Xu Hướng 12/2022 # Kỹ Thuật Trồng Và Bón Phân Cho Cây Chè / 2023 # Top 13 View | Duhocaustralia.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Kỹ Thuật Trồng Và Bón Phân Cho Cây Chè / 2023 # Top 13 View

Bạn đang xem bài viết Kỹ Thuật Trồng Và Bón Phân Cho Cây Chè / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Kỹ thuật trồng:

A. Kỹ thuật trồng chè cành

           1.1.Ưu điểm :

– Giữ được các đặc tính tốt của cây mẹ, nương chè sinh trưởng đồng đều, dễ thu hoạch và chăm sóc. Năng suất cao hơn 25 – 30% so với trồng hạt.

– Nương chè trồng cành cho thu hoạch sớm hơn 1 năm so với trồng hạt.

           1.2. Thời vụ trồng chè cành: 

Ở miền Bắc tốt nhất là tháng 8 – 10 (mưa ngâu) cũng có thể trồng vào tháng 2 – 3 (mưa Xuân). Vùng Tây Bắc mùa mưa kết thúc sớm nên trồng sớm hơn tháng 6-8. Vùng miền Trung và Tây Nguyên thường trồng vào tháng 10 – 11. Trồng khi đất đủ ẩm, sau khi mưa trời râm mát.Nếu sau trồng gặp hạn thì cần phải tưới nước cho chè mau bén rễ.

           1.3. Cách trồng: 

Trên rạch đã bón phân lót và lấp đất, bổ hố rộng 20 cm, sâu 20 – 25 cm, theo khoảng cách, mật độ quy định. Bóc túi P.E, giữ nguyên bầu đất, đặt cây chè bầu vào hố, lấp đất lèn chặt xung quanh bầu chè. Sau đó lấp một lớp đất tơi xốp lên trên mặt hàng chè, sau khi trồng xong cần tủ cỏ rác theo rạch rộng 40 cm  để giữ ẩm, tăng mùn, hạn chế cỏ dại.

 Chú ý:

– Bầu chè đem trồng không được khô quá khi trồng bầu đất dễ vỡ ảnh hưởng đến rễ chè. Nếu bầu đất quá ướt, bóp chặt bầu khi trồng gây bó rễ thì sinh trưởng kém và tỷ lệ chết cao.

– Khi trồng chè đặt cây quay cùng một hướng theo hướng gió để tiện chăm sóc.

B. kỹ thuật trồng chè hạt:(hiện nay hầu như kỹ thuật này không được sử dụng, chủ yếu giới thiệu để tiện so sánh với trồng chè cành)

           2.1. Tiêu chuẩn hạt giống tốt: 

Hạt chín, chắc, nặng, to. Tỷ lệ nẩy mầm trên 70%. Hàm lượng nước trong hạt 25 – 35%. Lượng giống cho 1 ha (Chè Trung du, chè shan): 500 kg quả tương đương 200 – 250 kg hạt tốt.

           2.2. Thời vụ gieo hạt:

Thời vụ gieo được quyết định bởi thời kỳ hạt chín và độ ẩm đất, thời vụ thu hoạch quả từ 1/10 đến hết tháng 11 với chè Trung du và từ 1/11 đến 15/12 tuỳ theo giống chè.

           2.3. Cách gieo: 

Ngâm hạt vào nước lã 12 giờ trước khi gieo, sau đó có thể đem gieo ngay hoặc ủ trong cát cho nứt rồi đem gieo.

Trên rãnh chè đã đào và bón phân lót, gieo hạt theo hốc, gieo 4 – 6 hạt/hốc, lấp đất sâu 3 – 4 cm, mỗi hốc cách nhau 40 cm. Khi chè mọc tỉa bỏ cây xấu, để 2 – 3 cây/hốc. Trồng xong có thể tủ cỏ rác để giữ ẩm, hạn chế cỏ mọc, không bị đóng váng bề mặt đất, chè sinh trưởng tốt hơn.

 II. Kỹ thuật chăm sóc chè kiến thiết cơ bản.

1. Giặm chè.

            - Để nương chè đảm bảo mật độ những cây mất khoảng phải trồng giặm thường xuyên. Thường phải dự trữ 10% số cây giống cùng loại cho trồng dặm. Để cây chè trồng giặm đáp ứng được yêu cầu thì cần phải chuẩn bị cây. - Kỹ thuật chuẩn bị cây chè trồng giặm. Kích thước túi PE đóng bầu 18 x 25cm, đất đóng bầu nên dùng Đất sạch Better trộn với phân Hữu cơ sinh học Better HG 01, để ngừa sâu bệnh, tỷ lệ trộn 3 đất 1 phân (0,3 kg Đất sạch Better + 0,1 kg Better HG 01/bầu), chọn cây chè giâm cành 9 -10 tháng tuổi, chuyển sang bầu to đã chuẩn bị trên, chăm sóc tiếp trong vườn 5 – 6 tháng khi cây được 16 – 18 tháng, cao 30 – 40 cm có 12 – 18 lá trở lên đã phân cành cấp 1, cấp 2, đường kính thân 0,5 cm thì đưa đi trồng giặm.

           – Kỹ thuật trồng giặm:  Đào hố kích thước sâu 30 x 30 x 30cm bón phân Hữu cơ sinh học Better HG 01 trộn đều với đất sạch Better 4 kg/ hố, đặt bầu cây ngay ngắn, cổ rễ thấp hơn mặt đất 1 – 2cm sau đó lấp đất chặt xung quanh bầu, tủ gốc bằng cỏ, lau lách, rơm rạ để giữ ẩm. Thời vụ giâm là tháng 2 – 3 và tháng 8 – 9, chọn những ngày trời râm mát, đất đủ ẩm để tiến hành trồng giặm, nếu giặm xong trời hạn phải tưới nước. Đảm bảo cây trồng giặm không bị cỏ dại lấn át và sâu bệnh phá hại.

2. Phá váng:

           Đối với chè khi trồng đã được tủ gốc (lau lách, rơm rạ, cây phân xanh…) thì không cần phải phá váng. Đối với chè trồng không được tủ gốc do gặp trời mưa đất bị đóng váng, bí chặt thì nên phá váng. Dùng cuốc xăm nhẹ lớp đất trong rạch chè, làm vào những ngày trời nắng ráo (thường chè sau trồng 1-2 tháng mà bị mưa đất chặt bí thì bắt đầu phá váng).

3. Phòng trừ cỏ dại và cắt tỉa cây phân xanh.

           a. Mục đích.

– Không để cỏ dại và cây phân xanh lấn át, tranh chấp nước, dinh dưỡng, ánh sáng với cây chè.

 - Thông qua việc xới cỏ làm thông thoáng, tăng lượng ô xy trong đất tạo điều kiện cho bộ rễ sinh trưởng tốt.

– Làm mất nơi cư ngụ của sâu bệnh

Lưu ý: Sau khi trồng bón nhử cho chè con: Dùng 100kg Phân Better NPK 16-12-8-11+TE để bón cho 1 ha chia làm 10 lần bón (trung bình 15 ngày nhử phân một lần). Khi cây lên giai đoạn kiến thiết cơ bản (KTCB), lượng phân bón như sau:

           b. Bón phân cho chè:

Tất cả đều phải bón cách xa gốc trên 10cm. Đến giai đoạn chè kinh doanh, bón phân Better NPK 16-12-8-11+TE theo tỷ lệ 3:1:1, với lượng 30 kg N/tấn sản phẩm chè búp tươi.

Lượng phân cụ thể như sau:

Phân Better NPK bón theo tán chè lúc ẩm độ đất 70 – 80%, vùi sâu 6 – 8cm, bón 5 – 6 lần/năm từ tháng 4 – 11.

Nên bón vào đầu vụ (tháng 4 – 5 ) 1 lần cùng với các phân khác (nếu có).Hàng năm nên thay đổi các dạng phân hoặc phối hợp theo tỷ lệ thích hợp để không làm dư thừa các chất có trong phân mà cây không hấp thụ.

Nếu trồng chè ở vùng đồi dốc nên bón bổ sung Chế phẩm vi lượng Sunfat magiê (MgSO4) và Sunfat kẽm (ZnSO4) với liều lượng 50kg MgSO4 và 3,5kg ZnSO4 trên 1ha. ( Có thể dùng chế phẩm vi lượng tổng hợp Better cho rau màu cũng sử dụng tốt cho cây chè )

Bón phân hữu cơ sinh học Hiếu Giang Better HG 6-2-2+TE, để cung cấp thêm dinh dưỡng cho chè và cải thiện tính chất vật lý, hóa học, sinh học trong đất.

Có thể sử dụng phân chuồng ủ hoai 20 – 25 tấn/ha, bón 3 năm/lần vào đầu mùa mưa.

Sau khi đã bón cân đối các loại phân gốc cho cây chè, để ổn định năng suất và nâng cao chất lượng chè thành phẩm, nên dùng phân bón lá được chế biến từ đạm thực vật (đạm chiết xuất từ cá nguyên con, rong biển,…). Phun ngay sau lứa hái (2 – 3 lứa hái/lần) lúc sáng sớm hoặc chiều mát, không mưa. Các loại phân bón lá Better,…với liều lượng theo khuyến cáo trên bao bì.

            c. Kỹ thuật trừ cỏ dại.

           Với chè kiến thiết cơ bản nếu để cỏ sinh trưởng mạnh, lấn át cây chè, khi thao tác làm cỏ dễ làm đứt rễ và cả cây chè (là nguyên nhân gây mất khoảng). Đối với chè kiến thiết cơ bản khi nào có cỏ là tiến hành làm, làm ngay khi cỏ còn non chưa ra hoa rụng hạt, tiến hành làm sạch cỏ toàn bộ diện tích, chú ý nhổ cỏ bằng tay ở trong gốc chè để tránh tình trạng làm dập nát hay đứt cây. Những đồi chè có nhiều cỏ sinh trưởng bằng thân ngầm (như cỏ gấu, cỏ tranh) hoặc những cỏ có khả năng tái sinh mạnh như thài lài, khi sới cỏ xong cần nhặt hết thân ngầm ra bìa lô để phơi khô đốt diệt, hoặc dùng thuốc trừ cỏ đề diệt trừ.

           d. Kỹ thuật đốn tỉa cây cốt khí.

Những nương chè được trồng xen cây cốt khí khi chè trồng đã qua mùa hè, cây chè đã bén rễ, từ tháng 9-10 phải tiến hành cắt tỉa cành lá cốt khí hai bên hàng chè, tháng 2 năm sau tiến hành tỉa thưa cây cốt khí , cứ 2-3 m để lại 1 cây làm cây bóng tạm thời. Khi chè đưa vào kinh doanh thì phá bỏ cây cốt khí vì sang tuổi 3 khả năng tái sinh của cốt khí rất yếu, năng suất chất xanh thấp làm cản trở cho thao tác hái chè và phun thuốc trừ sâu.

III. Trồng cây bóng mát cho chè kiến thiết cơ bản.

           – Mục đích của trồng cây bóng mát: Nhằm che bóng cho cây chè,cải tạo tiểu khí hậu đồi chè, tận dụng đất đai, hạn chế xói mòn, bảo vệ đất…đây là hướng phát triển bền vững. Tập đoàn cây bóng mát rất phong phú như trẩu, trám, gỗ, mỡ, keo, tràm, muồng đen, chàm lá nhọn, cây hoa hoè, bồ kết tây…nhưng thông dụng hiện nay là cây tràm lá nhọn. Ven các đường chân đồi, lưng đồi, những nơi hợp thuỷ đất dốc không trồng chè thì trồng các loại cây lấy gỗ, khoảng cách trồng 3-5 m 1 cây để làm đai rừng chắn gió, giảm khả năng xói mòn.

Đường lô, trong hàng trồng các cây họ đậu (như hoa hoè, muồng đen, chàm lá nhọn…) khoảng cách trồng ở đường lô 2- 2,5m trồng 1 cây, trong hàng chè 3-5m trồng 1 cây) cách 3 hàng chè trồng 1 hàng cây bóng mát, với cây tràm lá nhọn mật độ khoảng 250- 300 cây/ ha, có thể trồng dày hơn 500-600 cây/ha. Khi cây bóng mát lớn thì tỉa thưa dần để lại đủ 300 cây/ ha.

Phân bón Hiếu Giang Better kính chúc bà con bội thu!    

Hướng Dẫn Kỹ Thuật Bón Phân Cho Chè / 2023

Kỹ thuật bón phân cho chè là một trong những yếu tố then chốt quyết định đến năng suất và chất lượng chè búp. chính vì vậy cần phải bón phân gì, số lượng bao nhiêu vẫn là nỗi băn khoăn của nhiều người dân trồng chè.

Việt Nam là một nước có diện tích trồng chè lớn, đến năm 2012 đạt 129.100 ha. Tuy nhiên việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong trồng, chăm sóc và chế biến chè còn nhiều hạn chế. Do nhiều yếu tố về kinh phí và sự hiểu biết của những người trồng chè còn hạn hẹp. Hôm nay “Công ty Chè Thái Nguyên” xin chia sẻ cho bà con trồng chè kỹ thuật bón phân cho chè như thế nào là hợp lý? Giúp bà con có những sản phẩm Trà chất lượng.

1. Điều kiện đất đai trồng chè

Cây chè được trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất bazan, phù sa cổ trên phiến thạch và sa thạch với mật độ khoảng 10.000 hốc/ha. Tuy nhiên, đất trồng chè đa số chỉ có tầng canh tác dày 50 -70 cm, hiếm khi trên 1 m. Lượng mưa tập trung theo mùa làm cho đất bị rửa trôi, xói mòn trong mùa mưa; còn mùa khô thì hạn hán trầm trọng, thậm chí ngay vào thời điểm mùa mưa cây chè vẫn bị hạn do đất dốc không giữ được nước.

2. Bón phân cho chè (tính cho 1 sào Bắc bộ 360 m2)

Bón lót

Sau khi làm đất kỹ, xẻ rãnh, rạch hàng với độ sâu của rãnh 40 – 50 cm, rộng 40 – 50 cm, đáy 30 – 35 cm. Phân chuồng hoai mục 700 – 1.000 kg và 15 – 20 kg NPK-S 5.10.3-8 Lâm Thao. Trộn đều với đất để bón lót.

Bón phân cho chè 1 tuổi

Sử dụng phân NPK-S Lâm Thao 12.5.10-14 hoặc 10.5.10-5 với liều lượng 12 – 14 kg/năm và được bón 2 lần vào tháng 3 và tháng 7, mỗi lần bón 6 – 7 kg. Bón cách gốc 30 cm, sâu 6 – 8 cm.

Bón phân cho chè 2 tuổi

Sử dụng phân NPK-S Lâm Thao 12.5.10-14 hoặc 10.5.10-5 với liều lượng 24÷28 kg/năm và được bón 2 lần vào tháng 3 và tháng 7. Mỗi lần bón 12 – 14 kg. Thời kỳ và cách bón như bón cho chè 1 tuổi.

Bón phân chuồng theo chu kỳ

5 năm bón 1 lần cho chè kinh doanh. Cách bón: Cày 2 xá cày trùng nhau, vét rãnh sâu 20 cm, bón xuống rãnh 700 – 1.000 kg phân chuồng đã được ủ hoai mục và lấp đất lại. Thời kỳ bón tháng 11 hoặc tháng 12.

Bón phân vô cơ cho chè kinh doanh

Căn cứ vào năng suất búp tươi mà dùng lượng phân thích hợp, bón 3 lần/năm vào tháng 2 hoặc 3, tháng 5 hoặc 6 và tháng 8 hoặc 9. Nên bón NPK theo tỷ lệ và liều lượng 240 N:130 P2O5: 160 K2O cho 1 ha theo quy trình (tiêu chuẩn ngành – 10 TCN) và sử dụng phân bón Lâm Thao NPK-S 12.5.10-14 hoặc 10.5.10-5 thì liều lượng bón phân cho chè 1 sào Bắc bộ (kg/360 m2) như sau:

Bón lần 1 (cuối tháng 2, đầu tháng 3): 22 – 27 kg.

Bón lần 2 (tháng 5 – 6): 22 – 27 kg.

Bón lần 3 (tháng 8 – 9): 18 – 24 kg.

3. Bón phân cho một số giống chè mới

Đối với giống Phúc Vân Tiên và Shan Chất Tiền

Tổng lượng bón N + P2O5 + K2O = 300 kg/ha và trên nền 20 tấn phân chuồng/ha kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ N:P:K tốt nhất cho giống chè (tuổi 4) Shan Chất Tiền là 3:1:2 để SX chè đen và cho giống Phúc Vân Tiên để SX chè xanh. Do đó nên sử dụng phân bón Lâm Thao NPK-S 12.5.10-14 với liều lượng bón cho 1 sào Bắc bộ (kg/360 m2) như sau:

Bón lần 1 (cuối tháng 2, đầu tháng 3): 16 – 18 kg.

Bón lần 2 (tháng 5 – 6): 16 – 18 kg.

Bón lần 3 (tháng 8 – 9): 13 – 15 kg.

Còn phân chuồng bón 700 – 800 kg/sào vào tháng 11 hoặc tháng 12.

Đối với giống chè LDP1 và LDP2 (chè cành lai)

Ở đầu thời kỳ kinh doanh : (tuổi 3 – 4) thì tỷ lệ 3:1:1,5 và liều lượng NPK (kg/ha) là 120 N + 40 P2O5 + 60 K2O. Do đó nên sử dụng phân bón lâm Thao NPK-S 12.5.10-14 với liều lượng bón cho chè 1 sào Bắc bộ (kg/360 m2) như sau:

Bón lần 1 (cuối tháng 2, đầu tháng 3): 12 – 14 kg.

Bón lần 2 (tháng 5 – 6): 12 – 14 kg.

Bón lần 3 (tháng 8 – 9): 9 – 11 kg.

Đối với giống chè LDP1 và LDP2 ở thời kỳ kinh doanh đạt năng suất 10-11 tấn/ha thì tỷ lệ 3:1:1 và liều lượng NPK (kg/ha) là 300 N + 100 P2O5 + 100 K2O. Do đó nên sử dụng phân bón Lâm Thao NPK-S 10.5.5-3 với liều lượng bón phân cho chè 1 sào Bắc bộ (kg/360 m2) như sau:

Bón lần 1 (cuối tháng 2, đầu tháng 3): 38 – 40 kg.

Bón lần 2 (tháng 5 – 6): 38 – 40 kg.

Bón lần 3 (tháng 8 – 9): 30 – 32 kg.

Đối với giống chè PH8 (là giống chè lai hữu tính giữa giống chè Kim Tuyên nhập nội từ Đài Loan với giống chè TRI777- chè cành 777)

Đạt năng suất 10-11 tấn/ha thì tỷ lệ 3:1:1 với lượng 35 kg N/tấn sản phẩm và liều lượng NPK (kg/ha) là 350 N + 120 P2O5 + 120 K2O. Do đó nên sử dụng phân bón Lâm Thao NPK-S 10.5.5-3 với liều lượng bón phân cho chè 1 sào Bắc bộ (kg/360 m2) như sau:

Bón lần 1 (cuối tháng 2, đầu tháng 3): 44 – 46 kg.

Bón lần 2 (tháng 5 – 6): 44 – 46 kg.

Bón lần 3 (tháng 8 – 9): 35 – 37 kg.

Các nương ở chè Thái Nguyên nói riêng và các vùng chè khác ở Việt Nam cần có một quy trình bón phân cho chè hợp lý, để cây chè phát triển tốt, bền vững, cho sản phẩm Trà chất lượng. Vì thế bà con trồng chè nên sử dụng phân bón cho chè theo“4 đúng” (đúng chủng loại, đúng liều lượng, đúng thời gian,đúng phương pháp) để đạt năng suất và chất lượng chè cao.

Tổng Hợp Các Kỹ Thuật Bón Phân Cho Cây Chè Xanh / 2023

Từ lâu, ẩm thực trà đạo nói chung và cây chè trong kinh doanh luôn được nhà nước và bộ Nông Nghiệp ưu tiên phát triển. Cây chè cần nhiều đạm nhất, sau đó tới kali và lân. Ngoài ra, chè có nhu cầu cao về nhôm di động, natri, sắt, mangan và một số nguyên tố trung vi lượng khác (Ca, Mg, Zn, Cu, Bo, …). Tuy nhiên, bón phân đạm quá nhiều, năng suất tuy cao nhưng chất lượng chè giảm…

Vậy nên bón phân gì cho chè tăng lượng đường hòa tan, tăng hàm lượng tanin, tăng chất lượng chè?

* Bón phân cho chè giai đoạn kiến thiết cơ bản:

+ Bón lót: Bón lót trước khi trồng 20-30 tấn phân hữu cơ, 1.000-1.500kg supper lân cho mỗi ha. Số phân này được trộn đều với lớp đất mặt trong hố 2-4 tuần trước khi trồng. + Bón thúc: Lượng bón tùy theo giống chè, khoảng cách trồng, loại đất và tuổi cây. Có thể bón theo tuổi cây như sau:

– Năm thứ nhất: 10 tấn phân hữu cơ + 100kg Sumicoat + 150kg NPK 30-9-9-TE + 700kg Urê + 600kg Superlân + 150kg KCl/ha – Năm thứ hai: 10 tấn phân hữu cơ + 100kg Sumicoat + 150kg NPK 30-9-9-TE + 850kg Urê + 750kg Superlân + 200kg KCl/ha – Năm thức ba: 15 tấn phân hữu cơ + 100kg Sumicoat + 150kg NPK 30-9-9-TE + 1.000kg Urê + 800kg Superlân + 250kg KCl/ha;

Lượng phân trên được chia làm 10-12 lần/năm (trung bình 1 tháng/lần). Riêng phân hữu cơ, phân lân super và Sumicoat chỉ cần bón 1 lần vào đầu mùa mưa.

Cách bón: Rải phân theo đường vành khăn, cách gốc 10-15cm, kết hợp với xới đất để vùi lấp phân. Chú ý tưới nước và giữ đủ ẩm sau khi bón phân.

+ Tưới thúc: Hòa tan 10-20 g HAI-Chyoda trong 10 lít nước, tưới ướt đất và định kỳ tưới 20-30 ngày/lần hoặc khi thấy cây cằn cỗi.

*Bón phân cho chè giai đoạn kinh doanh:

Lượng phân bón cho chè trong giai đoạn kinh doanh tùy theo mức năng suất cần đạt. Định mức trung bình 30-45kg N + 10-15kg P2O5 + 10-15kg K2O/tấn búp tươi. Ngoài ra, cần bón hoặc phun thêm phân bón có chứa vi lượng để tăng năng suất và chất lượng chè.

+ Loại phân và lượng bón:

Giới Thiệu bà con nên sử dụng sản phẩm phân bón do Công Ty CP Hữu Cơ Miền Trung sản xuất.

Sử dụng phân bón Năm Tốt giúp tăng hiệu quả kinh tế do giá phân bón loại này thấp, giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật, tăng chất lượng nông sản nên giá bán nông sản cao, đất được cải tạo nên giảm dần lượng phân bón vào các vụ sau, và đặc biệt cách phối hợp bón phân hợp lý giúp tăng năng suất cây trồng.

Khách hàng của công ty là bà con nông dân, và lợi ích của họ luôn được đặt lên hết trên từng sản phẩm. Do vậy, chúng tôi cam kết cung cấp cho bà con những sản phẩm giá rẻ nhất mà chất lượng tốt nhất – công ty phân bón hữu cơ uy tín – kính mời…

Bón Phân Đầu Trâu Cho Cây Chè Miền Bắc / 2023

1. Nhu cầu dinh dưỡng của cây chè: Chè cần rất nhiều chất dinh dưỡng, mỗi chất có vai trò quan trọng nhất định với sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng chè. – Đạm (N): Là thành phần của chất hữu cơ, diệp lục tố, nguyên sinh chất, axit nucleic, protein. Đạm giúp tăng chiều cao cây, ra nhiều lá và búp mới, tăng năng suất chè. Thiếu đạm: Cây sinh trưởng phát triển kém, ít nảy đọt, búp non có màu xanh nhạt, xanh vàng đến ửng đỏ, năng suất thấp. – Lân (P): Là thành phần của phosphatides, axit nucleic, protein… quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng và protein. Lân cần thiết cho sự phát triển của bộ rễ, kích thích chồi mới, tăng khả năng chịu hạn, tăng tuổi thọ của cây, tăng năng suất và lượng đường hòa tan và tanin, tăng chất lượng chè. Thiếu lân: Lá có màu xanh đục mờ không sáng bóng, thân cây mảnh, rễ kém phát triển, khả năng hấp thu đạm kém. Chè thiếu lân trầm trọng sẽ bị trụi cành, năng suất và chất lượng đều thấp. Thiếu kali: Cây sinh trưởng chậm, mép và chóp lá có màu xám hay nâu nhạt sau khô dần, lá già rụng sớm, lá non ngày càng nhỏ, dễ bị sâu bệnh. Búp thưa, vỏ cây có màng trắng bạc, cây chậm ra búp, năng suất thấp, chè kém ngọt, chất lượng giảm. – Lưu huỳnh (S): Là thành phần của các axit amin chứa S và vitamin, biotin, thiamin và coenzim A. Giúp cho cấu trúc protein vững chắc, tăng năng suất, chất lượng chè. Thiếu lưu huỳnh: Xuất hiện vệt vàng nhạt giữa gân các lá non, trong giai đoạn phát triển thiếu lưu huỳnh lá trở nên vàng, khô dần và rụng, năng suất và chất lượng đều thấp. Trong một số trường hợp, thiếu lưu huỳnh làm cây chết non. – Magiê (Mg): Cấu tạo diệp lục tố, enzim chuyển hóa hydratcarbon và axit nucleic. Thúc đẩy hấp thụ, vận chuyển lân và đường trong cây, giúp cây cứng chắc và phát triển cân đối, tăng năng suất và chất lượng chè khô. Thiếu magiê: Xuất hiện những vệt màu xanh tối hình tam giác ở giữa lá, lá già dần chuyển vàng, hạn chế khả năng ra búp, năng suất thấp, chất lượng chè khô giảm. – Canxi (Ca): Cần cho sự phân chia tế bào, duy trì cấu trúc nhiễm sắc thể, hoạt hóa enzim, giải độc axit hữu cơ. Giúp cây cứng cáp, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, và điều kiện thời tiết bất thuận, tăng năng suất và độ dầy của lá, độ lớn của búp, tăng năng suất và chất lượng chè khô. – Đồng (Cu): Là thành phần của men cytochrome oxydase, ascorbic, axit axidase, phenolase, lactase, xúc tiến quá trình hình thành vitamin A, tăng sức chống chịuu sâu bệnh, tăng năng suất và chất lượng chè. Thiếu đồng: Cây sinh trưởng phát triển kém, dễ bị nấm bệnh tấn công. Chè thiếu đồng khi hàm lượng đồng trong lá – Kẽm (Zn): Là thành phần của men metallo-enzimes-carbonic, anhydrase, anxohol dehydrogenase, quan trọng trong tổng hợp axit indol acetic, axit nucleic và protein, tăng khả năng sử dụng lân và đạm của cây. Thúc đẩy sinh trưởng, phát triển, tăng năng suất và chất lượng chè. Thiếu kẽm: Cây lùn, còi cọc, lá chuyển dần bạc trắng, số búp ít. – Sắt (Fe): Là thành phần của nhiều enzim, quan trọng trong chuyển hóa axit nucleic, RNA, diệp lục tố. Tăng sinh trưởng và sức ra búp, tăng năng suất và chất lượng chè. – Bo (B): Cần cho sự phân chia tế bào, tổng hợp protein, lignin trong cây, tăng khả năng thấm ở màng tế bào và vận chuyển hydrat carbon. Tăng độ dẻo của búp, giảm rụng lá, tăng năng suất và chất lượng chè. – Molypđen (Mo): Là thành phần của men nitrogenase, cần cho vi khuẩn Rhizobium cố định đạm, tăng hiệu suất sử dụng đạm, tăng năng suất và chất lượng chè. – Clo (Cl): Là thành phần của axit auxin chloindole-3 acetic, kích thích sự hoạt động của enzim và chuyển hóa hydrat carbon, khả năng giữ nước của cây, tăng năng suất và chất lượng chè. – Nhôm (Al) và Natri (Na): Ảnh hưởng tốt đến hương thơm và vị đậm của chè. Tăng năng suất và nâng cao phẩm cấp của chè búp khô. Trong 100kg búp chè có chứa 4kg N + 1,15kg P2O5 + 2,4kg K2O, tuy nhiên để tạo ra 100kg chè thương phẩm, lượng dinh dưỡng cần rất lớn (bảng 1). Chè cần nhiều đạm nhất sau tới lân, kali và các chất trung vi lượng. Chè là cây khá khác biệt so với các cây khác đó là có nhu cầu cao về nhôm, natri, sắt và mangan. 2. Bón phân Đầu Trâu cho cây chè * Chè kiến thiết cơ bản – Bón lót:: Lót khi trồng 0,7-1 tấn phân chuồng/sào + 0,05-0,1kg NPK 16-8-8+TE Đầu Trâu/cây.Trộn phân với lớp đất mặt, lấp hố trước khi trồng 1-2 tuần. Khi trồng xới đất lên đặt cây, lấp đất, lèn chặt. – Bón thúc: Lượng bón 5-10 kg NPK 16-8-8+TE Đầu Trâu/sào/lần tuỳ theo tuổi cây. Bón thúc 3-4 lần/năm. * Chè kinh doanh Lượng phân cho chè kinh doanh tuỳ theo mức năng suất. Năng suất cao cần bón nhiều phân, năng suất thấp bón ít hơn. Định mức bón 10-15 kg NPK 16-8-8+TE Đầu Trâu/sào/lần. Bón 3-4 lần/năm. Có thể bón kết hợp xới đất làm cỏ với bón phân hoặc xẻ rãnh giữa hàng, rải phân rồi lấp đất. Phun phân bón lá Đầu Trâu 001 định kỳ sau mỗi lứa hái có tác dụng thúc đẩy ra búp mới, tăng cao năng suất và chất lượng chè. Phân chuồng định kỳ 3 năm bón 1 lần với lượng 0,5-1 tấn/sào, bón ngay sau khi đốn đau. Cần xới đất sâu tạo rãnh quanh tán hoặc giữa 2 hàng rồi rải phân chuồng và lấp một lớp đất mỏng để giữ ẩm cho chè trong mùa khô.

Cập nhật thông tin chi tiết về Kỹ Thuật Trồng Và Bón Phân Cho Cây Chè / 2023 trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!