Xu Hướng 2/2024 # Phân Loại Và Đặc Điểm Của Hoa Lan Kiếm # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phân Loại Và Đặc Điểm Của Hoa Lan Kiếm được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tên thường gọi là: hoa Lan Kiếm Tiên Vũ, hoặc hoa Lan kiếm Vân Ngọc.

Tên khoa học là: Cymbidium finlaysonianum

Nguồn gốc ban đầu của hoa Lan Kiếm là đến từ một số khu vực đặc biệt tại vùng Đông Á. Trong đó phổ biến nhất là ở các vùng núi cao và dãy Trường Sơn ở Việt Nam, bởi lẽ hoa Lan Kiếm thích hợp với khí hậu cận nhiệt đới ẩm nơi đây. Ngoài ra hoa cũng được trồng nhiều tại các tỉnh như Hòa Bình, Quảng Ninh…

Đây là loài hoa được xem là dễ trồng và chăm sóc. Khi cây sinh sống trong môi trường có độ ẩm cao, thân cây sẽ có xu hướng phình to ra và cao hơn bình thường khoảng từ 5 đến 7cm. Thậm chí có trường hợp cao hơn nữa tùy vào vùng khí hậu nơi cây được trồng.

Thân cây có màu xanh thẫm đặc trưng, ngoài ra còn có màu xanh vàng, đôi khi dọc theo thân cây có xuất hiện sọc trắng mờ dọc. Bên cạnh đó ở mép lá thường có chút ánh tím rất thu hút.

Trái ngược với thân cây nhỏ và bé, bộ lá của cây hoa Lan Kiếm lại khá to và dài hơn hẳn. Lá cây sẽ bắt đầu phát triển kể từ khi nảy mầm và mọc trên thân như những cây hoa khác. Điểm khác biệt ở chỗ bẹ lá thường ôm trọn cả thân. Ngoài ra cổ lá có dạng hình chữ V, khi chúng đã dài ra thì có xu hướng xòe ngang và ngả sang 2 bên.

Kích thước của lá rất lớn có chiều dài từ 60 đến 90 cm hoặc hơn tùy thuộc vào điều kiện sinh sống của cây. Lá có 2 màu thường thấy là màu xanh đậm và xanh ánh vàng.

Rễ của cây hoa Lan Kiếm thuộc nhóm rễ chùm, đầu rễ chia thành hai màu có màu trắng trong hoặc màu trắng tím. Thân rễ đa phần có màu trắng ngà. Vào thời điểm khí hậu chuyển sang nóng thì rễ sẽ phát triển rất nhanh. Ngược lại khi vào mùa đông, rễ cây sẽ hạn chế hoặc ngừng phát triển tạm thời, nếu có thì chỉ phát triển rất chậm.

Vào thời kỳ đầu, rễ sẽ bắt đầu sinh trưởng từ gốc cây, sau đó theo thời gian sẽ dần xuất hiện nhiều đầu rễ khác. Đến khi chúng đủ dài sẽ tự động phân nhánh con có nhiệm vụ bám vào đất trồng để hút chất dinh dưỡng.

Hoa Lan Kiếm thường mọc thành từng chùm, có dạng rủ hướng xuống đất đem lại vẻ quyến rũ và mềm mại. Điểm nổi bật là cần hoa mọc ra ở ngay mắt thân cây và sát gốc. Chiều dài của chúng khá lớn từ 60 đến 90 cm, với kích thước dao động ở mức 0,3 đến 0,5 cm.

Chức năng của cần hoa rất quan trọng bởi lẽ loài cây này khá to nên hoa thường rất dài và sở hữu nhiều bông. Mỗi giống cây sẽ có độ dày hoa khác nhau, đa số cần hoa sẽ mọc ra ở thân tơ và phát triển trong cùng một năm.

Thời điểm hoa mọc trên cần rất đều, theo định kỳ sẽ cho ra khoảng 20 đến 30 bông hoa. Đường kính mỗi bông khá lớn, có thể lên đến 6 cm. Người mua thường ưa thích lựa chọn những cây hoa Lan Kiếm với cánh hoa càng to càng tốt.

Lan kiếm được chia làm 4 loại sau:

Kiếm lô hội có tên khoa học là Cymbidium aloifolium và ở Việt Nam có 2 tên là: Đoản kiếm Lô Hội và Kiếm Lô Hội

Đặc điểm: Dòng lan này có đặc điểm củ rất nhỏ, lá dài và cứng. Chùm hoa buông rủ, dài tới 75 phân, hoa 30-45 chiếc, to 4-4.25 phân, nở vào mùa Xuân. Phân bố ở cả ba miền Bắc trung Nam

Đoản kiếm đen đỏ có tên khoa học là Cymbidium atropurpureum Ở Việt Nam có tên là Đoản kiếm đỏ đen hoặc Lan kiếm treo

Đặc điểm: Loại địa lan có đặc điểm củ mọc sát nhau, lá dài và mềm. Dò hoa rủ xuống dài tới 1 thuớc, hoa to 3.5-4.5 phân, 10-33 chiếc,thơm mùi dừa, nở vào mùa Hạ-Thu. Phân bố chủ yếu ở Gia Lai, Kontum.

Kiếm hai Mầu có tên khoa học là Cymbidium bicolor có tên tiếng việt là: Đoản kiếm hai màu hoặc lan kiếm 2 màu

Đặc điểm: Loài Kiếm này có đặc điểm lá dài 40-50 phân, dò hoa dài 60-70 phân, uốn cong hay rủ xuống, hoa 20-25 chiếc, to 4.5 phân, thơm nở vào Xuân-Hạ. Phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên, Lâm Đồng

Kiếm Tiên Vũ có tên khoa học là Cymbidium finlaysonianum Có tên tiếng việt là Kiếm Vàng hoặc Hoàng Kiếm Lan

Đặc điểm: Kiếm tiên Vũ Thùy cũng khá giống với các loài kiếm khác vẫn thân là các giả hành lá dài 40 – 50cm, Hoa màu vàng , phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền bắc như Hải Phòng, Quảng Ninh.

Hoa Lan Kiếm chỉ có thể sinh trưởng tốt dưới điều kiện ánh sáng trong khoảng 20%-50%, do đó tốt nhất người trồng nên sử dụng lưới che nắng để che chắn bớt ánh nắng trực tiếp. Có rất nhiều loại lưới che trên thị trường hiện nay, có loại được sản xuất tại Việt Nam, hay nhập khẩu từ Đài Loan,Thái Lan,Trung Quốc…

Đây tất nhiên luôn là yếu tố cực kỳ quan trọng khi trồng bất kỳ loại hoa nào. Đối với cây hoa Lan Kiếm, chỉ nên tưới nước sao cho vừa đủ ẩm, đồng thời lá đủ sạch để giúp quá trình quang hợp diễn ra tốt hơn. Lưu ý khi nhiệt độ dưới mức 30 độ C thì tưới ít nhất mỗi ngày 1 lần, nếu trên mức 30 độ C thì tưới 2 lần mỗi ngày.

Mời bạn tham khảo một số loại Vật tư trồng hoa lan phổ biến

Đặc Điểm Và Phân Loại Lan Kiếm Rừng

Lan kiếm rừng Việt Nam hiện nay rất đa dạng mặt hoa. Các loại lan kiếm rừng cũng rất dễ trồng và chăm sóc khi ta đã nắm vững được kỹ thuật. chúng tôi xin chia sẻ đến các bạn về đặc điểm nhận dạng cũng như phân loại các loài lan kiếm rừng hiện nay.

Đặc điểm của các loại lan kiếm rừng

Cây hoa phong lan kiếm rừng thường sống ở các vùng núi cao với không khí khô và thích nghi được với hầu hết các điều kiện khí hậu nóng ẩm của nước ta. Đây là loại lan có thân lá lúc nào cũng xanh tươi tạo cho người xem cảm giác đầy sức sống. Lá lan kiếm rừng sống được vài năm chứ không rụng theo mùa như vài loại lan khác.

Trong tự nhiên, lá lan kiếm rừng tùy theo môi trường sống mà thích ứng phù hợp. Những nơi nắng nóng, khô hạn lá ngắn lại hơi ngả vàng nhạt màu nắng. Bẹ lá vẫn ôm chặt củ để che chắn bảo vệ tích trữ dinh dưỡng cho bản thân và dành cho thế hệ sau. Những nơi ẩm, ít ánh sáng lá dài hơn mét, bản to, dày hơn màu xanh đậm và mềm hơn nhưng vẫn khoẻ khoắn.

Hoa lan kiếm rừng cũng có nhiều màu sắc và hình thái khác nhau. Nhưng tựu chung lại thì 1 bông hoa kiếm xuất phát từ nách lá trên hành kiếm tạo thành cần (phát, vòi) hoa. Trên cần hoa có khoảng 20-50 hoa tùy theo giống. Hầu hết cần hoa thòng xuống kéo dài đến hoa cuối cùng. Cấu tạo hoa gồm cuống hoa, có 3 đài, 2 cánh, 1 trụ nhuỵ, 1 lưỡi ( thuỳ lớn), 2 thuỳ nhỏ ôm trụ nhuỵ. Mùi hương của hoa thì nhẹ nhàng, ngọt mật (theo mình giống thoảng mùi mít chín mộc mạc, vương vương).

Phân loại lan kiếm rừng

Trên thế giới, phân chi Kiếm lá cứng gồm 5 loài, trong đó Việt Nam có 4 loài đầu tiên: Cym. aloifolium (L.) Sw. 1799.Tên Việt: Đoản kiếm Lô hội (PHH), Kiếm Lô hội (TH). Gốc của từ aloifolium là aloe – cây lô hội (nha đam), liên tưởng lá kiếm giống hình thái lá cứng dựng, dầy mọng nước của cây lô hội. Màu cánh hoa có những sọc nâu đỏ biến thiên rất rộng, từ đậm đến nhạt, dày đến mỏng.

Cym. bicolor Lindl. 1833.

Tên Việt: Đoản kiếm hai màu (PHH), Lan Kiếm hai màu (TH). Tên kiếm đã thể hiện đặc trưng hoa gồm 2 màu (thường cánh màu nâu đỏ có viền trắng hoặc vàng).

Cym. nlaysonianum Wall. ex Lindl. 1833.

Tên Việt: Đoản kiếm Finlayson (PHH), Lan Kiếm vàng (TH). Hiện nay tên gọi chung cho loại lan kiếm rừng này là Kiếm Tiên vũ. Gốc của từ finlaysonianum là để vinh danh Finlayson – nhà sưu tầm lan người Anh ở Ấn độ thế kỷ 19. Người chơiThường gọi loài này là “Kiếm ba mầu” (hoa thường có các mầu vàng, nâu đỏ, trắng). Đây là loài có kích thước thân, lá, cần hoa, khuôn hoa lớn nhất so với các loài kiếm lá cứng khác. Hoa thường có mùi thơm dịu nhẹ.

Cym. atropurpureum (Lindl.) Rolfe 1903.

Tên Việt: Đoản kiếm đen đỏ (PHH), Lan kiếm treo (TH). Loài lan kiếm rừng này có lá dày cứng dài đến 1m, nhưng rất bé chỉ khoảng 1.5-2cm. Chùm hoa ngắn, thường chỉ khoảng 30-40cm. Mùi rất thơm, như mùi kẹo dừa, nên còn được gọi là Kiếm thơm, Kiếm dừa. Giữa 4 loại lan kiếm nói trên dễ phân biệt hơn nếu có hoa kèm theo. Khi không có hoa thường chỉ có thể xác định tương đối chính xác được Kiếm thơm/Kiếm dừa (Cym. atropurpureum) nhờ vào củ và lá nhỏ dài, Kiếm vàng/Kiếm Tiên vũ (Cym. finlaysonianum) nhờ vào bản lá lớn, củ to hơn hẳn.

Hai loài Kiếm lô hội (Cym. aloifolium) và Kiếm hai màu (Cym. bicolor) rất khó phân biệt. Ngay cả khi có hoa cũng dễ lầm lẫn. Đặc điểm phân biệt rõ nhất giữa Kiếm Lô hội và Kiếm hai màu là ở lưỡi hoa. Nếu lưỡi bệt có mảng đốm nâu đỏ là Kiếm hai màu, còn nếu lưỡi có nhiều kẻ sọc nâu đỏ là Kiếm lô hội. Lưỡi hoa Kiếm hai mầu có xu hướng cuộn hơn so với lưỡi hoa Kiếm lô hội.

Cym. rectum Ridl. 1920.

Đặc điểm của loài kiếm rừng này là cần hoa dựng (trong khi 4 loài trên cần hoa rủ). Hoa có chấm đỏ đầu lưỡi. Mẫu nguyên thủy của loài Cym. rectum này được trồng tại vườn thực vật Singapore từ năm 1902 nhưng đã bị mất mẫu. Sau đó đến năm 1982 tìm lại được ngoài tự nhiên ở Malaysia. Tên Việt: không có, nhưng có thể dịch là ” Kiếm hoa dựng “. Lưu ý biến dị cần hoa dựng cũng có thể gặp ở loài kiếm bicolor tại một số tỉnh miền Trung của Việt Nam.

Nguồn: Tổng hợp

Lan Kiếm – Phân Loại, Đặc Điểm, Cách Trồng Và Chăm Sóc

Lan kiếm hay được xếp dòng địa lan và là một dòng lan được chơi lâu đời nhất ở nước ta. Hãy cùng rung hoa lan tìm hiểu cụ thể hơn về loài hoa này nhé!

Xuất xứ.

Lan kiếm hay chính xác hơn là lan kiếm lá cứng là một loài hoa lan có xuất xứ từ rừng Việt Nam, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á.

Phân loại:

Lan kiếm được chia làm 4 loại sau:

a, Kiếm lô hội.

Kiếm lô hội có tên khoa học là Cymbidium aloifolium và ở Việt Nam có 2 tên là: Đoản kiếm Lô Hội và Kiếm Lô Hội

Đặc điểm: Dòng lan này có đặc điểm củ rất nhỏ, lá dài và cứng. Chùm hoa buông rủ, dài tới 75 phân, hoa 30-45 chiếc, to 4-4.25 phân, nở vào mùa Xuân. Phân bố ở cả ba miền Bắc trung Nam

b, Đoán kiếm đen đỏ.

Đoản kiếm đen đỏ có tên khoa học là  Cymbidium atropurpureum Ở Việt Nam có tên là Đoản kiếm đỏ đen hoặc Lan kiếm treo

Đặc điểm: Loại địa lan có đặc điểm củ mọc sát nhau, lá dài và mềm. Dò hoa rủ xuống dài tới 1 thuớc, hoa to 3.5-4.5 phân, 10-33 chiếc,thơm mùi dừa, nở vào mùa Hạ-Thu. Phân bố chủ yếu ở Gia Lai, Kontum

c, Kiếm Hai Mầu

Kiếm hai Mầu có tên khoa học là Cymbidium bicolor có tên tiếng việt là: Đoản kiếm hai màu hoặc lan kiếm 2 màu

Đặc điểm: Loài Kiếm này có đặc điểm lá dài 40-50 phân, dò hoa dài 60-70 phân, uốn cong hay rủ xuống, hoa 20-25 chiếc, to 4.5 phân, thơm nở vào Xuân-Hạ. Phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên, Lâm Đồng

d,  Kiếm Tiên Vũ:

Kiếm Tiên Vũ có tên khoa học là Cymbidium finlaysonianum Có tên tiếng việt là Kiếm Vàng hoặc Hoàng Kiếm Lan

Đặc điểm: Kiếm tiên Vũ Thùy cũng khá giống với các loài kiếm khác vẫn thân là các giả hành lá dài 40 – 50cm, Hoa màu vàng , phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền bắc như Hải Phòng, Quảng Ninh..

Lan kiếm tiên vũ thùy vàng nở tại nhà vườn 3, Cách trồng và chăm sóc lan Kiếm

Lan Kiếm là một trong những loài lan dễ trồng và chăm sóc nhất trong các loài lan. Với những dân chơi lan lâu năm thì có thể nói vứt đâu nó cũng sống, cũng phát triển được. Tuy nhiên, để làm được điều này thì bạn cần phải chú ý những điều sau:

a, Cách trồng.

Bước 1: Chọn những cây khiếm làm giống phải đẹp thì thân con mới có thể phát triển tốt được

Bước 2: Để tiết kiệm giã thể và thoát nước tốt bạn nên lót xốp chiếm khoảng ⅓ chậu

Bước 3: Chúng ta có thể sử dụng nhiều loại vỏ như vỏ thông hay dớn hoặc rêu để làm giá thể trồng Kiếm

Bước 4: Cho thân kiếm định nhân giống vào và cố định trên dớn ( bạn cố định chắc để không bị ảnh hưởng đến rễ)

Bước 5: Có thể sử dụng một số loại phân như: Phân dê hay Phân chì chậm tan để bổ sung chất dinh dưỡng cho cây giúp cây phát triển tốt hơn

Cách trồng lan kiếm không quá khó b,  Cách chăm sóc.

Việc chăm sóc lan kiếm không quá khó bạn chỉ cần đảm bảo ánh nắng không chiếu trực tiếp gây cháy lá. Ánh sáng thường khoảng 60% là cây phát triển tốt nhất. Một điều cần lưu ý nữa là phải đảm bảo không khí thông thoáng độ ẩm khoảng 60%. Và nếu bạn không có nhiều thời gian để luyện kiếm thì cũng hãy tưới cho nó 2 lần vào sáng và tối nhé!

Lan Vô Thường Kiếm: Đặc Điểm Và Nguồn Gốc Của Cây

Ý nghĩa cái tên Vô Thường Kiếm

Vô Thường là một giáo lý cốt lõi của Phật giáo, chỉ sự thay đổi, không chắc chắn, không trường tồn của vạn vật. Cái tên Vô Thường kiếm do Trung Phạm đặt. Với ý nghĩa ghi nhận đặc trưng biến thiên về độ sạch của trụ nhụy, biến thiên về mảng màu lưỡi của cây kiếm hoa vàng đặc sắc đến từ nủi rừng Quảng Ngãi.

Đặc điểm của lan Vô Thường Kiếm

Vô thường Kiếm thuộc loài Kiếm Tiên Vũ (Cym. finlaysonianum). Với hoa dạng mắm cùng trụ nhụy trơn (biến thiên), cánh hoa vàng sáng. Đây là một dòng kiếm có thân thủ trung bình. Lá cứng, bản lá vừa phải (4-5cm đổ lại). Luyện rèn nhiều nắng lá kiếm sẽ ngắn lại cũng khá đẹp.

Vô Thường kiếm có đặc điểm sinh trưởng rất khỏe. Cây đẻ nhiều mầm con và rất sai hoa. Cần hoa xanh, thẳng, phân bố các hoa đều. Một cây kiếm loại này chăm tốt thì cần hoa có thể đạt 30 bông.

Khi nở hoa có mùi khá thơm và dịu. Cánh hoa vàng sáng, ba cánh đài hầu như sạch, hai cánh tràng còn vương màu mắm nơi gốc và chót cánh. Bông mới nở cánh khá to và bầu bĩnh, sau đó bể khuôn khá nhanh. Trụ nhụy gần như sạch. Lưỡi có mảng màu biến thiên. (Khác với lưỡi của Vị Hoàng có các chấm hoa văn đa dạng sắc thái). Điểm khác biệt dễ nhận biết của Vô Thường kiếm là trong họng lưỡi có 2 mắt chấm màu mắm.

Về độ ổn định và độ biến thiên của hoa: Mỗi lần nở có sự khác biệt nhất định về độ sạch của trụ nhụy và mảng màu lưỡi. Trụ nhụy có bông sạch hoàn toàn, có bông còn chấm nhỏ, có bông còn lem gốc. Mảng màu của lưỡi cũng biến thiên. Đa số có vệt bán nguyệt đầu lưỡi, nhưng cũng có bông lưỡi liền, có bông gần bệt

Mặt hoa lan Kiếm Vô Thường Nguồn gốc của lan Vô Thường Kiếm

Trung Phạm là người đầu tiên xin được một khóm kiếm hoa vàng từ nhà người bác ở Đức Phổ, Quảng Ngãi năm 2024. Về trồng xổ lại hoa khá đẹp và đăng lên hội kiếm vào giữa năm 2024. Sau đó trong năm 2024, Ngô Hiếu đến khu vực đó gom sưu tầm cây này trong dân. Lúc này có những bụi kiếm khủng đang trổ gần chục cần hoa mang những chùm hoa vàng khoe sắc rực rỡ. Bà con cho biết cây kiếm này mọi người hay tách cho tặng nhau là chính. Nguồn gốc do dân lấy về từ rừng Ba Tơ, Quảng Ngãi tầm chục năm trước.

Đến tháng 4/2024, Trung Phạm chính thức đặt tên cây lan kiếm này là Vô Thường. Và từ vườn của Ngô Hiếu, cây Vô Thường của quê hương Quảng Ngãi đã được chia sẻ cho các kiếm thủ trong cả nước.

Hoang Xuan Thanh

Đặc Điểm Của Các Loại Phân Bón Hữu Cơ

1. Phân bón hữu cơ truyền thống: phân chuồng, phân xanh, phân rác… – Nguyên liệu chính: chất thải của vật nuôi, phế phẩm trong nông nghiệp, phân xanh (bèo hoa dâu, thân cây họ đậu)… – Cách xử lý truyền thống: ủ hoai mục – Vai trò: cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, bổ sung các chất hữu cơ cho đất giúp cho đất được tơi xốp, tăng độ phì nhiêu, tăng hiệu quả sử dụng phân hóa học… – Sử dụng: Chủ yếu dùng bón lót khi làm đất hoặc trước khi trồng. Bón theo hàng, theo hốc, theo hố hoặc bón rải trên mặt đất rồi cày vùi xuống. Lượng phân bón sẽ tùy thuộc vào nhu cầu dinh dưỡng  của cây trồng nhiều hay ít, loại đất tốt hay đất xấu và chất lượng của phân bón. Nếu phân bón chất lượng tốt thì bón ít, phân có hàm lượng dinh dưỡng thấp thì bón nhiều. Đối với phân chuồng bón từ 0,5-2 tấn/hecta. Đối với phân xanh cày vùi vào đất khi cây ra hoa lúc làm đất. 2. Phân hữu cơ sinh học Nguyên liệu công nghiệp, có sự tham gia của một hoặc nhiều vi sinh vật có ích: – Xử lý: Quy trình lên men công nghiệp – Vai trò: Tạo điều kiện cho vi sinh vật trong đất phát triển. Cung cấp thêm thức ăn cho các vi sinh vật có trong đất, nên các vi sinh vật này phát triển nhanh và giun đất cũng phát triển mạnh + Sử dụng: Sử dụng cho cả bón lót hoặc bón thúc, có thể phun lên lá hoặc bón gốc. Bón theo hàng, theo hốc hay rải đều trên mặt đất rồi cày vùi, bón lót khi làm đất hoặc trước gieo trồng. Bón thúc theo chiều rộng hoặc vòng quanh tán cây: Đối với cây lâu năm: đào rãnh để bón hoặc rải đều trên mặt đất Đối với cây ngắn ngày: thì bón lót là chủ yếu, bón thúc nên bón sớm để phân đạt hiệu quả cao hơn 3. Phân hữu cơ vi sinh Nguyên liệu công nghiệp, có sự tham gia của một hoặc nhiều vi sinh vật có ích. Các vi sinh vật này có thể còn sống và sẽ hoạt động khi được bón vào đất + Xử lý: quy trình lên men công nghiệp + Vai trò: Cải tạo đất + Sử dụng: giống phân bón hữu cơ sinh học 4. Phân hữu cơ khoáng – Nguyên liệu: phân hữu cơ sinh học được trộn thêm phân vô cơ (thành phần hữu cơ phải đạt 15% trở lên) – Sử dụng: + Dùng để bón thúc là chính. + Cách bón tương tự như phân hữu cơ sinh học là bón vòng quanh tán với cây lâu năm, theo hàng theo hốc với cây ngắn ngày. + Nhược điểm là bón nhiều không có lợi cho hệ vi sinh vật đất. Chú ý:  + Khi sử dụng các phân hữu cơ sinh học, vi sinh không nên sử dụng các loại thuốc BVTV, phân bón hóa học để phân bón đạt hiệu quả cao, + Sau khi bón cần giữ độ ẩm thích hợp cho vi sinh vật hoạt động và phát triển.

– Nguyên liệu chính: chất thải của vật nuôi, phế phẩm trong nông nghiệp, phân xanh (bèo hoa dâu, thân cây họ đậu)…– Cách xử lý truyền thống: ủ hoai mục– Vai trò: cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, bổ sung các chất hữu cơ cho đất giúp cho đất được tơi xốp, tăng độ phì nhiêu, tăng hiệu quả sử dụng phân hóa học…– Sử dụng: Chủ yếu dùng bón lót khi làm đất hoặc trước khi trồng. Bón theo hàng, theo hốc, theo hố hoặc bón rải trên mặt đất rồi cày vùi xuống.Lượng phân bón sẽ tùy thuộc vào nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng nhiều hay ít, loại đất tốt hay đất xấu và chất lượng của phân bón.Nếu phân bón chất lượng tốt thì bón ít, phân có hàm lượng dinh dưỡng thấp thì bón nhiều.Đối với phân chuồng bón từ 0,5-2 tấn/hecta. Đối với phân xanh cày vùi vào đất khi cây ra hoa lúc làm đất.Nguyên liệu công nghiệp, có sự tham gia của một hoặc nhiều vi sinh vật có ích:– Xử lý: Quy trình lên men công nghiệp– Vai trò: Tạo điều kiện cho vi sinh vật trong đất phát triển. Cung cấp thêm thức ăn cho các vi sinh vật có trong đất, nên các vi sinh vật này phát triển nhanh và giun đất cũng phát triển mạnh+ Sử dụng: Sử dụng cho cả bón lót hoặc bón thúc, có thể phun lên lá hoặc bón gốc. Bón theo hàng, theo hốc hay rải đều trên mặt đất rồi cày vùi, bón lót khi làm đất hoặc trước gieo trồng.Bón thúc theo chiều rộng hoặc vòng quanh tán cây:Đối với cây lâu năm: đào rãnh để bón hoặc rải đều trên mặt đấtĐối với cây ngắn ngày: thì bón lót là chủ yếu, bón thúc nên bón sớm để phân đạt hiệu quả cao hơnNguyên liệu công nghiệp, có sự tham gia của một hoặc nhiều vi sinh vật có ích. Các vi sinh vật này có thể còn sống và sẽ hoạt động khi được bón vào đất+ Xử lý: quy trình lên men công nghiệp+ Vai trò: Cải tạo đất+ Sử dụng: giống phân bón hữu cơ sinh học– Nguyên liệu: phân hữu cơ sinh học được trộn thêm phân vô cơ (thành phần hữu cơ phải đạt 15% trở lên)– Sử dụng:+ Dùng để bón thúc là chính.+ Cách bón tương tự như phân hữu cơ sinh học là bón vòng quanh tán với cây lâu năm, theo hàng theo hốc với cây ngắn ngày.+ Nhược điểm là bón nhiều không có lợi cho hệ vi sinh vật đất.+ Khi sử dụng các phân hữu cơ sinh học, vi sinh không nên sử dụng các loại thuốc BVTV, phân bón hóa học để phân bón đạt hiệu quả cao,+ Sau khi bón cần giữ độ ẩm thích hợp cho vi sinh vật hoạt động và phát triển.

Các Loại Lan Hài, Nơi Phân Bố Và Đặc Điểm Nổi Bật Của Chúng

Lan hài hay còn được gọi bằng tên khoa học khác là Paphiopedilinae. Sở dĩ chúng được gọi với cái tên ngộ nghĩnh như vậy là bởi hoa của chúng có một cánh môi ở giữa có hình cái túi nhỏ nhìn giống như những chiếc hài. Đây là sự biến thể của cánh hoa thứ ba. Vậy dòng lan này có những loại lan nào? Chúng được phân bố những đâu? Có đặc điểm gì nổi bật. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu trong nội dung được đề cập dưới đây.

1, Nơi phân bố của lan hài

Lan hài được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới như: Đông Âu, Bắc Mỹ, Ấn Độ, New Ghine, các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Tại Việt Nam với khí hậu nhiệt đới là điều kiện lý tưởng để loài hoa lan nàysinh sống.  Người chơi có thể tìm thấy loại cây cảnh này ở cả hai miền Nam và miền Bắc như: Đà Nẵng, Quảng Trị, Quảng Nam, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Phú Yên, Daklak, Hòa Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Sơn La,….chúng sống tại các đường đỉnh núi cao từ 500 – 1000 mét so với mực nước biển, dưới các tán rừng thưa.

2, Đặc điểm lan hài

Phần lớn lan hài thường mọc dưới đất mùn vì vậy nó vẫn được xếp là dòng địa lan. Những nơi có lá mục hay những kẽ đá vôi thích sống ở những nơi có nhiệt độ lạnh đến trung bình. Nhiệt độ ban ngày để loài lan này sinh trưởng và phát triển tốt là từ 18 – 24oC, ban đêm từ 13 – 16oC. Những cây Paphiopedilinae sinh sống trong vùng khí hậu lạnh lá thường có màu xanh và ngược lại những cây sinh trưởng phát triển trong điều kiện khí hậu ấm hơn thường có lá vằn và màu xanh nhạt. Lá của chúng phát triển thành từng cặp từ dưới gốc cây, có kích thước dài và hẹp. Không giống như những loài địa lan khác như lan kiếm, lan vũ nữ, loai lan này không có giả hành. Bởi vậy cây thường không thể lữu trữ chất dinh dưỡng và nước. Điều này đòi hỏi người trồng cần đặc biệt lưu ý và có những phương pháp thích hợp để chăm sóc lan như phải tưới nước thuyền xuyên cho lan 1 ngày/ lần tránh để rễ lan khô. Chúng không thể tự tìm kiếm “thức ăn” và nước sẽ bị teo thân và thậm chí chết.

hoa của lan hài có một cánh môi ở giữa có hình cái túi nhỏ nhìn giống như những chiếc hài

Về rễ của loài lan này thường cứng và dày, chúng phân nhánh thưa thớt. Đầu rễ non có màu hồng nhạt và trắng ngà

Hoa của loài lan này có rất ít mỗi cành chỉ có một đến hai hoa, kích thước bông hoa lớn từ 12 – 15cm. Cụm hoa thẳng, dài 20 – 25 cm. Môi hoa hình túi, cánh lưng thường có dạng hình tim ngược đầu có sọc hay đốm. Hai cánh bên phía sau kết hợp liền với nhau. Còn hai cánh bên phía trước có thể xòe hai bên hay thả xuống. Chúng thường nở vào mùa đông, thời gian hoa nở rất lâu tàn có thể từ 2 – 3 tháng.

3, Các loại lan hài

Theo thống kê trên thế giới có khoảng 60 loại lan hài. Tại Việt Nam có khoảng 14 loại lan Paphiopedilinae như: Lan hài hồng, vàng, đài cuộn, gấm, kim, vân, râu, đốm, henry,… Mỗi loại đều có những nét riêng tạo sự cuốn hút cho người chơi lan. Chính vì thế đây là lý do người chơi lan không ngần ngại chi số tiền lớn để có thể sở hữu bộ sưu tập lan hài. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập chi tiết đến một số loại lan hài được ưa chuộng và tìm mua nhất hiện nay.

a. Lan hài hồng

Chúng thường phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Nam Việt Nam như: Đắc Lắc, Khánh Hòa,…Chúng thường nở hoa vào tháng 12  – 3 dương lịch năm sau. Chúng mọc thành bụi dưới tán rừng mưa nhiệt đới, ở các hốc đá ẩm. Lá loại lan hài này rộng và dài từ 8 – 11cm, mặt trên màu lục, có nhiều chấm tía. Hoa có màu hồng, kích thước lớn, cánh môi màu đỏ tươi, hình trứng cầu, miệng hình bầu dục, mép cuốn vào tròn; cụm hoa dài, trên đỉnh có một hoa. Dưới đây là đặc điểm cụ thể của một số loại lan hài

Các loại lan hài phổ biến có hình giáng như trên b, Lan hài vàng

Trên thế giới lan hài vàng được tìm thấy nhiều ở các nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Mianma, Thái Lan, Lào,…Tại Việt Nam loài lan này sinh sống ở các tỉnh như: Gia Lai, Lâm Đồng, Khánh Hòa. Cây có 4 -5 lá mọc chụm, lá hình dải, mặt trên của lá có màu lục đậm và màu lục nhạt ở mặt dưới lá với nhiều chấm màu nâu tía ở gốc. Mùa hoa của loại lan hài này nở vào tháng 4 – 6 dương lịch, cụm hoa có cuống dài, số lượng hoa ít chỉ có 1 hoa, cánh hoa bóng, màu nâu đỏ với dải giữa màu đỏ thẫm.

c, Lan  hài gấm

Lan hài gấm hay còn được gọi là lan đốm. Lá dài 10 – 18 cm, thuôn tù, trải rộng ra hai bên, có màu xanh bóng, có đốm màu xanh đậm ở mặt trên, mặt dưới lá có màu hung đỏ. Chúng thường có một đến 3 hoa, hoa nở rộ vào tháng 3 – 4 dương lịch hàng năm. Hoa có đường kính lớn, màu vàng có đốm màu nhỏ, cánh môi dạng túi dài, hơi nhọn ở gốc, mép cuộn vào trong, hai cánh tràng hơi chúc xuống.  Cánh đài lưng gần tròn, cong lõm.

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Loại Và Đặc Điểm Của Hoa Lan Kiếm trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!