Xu Hướng 12/2022 # Phân Bón Đầu Trâu Tại Các Tỉnh Phía Bắc: Kiên Trì Một Hướng Đi / 2023 # Top 12 View | Duhocaustralia.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Phân Bón Đầu Trâu Tại Các Tỉnh Phía Bắc: Kiên Trì Một Hướng Đi / 2023 # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Phân Bón Đầu Trâu Tại Các Tỉnh Phía Bắc: Kiên Trì Một Hướng Đi / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Mức tăng trưởng khả quan

Bước sang năm 2012, thương hiệu Đầu Trâu đã có mặt tại thị trường phân bón các tỉnh miền Bắc tròn 10 năm. Bắt đầu bằng các sản phẩm phân bón lá cao cấp, nhưng lại được phân phối một cách thủ công, lượng tiêu thụ rất khiêm tốn, đến năm 2002, gặp nhà phân phối Thái Sơn (Cty TNHH TMDV Thái Sơn) thì cơ hội phát triển thương hiệu được mở ra. Theo đề nghị của ông Lê Xuân Phương (Giám đốc Cty Thái Sơn), các sản phẩm phân bón Đầu Trâu chuyên dùng 997, 998, 999 đã được chuyển từ TPHCM ra. Thật vất vả, mỗi chuyến chỉ chuyên chở được vài trăm tấn bằng đường tàu hỏa. Vả lại, người dân các tỉnh phía Bắc vốn có tập quán sản xuất lâu đời là dùng phân đơn, họ ngoảnh mặt, làm ngơ trước sự xuất hiện của NPK – mà họ gọi là phân bón cứt chuột. Làm sao đây? Phải mở các điểm trình diễn. Phải cam kết với nông dân sẽ bồi hoàn toàn bộ nếu bà con sử dụng phân bón Đầu Trâu mà thất mùa. Sự tận tâm, chân thật của Bình Điền và bạn hàng phân phối Thái Sơn đã được đền đáp. Người dân tham gia mô hình tin vì họ được hưởng lợi ích thiết thực từ chương trình. Nhưng làm sao “phủ” kín được các tỉnh thành khi lực lượng của Bình Điền chỉ có hạn. Sau nhiều lần xắn quần lội ruộng giữa cái rét căm căm của vụ lúa đông xuân, TGĐ Lê Quốc Phong và GĐ Lê Xuân Phương đã quyết định phải mở rộng các điểm trình diễn kết hợp với đặt các đại lý phân phối. Tập huấn cho đại lý về kỹ năng bán hàng và bán các sản phẩm NPK Đầu Trâu, giúp đại lý trở thành người đại diện của Đầu Trâu tại địa phương. Nhiều chủ đại lý cảm mến ông Phong Đầu Trâu mà sẵn sàng ôm hàng, bán lai rai, chịu lỗ thời gian đầu. Kết quả từ thực tế đã giúp bà con nông dân dần dần tin dùng phân bón Đầu Trâu. Từ chỗ chỉ có một số tỉnh đồng bằng Bắc bộ, đến nay phân bón Đầu Trâu đã có mặt tại 28/29 tỉnh thành phía Bắc với gần 100 đại lý cấp 1, hàng ngàn đại lý cấp 2, 3. Sản lượng tiêu thụ cũng tăng dần, từ vài trăm tấn (năm 2003), đến hơn chục ngàn tấn (2006), 43 ngàn tấn (2010), 60 ngàn tấn (2011). Năm 2012 này, dự kiến tiêu thụ 80 ngàn tấn phân bón Đầu Trâu các loại, doanh thu hơn 1000 tỷ đồng.

Kiên trì một hướng đi

Gần đây, các nhà phân phối đề nghị Cty sản xuất sản phẩm Đầu Trâu bón lót cho lúa và hoa màu. Nếu tung ra các dòng sản phẩm này (chỉ cần hàm lượng thấp), nhất là vào đầu vụ đông xuân, sản lượng tiêu thụ của Đầu Trâu sẽ tăng vọt, lợi nhuận vì vậy cũng được cộng thêm rất nhiều. Các dòng sản phẩm đang có của Đầu Trâu chủ yếu có hàm lượng cao, lượng sử dụng rất ít trên một đơn vị diện tích trong khi tập quán sản xuất của người nông dân miền Bắc là sử dụng nhiều phân bón. Rãi phân cho lúa phải “sướng tay”. Cũng đúng thôi, vì ruộng đất ít quá, người dân sợ thất mùa, là đói, phải đầu tư mạnh, cho “chắc ăn”, “lấy công làm lời”, chứ có mấy ai tính tới cái tác hại, cả trước mắt và lâu dài của việc sử dụng quá nhiều, quá thừa phân khoáng. Làm thế nào thay đổi được tập quán sản xuất lâu đời này của bà con là trăn trở và cũng là quyết tâm rất lớn của Bình Điền. Không chạy theo số lượng. Không sốt ruột trước tỷ lệ tăng trưởng hằng năm. Không chiều nịnh một tập quán sản xuất đã không còn phù hợp nữa, nhưng… TGĐ Cty Lê Quốc Phong, nói: “Cái gì cũng phải từ từ. Thay đổi cả một tập quán sản xuất không phải chuyện dễ, phải có thời gian. Phải làm cho bà con chuyển từ thói quen sử dụng phân bón cấp thấp, sang sử dụng phân bón có hàm lượng cao. Thay vì cầm một nắm to phân để rải, thì chỉ cần một nửa, thậm chí một nhúm là đủ. Nếu bón 1 bao thay cho 3 bao phân khác thì người dân được lợi nhiều thứ lắm. Qua rồi cái thời “lấy công làm lời”. Được lợi về thời gian giúp nhà nông có điều kiện tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội, xây dựng nông thôn mới. Bình Điền đã thành công trong việc góp phần giúp nông dân Nam bộ sản xuất nông nghiệp theo hướng VietGAP, sản xuất ra sản phẩm không chỉ để dùng, mà còn có chất lượng và chứng chỉ đàng hoàng để xuất khẩu. Tới đây phân bón Đầu Trâu 46P+ sẽ ra. Sử dụng ĐT 46P+ sẽ giảm gần một nửa so với DAP, giảm từ 5 đến 6 lần so với sử dụng Supe Lân, loại phân bà con miền Bắc đang sử dụng rất nhiều. Bà con nông dân đâu biết bón lân vào đất cây trồng chỉ “ăn” được tối đa là 30%. Số 70% lân còn lại bị các chất có trong đất như sắt, nhôm… “trói chặt”, cây  không thể “hút” được. Sản phẩm ĐT 46P+ có chất AVAIL bao quanh hạt lân, làm cho các chất có trong đất không thể tới gần. Hạt lân luôn ở dạng tự do nên cây trồng sử dụng được. Đây là phát minh của các nhà khoa học Mỹ, Úc, New Zealand mà Bình Điền được chuyển giao”.

Kiên trì đưa ra các sản phẩm Đầu Trâu với hàm lượng dinh dưỡng hữu hiệu rất cao cho từng loại, từng giai đoạn phát triển của cây trồng, giúp nông dân giảm lượng bón, giảm công vận chuyển, giảm khối lượng lưu kho, giảm công bón, tiết kiệm chi phí tức thời, lại giảm chi phí thuốc BVTV do cây trồng khỏe, chống chịu tốt với sâu bệnh, góp phần bảo vệ môi trường, vì sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp nước nhà – đó là chiến lược nhất quán của phân bón Đầu Trâu. Về giá cả, theo ông Phong tới đây, khi Bình Điền xây dựng nhà máy sản xuất tại Ninh Bình, sử dụng Ure lỏng của Nhà máy đạm Ninh Bình thì phân bón Đầu Trâu tại các tỉnh phía Bắc sẽ có giá cạnh tranh cao, có lợi nhiều hơn cho nông dân.

Tham gia ngay từ đầu mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”

Phân bón Đầu Trâu gắn với “Cánh đồng mẫu lớn” (CĐML) ở Nam bộ với tư cách một “nhà” tiên phong trong mối liên kết 4 nhà với những sản phẩm phân bón chất lượng cao và một chính sách ưu đãi được người dân rất “chịu”. Bước sang vụ sản xuất đông xuân năm 2012, Bộ Nông nghiệp và PTNT đưa CĐML ra các tỉnh phía Bắc. Bộ giao cho Bình Điền làm mô hình tại Nam Định. Mặc dù thời gian triển khai rất gấp, ngày 27 Tết mới họp được với Sở Nông nghiệp các tỉnh để triển khai, nhưng Bình Điền không chỉ làm ở Nam Định mà cả Hà Nội, với 9 mô hình ở 7 huyện, tổng cộng 473 ha.

Chúng tôi vừa có chuyến thăm các mô hình tại Nam Định. Nông dân và cán bộ quản lý HTX nông nghiệp rất phấn khởi, tin tưởng. Lúa đông xuân phát triển tốt, đang bắt đầu trỗ bông. Bà Nguyễn Thị Thắng, ở làng Nhuông, xã Yên Trung, huyện Ý Yên, cho biết: gia đình bà tham gia mô hình CĐML 6 sào (360m2/sào) “Tôi bón toàn phân Đầu Trâu theo hướng dẫn, lúa đã trỗ đều, cây cứng, sạch, sáng, lá tuy không xanh bằng bón nhiều đạm hạt trắng, nhưng ít sâu bệnh. Đạm hạt vàng Đầu Trâu rải xuống ruộng mấy ngày sau còn thấy hạt, chứ đạm trắng rải xuống nước vài giờ là tan biến hết.”

Ông Hoàng Mạnh Cừ, đội trưởng sản xuất ở xóm 10, xã Hùng Tiến, huyện Giao Tiến cũng khẳng định: “Bón phân Đầu Trâu theo quy trình của mô hình lúa không xanh bằng rải đạm trắng tự do theo tập quán của bà con, nhưng cây lúa rất cứng, lá dày, số nhánh hữu hiệu cao, trông bụi lúa sáng thế này nhất định sẽ ít sâu bệnh, sẽ đạt năng suất tối ưu”. Tuy vậy một số bà con do chưa tin nên lén rải thêm Ure trắng. Chị Nguyễn Thị Điệp thành thật nhận “có bón thêm mỗi sào 1kg đạm trắng nữa vì nghĩ bón phân Đầu Trâu lượng ít quá làm sao lúa tốt được”.

Xuống ruộng với nông dân mới thấy trách nhiệm của Bình Điền và Công ty phân phối Thái Sơn. Rải ra khắp các mô hình đều có cán bộ kỹ thuật của Cty phụ trách, túc trực giải quyết những vướng mắc của bà con nông dân. Các nhà khoa học trong Hội đồng cố vấn KHKT của Cty từ trong Nam nhưng cũng ra, lội ruộng thăm đồng 2-3 lần mỗi vụ.

Sắp tới Bộ Nông nghiệp và PTNT sẽ họp, sẽ có đánh giá, kết luận cụ thể và hướng sẽ  triển khai mở rộng mô hình CĐML. Phân bón Đầu Trâu sẽ tiếp tục đồng hành cùng chương trình như là một sự tự khẳng định mình vì lợi ích cao nhất của bà con nông dân miền Bắc.

 

 Tập huấn đại lý Đầu Trâu chuyên nghiệp để phục vụ bà con ngày càng tốt hơn

Trần Đình Thế

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Hoa Lily Ở Các Tỉnh Phía Bắc / 2023

THÔNG TIN CHUNG

1. Nhóm tác giả: ThS. Nguyễn Văn Tỉnh, TS. Đặng Văn Đông, ThS. Bùi Thị Hồng, TS. Trịnh Khắc Quang và cộng sự

2. Cơ quan tác giả: Viện Nghiên cứu Rau quả – Viện KHNN Việt Nam.

3. Nguồn gốc xuất xứ: 

Từ kết quả đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống và kỹ thuật sản xuất tiên tiến một số loại hoa chủ lực có chất lượng cao phục vụ nội tiêu và xuất khẩu (Hoa hồng, Cúc, Lily và lan cắt cành” do Viện Di truyền Nông nghiệp chủ trì.

4. Phạm vi áp dụng:

Cho các tỉnh phía Bắc.

5. Đối tượng áp dụng: Các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia sản xuất hoa lily.  

QUY TRÌNH KỸ THUẬT

I. MỘT SỐ GIỐNG TRỒNG HIỆN NAY

Hiện nay ở Việt Nam trồng phổ biến một số giống lily sau (các giống này đã được Viện Nghiên cứu Rau quả khảo nghiệm, kết luận phù hợp điều kiện Việt Nam).

– Dòng lily thơm:

+ Giống Acpulco (16/18, 18/20): Cao 95-110cm, có 4-7 hoa, hoa hồng đậm có đốm chấm đỏ, lá to, thời gian sinh trưởng 95-100 ngày (giống được công nhận tạm thời 5/2006)

+ Giống Tiber (16/18, 18/20): Cao 80-100cm, có 4-6 hoa, hoa hồng nhạt, lá nhỏ, thời gian sinh trưởng 85-100 ngày (giống được công nhận tạm thời 5/2006)

+ Giống Belladonna (16/18, 18/20): Cao 85-100cm, có 3-5 hoa, hoa màu vàng, lá to, thời gian sinh trưởng 80-90 ngày.

+ Giống Concador (16/18, 18/20): Cao 85 -90 cm, có 4 -7 hoa, hoa màu vàng, lá to, thời gian sinh trưởng 82 -88 ngày.

+ Giống Curly (16/18): Cao 70-85cm, có 3-5 hoa, hoa màu hồng đậm, lá thuôn nhọn, thời gian sinh trưởng 75-90 ngày.

– Dòng lily không thơm:

+ Giống Goden Tycoon (16/18): Cao 60-90cm, có 3-5 hoa, hoa màu vàng cam, lá to, thời gian sinh trưởng 65-70 ngày.

+ Giống Freya (14/16): Cao 60-90cm, có 3-4 hoa, hoa màu vàng chanh, lá to, thời gian sinh trưởng 65-70 ngày.

(Tất cả các giống trên, Việt Nam và nhiều nước khác chưa sản xuất được mà vẫn phải nhập từ Hà Lan).

II. KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC 

1. Thời vụ trồng

– Đối với vùng Đồng bằng sông Hồng, miền Trung trồng chủ yếu 2 vụ chính: vụ Thu Đông T9 – T10 để thu hoạch vào dịp Tết, vụ Đông Xuân T10 – T12 để thu hoạch vào dịp 8/3. Đối với một số vùng như Mộc Châu, Mường La (Sơn La) và các vùng có điều kiện khí hậu tương tự có thể trồng để thu hoạch quanh năm.  

Căn cứ vào thời gian sinh trưởng của từng giống lily và điều kiện khí hậu của vùng trồng để chọn thời điểm trồng cho phù hợp.

Ví dụ đối với giống Sorbonne, để thu hoa vào dịp tết thì thời điểm trồng thích hợp là: 

– Vùng đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Bắc Ninh…): 20/9-27/9 (âm lịch).

– Vùng miền núi phía Bắc (Mộc Châu, Sa Pa, Bắc Cạn…): 5/9-12/9 (âm lịch).

– Vùng miền Trung (từ Thanh Hóa trở vào Huế…): 25/9-2/10 (âm lịch).

2. Chuẩn bị nhà che

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế, chúng ta nên trồng lily trong nhà có mái che mưa, che giảm ánh sáng: có thể dùng nhà lưới hiện đại, nhà lưới đơn giản hoặc nhà che tạm tuỳ theo điều kiện canh tác.

3. Chuẩn bị đất/giá thể trồng lily

Yêu cầu chung của đất/giá thể trồng lily:

+ Tơi xốp, thoát nước tốt, không chứa mầm bệnh hại.

+ Độ dẫn điện dung dịch đất: EC=0,5-0,8mS/cm.

+ pH: Đối với nhóm lily thơm pH=5,5-6,5; Đối với nhóm lily không thơm pH=6,0-7,0.

a, Đất trồng lily (trường hợp trồng trên luống):

Tốt nhất là nên trồng trên chân đất luân canh với lúa nước hoặc cây ngũ cốc, không trồng trên chân đất vụ trước trồng cây cùng họ (hành, tỏi…) hoặc trên chân đất vụ trước trồng loại cây bón nhiều phân, phun nhiều thuốc phòng trừ sâu bệnh (hoa đồng tiền, hoa cúc, rau màu…). Nếu trồng ở vùng đất bị nhiễm mặn cần trồng trên chậu có giá thể.

* Làm đất/lên luống:

– Làm đất:

+ Đất được cày bừa tơi, phẳng, sạch cỏ rác.

+ Khử trùng đất: Dùng Foocmalin 40% pha theo tỷ lệ 1/80 – 1/100 lần; hoặc dùng Viben C 50BTN pha theo tỷ lệ 1/400 lần, phun vào đất với lượng 250lít/ha. Sau đó dùng nilon phủ kín mặt đất 5-7 ngày, phơi đất 10-15 ngày trồng là được. Nếu không có điều kiện khử trùng như trên thì ngâm đất bằng nước không bị ô nhiễm (thời gian ngâm đất từ 24-48h và tháo sạch nước đi).

+ Bón lót: Có thể bón lót bằng phân chuồng hoai mục: 0,5m3/100m2, trộn đều phân với đất trước khi trồng.

– Lên luống: Mặt luống rộng 1,0-1,2m; cao 25-30cm, rãnh luống 30-35cm.

b, Giá thể trồng lily (trường hợp trồng trong chậu)

– Giá thể tốt nhất trồng lily là: Đất: xơ dừa (mùn cưa gỗ tạp): phân chuồng (hoai mục) với tỷ lệ 2:2:1 (về thể tích). 

         - Trước khi trồng, giá thể phải được xử lý tiêu độc. Dùng Foocmalin 40% pha theo tỷ lệ 1/80 – 1/100 lần; hoặc dùng Viben C 50BTN pha theo tỷ lệ 1/400 lần, phun hoặc tưới vào giá thể, trộn đều, phủ kín nilon ủ từ 3- 5 ngày, sau 1-2 ngày là trồng được. 

4. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

4.1. Chọn củ giống

Ví dụ: đối với giống Sorbonne:

+ Củ 14/16: cây cao 60-70cm, ít hoa (2-3 hoa/cây), không bị cháy lá

+ Củ 16/18: cây cao 80-90cm, ít hoa (3-5 hoa/cây), không bị cháy lá

+ Củ 18/20: cây cao 90-100, nhiều hoa (5-7 hoa/cây), ít bị cháy lá

4.2. Kỹ thuật trồng

a, Xử lý nấm bệnh củ giống trước khi trồng:

– Dùng Daconil 75WP hoặc Rhidomil Gold 68%WP (pha tỷ lệ 20-25g/10 lít nước), ngâm củ 8-10 phút, sau đó vớt củ, để ráo rồi đem trồng.

– Ngoài ra, có thể áp dụng phương pháp xử lý mát củ giống trước khi trồng bằng cách: xếp củ lần lượt ra khay nhựa có phủ giá thể (có sẵn trong khay củ nhập về hoặc xơ dừa), tưới ẩm, để vào kho lạnh (10o-12oC) trong 15 ngày giúp cây sinh trưởng, phát triển thuận lợi, giảm hiện tượng cháy lá. 

b, Kỹ thuật trồng

* Đối với trồng đất:

– Lên luống: mặt luống rộng 1m rạch 5 hàng; rộng 1,2m rạch 6 hàng; rãnh sâu 10-12cm.

– Mật độ trồng: căn cứ vào kích cỡ củ. Ví dụ giống Sorbonne (18/20cm) trồng 25 củ/m2 (khoảng cách 20 x 20cm). 

– Trồng xong lấp đất dày 8-10cm, tưới đẫm nước (cho nước ngấm cả phần củ).

* Đối với trồng chậu

– Dùng chậu nhựa hoặc chậu sứ có kích thước, kiểu dáng khác nhau. Chậu có đường kính 26cm trồng 3 củ/chậu; đường kính 35cm trồng 5 củ/chậu; chiều cao chậu tối thiểu là 30cm.

– Cách trồng:  

+ Cho giá thể vào chậu (dày tối thiểu 5cm), đặt mầm củ quay ra phía ngoài thành chậu để khi cây mọc lên sẽ thẳng và phân bố đều trên mặt chậu, sau đó phủ giá thể dày 8-10cm (tính từ đỉnh củ). Khi trồng xong phải tưới nước đảm bảo độ ẩm cho củ và giá thể.

+ Xếp chậu với chậu cách nhau 10-15cm (tính từ mép chậu).

4.3. Kiểm tra cây sau trồng

– Sau trồng 10-12 ngày, bới đất ở phần gốc của một số cây để kiểm tra sự phát triển của rễ. Nếu thấy rễ trắng, ra đều xung quanh gốc là cây sinh trưởng bình thường; ngược lại cần phải xem xét tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp khắc phục ngay lập tức (lúc này cần có sự tư vấn của các nhà khoa học).

– Đối với trồng chậu, nên kiểm tra để bổ sung giá thể nếu thấy rễ thân bị nhô lên khỏi mặt giá thể.

4.4. Kỹ thuật tưới nước

– Luôn phải giữ ẩm cho đất trong suốt quá trình trồng.

– Tưới cây ở phần gốc, tránh làm lá và nụ bị ướt.

– Nên sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt cho lily với chế độ tưới 30 phút/ngày.

– Kinh nghiệm kiểm tra lượng nước tưới vừa đủ: Bóp chặt 1 nắm đất sau khi tưới, không thấy nước rỉ ra ngoài tay, đất nắm thành cục, khi gõ nhẹ vào nắm đất sẽ bị vỡ ra.

4.5. Che phủ sau trồng

– Che phủ mặt luống: sau khi trồng xong dùng trấu hoặc rơm dạ phủ lên mặt luống.

– Che lưới đen: dùng 2 lớp lưới đen che cách mặt luống (chậu) từ 2,0-2,5m. Sau 15-20 ngày bỏ 1 lớp lưới đen ra. Khi cây bắt đầu xuất hiện nụ thì kéo lớp lưới đen còn lại ra. Những ngày nắng nóng thì che lưới đen lại.

4.6. Kỹ thuật bón phân

– Sau trồng 3 tuần (cây lily cao 15-20cm) tiến hành bón phân thúc.

+ Loại phân bón thúc chính thường dùng là NPK Đầu trâu (13-13-13+TE), ở mỗi giai đoạn sinh trưởng của cây có bổ sung thêm phân đạm, lân, kali khác nhau, nên hòa phân với nước để tưới.

– Lần 1: sau trồng 3 tuần: dùng NPK Đầu trâu (13-13-13+TE) lượng dùng 2kg/100m2.

– Lần 2: bón sau lần 1 từ 7-10 ngày. Lượng bón cho 100m2: 0,2kg đạm Urê + 3kg NPK Đầu Trâu.

– Lần 3: khi cây sắp xuất hiện nụ. Lượng bón cho 100m2: 0,3kg đạm Urê + 4kg NPK Đầu Trâu + 0,5kg lân Lâm Thao + 1kg Canxi Nitrat.

– Lần 4: khi đang xuất hiện nụ hoa. Lượng bón cho 100m2: 0,2kg đạm Urê + 4kg NPK Đầu Trâu + 0,5kg lân Lâm Thao + 0,3kg kali clorua + 1kg Canxi Nitrat.

– Lần 5: sau lần 4 từ 7-10 ngày. Lượng bón cho 100m2: 4kg NPK Đầu trâu + 0,5kg lân Lâm Thao+ 0,3kg kali clorua.

– Lần 6: sau lần 5 từ 7-10 ngày. Lượng bón cho 100m2: 4kg NPK Đầu Trâu + 0,4kg lân Lâm Thao + 0,4kg kali clorua.

+ Ngoài ra, muốn nâng cao chất lượng hoa cần phun một số phân bón lá và thuốc kích thích sinh trưởng như: Antonix, Komix, Đầu trâu (502, 901, 902). Phun sau trồng 15-20 ngày, phun định lỳ 5-7 ngày/lần.

4.7. Điều khiển sinh trưởng cho lily

– Biện pháp rút ngắn thời gian sinh trưởng cho hoa nở sớm: Khi đã ấn định thời điểm thu hoạch, nếu trước khi thu hoạch 35 ngày, nhiệt độ dưới 180C, chiều dài nụ hoa vẫn nhỏ hơn 3cm, có thể dùng nilon quây kín và thắp điện vào ban đêm hoặc phun chế phẩm Đầu trâu 902 (có tác dụng rút ngắn thời gian sinh trưởng của lily từ 3-6 ngày)

– Biện pháp kéo dài thời gian sinh trưởng cho hoa nở muộn: muốn kéo dài thời gian sinh trưởng của lily cần tổng hợp các biện pháp hạ nhiệt độ, giảm ánh sáng bằng cách che nắng, hạn chế tưới nước… Nếu phát hiện  hoa có khả năng nở sớm hơn so với thời điểm tiêu thụ thì có thể xếp các chậu hoa vào trong kho lạnh (12-15oC) trước khi tiêu thụ.

III. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH

1. Sâu hại: 

1.1. Rệp: chủ yếu là rệp xanh đen, rệp bông.

– Triệu chứng: Thường làm cho cây còi cọc, ngọn quăn queo, nụ bị thui, hoa không nở được hoặc dị dạng. 

– Phòng trừ: Sử dụng Karate 2,5 EC liều lượng 10 – 15 ml/bình 10lít, hoặc Supracide 40ND liều lượng 10 – 15 ml/bình 10 lít, Actara 25WG liều lượng 25-30g/ha…

1.2. Sâu hại bộ cánh vẩy (sâu khoang, sâu xanh, sâu xám)

– Triệu chứng: Sâu tuổi nhỏ ăn phần thịt lá để lại lớp biểu bì phía trên. Sâu tuổi lớn ăn khuyết lá non, ngọn non, mầm non, khi cây có nụ sâu ăn đến nụ và làm hỏng nụ, hoa. 

– Phòng trừ: Sử dụng Supracide 40 ND liều lượng 10 –15 ml/bình 10 lít; Pegasus 500 SC liều lượng 7 – 10 ml/bình 10 lít; Actara, Regon 25WP liều lượng 1g/bình 10 lít phun vào thời kỳ cây còn non.

2. Bệnh hại

2.1. Nhóm bệnh do nấm hại

2.1.1. Bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii)

a, Triệu chứng:

Cây héo rũ, quanh thân có các sợi nấm có màu trắng hoặc các hạch nấm nhỏ màu nâu, bộ phận bị bệnh biến nâu và thối nát; trên bề mặt đất có thể nhìn thấy rõ một lượng lớn các sợi nấm màu trắng và các hạch nấm màu nâu.

b, Nguyên nhân: do nấm Sclerotium rolfsii gây ra.

c, Phòng trừ bệnh:

– Tránh trồng gối vụ, tốt nhất sử dụng các loại cây trồng ngũ cốc để luân canh và luân canh với cây trồng nước.

– Phun Rhidomil Gold 68%WP 25g/bình 10 lít hoặc Score 250EC 7-10ml/bình 8 lít; phun 2-3 bình/sào Bắc bộ.

2.1.2. Bệnh thối hạch đen (Phytophthora)

a, Triệu chứng:

Cây mới bị bệnh lá có biểu hiện màu vàng về sau lan ra toàn bộ cây và khô héo.b, Nguyên nhân: do nấm Phytophthora gây ra.

c, Phòng trừ bệnh:

Cần luân canh với cây trồng khác. Phát hiện và loại bỏ kịp thời cây bị bệnh. Dùng Rhidomil Gold kết hợp với Score phun kĩ vào chỗ vết bệnh nặng, khử trùng những chỗ đã bỏ cây bằng vôi bột.

2.1.3. Bệnh thối củ, vảy củ (Fusarium)

a, Triệu chứng:

Cây ngừng sinh trưởng, bộ lá xanh nhợt đi. Trên vảy củ và phần dưới thân cây sát củ xuất hiện chấm màu nâu, những chấm này sẽ phát triển rộng làm thối củ.

b, Nguyên nhân: do nấm Fusarium gây ra.

c, Phòng trừ bệnh: 

Trồng luân canh với cây trồng khác họ. Khi mới chớm bệnh có thể dùng Daconil 75WP tưới vào gốc cây với liều lượng 10g/8 lít nước; Anvil 10-15g/8lít nước. Nếu bệnh nặng hơn nên nhổ bỏ cây bệnh tránh lây sang các cây khác.

2.2. Nhóm bệnh sinh lý 

2.2.1. Bệnh cháy ngọn (cháy lá)

a, Triệu chứng:

Bệnh xuất hiện khi nụ hoa chưa nở. Trước tiên, đầu lá non cuốn vào bên trong, sau mấy ngày trên phiến lá xuất hiện các vết ban từ màu xanh vàng sang màu trắng. Ở mức độ nặng, các vết ban trắng chuyển sang màu nâu, làm tổn thương đến chỗ phát sinh, phiến lá cong lại, ở mức độ nghiêm trọng, tất cả các phiến lá và mầm còn non đều rụng, cây không thể tiếp tục phát triển.

c, Phòng trừ : 

– Chọn những giống ít mẫn cảm với bệnh cháy lá, không nên trồng củ có kích thước lớn. Đảm bảo độ ẩm đất, trồng sâu vừa phải (mặt trên củ giống nên cách mặt đất 6-10cm). 

– Ở giai đoạn phân hoá hoa, giai đoạn mẫn cảm nhất, giữ cho nhiệt độ, độ ẩm không bến động lớn, tốt nhất là duy trì độ ẩm khoảng 75%, che nắng để giảm bớt bốc hơi n¬ước.

2.2.2. Bệnh teo, rụng nụ

a, Triệu chứng: 

Nụ có màu xanh nhạt, dần dần chuyển màu vàng, lúc này tại cuống nụ xuất hiện tầng rời và làm rụng nụ hoa. 

b, Nguyên nhân: do thiếu nước, vi lượng (Bo) và thiếu ánh sáng (là nguyên nhân chính)

c, Phòng trừ:

Chiếu sáng đầy đủ, bổ sung dinh dưỡng, nước tưới, cải tạo đất…

2.2.3. Bệnh thiếu sắt (Fe)

a, Triệu chứng:

Phần giữa gân lá chuyển vàng, xuất hiện tập trung ở phần đỉnh ngọn. Cây bị thiếu Fe nặng có thể dẫn đến đỉnh ngọn chuyển màu trắng. 

b, Phòng trừ:

Dùng Fe-EDTA (9% Fe) hoặc Fe – EDDHA (6% Fe) phun lên lá. Ngoài ra cũng có thể sử dụng các loại phân bón lá giàu Fe để phun.

2.2.4. Bệnh lá bao hoa

a, Triệu chứng:

Biểu hiện là cánh hoa không phát triển bình thường mà phát triển dị dạng, biến đổi thành dạng lá uốn cong, màu xanh bao bên ngoài nụ hoa, làm giảm chất lượng hoa.

b, Nguyên nhân:

Do sự biến đổi nhiệt độ và độ ẩm quá lớn cộng với sự ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đã dẫn đến sự biến đổi của lá bao hoa. 

c, Phòng trừ:

Tránh để nhiệt độ và ẩm độ trong nhà trồng biến đổi đột ngột; cung cấp đầy đủ và cân đối dinh dưỡng cho cây; tránh để cho cây sinh trưởng quá nhanh (bằng cách giảm nhiệt độ đất giai đoạn đầu sau trồng)…

IV. THU HOẠCH VÀ TIÊU THỤ HOA

1. Đối với hoa cắt cành

– Thời gian thu hái hoa: khi nụ dưới cùng phình to và bắt đầu có màu (nếu cành có trên 6 nụ thì thu khi 2 nụ ở dưới phình to và có màu). Dùng dao hoặc kéo sắc cắt cách mặt đất 10-15cm. Sau đó phân loại hoa (căn cứ vào số nụ, độ dài cành), tuốt bỏ lá sát gốc khoảng 10cm; xếp bằng gốc và bó lại (10 cành/bó) và ngâm bó hoa vào nước. Dùng giấy báo hoặc túi PE bọc lại, sau đó cho các bó hoa vào thùng carton có đục lỗ để thông khí. Nếu vận chuyển xa nên dùng xe lạnh để nhiệt độ từ  5-10oC.

– Bảo quản hoa

+ Bảo quản bằng hóa chất: sử dụng các dung dịch glucoza, sacaroza 3-5%, AgNO3, Chrysal RVB….

+ Bảo quản trong kho lạnh: Sau khi bao gói xong cho thùng carton vào kho lạnh, rồi điều chỉnh kho ở nhiệt độ khoảng 4-50C, ẩm độ 85-90%. 

2. Đối với hoa chơi chậu: 

– Thời điểm xuất chậu hoa: tùy thuộc vào nhu cầu của người mua. Trường hợp lily trồng đất muốn đánh vào trồng chậu thì khi đào củ lên tránh làm đứt rễ, đất vẫn còn bám vào gốc và rễ cây, dùng túi nilon bó từng gốc cây lại, xếp cây vào sọt và dùng nilon to bao bên ngoài các cây/sọt rồi buộc cố định. Trong thời gian 1 ngày sau khi đánh cây lên cần phải trồng ngay vào chậu. Trồng xong tưới nước cho chặt gốc cây và hàng ngày cần tưới nước giữ đủ độ ẩm cho cây.

– Vận chuyển: Khi xếp chậu/sọt đựng cây lên xe, chú ý xếp các chậu/sọt khít nhau để giảm va đập khi vận chuyển. Có thể dùng bao hoa bao những nụ hoa to lại trước khi bao gói, vận chuyển.

Các Loại Phân Bón Hữu Cơ Đầu Trâu / 2023

Phân hữu cơ là loại phân bón chứa các chất dinh dưỡng đa, trung, vi lượng dưới dạng các hợp chất hữu cơ, dùng trong canh tác và sản xuất nông nghiệp.

Phân hữu cơ có nguồn gốc và được hình thành từ tàn dư thân, lá cây, phụ phẩm từ sản xuất nông nghiệp, phân, chất thải gia súc, gia cầm, than bùn hoặc các chất hữu cơ thải từ sinh hoạt, nhà bếp, nhà máy sản xuất thủy, hải sản…

Bón phân hữu cơ sẽ giúp cải tạo đất, tăng độ tơi xốp, phì nhiêu cho đất qua việc cung cấp, bổ sung các chất hữu cơ, mùn, vi sinh vật và trả lại lượng hữu cơ đã mất.

Hiện nay, bà con nông dân đang đứng giữa ma trận về phân bón hữu cơ với hàng trăm, hàng ngàn nhãn hiệu tên gọi, công dụng, thành phần,… khác nhau. Nên bà con nông dân cần phải nắm rõ, hiểu biết về các loại phân bón hữu cơ để đưa ra lựa chọn thông minh, lựa chọn những sản phẩm phân bón chất lượng, phù hợp với loại cây trồng bà con đang canh tác để đạt hiểu quả cao trong canh tác nông nghiệp.

Dựa theo nguồn gốc người ta chia phân bón hữu cơ thành 2 loại chính:

Phân bón hữu cơ truyên thống: Phân xanh, phân chuồng, phân rác…

Phân bón hữu cơ công nghiệp: Phân hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ sinh học và phân bón hưu cơ khoáng.

Phân bón hữu cơ công nghiệp

Sử dụng quy trình công nghiệp để chế biến các chất hữu cơ với khối lượng lớn tới hàng ngàn tấn, vận dụng tiến bộ công nghệ để tạo ra loại phân bón có chất lượng tốt hơn, hàm lượn dưỡng chất cao hơn so với nguyên liệu đầu vào và so với các loại phân bón hữu cơ truyền thống.

1.Phân bón vi sinh

Trong thành phần có chứa từ một đến nhiều loại vi sinh vật hữu ích thuộc nhiều nhóm: Vi sinh vật phân giải hữu cơ, vi sinh vật ký sinh, vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân hủy xenlulo, vi sinh vật đối kháng…

Ưu điểm:

Thúc đẩy và giúp hệ vi sinh vật đất phát triển, hỗ trợ phân hủy các chất khó hấp thu sang dạng dễ hấp thu, tổng hợp các chất dinh dưỡng cho cây trồng chủ yếu là đạm (N), ngắn chặn các mầm bệnh tồn tại trong đất, gia tăng hiệu quả hấp thu phân bón.

Nhược điểm:

Phân bón vi sinh cung cấp không hoàn toàn hoặc chỉ một lượng vừa phải các dưỡng chất (kể cả vi sinh vật phân giải lân hay vi sinh vật cố đinh đạm…) cho cây trồng, không có khả năng cung cấp đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cho cây trồng.

Mỗi loại phân vi sinh đều chỉ phù hợp với một nhóm cây trồng cụ thể và hạn có hạn sử dụng riêng. Chẳng hạn phân vi sinh cố đinh đạm chỉ thích hợp bón cho các cây trồng họ đậu…

Vi sinh vật phải dùng chất hữu cơ thức ăn để phát triển nên cần bón bổ sung lượng phân bón hữu cơ để làm thức ăn cho chúng, như vậy sẽ tốn thêm một khoản chi phí để bón phân hữu cơ.

2.Phân bón hữu cơ sinh học

Loại phân bón này chế biến từ các loại nguyên liệu hữu cơ được xử lý và pha trộn bằng cách lên men với sự góp mặt của một hoặc nhiều loại vi sinh vật có lợi để cân bằng và làm tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng. Thành phần có trên 22% là các chất hữu cơ.

Ưu điểm:

Dùng được cho tất cả các giai đoạn của cây trồng như Bón lót, bón thúc, bón nuôi quả…

Cung cấp một cách cân đối và đầy đủ các dưỡng chất khoáng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng, phát triển khỏe mạnh, giúp tăng năng suất và chất lượng nông sản.

Bổ sung một lượng lớn chất mùn, Humin, acid Humic,… giúp cải tạo các đặc tính sinh học – hóa học – vật lý của đất, ngăn chặn xói mòn đất và rửa trôi các chất dinh dưỡng, phân giải các độc tố trong đất.

Bổ sung và thúc đẩy hệ vi sinh vật đất phát triển, từ đó khống chế các mầm bệnh có trong đất, cung cấp chất kháng sinh làm tăng sức đề kháng tự nhiên, sự chống chịu của cây trồng với sâu bệnh, hạn chế sâu bệnh hại và tác động từ thời tiết.

Tăng khả năng hấp thu các dưỡng chất từ đất bằng việc bổ sung các vi sinh vật phân giải các chất cây trồng khó hấp thu thành dễ hấp thu, thân thiện với môi trường, lại an toàn với người và sinh vật có ích.

Nhược điểm:

Phân bón hữu cơ sinh học có giá thành cao hơn các loại phân bón khác, tuy nhiên đó không phải là vấn đề, tuy giá cao nhưng có chất lượng tốt hơn, lâu dài giúp tăng năng suất và chất lượng nông sản, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập.

Mặt khác, giúp hạn chế tối đa hoặc không cần sử dụng các loại phân bón hóa học, các loại thuốc bảo vệ thực vật. Do đó gián tiếp giảm được chi phí phân bón hóa học và thuốc BVTV, bảo vệ sức khỏe con người.

Phân bón hữu cơ vi sinh

Loại phân bón này chế biến theo quy trình công nghiệp với nhiều nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, được lên men với từ một hay nhiều chủng vi sinh vật có lợi có chứa các bào tử sống. Hàm lượng các chất hữu cơ đạt trên 15%.

Ưu điểm:

Bổ sung các dưỡng chất khoáng đa, trung và vi lượng cho cây trồng, tăng độ tơi xốp, phì nhiêu cho đất. Cung cấp một lượng vi sinh vật giúp phân giải các chất khó hấp thu thành chất dễ hấp thu, vi sinh vật đối kháng, ký sinh….

Giúp ức chế, kìm hãm các mầm bệnh trong đất phát triển, gia tăng sức đề kháng cho cây trồng, không độc hại, không gây ô nhiễm môi trường, an toàn với con người và sinh vật có ích.

Nhược điểm:

Có hàm lượng thành phần các chất hữu cơ thấp hơn phân bón hữu cơ sinh học.

3.Phân bón hữu cơ khoáng

Là loại phân bón hữu cơ có phối trộn thêm các nguyên tố khoáng vô cơ gồm N, P, K. Chứa ít nhất 15% thành phần là các chất hữu cơ, từ 8-18%  tổng các chất vô cơ (hóa học, N, P, K).

Ưu điểm:

Chứa hàm lượng dưỡng chất khoáng cao

Nhược điểm:

Không tốt cho đất và hệ vi sinh vật nếu bón lâu ngày

Công dụng của phân hữu cơ

Cung cấp đầy đủ, cân đối, bền vững cacs dưỡng chất cho cây trồng

Ngoài các dưỡng chất đa lượng như N, P, K cần thiết, phân bón hữu cơ còn cung cấp các nguyên tố vi và trung lượng ở dạng dễ hấp thu giúp cây trồng phát triển cân đối. Lại không bị mất cân bằng dinh dưỡng như khi sử dụng phân bón hóa học.

Phân bón hữu cơ chứa các chất dinh dưỡng được phân giải từ từ để có thể cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây trồng trong thời gian dài. Như vậy sẽ đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng trong suốt thời gian sinh trưởng của cây.

Một số phân bón hữu cơ chứa các loại vi sinh vật hữu ích như: Vi sinh vật phân giải lân, cố định đạm, phân giải xenlulo… khi dùng sẽ tạo môi trường thuận lợi cho hệ vi sinh vật hữu ích phát triển, tạo cơ chế ngăn chặn các vi sinh vật gây hại.

Giúp cây trồng phát triển ổn định và cân đối

Khi bón xuống đất, phân hữu cơ sẽ phân hủy thành các chất mùn chứa các loại axít hữu cơ như axit fulvic, axit humic… giúp kích thích sự phát triển của rễ cây, để rễ cây dễ hấp thụ các chất dinh dưỡng. Nếu phun các axit này lên lá cũng sẽ giúp gia tăng sự quang hợp ở cây trồng.

Tăng chất lượng nông sản

Phân bón hữu cơ giúp cây trồng cho nông sản có chất lượng cao hơn so với phân bón vô cơ. Hơn nữa, rất ít yếu tố độc hại với con người và ít tồn dư hóa chất trong nông sản.

Do trong phân bón hữu cơ đã có đầy đủ dinh dưỡng và hệ vi sinh vật hữu ích cần thiết cho quá trình phát triển của cây trồng, hạn chế được tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nên nông sản luôn an toàn cho người tiêu dùng.

Tăng hàm lượng dinh dưỡng, cân bằng hệ vi sinh vật và cung cấp chất mùn cho đất

Kết hợp với yếu tố môi trường, các chất hữu cơ được phân giải và tích lũy giúp tăng dần hàm lượng dinh dưỡng trong đất.

Phân hữu cơ phân giải hình thành chất mùn, tăng sự kết dính của kết cấu đất. Nhờ kết cấu tốt mà đất trở nên tơi xốp, thông thoáng, tăng khả năng giữ dinh dưỡng và nước, tạo môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển.

Phân hữu cơ cải tạo đất, tạo điều kiện cho hệ thống vi sinh vật phát triển, ngăn chặn vi sinh vật gây hại, gián tiếp góp phần cải tiến hệ vi sinh vật trong đất phát triển theo hướng có lợi cho cây trồng.

Hạn chế sự xói mòn và rửa trôi đất

Các chất hữu cơ sau khi phân giải sẽ kết hợp cùng các chất khoáng dinh dưỡng trở thành các phức hệ hữu cơ – khoáng đóng vài trò quan trọng trong việc làm giảm sự xói mòn, rửa trôi các chất dinh dưỡng.

Ngoài ra, các chất mùn trong phân hữu cơ còn giúp tăng tính ổn định của kết cấu đất, do đó bảo vệ được cấu trúc đất, hạn chế tối đa việc xói mòn.

Cải tạo đất trồng

Phân bón hữu cơ góp phần trong việc cải tạo đất trồng, nhất là đối với đất bạc màu, đất cát. Cơ chế tác động mạnh đến cấu trúc đất, giúp cải thiện đặc tính sinh, hóa, lý của đất trở nên tốt hơn.

Do đó, nên tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ để giúp cải tạo đất sản xuất nông nghiệp nói chung và cải thiện chất lượng nông sản nói riêng.

Bảo vệ môi trường

Nếu phân bón vô cơ chứa các hóa chất độc hại, khó phân hủy trong môi trường tự nhiên, thì phân bón hữu cơ có thể phân hủy hết ở điều kiện thông thường.

Các chất có gốc muối clor, sufat, nitrat… có trong phân hóa học gặp các ion tự do trong đất sẽ hình thành các axit làm đất bị chua, nếu ngấm xuống nước sẽ gây ô nhiễm cho nguồn nước.

Trong khi phân bón hữu cơ làm tăng kết cấu đất, giúp đất trở thành bộ máy lọc thông minh, lọc các chất độc có trong nước và đất, rồi từ từ phân hủy và làm giảm tính độc của chúng, từ đó bảo vệ môi trường, an toàn cho con người.

Giúp nhà nông tiết kiệm nước tưới

Dùng phân bón hữu cơ thường xuyên và trong thời gian dài sẽ giúp cải tạo đất trồng theo hướng tích cực, làm tơi xốp, tăng khả năng giữ ẩm, giữ nước. Do đó ít phải tưới nước, từ đó giúp nhà nông tiết kiệm công sức và chi phí mà cây trồng vẫn phát triển cân đối.

Sử dụng phân bón hữu cơ nông sản sẽ không bị tồn dư các hóa chất độc hại, lại tăng hàm lượng dinh dưỡng và an toàn cho con người.

Để bảo vệ môi trường, chất lượng đất và sức khỏe con người, giúp tăng giá trị nông sản.. từ nay bà con hãy cố gắng chuyển sang dùng phân hữu cơ.

Bà con nông dân có vấn đề chưa rõ cần tư vấn thêm xin vui lòng liên hệ :

CÔNG TY CỔ PHẦN BÌNH ĐIỀN – MEKONG

Địa chỉ: Lô A10.1 đường D3, KCN Thành Thành Công, xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Địa chỉ giao dịch: C12/21 Tân Kiên, Bình Chánh, TP.Hồ Chí Minh Điện thoại: (028) 66 813 014 – (028) 37.564.041 Fax: (028) 36 201 033 – (028) 37.561.798 website : www.binhdienmekong.vn

Phân Bón Đầu Trâu Npk 17 / 2023

Phân Bón Đầu Trâu NPK 17-12-7

Phân Bón Đầu Trâu Đa Năng NPK 17-12-7 là dòng sản phẩm phân bón NPK dạng khoáng đa dinh dưỡng thế hệ mới. Đây là dòng sản phẩm NPK với hàm lượng Nito- photpho và kali đầy đủ và cân đối được dùng cho các loại cây kiểng, hoa kiểng trồng chậu. Phân bón đầu trâu đa năng NPK 17-12-7 có chức năng chính là: cung cấp khoáng đa-trung lượng cho cây, phục hồi cây sau giai đoạn tỉa cảnh và tỉa nhánh, giúp cây sinh trưởng mạnh và chống chịu điều kiện bất lợi.

Phân Bón Đầu Trâu Đa Năng NPK 17-12-7 cung cấp dinh dưỡng cho hoa và các loại cây kiểng một cách tối ưu nhất. Giúp cho hoa kiểng phát triển khỏe mạnh, kích thích cây đâm chồi, ra lá và rễ mạnh, cây phát triển xanh tốt, giúp cây ra hoa đều hơn, hoa đẹp hơn.

Phân Bón Đầu Trâu Đa Năng NPK 17-12-7 cung cấp đầy đủ những dinh dưỡng thiết yếu cho cây. Phục hồi cây phát triển nhanh hơn sau khi cắt tỉa, đốn cành. Tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi và sâu bệnh hại cây và tăng năng suất, phẩm chất cho cây trồng.

Công Dụng Và Hướng Dẫn Sử Dụng Phân Bón NPK Đúng Cách

Quy cách

Cung cấp khoáng đa và trung lượng thiết yếu cho cây

Phục hồi chồi lá, sau giai đoạn cắt tỉa, tạo tán

Tăng khả năng chống chịu lại điều kiện khắc nghiệt và sâu bệnh hại.

Kích thích rễ và ra hoa tập trung, hoa trổ đồng loạt hơn.

Tăng năng suất và chất lượng nông sản.

Cách sử dụng Phân Bón Đầu Trâu Npk 17-12-7

Đối với hoa ngắn ngày: Bón 20gram/m2. Bón 20 ngày 1 lần.

Đối với hoa dài ngày: Bón 30 gram/m2. Bón 30 ngày 1 lần.

Đối với cây cảnh – bonsai: Bón 20 gram/chậu. Bón 30 ngày 1 lần.

Đối với rau màu: Bón 1kg/100m2. Bón 15 ngày 1 lần.

Chưa có thông số cho sản phẩm này

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Bón Đầu Trâu Tại Các Tỉnh Phía Bắc: Kiên Trì Một Hướng Đi / 2023 trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!