chân đồi để khi cây trổ buồng chuối sẽ ở phía trên và làm như vậy để khi chuối có buồng, các buồng sẽ kéo cây vào phía trong làm cây đỡ bị đổ.

– Làm cỏ, tưới nước, các kỹ thuật chăm sóc khác:

Tưới nước: Ở giai đoạn cây con tùy thời tiết, thời vụ trồng mà điều chỉnh lượng nước tưới phù hợp, không nên để chuối quá ẩm hoặc quá khô, cây con mới trồng 2-3 ngày tưới một lần, cây trưởng thành tưới 2 lần/tuần. Nên trồng cây chắn gió quanh vườn để hạn chế rách lá làm giảm năng suất chuối.

Khi cây chuối trổ buồng rất cần nước nên cần chú ý tưới nước và bón phân đầy đủ để quả chuối phát triển tốt, vào mùa mưa (từ tháng 5-11 dương lịch) chú ý thoát nước tốt cho vườn chuối để hạn chế ngập úng.

Tỉa chồi: Phải được tiến hành thường xuyên (1 tháng/lần), dùng dao cắt ngang thân sát mặt đất và hủy đỉnh sinh trưởng. Nên tiến hành tỉa vào lúc trời nắng ráo, tránh để đọng nước xung quanh làm chồi con bị thối lây sang cây mẹ.

Sau khi trồng 5 tháng có thể tiến hành tỉa chồi, nên chọn những chồi con mập, khỏe mọc cách xa cây mẹ 20cm, mỗi bụi chuối chỉ nên để 3 cây và có thời gian sinh trưởng cách nhau từ 3-4 tháng.

Việc tỉa chồi con cây chuối để đem trồng có ảnh hưởng nhất định đến năng suất buồng chuối, nên tỉa chồi con khi cây chuối mẹ đã trổ buồng và định hình quả, chỉ tải tối đa một phần tư vùng gốc cây chuối mẹ sau đó tích cực chăm sóc, bón phân để mau phục hồi. Nếu tỉa chồi con khi cây mẹ chưa ra quả sẽ ảnh hưởng đến năng suất và cây mẹ hay bị đổ ngã khi mưa gió.

Ở những nơi có mật độ con bù lạch cao khi buồng chuối mới nhú cần phun xịt thuốc trừ sâu kết hợp với các loại thuốc phòng bệnh như Zinep xanh, Macozeb, Kocide,… để diệt trừ bù lạch cắn phá và nấm quả chuối.

Tiến hành cắt bỏ những bẹ lá chuối cạ vào buồng để buồng chuối thông thoáng không bị trầy xước.

Sau khi ở cuối buồng chuối xuất hiện nải toàn hoa đực thì tiến hành cắt bắp để tập trung dinh dưỡng cho các nải chuối.

Dùng túi nylon màu xanh dương có đục lỗ để bao quày, mục đích giữ cho màu sắc vỏ trái được đẹp hơn, hạn chế bù lạch chích hút trái non và giúp tăng năng suất quày. Khi quày chuối lớn nên dùng cây chống quày tránh đổ ngã.

4. Phân bón và cách bón phân cho chuối la ba:

a. Với khoảng cách trồng: 3x3m, mật độ 1.100cây/ha, lượng phân bón:

Phân hữu cơ: 16,5 tấn phân hữu cơ hoai;

Phân hóa học nguyên chất:222,2 kg N; 55,6 kg P2O5; 277,6 kg K2O.

Lưu ý: Chuyển đổi phân hóa học nguyên chất qua phân đơn hoặc NPK tương đương:

Cách 1:Ure: 483 kg; super lân: 347,5 kg; KCl: 463 kg.

Cách 2: NPK 20-20-15: 1.112 kg; Ure: 120 kg; KCl: 92 kg.

b. Với khoảng cách trồng: 4x3m, mật độ 833 cây/ha, lượng phân bón:

Phân hữu cơ: 12,5 tấn phân hữu cơ hoai;

Phân hóa học nguyên chất:166,6 kg N; 41,7 kg P2O5; 208,3 kg K2O.

Lưu ý: Chuyển đổi phân hóa học nguyên chất qua phân đơn hoặc NPK tương đương:

Cách 1: Ure: 326 kg; super lân: 216 kg; KCl: 347 kg.

Cách 2: NPK 20-20-15: 834 kg; Ure: 90 kg; KCl: 69 kg.

– Cách bón phân với trường hợp trồng cây mô:

Bón lót 15kg phân hữu cơ hoai + 400gr lân + 300gr vôi bột cho 1 hố, sau đó trộn với lớp đất mặt, lấp lại khoảng 25 cm, trước khi trồng 1-2 ngày rắc thuốc mocap hoặc Basudine hạt và trộn đều với đất để trừ sâu.

Bón thúc:Sau khi trồng từ 7-15 ngày, bón kết hợp với phun xịt phân qua lá và thuốc phòng trừ sâu bệnh, thuốc kích thích tăng trưởng để giúp cho chuối phát triển nhanh, sau đó trung bình từ 15-30 ngày bón 1 lần, bón 1kg phân NPK cho 30-50 gốc, bón phân theo hốc hoặc xới nhẹ cách gốc 10-20cm, sau đó tiến hành rải phân và lấp đất lại.

– Bón cho vườn chuối kinh doanh, trong 1 năm thông thường chia làm 3 lần bón:

Lần 1: Sau trồng 1 tháng bón 30% lượng N, 30% lượng K2O.

Lần 2: Sau trồng 4,5 tháng bón 40% lượng N, 40% lượng K2O.

Lần 3: Sau trồng 7,5 tháng bón 30% lượng N, 30% lượng K2O.

Tùy vào độ màu mỡ của đất, khả năng cho sản lượng của cây mà có lượng phân bón thích hợp cho từng gốc, ngoài ra còn căn cứ vào các triệu chứng thiếu phân biểu hiện trên cây, lá mà cung cấp lượng phân thích hợp.

III. Phòng trừ sâu bệnh cho cây chuối laba 1. Sùng đục củ và thân chuối(Cosmopolites sordidus):

Ấu trùng có màu trắng, đục thành những đường bên trong củ, chất bài tiết có màu vàng nâu, mịn, làm thối củ, cây tăng trưởng kém, buồng nhỏ, trái lép không phát triển được.

– Đặc điểm gây hại: Ngoài thiệt hại trực tiếp, vết đục của ấu trùng trên thân cây còn là nơi xâm nhập của các loài nấm bệnh tiếp theo, làm cho cây bị yếu, sức đề kháng của cây đối với những điều kiện bất lợi rất kém.

– Biện pháp phòng trừ:

Không lấy cây giống ở những vườn đang bị sâu gây hại. Trước khi trồng nên cắt bỏ hết những bẹ, những cuống lá bị thối ở cây giống, thu gom tất cả những bộ phận cắt bỏ này đem chôn hoặc tiêu hủy.

Vệ sinh vườn trồng, thu gom những bẹ lá, cuống lá bị thối, bị khô, dọn sạch lá già, cỏ rác. Tỉa bỏ những cây con dư thừa, tạo thông thoáng.

Với những vườn đã bị sâu hại nhiều, sau khi thu hoạch buồng cần chặt bỏ sát gốc, đào bỏ hết cả phần củ rồi đưa ra khỏi vườn tiêu hủy.

Dùng những cây chuối vừa thu hoạch buồng, chặt thành những khúc dài khoảng 70-80cm, bổ đôi thành hai mảnh rồi úp mặt vừa chẻ xuống mặt đất xung quanh gốc chuối hoặc chẻ dọc ở một đầu làm hai hoặc làm bốn khe, sau đó đặt đầu chẻ xuống đất gần các gốc chuối. Ban đêm con trưởng thành sẽ mò ra ăn và ẩn nấp phía dưới của các mảnh thân cây chuối và ở những khe chẻ này, sáng sớm hôm sau lật khúc chuối lên để bắt con trưởng thành. Trong sản xuất biện pháp này thường mang lại hiệu quả cao.

2. Sâu cuốn lá: (Erionata thorax):

Sâu non màu trắng đầy phấn, cắn lá chuối cuộn lại làm nhộng bên trong, gây hại tập trung vào đầu và cuối mùa mưa.

Phòng trừ: Biện pháp thông thường là ngắt bỏ các lá bị cuốn và giết sâu.

– Đặc điểm gây hại: Sâu hại nặng cả phiến lá có thể bị cuốn hoàn toàn, tạo ra rất nhiều tổ sâu treo trên gân chính. Cây chối trở nên xơ xác, không còn lá để quang hợp, làm cho cây bị mất sức, buồng nhỏ, trái có thể bị lép. Nếu cây bị sâu tấn công sớm, gây hại nặng có thể không cho trái.

– Biện pháp phòng trừ: Trong quá trình chăm sóc nếu thấy tổ sâu nào thì thu gom tiêu diệt ngay sâu trong tổ đó, ban ngày nên dùng vợt bắt những con bướm đang đậu “ngủ” ở tán lá. Không trồng chuối quá dày, tỉa bỏ lá già và những cây đã thu buồng để vườn thông thoáng, hạn chế nơi trú ngụ của con trưởng thành.

3. Bù lạch: (Chysannoptera thripidae)

Thành trùng rất nhỏ, có màu nâu hay đen thường tập trung ở các lá bắc để chích hút các trái non, làm trái có những chấm màu nâu đen (ghẻ) làm mất vẻ đẹp, rất khó xuất khẩu.

– Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Vệ sinh vườn, làm sạch cỏ dại là ký chủ của bọ trĩ.

4. Tuyến trùng:

Xâm nhiễm vào rễ làm vỡ vách tế bào, ngăn cản rễ hút dinh dưỡng, cây sinh trưởng kém, quày nhỏ, trái lép rễ có các vết u, thối đen.

Phòng trừ: Loại cây bệnh ra khỏi vườn, rải thuốc Basudin, Furadan 20-30 kg/ha. Phải xử lý đất và xử lý cây giống trước khi trồng.

5. Bệnh đốm lá: Sigatoka vàng (Mycosphaerella musicola) và Sigatoka đen (Mycosphaerella fijiensis).

– Triệu chứng: Bệnh gây hại trên lá tạo ra những hình bầu dục có màu nâu với viền vàng rất rõ (Sigatoka vàng) và những đốm bệnh có màu sậm hơn và xuất hiện ở mặt dưới của lá (Sigatoka đen).

– Bệnh thường xuất hiện trên các lá thứ 2, 3 hoặc 4 (tính từ trên ngọn xuống). Vết bệnh lúc đầu là các đốm nhỏ 1 – 10 mm, rộng 0,5 – 1 mm màu vàng lợt hay nâu. Các đốm thường xếp dọc theo các gân phụ của phiến lá, các vết đốm phát triển thành hình thoi nhỏ, màu nâu đen với vầng vàng xung quanh. Nhiều vết đen liên kết tạo thành những mảng khô lớn. Cây bị bệnh nặng thường không phát triển được các lá đọt. Trong mùa mưa nấm bệnh lan theo nước chảy trên lá, làm các vết bệnh xếp thành hàng, vào mùa khô các đốm bệnh phát triển ở chóp lá, làm cháy mép hay ngọn lá, nải nhỏ, trái lâu chín, ruột trái màu vàng hay hồng lợt, ăn có vị chát.

– Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Tránh trồng chuối trên đất chua, đất trồng phải thoát nuớc tốt, trồng với mật độ thích hợp, bảo đảm độ thông thoáng cho vườn chuối. Bón phân đầy đủ, tăng cường bón lân, kali tăng sức đề kháng cho cây, cắt bỏ lá già, lá bệnh có thể hạn chế được bệnh. Chọn giống chống bệnh và sạch bệnh.

Biện pháp hóa học: Có thể sử dụng thuốc hoá học gốc Thiophanate-Methyl (Kuang Hwa opsin 70WP )để phòng trừ bệnh.

6. Bệnh héo rủ Panama: (Fusarium oxysporum)

– Triệu chứng: Ban đầu bệnh xuất hiện ở những lá phía dưới, lá bị vàng dần từ bìa lá trở vào, sau đó lan dần lên các lá phía trên. Đồng thời với quá trình này thì cuống lá bị gẫy gập xuống, rồi cả phiến lá bị chết khô.Khi lá phía dưới bị bệnh, thì lá phía trên ngọn tuy sống nhưng đã chuyển sang mầu xanh lạt hơi vàng, méo mó, sau đó héo úa, gẫy gập rồi chết khô. Sau khi lá bị chết, tuy cây chưa bị đổ gẫy nhưng các bẹ lá phía ngoài đã bị nứt, sau này cả cây bị thối, khô và gẫy gập xuống. Những cây con mới ra chưa có biểu hiện bị bệnh ngay, nhưng về sau lá cũng bị vàng héo rụi và chết dần.Nếu bị bệnh sớm, cây có thể bị chết hoặc không cho buồng. Nếu cây trưởng thành mới bị bệnh, thì cây vẫn cho buồng, nhưng trái nhỏ. Chẻ dọc thân cây bệnh, sẽ thấy có mùi hôi, các bẹ phía ngoài có sọc mầu nâu, các bẹ non bên trong có sọc mầu vàng. Cắt củ chuối ra, sẽ thấy các bó mạch bị hư tạo thành các đốm vàng, đỏ nâu.

– Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Lên luống cao hình mai rùa giúp thoát nước tốt trong mùa mưa. Những vườn nằm ở vùng trũng nên có mương rãnh sâu, để rút bớt nước trong vùng rễ của cây xuống mương rãnh vào mùa mưa. Không bón quá nhiều phân đạm, phải bón cân đối giữa đạm, lân và kali, tăng cường phân chuồng hoai, Nên bón vôi vào các hố trồng để khử chua cho những vườn đất bị chua phèn. Vệ sinh vườn sạch sẽ, thường xuyên cắt bỏ những lá bệnh đem đốt. Chọn đất có pH trung hòa hoặc hơi kiềm để trồng chuối. Tuyệt đối không lấy cây con ở những vườn đã bị bệnh làm giống cho vườn khác. Khi phát hiện cây bệnh nên đào bỏ các gốc bệnh và rải vôi khử đất.

Nếu vườn chuyên canh chuối mà bị bệnh nặng nên ngưng canh tác, cho ngập nước từ 2-3 tháng để diệt mầm bệnh. Với những cây đã bị bệnh, phải chặt bỏ rồi bứng hết gốc rễ đem ra khỏi vườn tiêu hủy, sau đó rải vôi bột vào chỗ vừa nhổ bỏ cây để khử trùng đất trước khi trồng chuối trở lại.

– Triệu chứng: Khi bị bệnh lá chuối hẹp lại, vươn thẳng và bó xít vào nhau, nhìn giống như một bó lá, cuống lá ngắn lại và lá bị giòn, rất dễ bị rách, trên lá xuất hiện những đường sọc màu vàng sậm, xen kẽ với những đường sọc màu xanh sậm. Nếu cây bị bệnh sớm từ khi còn nhỏ hoặc bị bệnh gây hại nặng thì cây sẽ tàn lụi dần và không cho buồng, nếu có cho buồng thì trái cũng sẽ rất nhỏ và không chín. Nếu cây đã lớn mới bị bệnh tấn công thì sau này khi có buồng, buồng chuối trỗ sẽ không thoát, hoặc nếu có trỗ được thì buồng chuối cũng bị biến dạng, trái nhỏ, ăn không ngon hoặc buồng có thể trỗ ra ngang thân.

Bệnh lây lan trực tiếp qua cây con giống và trung gian truyền bệnh rầy mềm Pentalonia nigronervosa sống ở các bẹ lá chuối.

– Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Không lấy cây chuối con ở những vườn chuối, khóm chuối đã bị bệnh gây hại làm giống cho vụ sau. Thường xuyên kiểm tra vườn chuối để phát hiện sớm cây bị nhiễm bệnh. Nếu phát hiện cây đã bị bệnh phải chặt bỏ ngay, bứng hết cả gốc rồi đưa ra khỏi vườn chôn sâu hoặc tiêu hủy để tránh lây lan sang cây khác. Không nên lập vườn chuối ngay bên cạnh những vườn đang bị bệnh gây hại nặng để tránh bệnh lây lan sang vườn mới lập.

Vệ sinh vườn, dọn sạch cỏ dại, cắt tỉa, bỏ bớt những lá già, lá khô, tỉa bớt những cây con nếu thấy vườn qúa dày… để vườn luôn thông thoáng, giảm bớt ẩm độ trong vườn, nhất là vào mùa mưa. Không nên trồng chuối liên tục nhiều năm trên cùng một mảnh đất, nên luân canh với cây trồng khác.

Biện pháp hóa học: Để trừ rệp là môi giới truyền bệnh có thể dùng thuốc Phosalone (Pyxolone 35 EC) hoặc có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc gốc Abamectin. Trước khi sử dụng đại trà, cần phun thử trên diện tích hẹp để đánh giá hiệu lực và ảnh hưởng của thuốc đối với cây trồng.

VI. Thu hoạch và bảo quản trái chuối laba

– Từ trồng đến lúc chuối trổ buồng khoảng 6-10 tháng và từ trổ buồng đến thu hoạch khoảng 60-90 ngày tùy theo giống, thường độ chín của quả được xác định qua màu sắc vỏ, độ no đầy và góc cạnh của trái.

– Lúc thu quày tránh làm cho trái bị trầy xước, sau đó tách ra từng nải nhúng vào dung dịch Tecto 0,2% để ráo, đặt vào thùng giấy và vận chuyển đến nơi tiêu thụ

TIN TỨC KHÁC :

Quy Trình Kỹ Thuật Canh Tác Chuối Mốc (Chuối Sứ)

Cây chuối mốc (chuối sứ) là một loại chuối địa phương vùng Nam Trung Bộ, loại chuối này có thể trồng trên nhiều địa hình khác nhau: đồi núi, đồng bằng, vườn nhà… với quy mô hộ gia đình hoặc trang trai và được trồng quanh năm. Đặc biệt, khu vực đồi núi nằm ở phía Tây duyên hải Nam Trung Bộ có độ cao từ 200-600m so với mặt nước biển, do ảnh hưởng điều kiện địa hình và là vùng giao thoa giữa Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, nên đặc điểm khí hậu ở vùng này có phần khác hơn so với cả vùng, cụ thể: Nhiệt độ trung bình năm từ 24-250C thấp hơn so với cả vùng từ 1-20C, lượng mưa trung bình qua nhiều năm từ 1.800-2.000mm/năm (tương đương với lượng mưa trung bình tháng từ 150-170mm/tháng), lượng mưa từ tháng 4 đã đạt khoảng 50mm/tháng và từ tháng 5 đến tháng 12 lượng mưa luôn đạt trên 100mm/tháng. Với điều kiện nhiệt độ, lượng mưa và phân bố lượng mưa giữa các tháng trong năm như vậy nên khu vực đồi núi này phù hợp cho cây chuối sinh trưởng và phát triển.

Chính vì vậy, trong tổng số trên dưới 13.000ha chuối của vùng thì diện tích chuối ở khu vực này chiếm trên 70%. Ngoài ra, do đặc điểm sinh vật học của cây chuối mốc có khả năng chịu hạn tốt và sinh trưởng khỏe, bên cạnh đó phong tục tập quán của người dân vùng duyên hải Nam Trung Bộ (sử dụng chuối mốc trong việc thờ cúng) nên trên 905 diện tích chuối ở khu vực đồi núi vùng duyên hải Nam Trung Bộ đều sử dụng giống chuối mốc để gây trồng.

I. Điều kiện ngoại cảnh

1. Nhiệt độ thích hợp: 25-350C.

2. Ánh sáng: trên 2.000lux

3. Ẩm độ: 50-90%

II. Chuẩn bị trồng 1. Đất trồng

– Đất đồi, nương rẫy, đất phù sa… thích hợp nhất là đất có nhiều mùn, dễ tiêu thoát nước.

– Đất có pH thích hợp từ 5-7.

2. Hố trồng

– Hố trồng có kích thước 40x40x40cm, trộn lớp đất mặt với 5-7kg phân hữu cơ + 0,5kg lân + 10g Furadan 3H.

– Riêng đối với trường hợp 2 cây/hố thì kích thước hố là 80x80x40cm, lượng phân bón sẽ tăng gấp đôi.

3. Cây giống

– Cây con tách từ cây mẹ: cao 0,6-1m, có 3-5 lá và cây không bị sâu bệnh.

– Cây chuối cấy mô: cao khoảng 40-50cm, có từ 3 -5 lá.

4. Thời vụ trồng

– Trồng quanh năm.

III. Kỹ thuật trồng và chăm sóc 1. Mật độ trồng

– Trồng 1 cây/hố: 2×2,5m

– Trồng 2 cây/hố: trồng mật độ 3,5x3m và khoảng cách giữa 2 cây trong hố 0,5-0,6m

2. Cách trồng

– Trồng theo hình chữ nhật hoặc nanh sấu. Đặt cây con thấp hơn hố trồng từ 10-15cm, sau đó lấp đất đầy hố trồng.

– Nếu trồng vào mùa nắng dùng rơm rạ phủ gốc để giữ ẩm cho cây.

3. Tưới nước

– Mùa nắng ở giaid doạn cây con cần tưới 2 ngày/lần, cây trưởng thành 2 lần/tuần.

– Mùa mwqa cần có biện pháp thoát nước tốt, tránh ngập úng vườn.

4. Bón phân

– Bón lót: sau khi thu hoạc cần bón bổ sung 5-7kg phân hữu cơ + 0,5kg lân

– Bón thúc: 300g ure + 300g kali/cây/vụ. Lượng phân này chia ra bón trong 6 lần.

+ 10-20 ngày sau khi trồng 10g ure /cây

+ 30 ngày sau khi trồng 10g ure + 10g kali/cây

+ 60 ngày sau khi trồng 40g ure + 40g kali/cây

+ 120 ngày sau khi trồng 90g ure + 70g kali/cây

+ 180 ngày sau khi trồng 100g ure + 70g kali/hố

+ Trước khi trổ buồng (khi cây ra lá non) 50g ure + 100g kali/hố

5. Chăm sóc

– Tỉa chồi: thường xuyên tỉa chồi, chỉ giữ 2 chồi/cây và tuổi chồi cách nhau 4 tháng

– Bẻ bắp và chống quày: sau khi xuất hiện 1-2 nải trung tính, tiến hành bẻ bắp. Dùng cây chống quày tránh đổ ngã

– Thường xuyên cắt bỏ lá úa vàng

– Đốn bỏ cây mẹ đã thu buồng, đào bỏ củ, cắt bỏ lá khô, sâu bệnh, bẹ khô và chuyển ra khỏi vườn

6. Phòng trị sâu bệnh hại

– Sùng đục: dùng Furadan hay Basudin rải trên cổ gốc chuối, hoặc dùng bả mồi là những khúc thân chuối bổ đôi úp quanh gốc để bắt thành trùng như sùng đục củ.

– Sâu đục lá: phun Polytrin, Dimecron, Decis.

– Bù lạch: phun thuốc Decis hoặc Sherpa ở giai đoạn mới trổ và trái còn nhỏ.

– Tuyến trùng hại rễ: rải Basudin hay Furadan vào hố trồng.

– Bệnh đốm lá: phun Bordeaux hay Benomyl.

– Bệnh héo rũ Pnama: tiêu hủy cây bệnh, khử đất đối với vôi hoặc Bordeaux.

– Bệnh chùn đọt: loại bỏ cây bệnh khỏi vườn.

Nguồn: Kỹ thuật chọn giống, chăm sóc và phòng bệnh cho cây chuối

Kỹ thuật trồng và chăm sóc chuối: kỹ thuật làm đất, nhân giống, bón phân, chăm sóc, làm cỏ, tưới tiêu thu hoạch,…

Kỹ thuật trồng và chăm sóc chuối phủ bạt: Chuẩn bị đất, kỹ thuật trồng, biện pháp chăm sóc, tưới tiêu phòng trừ sâu bệnh,…

Kỹ thuật trồng và chăm sóc chuối tiêu hồng: Kỹ thuật bón phân cho chuối tiêu hồng, kỹ thuật chăm sóc chuối tiêu hồng,…

Giới thiệu về kỹ thuật chọn đất trồng chuối tiêu (xác định địa điểm, chuẩn bị vườn trồng, trồng cây,…), biện pháp kỹ thuật chăm sóc chuối tiêu (trồng dặm, làm cỏ, tưới nước,bón phân,…), sâu bệnh hại chính hại chuối tiêu, thu hoạch chuối,…

Quy Trình Kỹ Thuật Canh Tác Cây Mắc Ca

I. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG:

1. Phạm vi điều chỉnh: Quy trình áp dụng cho tất cả các vùng trồng mắc ca trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

2. Đối tượng áp dụng: Các tổ chức, cá nhân trồng mắc ca trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

II.  ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU VỀ ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH:

1. Đặc đểm thực vật học: Mắc ca thuộc họ thực vật proteacaea, chi Macadamia, gồm nhiều loài, nhưng nổi bật là 2 loài: Macadamia tetraphylla và Macadamia intergrifolia. Là loài cây thân gỗ cao từ 2-12m, lá dài 6-30cm, rộng 2-13cm, bìa lá có răng cưa nhọn, hoa mọc thành chùm dài 5-13cm, mỗi hoa đơn màu trắng vàng hoặc hồng, kích thước 10-15mm, có 4 cánh hoa. Sau khi trồng khoảng 4-5 năm bắt đầu cho quả. Quả hình trái đào, khi chín vỏ quả chuyển từ xanh sang nâu, vỏ khô tự nứt bên trong chứa 1 hạt. Hạt là một nang gỗ cứng hình cầu với 1 đỉnh nhọn, đường kính hạt khoảng 2-3cm, trọng lượng tươi khoảng 8-9g, bên trong chứa nhân màu trắng sữa rất giàu dinh dưỡng chiếm gần 1/3 trọng lượng hạt.

2. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh:

Nhiệt độ: Thích hợp từ 12-32oC, nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng là 20-25oC. Nhiệt độ tốt nhất cho sự phân hóa mầm hoa là 18o-21oC về đêm, nhiệt độ về đêm thấp hơn 12oC và cao hơn 21oC đều không thể hình thành mầm hoa.

Gió: Mắc ca là cây cao, tán to dày nhưng rễ cọc không ăn sâu nên nguy cơ đổ, ngã khi có gió lốc, bão lớn. Ở những vùng thường xuyên có gió lớn, nên chọn các dòng chịu gió tốt như OC, 344, 333, 660, 508…

Yêu cầu về đất: Thích hợp trên nhiều loại đất nhưng tầng đất phải dày trên 70cm, thoát nước tốt, giàu hữu cơ, đất không quá sét. pH thích hợp từ 5-5.5, cây mắc ca chịu được đất xấu, đất thịt nhẹ đến trung bình, ẩm đều quanh năm là tốt nhất, không thích hợp với đất kiềm, đất phèn mặn, đất đá vôi, đất đá ong hóa hoặc thoái hóa nghiêm trọng, đất ngập úng…

III. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC:

1. Các giống OC, H2, 508 rất phù hợp với điều kiện sinh thái Tây Nguyên, giống OC phù hợp nhất, những giống này có năng suất cao, hạt lớn, ít sâu bệnh, tán cây cân đối vững chắc, có thể trồng xen với các loại cây trồng khác.

* Phương pháp nhân giống: 3 phương pháp là trồng từ hạt (thực sinh). Cắt cành giâm hom. Trồng cây ghép mầm ngọn trên gốc thực sinh. Qua thực tế cho thấy cây ghép cho năng suất cao hơn hẳn cây thực sinh.

a. Kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp ghép trên gốc ghép ươm từ hạt.

– Kỹ thuật gieo ươm và tạo cây gốc ghép: Hạt chọn làm cây gốc ghép phải lấy từ những cây mẹ tốt, trọng lượng hạt trung bình được (khoảng 6g/hạt). Loại bỏ những hạt đen, hạt có sâu đục lỗ, có vết nứt và những hạt nổi.

Xử lý hạt bằng cách ngâm hạt trong nước lạnh từ 48-72 giờ, khi thấy có một số hạt nứt ra là được, mỗi ngày rửa chua 2 lần vào buổi trưa và tối (mỗi lần rửa 2 lần nước). Sau khi ngâm xong, rửa sạch, vớt ra để ráo nước và xử lý hạt qua thuốc nấm, sau đó gieo vào luống.

– Gieo hạt: Luống gieo hạt nên được xây thành xung quanh cao khoảng 25-30cm. Bên trong luống phủ lớp cát sạch, dày khoảng 20cm. Gieo bằng cách rải đều hạt trên bề mặt luống, hoặc gieo thành hàng, sao cho hạt cách hạt 2cm. Phủ lên hạt một lớp cát, có độ dày khoảng 1-2cm. Mỗi mét vuông luống gieo khoảng 5-7kg hạt. Sau khi gieo xong rải thêm thuốc chống kiến trên mặt luống.

– Chăm sóc: Tưới nước giữ ẩm mỗi ngày 1 lần, dùng lưới sắt phủ trên mặt luống nhằm ngăn chặn sóc và chuột phá hoại. Thường xuyên kiểm tra kiến trong luống gieo.

Ở điều kiện 30-350C, sau khi gieo 3-4 tuần hạt bắt đầu nảy mầm. Thời gian để lô hạt nảy mầm hết có thể kéo dài 3-4 tháng.

– Trồng và chăm sóc gốc ghép: Khi cây con có 2 lá thật, bứng cây cắm vào bầu có kích thước 17x27cm màu đen, có 8-10 lỗ thoát nước. Giá thể trồng cây gồm có 75% đất mặt + 20% phân chuồng hoai + 5% vỏ trấu hun. Tưới nước giữ ẩm đều đặn, nhổ cỏ, phun phân bón lá cho cây khi thấy cần thiết. Định kỳ phân loại cây con, kết hợp tỉa cành, phá váng khoảng 2-3 tháng 1 lần. Để giảm ánh nắng trực xạ mặt trên của vườn ươm nên che một lớp lưới màu đen.

– Tiêu chuẩn cây con gốc ghép: Cây con sau khi cắm vào bầu 8-10 tháng có thể ghép được, tuổi cây gốc ghép từ 8-12 tháng là thích hợp nhất. Khi đó đường kính từ 0,7-1cm; cao cây: 40-50cm; có 6-8 tầng lá.

b. Kỹ thuật ghép và chăm sóc cây ghép trong vườn ươm

– Chuẩn bị chồi ghép: Chồi ghép có thể là chồi ngọn hoặc là đoạn cành của cây giống tốt. Trước khi cắt chồi về để ghép thì cần phải tiến hành khoanh vỏ ở những cành cần lấy chồi trước 4-6 tuần. Sau khi cắt chồi dùng dao cắt bỏ hết cuống lá và tốt nhất nên ghép ngay. Nếu phải mang chồi đi xa thì bảo quản lạnh trong thùng xốp, thời gian bảo quản không nên quá 2 ngày.

– Tiêu chuẩn chồi ghép: Chồi có màu trắng tro, các nách lá bắt đầu bật mầm, đường kính chồi ghép từ 0,5-0,7cm, chiều dài chồi ghép từ 7-10cm, có từ 2-3 mầm tốt, chồi không có biểu hiện sâu bệnh.

– Phương pháp ghép: Có thể áp dụng phương pháp ghép áp và ghép nêm nối ngọn.

+ Phương pháp ghép nêm nối ngọn và quấn kín chồi ghép bằng dây nylon mềm.

Dùng dao hoặc kéo cắt cành cắt bỏ phần trên ngọn của cây gốc ghép, chừa đoạn gốc cách mặt bầu 20-25cm, chọn vị trí cắt ngọn gốc ghép tại vị trí ngay sát bên dưới vòng lá.

Dùng dao ghép chẻ dọc giữa thân gốc ghép một đoạn 2-2,5cm, chồi ghép được cắt vát hai phía thành hình nêm có độ dài bằng độ dài vết cắt dọc trên gốc ghép 2-2,5cm. Yêu cầu vết vát của chồi ghép phải phẳng, láng và cân đối 2 bên.

Đưa chồi ghép đã vát vào vết cắt trên gốc ghép sao cho hai bên vỏ của chồi và gốc ghép tiếp xúc tốt với nhau. Trường hợp nếu đường kính chồi ghép và gốc ghép không bằng nhau thì để một bên vỏ của chồi ghép và gốc ghép liền khớp với nhau. Dùng dây PE tự hủy quấn chặt từ dưới lên và bịt kín chồi ghép.

+ Phương pháp ghép áp và quấn kín chồi ghép bằng dây nylon mềm

Dùng dao hoặc kéo cát cành cắt bỏ phần trên ngọn của cây gốc ghép, chừa đoạn gốc cách mặt bầu 20-25cm, chọn vị trí cắt ngọn gốc ghép tại vị trí ngay sát bên dưới vòng lá .

Dùng dao ghép vát phần thân gốc ghép một đoạn 2-2,5cm. Chồi ghép được cắt vát một bên có độ dài bằng độ dài vết vát trên gốc ghép (2-2,5cm). Yêu cầu vết vát của chồi ghép phải phẳng, láng và cân đối.

Áp mặt vát của chồi ghép và gốc ghép vào nhau sao cho hai bên vỏ của chồi và gốc ghép tiếp xúc tốt. Nếu đường kính chồi ghép và gốc ghép không bằng nhau thì để một bên vỏ của chồi ghép và gốc ghép liền khớp với nhau. Dùng dây PE tự hủy quấn chặt từ dưới lên và bịt kín chồi ghép.

– Thời vụ ghép: Tháng 1-2 để có cây trồng vào tháng 6-7, không ghép vào lúc đang mưa, nước thấm vào vết ghép làm cho cây ghép dễ bị chết.

– Chăm sóc cây ghép: Sau khi ghép cần tưới nước đầy đủ, thường xuyên bẻ chồi vượt mọc từ nách lá của gốc ghép, phun thuốc sâu bệnh định kỳ. Sau 4-6 tuần chồi ghép bung chồi mới và sau 2-3 tháng nữa thì có thể đưa cây đi trồng. Nếu chồi ghép phát triển mạnh dây chưa kịp tự hủy thì dùng dao rạch đứt dây ghép. Trường hợp chồi ghép lên rất nhiều mầm, cần tỉa chồi ngay trong vườn ươm chỉ giữ lại 1 chồi khoẻ nhất, định kỳ 1-1,5 tháng phun phân bón lá cho cây.

2. Thời vụ trồng: Tại Lâm Đồng thời vụ trồng thích hợp từ 15/5 đến 15/8.

3. Đất trồng: Vùng đất thoát nước tốt, hố đào kích thước 50x50x50cm đào hố rộng 80x80x80cm càng tốt, đào lên để đất mặt riêng.

4. Trồng và chăm sóc: Mật độ, khoảng cách tùy theo điều kiện đất, phương thức trồng (thuần hay xen) và đặc điểm từng giống có thể trồng với mật độ, khoảng cách sau: 833 cây/ha: khoảng cách 3 x 4m (sau 10 năm tiến hành tỉa thưa thành 4 x 6m); 400 cây/ha: khoảng cách 5 x 5m; 313 cây/ha: khoảng cách 4 x 8m; 286 cây/ha: khoảng cách 5 x 7m; 250 cây/ha: khoảng cách 5 x 8m (phù hợp với dòng OC); 250 cây/ha: khoảng cách 5 x 8m; 220 cây/ha: khoảng cách 5 x 9m; 200 cây/ha: khoảng cách 5 x 10m.

– Cách trồng:

Trước khi trồng 20 ngày trộn đều lớp đất mặt với 15 kg phân chuồng hoai, 0,5 kg phân lân nung chảy rồi lấp đất xuống hố.

Khi trồng phải trộn đất và phân trong hố một lần nữa, sau đó cuốc một hố nhỏ sâu 25-30cm, rộng 15-20cm ở chính giữa hố đã được lấp trước đó. Dùng dao sạch rạch dọc túi bầu, bóc túi nhẹ nhàng, kiểm tra bộ rễ, nếu rễ trụ bị cong, xoắn đuôi rễ thì phải cắt tỉa đoạn rễ cong dưới đáy bầu, trồng nhẹ nhàng tránh làm vỡ bầu đất. Lấp đất, tưới nước và tủ cỏ khô giữ ẩm cho gốc.

Chú ý: Trồng bằng mặt hố, không nên trồng âm làm cây dễ bị úng. Trồng xong cắm 1 cọc chéo 60o so với mặt đất và buộc cố định dây.

Trồng dặm kịp thời những cây bị chết, cây yếu, trồng dặm vào đầu mùa mưa. Khi trồng dặm chỉ cần móc đất và trồng lại trên hố cũ. Cây giống trồng dặm cũng phải chọn cây tốt đủ tiêu chuẩn.

– Làm cỏ, tưới nước, các kỹ thuật chăm sóc khác:

+ Làm cỏ theo băng hoặc theo gốc, 3-5 lần trong năm tùy theo vùng và thực bì; vun gốc cho cây 1-2 lần/năm. Giai đoạn đầu của thời kỳ kiến thiết cơ bản (1-5 năm đầu sau trồng mới) có thể trồng xen các loại cây ngắn ngày trong vườn mắc ca, góp phần tăng thu nhập và đồng thời chăm sóc tốt cho vườn cây.

+ Cắt tỉa cành: Biện pháp kỹ thuật cắt tỉa cành giúp cây phát triển cân đối, tán đều, đậu quả nhiều, ít bị gãy cành và hạn chế sâu bệnh.

+ Đối với cây thực sinh: 8 tháng sau khi trồng tiến hành bấm ngọn thân chính cách mặt đất 60-80cm để cây phát sinh cành cấp 1. Sau khi cây phát sinh cành cấp 1 để lại 3 chồi ở 3 hướng khác nhau trên thân cây nhằm tạo cho cây có bộ tán cân đối. Tiến hành bấm ngọn trên cành cấp 1 ở vị trí cách thân chính 70-80cm để cây phát sinh cành cấp 2, tùy theo khả năng phát triển của tán trên từng cây mà có thể bấm ngọn lần 3 với cách tương tự như trên.

+ Đối với cây ghép và cây giâm hom: Thường phân cành thấp hơn so với cây thực sinh, trường hợp cây ghép phân cành cao trên 1m so với mặt đất thì cũng nên cắt ngọn, thao tác cũng giống như cây thực sinh, đồng thời loại bỏ tất cả chồi vượt dưới vết ghép.

Khi cây vào thời kỳ kinh doanh cắt tỉa những cành sát mặt đất dưới 60cm, những cành bị sâu bệnh hại, những cành lệch tán, những cành mọc chồng chéo, đan xen nhau. Nếu tán cây không quá dày, không nên cắt tỉa những cành nhỏ bên trong tán vì đây là những cành cho quả.

Tùy thuộc từng cây mà cắt tỉa. Với những giống có ưu thế sinh trưởng ngọn, tán hẹp thì cần bấm ngọn để xúc tiến phân cành, sau đó chọn những cành khỏe, tỉa những cành yếu, tỉa những cành có góc phân cành hẹp. Với những giống không có ưu thế sinh trưởng ngọn thì không cần cắt ngọn của cành chính, chỉ cần cắt những cành sinh trưởng kém, góc nhỏ, tạo thế lệch tán.

+ Tưới nước: Cây mắc ca chịu hạn tốt, song để đảm bảo tỷ lệ đậu trái và hạn chế rụng trái non cần tưới nước chống hạn vào mùa khô hoặc thời kỳ khô hạn kéo dài. Lượng tưới khoảng 30l/gốc/lần tưới.

5. Phân bón và cách bón:

Phân chuồng hoai được bón định kỳ 2-3 năm một lần với lượng 20-30 kg/gốc. Nếu không có phân chuồng có thể bổ sung các nguồn phân hữu cơ khác.

Phân chuồng và các loại phân hữu cơ bón theo rãnh vào đầu hay giữa mùa mưa, rãnh đào một phía dọc theo thành bồn, rộng 15-20cm, sâu 20-25cm, đưa phân xuống rãnh, lấp đất. Các năm sau rãnh đào về phía khác.

Bón phân vô cơ:

Lần bón

Ngày sau trồng

Lượng phân (gr/gốc)

Urê

NPK 20:20:15

1

20

10

15

2

40

10

15

3

60

10

15

4

80

10

15

* Thời kỳ kiến thiết cơ bản:

Tuổi cây

Nguyên chất (Kg)

Ghi chú

N

P2O5

K2O

Năm 1

20

20

15

Chia làm 2 lần bón

Năm 2

60

60

45

Chia làm 4 lần bón

Năm 3

100

100

75

Chia làm 4 lần bón

* Thời kỳ kinh doanh: Từ năm thứ 4 trở đi cây đã cho trái, từ năm thứ 8 năng suất ổn định, do đó lượng phân bón cũng tăng theo năng suất.

Tuổi cây

Nguyên chất   (Kg)

Ghi chú

N

P2O5

K2O

Năm thứ 4 – năm thứ 8

200

200

150

Chia làm 4 lần bón

Năm thứ 8 trở đi

400

400

300

Chia làm 4 lần bón

IV. SÂU, BỆNH HẠI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ:

1. Sâu hại và biện pháp phòng trừ: Sâu hại gồm: mọt đục cành, rệp sáp.

– Các biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng, làm cỏ, cắt bỏ cành bị hại và tiêu hủy. Tưới nước thích hợp để rửa trôi rệp sáp.

2. Bệnh hại và biện pháp phòng trừ:

– Ít thấy bệnh trên cây mắc ca, chủ yếu có thán thư làm thối hoa, nám quả.

– Các biện pháp phòng trừ:

Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, làm cỏ, cắt bỏ cành, lá, hoa quả bị nhiệm bệnh và tiêu hủy.

V. THU HOẠCH, PHÂN LOẠI VÀ XỬ LÝ BẢO QUẢN SAU THU HOẠCH:

Quả mắc ca khi chín sẽ tự rụng, khi vào mùa thu hoạch nên dọn vệ sinh vườn cây, cào sạch cỏ rác để thuận lợi cho việc thu lượm. Cách thu hoạch chủ yếu là lượm quả chín rụng, lúc này đa số vỏ quả đã nứt sẵn, có thể tách lấy hạt ngay tại vườn. Có thể thu hoạch quả còn trên cây nhưng phải đảm bảo hạt đã đạt độ già. Quả mới rụng có hàm lượng nước cao tới 30%, phải nhanh chóng tách quả và hong khô hạt trong bóng râm đến khi hàm lượng nước còn khoảng 10%.

Thu hàng ngày để tránh tổn thất do chuột, sóc; Ẩm độ hạt 10% có thể bảo quản đến 3 tháng, sấy khô hạt đến ẩm độ 1,5% có thể bảo quản trong nhiều năm.

Quy Trình Kỹ Thuật Canh Tác Cây Dâu Tằm

Ngày đăng: 2024-10-28 09:08:27

I. Phạm vi, đối tượng áp dụng:

1. Phạm vi điều chỉnh: Quy trình áp dụng cho tất cà các vùng trồng dâu tằm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

2. Đối tượng áp dụng: Các tổ chức, cá nhân trồng dâu tằm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

II. Đặc điểm và yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh: 1. Đặc đểm thực vật học:

Cây dâu tằm tên khoa học Morusalba L, là cây thân gỗ, sống lâu năm cây bụi hoặc cây to. Lá sớm rụng, có thể rụng hàng năm vào mùa đông, mọc cách, có răng cưa, có lá kèm ở gốc cuống lá, lá hình ngọn mác. Hoa nở theo cụm, đuôi sóc, hoa đơn tính, có ít hoa lưỡng tính trên cùng một cây hoặc khác cây, hoa đực và cái trên cùng một trục hoặc khác trục, thịt quả dày mọng nước. Thân cành nhiều nhựa không gai, trên thân cành có nhiều mầm, mầm đỉnh, mầm nách. Rễ ăn sâu và rộng 2-3 m, nhưng phân bố nhiều ở tầng đất 10-30cm và rộng theo tán cây.

2. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh:

Nhiệt độ thích hợp 24-320C, khi nhiệt độ trên 400C một số bộ phận của cây dâu bị chết, ở nhiệt độ 00C cây dâu ngừng sinh trưởng, nhiệt độ không khí tăng trên 120C thì cây dâu bắt đầu nảy mầm.

Ánh sáng: Là loại cây trồng ưa ánh sáng, năng suất chất lượng lá có quan hệ mật thiết với điều kiện chiếu sáng. Số giờ chiếu sáng 10-12 giờ/ngày là tốt nhất. Thiếu ánh sáng lá dâu mỏng, thân mềm yếu, chất lượng lá dâu kém. Cây dâu có thể hấp thu ánh sáng có độ dài từ 400-800µ.

Nước và ẩm độ không khí: Là cây trồng tương đối chịu hạn, nhưng nếu thiếu nước thì cây ngừng sinh trưởng. Trung bình cứ 100cm2 lá trong một giờ thì phát tán 1,8 gam nước. Điều đó chứng tỏ cây dâu có nhu cầu nước rất lớn. Ẩm độ thích hợp cho cây dâu sinh trưởng từ 70-80%.

Lá dâu là thức ăn duy nhất của tằm, mặt khác trên 60% chi phí để sản xuất ra tơ là dùng vào khâu trồng, quản lý và thu hoạch, bảo quản lá dâu.

III. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây dâu tằm 1. Giống dâu tằm:

Một số giống dâu đang trồng phổ biến tại Lâm Đồng là giống bầu đen, giống S7-CB, giống VA-201, tổ hợp lai TBL-03, giống VA-186, giống dâu Sa nhị luân,…

Cây dâu có thể trồng bằng hạt (nhân giống hữu tính) hoặc trồng bằng cách giâm hom (nhân giống vô tính).

A. Nhân giống vô tính:

– Chăm sóc vườn giống gốc:

Chế độ phân bón 15 tấn phân chuồng/ha, 300kg N-180kg P2O5-240kg K2O (theo tỷ lệ N:P:K=5:3:4)

Số lứa hái lá một năm: Thu từ 6-8 lứa/năm, những lứa cuối không hái để tránh dâu phân cành làm giảm tỉ lệ nảy mầm của hom.

Thời vụ đốn: Tùy giống mà thời vụ đốn để lấy cành khác nhau. Giống VA-201 đốn vào cuối tháng 9 đến trung tuần tháng 11; giống S7-CB do ít phân cành, khả năng kháng bệnh tốt, thời vụ đốn thích hợp là là tháng 2 – tháng 4 hàng năm.

Định hình số thân trên cây: khoảng 6-7thân/cây.

Dựa vào qui luật phát sinh phát triển của sâu bệnh để có biện pháp phòng trừ thích hợp. Thời điểm phòng bệnh tốt nhất từ tháng 7-10 hàng năm. Rầy búp (rệp mềm) dùng bassa 0,2%, Bi58 0,4% phun định kỳ 20-25 ngày một lần.

– Kỹ thuật giâm hom:

Tiêu chuẩn hom: Hom đạt chuẩn phải có 2 mắt trên hom, đường kính ≥ 0,5cm, tuổi hom ≥ 8 tháng. Mật độ trong vườn ươm thích hợp khoảng 67 hom/m2(10x15cm). Thời vụ nhân giống từ tháng 5-7 và 11,12 có tỷ lệ xuất vườn đạt trên yêu cầu.

Phân bón sử dụng 5 tấn phân vi sinh/ha/năm, 45-60 kg N/ha/vụ và tỷ lệ N:P:K là 2:1:1.

Phòng trừ dịch bệnh trong vườn ươm: Kiểm tra theo dõi phòng trừ một số đối tượng gây hại chính như bệnh bạc thau, bệnh rỉ sắt, bệnh lở cổ rễ, rầy hại búp.

B. Nhân giống hữu tính:

Nhân giống hữu tính là trồng dâu bằng hạt, được hình thành quá trình thụ phấn giữa hoa đực và hoa cái. Cây dâu trồng bằng hạt có bộ rễ phát triển nên có khả năng chịu hạn cao, tuổi thọ của cây dâu dài, hệ số nhân giống cao. Tuy nhiên, công tác nhân giống phức tạp, cây dâu thường không thuần, lá mỏng nhiều cành tăm, hoa quả nhiều. Đối với tỉnh Lâm Đồng, hình thức nhân giống này còn mới chưa mang tính phổ biến.

2. Kỹ thuật trồng dâu:

– Thời vụ trồng tốt nhất ở Lâm đồng là đầu mùa mưa từ tháng 3 đến tháng 4 dương lịch hoặc cuối mùa mưa từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11. Nếu trồng bằng cây con được nhân giống trong vườn ươm thì tốt nhất là tháng 4 hoặc tháng 5 để tránh phải tốn công tưới nước.

– Mật độ trồng: Tùy thuộc loại đất, phương thức canh tác và điều kiện đầu tư thâm canh mà xác định mật độ trồng hợp lý, thông thường mật độ trồng hàng cách hàng 1,2-1,5m, cây cách cây 0,2-0,3m, khoảng 42.000 cây/ha.

3. Chuẩn bị đất trồng dâu tằm:

– Thiết kế vườn dâu: Chọn đất bằng, vùng đồi có độ dốc nhỏ hơn 150. Đất dốc dưới 60, dốc cục bộ 80 thiết kế hàng thẳng song song với đường bình độ chính. Đất dốc trên 60 thiết kế hàng dâu theo đường đồng mức, làm gờ tầng, trong quá trình chăm sóc dần dần sẽ tạo thành các bậc thang hẹp để hạn chế xói mòn.

– Đất được cày sâu 35-40cm trước khi trồng dâu 25-30 ngày. Những nơi mới khai hoang cần gom sạch rễ cây, cỏ dại. Sau khi cày đất và thiết kế lô thửa, tiến hành đào rãnh, rạch hàng, rộng 0,3-0,5m; sâu 0,35-0,4m và khoảng cách giữa các hàng là 1m. Vùng đồi núi chú ý rạch hàng theo đường đồng mức, vùng ven sông rạch hàng xuôi theo dòng nước chảy. Nếu trồng dâu bụi tốt nhất là đào hố kích thước 40x40x40cm, lấy đất mặt để riêng sau này đưa xuống hố trồng.

– Bón lót trước trồng: Tùy theo chất đất tốt hay xấu mà quyết định lượng phân bón lót. Những vùng đất bạc màu cần phải kết hợp cải tạo đất trước khi trồng bằng cách bón vôi, lân, phân hữu cơ. Đối với những vùng đất nghèo dinh dưỡng lượng bón lót 15-20 tấn phân hữu cơ, phân lân nung chảy 700kg, 1 tấn vôi.

Cách bón: Ngay sau khi đào rãnh cho phân hữu cơ, lân, vôi và một phần đất vào rãnh, trộn đều sau đó phủ thêm một lớp đất khoảng 5cm ở trên mặt và tiến hành trồng. Trong trường hợp phân chưa hoai mục, sau khi trộn phân 10-15 ngày thì mới tiến hành trồng.

– Chuẩn bị hom giống: Tuổi cây trong vườn ươm 60-70 ngày trở lên, chiều cao cây 30cm trở lên, đường kinh thân cây con: 0,02cm trở lên, cây dâu không bị sâu bệnh, không lẫn giống.

Chú ý: Trước khi nhổ cây 15 ngày không được bón đạm để cứng cây.

Tiêu chuẩn hom dâu giống: Hom dâu giống phải đạt từ 8 tháng tuổi trở lên, đường kính hom từ 0,6-1cm, không có nguồn nấm bệnh. Không bị lẫn giống.

Chọn hom ở những ruộng dâu tốt có tuổi cành từ 8 tháng đến 1 năm, không sâu bệnh, đường kính cành từ 0,6-1cm là tốt nhất, chặt bỏ phần ngọn. Nếu trồng dâu cắm đứng hom chặt dài 20-30cm, hom phải có từ 3 mắt trở lên, chặt vát 2 đầu cách mầm 2cm, không dập nát, bó lại theo một phía ngọn. Hom chặt xong nên trồng ngay cần phải bảo quản cẩn thận không bị héo. Phương pháp bảo quản tốt nhất là đào hố sâu khoảng 40cm, dài rộng tùy theo số lượng hom, hom được xếp quay ngọn lên phía trên, phủ cỏ rác và được tưới nước thường xuyên có thể bảo quản được 25 ngày. Không nên trồng những hom đã nẩy mầm.

6. Trồng cây dâu tằm:

– Trồng dâu bằng hom: Cắm hom xiên áp dụng với đất có tỉ lệ sét cao và đất ẩm, cắm hom xiên 450 cắm sâu ¾ chiều dài hom vào trong đất – ¼ hom trên mặt đất. Cắm thẳng đứng áp dụng đất đồi có độ ảm kém cắm hom thẳng đứng trong đất chiều dài hom được chôn trong đất chỉ chừa 1 mắt trên mặt đất.

– Trồng dâu bằng cây con: Thời gian trong vườn ươm thường 50-60 ngày, khi cây trong vườn ươm đạt chiều cao 40-50cm, đường kính thân đạt 0,3cm trở lên thì nhổ đem trồng.

Kỹ thuật trồng dâu bằng cây con: Khi đặt cây dâu không để rễ cây tiếp xúc trực tiếp với lớp phân bón ở rãnh, giữ cho rễ cây dâu con thẳng, không bị cuộn lại, lấp đất kín phần cổ rễ, nén chặt đất xung quanh gốc.

Chú ý: Khi lấp đất xuống rãnh chỉ lấp 2/3 chiều sâu của rãnh, sau khi đặt cây dâu xuống rãnh giữ cho cây thẳng, lấp tiếp phần đất còn lại sao cho luống dâu cao hơn rãnh 10-15cm để khi mưa không bị đọng nước ở gốc.

– Chăm sóc dâu trồng mới: Sau khi trồng 10-15 ngày, hom bắt đầu nẩy mầm, tưới nước và làm cỏ thường xuyên tránh va chạm vào cây khi làm cỏ. Sau trồng 2-3 tháng nên trồng dặm để đảm bảo mật độ, có thể trồng dặm bằng hom hoặc cây con, tốt nhất là dặm bằng cây con. Sau trồng 1 tháng bón đợt đầu tiên 150kg urê/ha, sau đó định kỳ 1-1,5 tháng bón một lần với tổng lượng cho năm thứ nhất là: 400kg urê, 600kg lân, 150 kg kali/ha.

Định hình cây khi hái lá: Sau trồng mới 4-6 tháng sau có thể thu hái lá nâng dần, không nên tận thu. Tỉa để mỗi gốc từ 2 -3 thân chính, thường xuyên tỉa cành cấp 2.

Bảo vệ thực vật: Chú ý trừ dịch hại cây dâu con, đặc biệt là rầy hại búp dâu.

7. Quản lý chăm sóc dâu hàng năm:

– Làm cỏ: Tùy điều kiện từng nơi có thể làm cỏ gốc 6 lần, cỏ giữa hàng 2 lần kết hợp với việc dùng thuốc trừ cỏ như: Gramoxone, Roundup,…nên phun vào lúc cỏ đang phát triển, lúc trời nắng và xới xáo gốc 1-2 lần/năm.

– Bón phân:

Phân hữu cơ: Liều lượng bón hàng năm khoảng 15-20 tấn. Phân hữu cơ chủ yếu bón trước hoặc sau khi thu hoạch 15 ngày.

Phân vô cơ: Lượng phân nguyên chất 400kg N-160kg P2O5-160kg K2O Phân bón cho dâu cần chia làm nhiều lần để tăng hiệu suất sử dụng phân bón. Sau khi bón phân, nếu có điều kiện, nên tưới nước 1-2 lần để cây dễ hấp thụ.

Lượng phân vô cơ bón cho cây dâu (kg/ha)

8. Đốn dâu: Là biện pháp kỹ thuật để điều khiển dâu lá theo ý muốn.

– Đốn tạo hình dâu khóm: Dâu sau trồng 12 tháng đốn thân chính cách mặt đất 15-20cm, tỉa bớt cành cấp 1, giữ mỗi khóm 5-6 cành cấp 1.

Sau lần đốn thứ nhất 12 tháng, đốn cành cấp 1 cách thân chính 6-6cm, mỗi cành cấp 1 có 3-4 mắt khỏe.

Từ năm thứ 3 trở đi đốn cành cấp 2 cách vết đốn cũ 5-6cm. Sau 8 – 10 năm khi bộ cành cấp 1, cấp 2 và cành sản xuất già và sức nẩy mầm yếu cần tiến hành đốn trẻ lại.

– Đốn thấp hàng năm: Áp dụng đối với dâu rạch hàng, hàng năm khi dâu ngừng sinh trưởng đốn sát mặt đất hoặc bới gốc đốn dưới mặt đất 6-6cm, khi dâu nẩy mầm vun gốc trở lại.

– Đốn sát (đốn trẻ lại): Dâu sau trồng 5-10 năm thường bị già hóa phần thân cành, để dâu sinh trưởng tốt cho năng suất cao cần tiến hành đốn sát gốc trở lại sau đó tạo hình như dâu trồng mới.

– Đốn phớt, đốn lững: Áp dụng khi dâu sinh trưởng chậm, khi đốn chú ý nếu dâu lấy hom trồng mới thì chỉ đốn phớt ngọn 20cm. Nếu dâu không lấy hom thì có thể đốn lững cao 1-1,5m.

Sau lần đốn này thu hoạch dâu cành và đốn thấp trở lại.

– Thời vụ đốn: Tại Lâm Đồng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.

– Kỹ thuật đốn: Chọn ngày trời mát để đốn, dụng cụ đốn tốt nhất là dùng cưa máy, tránh làm dập nát vết đốn. Nếu đốn tạo hình hoặc đốn cao chú ý tỉa bỏ sạch cành nhỏ (cành tăm), bỏ những mầm dâu đã nảy trước khi đốn để dâu sinh trưởng đều. Đốn lần thứ nhất cách mặt đất 10-15cm, tỉa bớt cành cấp 1, mỗi khóm giữ 4-6 cành. Các đợt đốn sau đó đốn cách vết đốn cũ 2-3cm, sau đốn 25-35 ngày tiến hành tỉa định mầm. Đồi với dâu đang tạo cành cấp 1, cấp 2 tỉa bỏ mầm yếu, mầm bệnh, giữ lại số lượng mầm để tạo tán cho cây. Đối với dâu đốn thấp chỉ tỉa bỏ mầm yếu, giữ lại tất cả những mầm có khả năng cho năng suất.

Dâu sau trồng 10-15 năm thường bị già hóa phần thân cành. Để dâu sinh trưởng tốt cho năng suất cao cần tiến hành đốn sát gốc trở lại, sau đó tạo hình như dâu trồng mới.

Khi dâu sinh trưởng chậm, có thể đốn phớt, đốn lững (chú ý nếu dâu lấy hom trồng mới chỉ đốn phới ngọn 20cm). Nếu dâu không lấy hom thì có thể đốn lững cao 1-1,5m, sau lần đốn này thu hoạch dâu cành và đốn thấp trở lại.

IV. Phòng trừ sâu, bệnh hại ở dâu tằm: 1. Bệnh ở dâu tằm:

Dâu thường bị bệnh bạc thau, đốm lá, cháy lá, gỉ sắt, xoăn lá. Cần hái lá kịp thời và vệ sinh đồng ruộng.

2. Sâu ở dâu tằm:

Sâu đục thân, bọ gạo, sâu cuốn lá, sâu đo, sâu róm và các loại rầy rệp truyền bệnh virut xoăn lá, hoa lá. Dùng thuốc Dipterex hoặc Bi 58 tỷ lệ 10-15 %, phun sau 15 ngày mới hái lá cho tằm ăn.

Cây dâu bị rất nhiều loại sâu bệnh phá hoại, làm giảm năng suất, chất lượng lá. Nếu bị nặng có thể làm cây bị chết, lá dâu không sử dụng cho nuôi tằm được. Để phòng trừ có hiệu quả sự phát sinh và lây lan của các loại sâu bệnh hại cây dâu, đảm bảo nâng cao sản lượng, an toàn cho việc nuôi tằm, cần nắm vững quy luật phát sinh, phát triển của từng loại sâu, bệnh mà áp dụng các biện pháp hữu hiệu để phòng trị kịp thời.

V. Thu hoạch và bảo quản lá dâu tằm: 1. Thu hoạch lá dâu tằm:

– Phương pháp hái lá: Chọn lá theo đúng yêu cầu của tằm, ít ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, giảm tỷ lệ sâu bệnh, tốn công lao động. Việc thu hái trên một lô dâu cần tập trung trong khoảng 7-10 ngày, không nên kéo dài làm ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc vườn dâu. Hái dâu cho tằm ăn tốt nhất vào 8-10 giờ sáng, không nên hái quá sớm hoặc buổi trưa.

– Phương pháp thu hoạch bằng cách cắt cành: Ít tốn công lao động, làm cho tươi dâu, dễ bảo quản, làm cho khoảng cách giữa các lứa nuôi dài hơn và có thời gian để chăm sóc. Phương pháp cắt cành chỉ nên áp dụng cho những vùng đất tốt, những hộ gia đình có điều kiện thâm canh cao.

2. Bảo quản lá dâu tằm:

Đối với lá dâu nuôi tằm nên xếp theo lớp và phủ vải thấm nước, dâu cho tằm lớn chất thành đống có chiều dày không quá 20cm, giữ ẩm bằng cách phủ vải thấm nước (không phủ bằng nilon), cứ 2-4 giờ đảo một lần. Phòng bảo quản lá dâu phải thoáng mát, có cửa thông gió để giảm nhiệt độ của phòng.

Trung tâm khuyến nông tỉnh Lâm Đồng

TIN TỨC KHÁC :

Quy Trình Canh Tác Chuối Già Lùn Nam Mỹ

Chuẩn bị đất trồng: Đất trồng được lên liếp có độ dày tầng canh tác từ  50cm trở lên, thoát nước tốt, tránh bị ngập úng, đất phải cày bừa kỹ, làm sạch cỏ, tạo cho đất tơi xốp.

        – Đối với đất mới lên líp được bón 1 tấn/ha vôi bột trước khi trồng 15 ngày

       – Đào hố: hố có kích thước 40 x 40 x 40cm.

Mật độ, chọn giống và cách trồng:

– Áp dụng mật độ thâm canh 2000 cây/ha (không tính diện tích ao mương).

– Chọn cây chuối cấy mô có chiều cao 30 – 40cm, đường kính thân 2cm đạt từ 6 – 8 lá, cây to và khỏe mạnh. Khi đem trồng chọn lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh trồng lúc trời nắng gắt. Khi đặt cây con xuống hố trồng thao tác phải nhẹ nhàng tránh làm ảnh hưởng đến bộ rễ của cây, mặt bầu được đặt thấp hơn mặt đất 5 – 10cm và đắp mô hơi cao lên để tránh hiện tượng trồi gốc sau nầy.

– Cây mới đặt xuống phải có cọc cố định để không bị ảnh hưởng bởi gió (nếu có).

– Bố trí trồng ngoài đồng: theo 2 kiểu so le hình tam giác và đối diện hình vuông trên ruộng mình.

Bón phân: Bón phân theo công thức sau: 310 kg Urea + 105 kg surper lân long thành + 310 kg Kali + 2 tấn phân hữu cơ/ha/năm (phân hữu cơ có hàm lượng chất hữu cơ trên 20%).

Bón lót: Bón toàn bộ lân và phân hữu cơ trước khi trồng 7 – 10 ngày, số còn lại chia làm 6 lần bón:

+ Lần 1: 7 ngày sau trồng 21 kg Urê.

+ Lần 2: 25 ngày sau trồng 21 kg Urê + 21 kg Kali.

+ Lần 3: 40 ngày sau trồng 42 kg Urê + 42 kg Kali.

+ Lần 4: 120 ngày sau trồng 63 kg Urê + 63 kg Kali.

+ Lần 5: 180 ngày sau trồng 84 kg Urê + 84 kg Kali.

+ Lần 6: Trước khi trổ buồng 84 kg Urê + 105 kg Kali.

Cách bón: Ở giai đoạn cây còn nhỏ (lần 1 và 2) có thể hoà tan phân vào nước tưới vào gốc cây. Các lần bón sau bón theo rãnh xung quanh tán cây và lấp đất lại. Khi cây được trên 6 tháng tuổi có thể bón đều khắp mặt liếp.

Tưới nước và quản lý cỏ dại:

– Trong 3 tháng đầu khi cây còn nhỏ tưới 1lần/ngày, thời gian về sau thì tưới 2 lần/ 1 tuần. Khi bón phân có kết hợp tưới nước.

– Khoảng 1 – 1,5 tháng/lần, làm sạch bằng tay xung quanh gốc bán kính từ 0,5 -1m, làm cỏ trước khi bón phân, phần cỏ ngoài mặt liếp dùng máy cắt sát 2 tuần 1 lần, không sử dụng thuốc hoá học để diệt cỏ.

Tỉa mầm để chồi non: Trên mỗi cây mẹ chỉ nên để 2 – 3 chồi con, các chồi còn lại nên tỉa bỏ, chọn giữ lại chồi mọc khoẻ, cách gốc 10 – 20cm, có thời gian cách nhau bốn tháng, sau 4 tháng để thêm 01 chồi nữa,  nên chọn chồi xa gốc cây mẹ và tránh vị trí dưới buồng chuối.Chăm sóc buồng khi trổ: Sau khi trồng 7 tháng chuối bắt đầu trổ buồng, sau khi trổ xong hàng hoa cái thì tiến hành cắt bỏ bắp chỉ chừa 8 – 10 nải tuỳ theo sinh trưởng của cây, nên tiến hành cắt bắp vào buổi trưa để hạn chế sự mất nhựa, sau đó phun thuốc trừ bọ trĩ và bệnh thối trái, tiến hành bao quày bằng túi vải màu trắng. Thông thường 01 tháng sau khi cắt bắp tiến hành chống quày để tránh đổ ngã

Thu hoạch: Sau khi trồng 7 – 8 tháng chuối bắt đầu trổ buồng, đến 11 – 12 tháng ta có thể thu hoạch lứa đầu tiên, thu hoạch bằng cách đốn cả cây chuối sau đó cắt buồng, xẻ nải và vận chuyển đến nơi tiêu thụ. Chú ý thao tác thu hoạch phải nhẹ nhàn, thu hoạch lúc chuối già, không để chuối chín mới thu hoạch, vì dễ bị hư và dập.

Chăm sóc vườn chuối sau khi thu hoạch buồng: Cần đốn bỏ thân giả cây mẹ đã lấy buồng, nếu vườn có nhiều sâu bệnh có thể đào bỏ luôn củ cây mẹ, dọn vệ sinh như cắt bỏ các lá khô, bẹ lá khô và chuyển tất cả ra khỏi vườn trồng đặt ở nơi có kiểm soát được sâu bệnh cho cả vườn chuối; có thể sử dụng các vật liệu dọn vườn lúc thu hoạch buồng này làm nguồn phân hữu cơ góp phần cải thiện đất và sinh trưởng của chuối. Bón phân cho vụ thu buồng tiếp theo.

Thạc sỹ: Lê Văn Dũng

Cập nhật thông tin chi tiết về Quy Trình Kỹ Thuật Canh Tác Cây Chuối Laba trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!