Xu Hướng 2/2023 # Một Số Loại Phân Bón Thường Dùng Trong Nông Lâm Nghiệp # Top 11 View | Duhocaustralia.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Một Số Loại Phân Bón Thường Dùng Trong Nông Lâm Nghiệp # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Một Số Loại Phân Bón Thường Dùng Trong Nông Lâm Nghiệp được cập nhật mới nhất trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

 

Kiến thức nhà nông

       

Một số loại phân bón thường dùng trong nông lâm nghiệp 24 Tháng Ba 2018 :: 4:26 CH :: 14164 Views :: Phân bón hữu cơ vi sinh

Căn cứ vào nguồn gốc, phân bón sử dụng trong nông lâm nghiệp được chia làm 3 loại:

a. Phân hóa học: Là loại phân bón được sản xuất theo qui trình công nghiệp. Trong quá trình sản xuất có sử dụng một số nguyên liệu tự nhiên hoặc tổng hợp. Tùy thuộc vào nguyên tố dinh dưỡng có chứa trong phân bón, phân hóa học có thể là phân đạm, lân, kali, canxi, lưu huỳnh… Phân hóa học có thể là phân đơn (chứa 1 nguyên tố dinh dưỡng), phân đa nguyên tố (chứa 2 hoặc nhiều nguyên tố dinh dưỡng). b. Phân hữu cơ: – Bao gồm các loại phân có nguồn gốc từ động thực vật như phân chuồng , phân xanh và các loại phân chế biến. Dùng bón cho đất để làm tăng độ phì nhiêu của đất. c. Phân vi sinh: Là phân bón có chứa các loài vi sinh vật có định đạm, chuyển hóa lân hoặc vi sinh vật phân giải chất hữu cơ.

a. Phân hóa học: Là loại phân bón được sản xuất theo qui trình công nghiệp. Trong quá trình sản xuất có sử dụng một số nguyên liệu tự nhiên hoặc tổng hợp. Tùy thuộc vào nguyên tố dinh dưỡng có chứa trong phân bón, phân hóa học có thể là phân đạm, lân, kali, canxi, lưu huỳnh… Phân hóa học có thể là phân đơn (chứa 1 nguyên tố dinh dưỡng), phân đa nguyên tố (chứa 2 hoặc nhiều nguyên tố dinh dưỡng). b. Phân hữu cơ: – Bao gồm các loại phân có nguồn gốc từ động thực vật như phân chuồng , phân xanh và các loại phân chế biến. Dùng bón cho đất để làm tăng độ phì nhiêu của đất. c. Phân vi sinh: Là phân bón có chứa các loài vi sinh vật có định đạm, chuyển hóa lân hoặc vi sinh vật phân giải chất hữu cơ.

Nguồn: Sưu tầm

 

 

Một Số Loại Phân Bón Vô Cơ Cho Cây Ớt Nên Dùng

Một số lưu ý khi bón phân cho cây ớt

Một số loại phân bón vô cơ cho cây ớt nên dùng

Vì sao nên sử dụng phân bón vô cơ cho cây ớt một cách hợp lý?

Vì sao nên sử dụng phân bón vô cơ cho cây ớt một cách hợp lý?

Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, nhu cầu về các loại nguyên tố dinh dưỡng của ớt rất cao. Vì vậy, bà con cần cung cấp thêm phân bón vô cơ cho cây. Tuy nhiên, lượng phân bón bổ sung phải cân đối, hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây. Việc thừa hay thiếu các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết đều mang lại năng suất và chất lượng thu hoạch không cao.

Một số loại phân bón vô cơ cho cây ớt nên dùng

Dùng đạm ure Cà Mau cho cây ớt

Công dụng:

Đạm ure Cà Mau còn giúp cây ớt phát triển bộ rễ, tăng cường hấp thu dưỡng chất cho cây, thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ớt, lá cây xanh tốt. Bên cạnh đó, sử dụng đạm ure Cà Mau còn giúp tăng cường sức đề kháng cho cây ớt cũng như tăng sức đề kháng với nhiều loại sâu bệnh gây hại cho cây.

Sử dụng Phân bón Ca(NO3)2 Yara cho ớt

Thành phần:

Canxi ( CaO): 26,3%

Đạm tổng số: 15,5% Bao gồm (Đạm Nitrat: 14,4%, Amon: 1,1%

Công dụng:

Phân bón Ca(NO3)2 Yara chứa cả 2 dạng đạm Nitrat và đạm Amon kết hợp với nguyên tố trung lượng Canxi, nhờ vậy, phân bón có vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng và năng suất cây ớt. Phân bón chứa Ca(NO3)2 hòa tan hoàn toàn trong nước, nên giúp bổ sung các nguyên tố dinh dưỡng nhanh chóng cho cây trồng, nhất là những loại cây có nhu cầu nhiều về canxi như ớt

Phân supe lân Lâm Thao bón cho ớt

Thành phần: 

Hàm lượng P2O5 hữu hiệu: 16-16,5 %

Hàm lượng P2O5 tự do: <4 %

Hàm lượng lưu huỳnh: 11 %

Công dụng:

Supe lân Lâm Thao có vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ phận mới của cây ớt. Phân giúp kiến tạo nên hoạt chất hình thành mầm hoa, đẻ nhánh, phân cành, ra hoa, đậu quả. Bên cạnh đó, phân còn tham gia vào quá trình phát triển bộ rễ, quá trình quang hợp và hô hấp của cây ớt.

Bón phân cho ớt với Kali Phú Mỹ

Thành phần: 61 % Kali hữu hiệu (K2Ohh)

Công dụng:

Kali Phú Mỹ là loại phân phù hợp với nhiều loại cây trồng, trong đó có cây ớt. Kali Phú Mỹ giúp cung cấp kali – một trong những nguyên tố đa lượng cần thiết cho sự phát triển của ớt, đặc biệt trong giai đoạn ra hoa, đậu quả.

Sử dụng NPK 16-16-8 Đầu Trâu để bón cho cây ớt

Thành phần:

Đạm tổng số (Nts): 16%

Lân hữu hiệu (P2O5hh): 16%

Kali hữu hiệu (K2Ohh): 8%

Công dụng:

Bón phân NPK 16-16-8 Đầu Trâu giúp cung cấp đạm, lân, kali cho cây ớt với tỷ lệ cân đối. Nhờ vậy, cây ớt sẽ phát triển mạnh với bộ rễ khỏe, lá xanh tốt. Bên cạnh đó, phân bón còn thúc đẩy quá trình ra hoa, tăng tỷ lệ ra quả và chất lượng của quả ớt khi thu hoạch.

Bên cạnh đó, khi sử dụng phân NPK 16-16-8 Đâù Trâu thay thế các loại phân bón đơn sẽ giúp bà con tiết kiệm nhiều chi phí và công sức lao động.

Gợi ý cách bón phân vô cơ cho cây ớt

Bón lót: 500 kg Supe Lân + 30 kg KCl + 20 kg Ca(NO3)2, 100-150 kg NPK 16-16-8

Bón thúc:

Lần 1(20-25 ngày sau khi trồng): 40kg ure + 30kg KCl + 100kg NPK 16-16-8 + 20kg Ca(NO3)2

Lần 2(55-60 ngày sau khi trồng): 60kg ure+ 50kg KCl + 100-150kg NPK 16-16-8 + 20kg Ca(NO3)2

Lần 3(80-85 ngày sau khi trồng): 60kg ure+ 50kg KCl + 100-150kg NPK 16-16-8 + 30kg Ca(NO3)2

Lần 4(100-110 ngày sau khi trồng): 40kg ure+ 40kg KCl + 100-150kg NPK 16-16-8 + 30kg Ca(NO3)2

Một số lưu ý khi bón phân cho cây ớt

+ Nếu không dùng màng phủ, bà con nên chia nhỏ lượng phân và bón nhiều lần để hạn chế việc phân bón bị thất thoát

+ Ớt có thể thu hoạch nhiều lần, do đó bà con cần chú ý bón phân cho cây hậu thu hoạch để hồi lại cây.

Mua các loại phân trên ở đâu?

Bạn đọc có thể đặt mua Một số loại phân bón vô cơ cho cây ớt nên dùng trực tiếp ở các cửa hàng bán vật tư nông nghiệp hoặc các cửa hàng vật tư nông nghiệp gần hoặc tiện nhất. Bạn cũng có thể đặt mua thuốc online tại các website bán vật tư nông nghiệp uy tín như agriviet.org/shop

Như vậy, Agriviet đã giới thiệu những thông tin  Một số loại phân bón vô cơ cho cây ớt nên dùng , hy vọng những thông tin trên sẽ giúp bà con có được những kiến thức hữu ích để chăm sóc cây đạt chất lượng tốt nhất và mang lại năng suất cao cho mỗi vụ mùa.

Một Số Loại Bệnh Thường Gặp Trên Lan Dendro

Lan Dendrobium là loại lan rất đẹp và phổ biến ở nước ta hiện nay. Đây là loại lan tương đối dễ chăm sóc, tuy nhiên cần phải chú ý một số bệnh sau:

Một số loại bệnh thường gặp trên lan dendro

1. Bệnh thối rữa do nhiểm khuẩn do vi khuẩn Erwinia carotovora

Bệnh thường do vi khuẩn Erwinia carotovora gây ra, còn gọi là thối nâu. Bệnh này làm hoa lan dễ héo úa và làm các tế bào của lá dần chết đi, đưa dến hiện tượng rụng lá và thối rữa.

Lan dendro bị thối và rụng lá do vi khuẩn Erwinia carotovora

Triệu chứng rất dễ nhận biết: Vết bệnh ban đầu màu nâu nhạt, hình tròn, mọng nước. Sau đó, vết bệnh đậm dần lên và lan ra cả giả hành. Khi bạn cắt lá của lan, sẽ ngửi thấy một mùi hôi khó chịu của tế bào chết của lá.

Cách xử lý trên lan dendro: Khi phát hiện bệnh này cần cách ly chúng với những chậu lan “khỏe mạnh” khác bởi vi khuẩn có thể lay lan qua những công cụ cắt tỉa, qua nước văng trong khi bạn tưới chúng.

2. Bệnh đốm nâu trên hoa do vi khuẩn Curvularia eragrostidis

Bệnh do vi khuẩn Curvularia eragrostidis. Hầu hết hoa lan thuộc họ Dendrobium dễ mắc phải bệnh này. Bệnh gây ra những đốm nâu nhỏ trên cánh hoa lan.

Những đốm này khó nhận biết, ngoại trừ lan của bạn có màu trắng sáng. Bệnh này khó kiểm soát và dễ phát sinh vào những ngày mưa.

Vì thế chúng ta chỉ có thể phòng tránh và nếu chẳng may lan của bạn bị mắc phải bệnh này thì nên đặt chúng trong những mái che kiên cố để giảm thiểu tình trạng này.

3. Bệnh thối chồi non do vi khuẩn Phytophthora parasitica

Bệnh do vi khuẩn Phytophthora parasitica gây nên. Bệnh này có thể gây ra cái chết hàng loạt chồi non hoặc lá mới mọc.

Triệu chứng dễ thấy là hiện tượng các lá non đột nhiên chuyển sang màu nâu và dần chết đi. Sự đổi màu này từ từ di chuyển sang thân, làm thân cây đồi sang màu nâu đen. Khi lan mắc phải bệnh này thì chồi non mới mọc dễ bị úa và chuyển hoàn toàn sang màu đen.

Bệnh dễ lay lan trở lại thân rễ và gây ra tình trạng tương tự cho các chồi non khác nếu không phát hiện kịp thời. Tuy nhiên bệnh này chỉ xay ra với lan Vanda và Cattleya trong họ Dendrobium.

4. Bệnh héo thân rễ bởi vi khuẩn Sclerotium rolfsii.

Bệnh gây nên bởi vi khuẩn Sclerotium rolfsii. Triệu chứng của bệnh này là hiện tượng tàn lụi nhanh chóng và héo úa các tế bào thân, rễ và lá của hoa lan.

Tuy nhiên bệnh này lại tấn công đầu tiên vào các bộ phận phía trên của thân lan, làm héo úa và dần lan sang các bộ phận phía dưới. Đặc thù của bệnh này là sự hiện diện của các đốm nhỏ màu vàng kem và đốt nâu trên thân cây.

Mỗi đốt này chính là mộ nguồn lây bệnh truyền nhiễm nên khi phát hiện chúng ta cần cách ly với các loại chưa mắc bệnh khác và tiến hành loại bỏ.

5. Bệnh đốm lá bởi vi khuẩn Guignardia spp

Bệnh gây nên bởi vi khuẩn Guignardia spp, Phyllosticta spp. Triệu chứng của bệnh này là sự xuất hiện của các chấm nhỏ đen 2 bên của mép lá.

Khi chúng phát triễn hơn sẽ hình thành nên những nốt mụn nhỏ, đây chính là những công cụ chứa bào tử mầm mống gây bệnh nặng hơn.

Bệnh nếu không phát hiện sơm sẽ gây ra hiện tượng vi khuân dần làm chết hết các tế bào của lá, và làm lan mất hết toàn bộ lá.

Khi phát hiện thấy lá nào trên thân cây có hiện tượng bộc phát bệnh cần tiến hành cắt bỏ lá đó và tiêu hủy ngay.

6. Bệnh héo viền lá Colletotrichum gloeosporioides

Bệnh gây ra bời vi khuẩn Colletotrichum gloeosporioides (Glomerella cingulata). Đây được xem là bệnh nhẹ nhất ảnh hưởng đến lan. Khi lan mắc bệnh này thì chỉ bị để lại những di tích là những viền héo màu xám đen xung quanh lá, và theo thời gian chúng có thể tự hục hồi lại được.

Bệnh gây ra bởi vi khuẩn truyền sang từ những dụng cụ làm vườn, bị côn trùng cắn, máy móc trang thiết bị làm tổn thương…khi bị tổn thương,các tế bào xung quanh lá bị nhiễm khuẩn và chuyền dần sang màu đen.

Thấy xuất hiện các vòng nâu xung quanh viền lá. Bệnh này không cần điều trị, chỉ cần chú ý chăm sóc kỹ trong giai đoàn này để giúp chúng mau phục hồi trở lại.

7.Bệnh do nấm- Bệnh đen thân cây con:

Vết bệnh xuất hiện ở gốc thân hoặc cổ rễ, có màu nâu, sau đó lan dần làm khô đoạn thân gần gốc và cổ rễ, vết bệnh chuyển sangmàu đen. Lá chuyển sang màu vàng, cong dị hình. Cây con bị bệnh thường chết sau 2 – 3 tuần, trong căn hành thường có vệt màu tím hay hồng nhạt. Bệnh do nấm Fusarium oxysporum gây ra.

– Bệnh đốm lá: Vết bệnh thường có hình thoi hoặc hình tròn nhỏ màu xám nâu, xuất hiện ở mặt dưới lá. Bệnh làm vàng lá, dễ rụng, cây sinh trưởng kém. Bệnh do nấm Cercospora sp. gây ra.

– Bệnh thán thư: Vết bệnh thường có hình tròn nhỏ, màu nâu vàng, xuất hiện từ mép lá, chóp lá hoặc giữa phiến lá, kích thước trung bình 3 – 6mm.

Giữa vết bệnh hơi lõm có màu xám trắng, xung quanh có gờ nhỏ màu nâu đỏ, trên mô bệnh có nhiều chấm nhỏ màu đen. Bệnh do nấm Colletotrichicm gloeosrioides gây ra.

– Bệnh thối hạch: Xuất hiện trên gốc thân, vết bệnh màu vàng nhạt, chuyển dần sang màu vàng nâu, thân cây teo tóp, lá vàng, nhăn nheo, cây sinh trưởng yếu, bệnh nặng sẽ gây chết cây. Bệnh do nấm Sclerotium rolfsu gây ra.

– Bệnh đốm vòng trên cánh hoa: Vết bệnh nhỏ, màu đen hơi lõm, hình tròn có vân đồng tâm. Bệnh gây hại chủ yếu trên hoa làm hoa kém màu sắc và mau tàn. Trên mô bệnh thường có lớp nấm màu đen, gặp điều kiện nóng ẩm kéo dài sẽ gây ảnh hưởng đến cả bộ lá. Bệnh do nấm Alternaria Ap gây ra.

– Bệnh đốm nâu trên cánh hoa: Vết bệnh ban đầu là một chấm nhỏ màu nâu, hơi lồi, về sau lan rộng thành đốm lớn màu nâu nhạt. Bệnh làm hoa mất giá trị. Bệnh do nấm Curvularia eragotidis gây ra.

– Bệnh thối đen ngọn: Vết bệnh ban đầu là một điểm nhỏ, ủng nước, có màu nâu đen. Bệnh gây hại chủ yếu trên lá non, ngọn và chồi cây lan làm cho đỉnh bị thối nhũn lan dần xuống dưới làm lá và cuống lá bị thối, dễ rụng.

Bệnh có thể gây thành dịch trong điều kiện ẩm độ cao với nhiệt độ khoảng 20 độ C. Bệnh do nấm Phytopthora palmivora gây ra.

– Bệnh đốm lá: Ban đầu vết bệnh là một đốm nhỏ màu vàng hơi lõm, phát triển dần theo chiều dọc của lá và về sau có hình bầu dục, ở giữa có màu trắng xám, xung quanh có màu nâu đen. Giữa mô bệnh và mô lành có một quầng màu nâu đỏ. Bệnh do nấm Phyllosticta sp gây ra.

Ngoài ra, trên cây hoa lan còn có một số dạng bệnh khác như bệnh tàn cánh hoa do nấm Botrytis cinerea, bệnh thối trắng rễ do nấm Rhizoctonia solani, bệnh đốm vàng do nấm Cercospora dendrobii gây ra….. Còn có một số bệnh gây ra bởi các nguyên nhân điều kiện môi trường hoặc dinh dưỡng khoáng.

8. Côn trùng gây hại

– Bọ trĩ: (Thripspalmi và Dichromothrips Corbetti): Là loại côn trùng nhỏ, có màu vàng nhạt. Chích hút trên trên lá non để lại những đốm vuông màu vàng sáng, sau chuyển dần sang màu nâu đen. Chích hút trên cánh hoa để lại những vết chích trong suốt và có một chấm vàng ở giữa .

– Nhện đỏ: Là một dạng ve ký sinh, di chuyển nhanh, lúc nhỏ có màu vàng cam, khi trưởng thành có màu đỏ. Khi chích hút chúng để lại trên lá, hoa những đốm nhỏ màu nâu. Thường phổ biến trong những vườn lan thiếu chăm sóc hoặc bị khô hạn kéo dài.

-Rệp: Đây là loại côn trùng gây hại phổ biến trên nhiều vườn lan, thường tập trung chích hút ở lá non, chồi non, đầu rễ, phát hoa, chồi hoa, làm cho cây phát triển còi cọc, hoa bị rụng cuống hoặc không nở.

Rệp chích hút tạo thành những vết vàng nâu hoặc thâm đen. Sản phẩm bài tiết của chúng tạo điều kiện cho nấm than đen phát triển, nhất là trong điều kiện mưa ẩm kéo dài. Phổ biến nhất là:

+ Rệp xanh đen: Pleotrichophorus chrysanthemi Theobald.

+ Rệp nâu đen: Macrosiphoniella sanbornici Gillette.

+ Rệp xanh: Coloradoa rufomaculata Wilson

Rệp vẩy

– Sâu hại: Có nhiều loại sâu hại, nhưng thường gặp là sâu khoang (Spodoptera sp), thường cắn phá chồi non, phát hoa non.

– Ốc sên, ốc nhớt: là các loài nhuyễn thể, thường tập trung cắn phá vào ban đêm. Các đoạn rễ non, cây non, chồi, phát hoa là những mục tiêu cắn phá chính của các loài nhuyễn thể.

II. Biện pháp phòng trừ

– Khi phát hiện trong vườn lan bắt đầu có những cây bị nhiễm bệnh phải theo dõi và xác định cụ thể nguyên nhân gây bệnh để có biện pháp phòng chống thích hợp.

Đối với các biểu hiện do nấm bệnh gây ra

tùy theo từng đối tượng gây bệnh mà chọn lựa phương pháp cũng như loại thuốc phòng trừ. Một số thuốc phòng chống có thể dùng như sau:

– Bệnh do nấm phấn trắng và gỉ sắt: Có thể dùng các loại

+ Score 250ND: 2 – 3 ml/bình phun 8 lít

+ Anvil 5SC: 3 – 4 ml/bình phun 8 lít

– Bệnh thối đen ngọn, đốm lá…: Có thể dùng các loại:

+ Aliette 80NP: 20 gr/bình phun 8 lít

+ Ridomil MZ 72 WP: 20 gr/bình phun 8 lít

+ Daconil 500 SC15 gr/bình phun 8 lít

– Bệnh thán thư, đốm lá, thối hạch, mốc xám hại hoa….Có thể dùng:

+ Topsin M 70 WP 5 – 10 gr/ bình phun 8 lít

+ Benlate20 gr/bình phun 8 lít

– Bệnh lở cổ rễ, nấm gây hại trong giá thể: Có thể dùng:

+Anvil 5 SC 3 – 4 ml/ bình phun 8 lít

+ Rovral 50 Wp10 gr/bình phun 8 lít

Côn trùng gây hại:

+ Bọ trĩ: Dùng Decis;Danitol; BT….

+ Rệp: Dùng Supracide;Karate; Applaud-Mipe….

+ Sâu khoang: Dùng Decis ; Sumicidin ; Polytrin ;…

+ Ốc sên, ốc nhớt: Rãi vôi gần chậu hoa, đặt bã…

+ Các loại thuốc trừ sâu hại nên dùng theo liều lượng khuyến cáo. Đối với các loại nấm bệnh nên thường xuyên phun phòng bằng các loại thuốc phổ thông như Zineb, Boordeaux, Kasumin….theo định kỳ 7 – 10 ngày lần.

Bệnh do vi khuẩn gây ra

Một số dạng bệnh do vi khuẩn gây ra có thể dùng thêm các loại kháng sinh như Streptomocin (100 – 150 ppm) để phòng trừ.

– Qua khảo sát một số vườn địa lan bị hư hại trong những năm gần đây, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng giá thể dớn cây đã xay nhuyển, trộn với phân dê làm giá thể chính đang được sử dụng ở hầu hết các vườn địa lan tại Đà Lạt.

Giá thể loại này nhanh phân hủy, kết vón và ngậm nước rất cao nên đã gây hư hại 100% bộ rể của cây lan, gây nên hiện tượng thối củ, thối đọt.

Bên cạnh đó, một số vườn lan không bảo đảm độ thông thoáng ở đáy chậu nên tình trạng úng giá thể diễn ra càng mạnh mẽ hơn.

Khắc phục tình trạng này, tốt nhất là thay mới toàn bộ giá thể sau khi đã tỉa bỏ những củ lan bị hư hại, tỉa rễ hư thối, xử lý bằng Benlate C (ngâm củ, rễ trong dung dịch benlate 25% trong 30 phút, để ráo, trồng và để nơi mát 7 – 10 ngày, sau đó chăm sóc bình thường).

Triển Vọng Trong Nền Nông Nghiệp Không Dùng Đất

Khi nhu cầu trồng cây và canh tác nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu thị trường ngày một tăng cao, thì tình trạng con người phụ thuộc vào đất trở thành sức ép đối với môi trường. Bởi nhu cầu sử dụng phân bón tăng lên và nhu cầu bảo vệ cây trồng khỏi cỏ dại, sâu bệnh và các yếu tố khác trong quá trình canh tác. Để giải quyết vấn đề này thì đặt ra câu hỏi lớn cho phương án nền nông nghiệp không dùng đất.

Sức ép của nền nông nghiệp truyền thống, nền nông nghiệp dựa trên đất đến canh tác và môi trường

Để đáp ứng nhu cầu của người nông dân, các sản phẩm hóa chất nông nghiệp (phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật,….) đã được sản xuất và sử dụng rộng rãi. Những chi phí trong canh tác nông nghiệp gia tăng cùng với những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tác động tiêu cực đến nông nghiệp, cũng như cho môi trường.

Sự ra đời của nền nông nghiệp không dùng đất.

Những thách thức đối với ngành nông nghiệp dựa trên đất đã dẫn đến việc phát minh ra nông nghiệp không có đất. Trồng thủy canh hay trồng trên giá thể khác là những phương pháp trồng trọt mà không cần dùng đến đất. Trong nông nghiệp không có đất, cây trồng được trồng trong các dung dịch dinh dưỡng (thủy canh) hay trồng trên những loại giá thể khác mà không trên trên mặt đất ( trồng cây trên giá thể). Cây sẽ được trồng trong nhà màng, nhà lưới hay ngoài cánh đồng mà không sử dụng đến lớp vỏ trái đất (lớp đất). Phương pháp trồng cây không dùng đất có thể trồng trong nhà hay nhà màng, nhà lưới giúp giảm nguy cơ sâu bệnh hại và ảnh hưởng của điều kiện thời tiết thay đổi thất thường.

Cho dù ctrồng cây bằng phương pháp nào, thì tất cả cây trồng đều cần các chất dinh dưỡng thiết yếu để sinh trưởng, phát triển, đơm hoa kết trái. Cây trồng đòi hỏi một môi trường phát triển bộ rễ của chúng và hấp thụ chất dinh dưỡng để lớn. Đó có thể là đất, hoặc các loại vật liệu trồng trọt khác, chỉ cần vật liệu đó cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây trồng hấp thụ thông qua bộ rễ và phải thoáng khí để rễ thở.

Phát triển nền nông nghiệp không dùng đất

Nông nghiệp không dùng đất là một phương pháp trồng cây trong các giá thể (môi trường) như: nước (thủy canh) hay sử dụng đơn lẻ hoặc phối trộn các loại vật liệu xơ dừa, trấu hun, sỏi nhẹ và nhiều loại vật liệu khác sao cho phù hợp với từng loại cây trồng.

Agri sẽ giới thiệu cho các bạn về 2 phương pháp canh tác được áp dụng hiện nay:

Phương pháp thủy canh

Phương pháp trồng cây bằng giá thể (không trồng cây lên mặt đất)

Phương pháp thủy canh

Phương pháp thủy canh là phương pháp sử dụng nước có chứa khoáng chất để nuôi cây. Thành phần của các khoáng chất này phụ thuộc vào cây trồng đang canh tác. Lý tưởng nhất là các dung dịch khoáng chứa các cation và anion thiết yếu, cụ thể là magiê, canxi, kali, sunfat và nitrat.

Có nhiều phương pháp thủy canh khác nhau như: thủy canh tĩnh, thủy canh hồi lưu, khí canh,… Bên cạnh đó có nhiều loại giá thể để lựa chọn như xơ dừa , đá trân châu, vỏ cây, đất sét nung,…

Phương pháp trồng cây bằng giá thể (không trồng cây trực tiếp lên mặt đất)

Phương pháp này thường được sử dụng trong nhà màng, nhà lưới hay áp dụng cho vườn nhà, trên sân thượng. Phương pháp này thường được kết hợp với hệ thống tưới thông minh tiết kiệm, chủ yếu là phương pháp tưới nhỏ giọt. Cùng tùy vào từng loại cây trồng và từng điều kiện môi trường trồng khác nhau mà giá thể được điều chỉnh cho phù hợp. Giá thể phải tơi xốp, thoáng khí và giàu dinh dưỡng. Agri sẽ đưa ra cho bạn một số giá thể được sử dụng hiện nay:

Giá thể trồng rau tại vườn nhà

Nguyên liệu để làm giá thể trồng rau tại nhà thường là: Phân bò, trấu tươi, sơ dừa, nấm Trichoderma, vôi bột nông nghiệp, bánh dầu. Các loại phải được ủ hay xử lý trước khi trồng cây. Phân bò đã ủ, trấu, sơ dừa trộn lại là thành “đất” trồng rau sẽ có dinh dưỡng cao, rẻ hơn đất mua và đặc biệt là có trọng lượng nhẹ.​ Lượng giá thể để trồng rau ăn lá chỉ 5-7cm, cây ăn trái leo giàn 10-12cm (Chậu cho bầu, bí mướp từ 150l là phù hợp). Trong quá trình trồng, tưới phân cá hoặc bánh dầu, dịch chuối hoặc phân ủ từ thực phẩm thừa ở nhà bếp.

Giá thể trồng phục vụ sản xuất, kinh doanh trong nhà màng, nhà lưới hay nhà kính

Đối với giá thể trồng cây trong nhà màng, nhà lưới hay nhà kính để kinh doanh sản xuất phải được kiểm nghiệm và có kết quả kỹ lưỡng từ cơ quan chuyên môn. Từ đó, người nông dân hay nông trại áp dụng trên vườn của mình để đạt kết quả tốt, cây trồng phát triển tốt, năng suất cao, chất lượng sản phẩm cao.

Tùy vào mỗi loại cây trồng mà giá thể được sử dụng khác nhau, dựa trên kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm mà người trồng chọn lựa giá thể phù hợp với loại cây trồng canh tác. Cây được trồng trong bầu, trên luống hay máng trồng.

Giá thể sử dụng cho canh tác dưa lưới trong nhà màng

Giá thể được sử dụng là mụn xơ dừa phối trộn với phân hữu cơ (phân trùn quế, phân hữu cơ hoai mục,…) với tỷ lệ 70% mụn xơ dừa + 20% phân hữu cơ + 10% tro trấu. Mụn xơ dừa, trước khi trồng cần phải xử lý tanin. Giá thể phải đảm bảo độ sạch (không nhiễm sâu bệnh hại, vi sinh vật, cỏ dại), độ thông thoáng, không ép chặt và đồng thời cung cấp dinh dưỡng cho cây.

Giá thể sử dụng cho canh tác cà chua trong nhà màng

Sử dụng túi trồng cây 2 lớp (trong đen, ngoài trắng), kích thước 18x36cm. Giá thể gồm mụn dừa 70% (ngâm xả liên tục 7-10 ngày), trấu hun 10% (đổ đống, xả nước), phân trùn quế 20%. Trộn hỗn hợp rồi cho vào túi đóng bầu.

Giảm ô nhiễm môi trường do không sử dụng các hóa chất độc hại để tăng năng suất cây trồng và phun thuốc trừ sâu để diệt cỏ dại và sâu bệnh trên đồng ruộng.

Nông nghiệp không dùng đất là giải pháp lý tưởng trong các khu đô thị – nơi không gian quá hạn chế cho các khu vườn.

Năng suất từ ​​canh tác không dùng đất cao hơn đáng kể do kết quả của các hoạt động thâm canh và khả năng sản xuất liên tục quanh năm.

Sản phẩm an toàn cho người sử dụng, tăng giá trị sử dụng trên 1 đơn vị diện tích.

Phân bón được cung cấp đúng tỉ lệ và được dẫn theo hệ thống tưới giúp cây trồng dễ hấp thu. Tăng hiệu quả sử dụng phân bón.

Tạo được sản phẩm đạt an toàn, có độ tin cậy cao đối với người tiêu dùng. Giúp tăng khả năng thâm nhập thị trường, tăng hiệu quả cạnh tranh.

Phương pháp canh tác không dùng đất mang lại hiệu quả cao, cây trồng ít bị sâu bệnh năng suẩt tăng, chất lượng nông sản tăng. Đồng thời giảm thiếu ảnh hưởng xấu đến môi trường và hạn chế sử dụng các loại phân thuốc không thân thiện môi trường. Tuy nhiên, phương pháp này có chi phí đầu tư cao và cần có trình độ chuyên môn để thực hiện. Nhưng phương pháp này đặt ra một kỳ vọng mới cho người nông dân, cũng như cho nông nghiệp nước nhà.

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Loại Phân Bón Thường Dùng Trong Nông Lâm Nghiệp trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!