Xu Hướng 3/2023 # Kỹ Thuật Sản Xuất Rau An Toàn # Top 8 View | Duhocaustralia.edu.vn

Xu Hướng 3/2023 # Kỹ Thuật Sản Xuất Rau An Toàn # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Kỹ Thuật Sản Xuất Rau An Toàn được cập nhật mới nhất trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Rau xanh không thể thiếu được trong khẩu phần ăn hàng ngày của mỗi người chúng ta. Không giống như cây lúa, cây rau được gieo trồng với nhiều chủng loại phong phú, có thời gian sinh trưởng ngắn nên đòi hỏi tưới nước bón phân cũng như phun thuốc BVTV nhiều hơn. Từ đó nảy sinh ra nhiều vấn đề như, dư lượng thuốc BVTV (do phun thuốc không đảm bảo thời gian cách ly); Đạm (do bón dư thừa vượt quá nhu cầu của cây); các loại vi trùng và ký sinh trùng (do tưới nguồn nước bẩn bị ô nhiễm vi sinh). Các vấn đề nêu trên tồn dư trong rau vượt quá mức qui định theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5942-1995, có khả năng gây ngộ độc cho người tiêu dùng. Đặc biệt, ở các bếp ăn tập thể, các nhà trẻ mẫu giáo hoặc ở các khu vực thành thị đông dân cư. Như vậy, việc sản xuất và cung cấp rau an toàn cho thị trường đảm bảo dư lượng thuốc BVTV, hàm lượng Nitrat (NO 3) kim loại nặng,... dưới mức cho phép là nhu cầu hết sức cần thiết.

Phương pháp sản xuất

Có nhiều phương pháp sản xuất rau như: trồng trong nhà kín, trong nhà lưới, trồng thủy canh và trồng ngoài đồng. Mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng của nó. Trong điều kiện trồng rau mà nhu cầu người tiêu dùng chưa đòi hỏi phải có nguồn rau sạch thì có thể áp dụng kỹ thuật sản xuất rau an toàn trong điều kiện ngoài đồng. Đây là phương pháp tương đối đơn giản, ít tốn tiền với biện pháp quản lý theo quy trình IPM. Với hình thức canh tác này mới có thể đáp ứng đủ nguồn rau xanh cho nhu cầu người tiêu dùng. Hơn nữa, phương pháp này vừa đảm bảo được năng suất cao mà giá thành sản phẩm cũng không đội lên so với sản xuất theo tập quán nông dân.

Ở Vĩnh Long Chi Cục BVTV đã ứng dụng quy trình sản xuất rau theo chế độ IPM và INM (Integrated nutrient management) bắt đầu từ năm 1997 đến nay, đặc biệt là việc đưa màn phủ nông nghiệp vào sản xuất đã nâng cao hiệu quả một cách rõ rệt. Với hơn 45 điểm tập huấn nông dân và gần 50 điểm nghiên cứu trên rau màu đã mang lại hiệu quả hết sức thiết thực. Đặc biệt trong 2 năm 2000 và 2001, đã tiến hành thực hiện 2 đề tài “Xây dựng mô hình chuyên canh rau sạch” tại 2 huyện Bình Minh (xã Thuận An) và huyện Long Hồ (xã Phước Hậu). Kết quả đã tổ chức được 5 CLB nông dân tham gia sản xuất rau an toàn, cung cấp một phần nhu cầu rau trong địa bàn tỉnh. Trong năm 2002 và 2003, Chi Cục BVTV đã xây dựng thêm 6 CLB ở những vùng trồng rau trọng điểm như Bình Minh, Vũng Liêm, Tam Bình. Tất cả thành công trên đã mở ra một hướng mới trong sản xuất rau an toàn, đáp ứng phần nào nhu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm trong dân.

Biện pháp thực hiện

* Ứng dụng những tiến bộ KHKT về giống, thuốc BVTV, kỹ thuật canh tác,… để tạo ra các sản phẩm rau bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng.

* Các đối tượng được đưa vào sản xuất là: huyện Bình Minh gồm cà chua, dưa leo, khổ qua, salad son, đậu que; Huyện Long Hồ, TXVL gồm Cà chua, dưa leo, khổ qua và một loại cây gia vị khác. Tất cả đều được tập huấn kỹ thuật sản suất các loại rau an toàn theo quy trình hướng dẫn. Đối với những cây rau chưa có quy trình thì chúng tôi tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện quy trình huấn luyện.

* Thành lập tổ, nhóm nông dân tham gia các nghiên cứu đồng ruộng dưới sự hướng dẫn và theo dõi của cán bộ kỹ thuật. Sau đó, tổ chức hội thảo đầu bờ để nông dân tự đánh giá kết quả nghiên cứu và làm mô hình cho các nông dân khác trong khu vực và vùng lân cận học tập làm theo.

* Tuyên truyền rộng rãi mô hình sản xuất với lãnh đạo địa phương, các ban ngành đoàn thể, các cán bộ kỹ thuật và một số đối tượng có nhu cầu sử dụng.

* Bàn bạc với lãnh đạo địa phương, các ban ngành đoàn thể có phương án thành lập CLB sản xuất rau an toàn.

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển và duy trì

– Cần xác định vùng trồng rau an toàn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế và xã hội ở địa phương. Tránh bố trí những nơi có nguồn nước bị ô nhiễm trong hiện tại và tương lai.

– Cần thành lập các nhóm nghiên cứu là những nông dân đã có tập quán sản xuất rau.

Từ đó chúng ta mới nâng lên thêm một bước trong sự cải tiến biện pháp canh tác của họ.

Ngoài sự hướng dẫn giúp đỡ về kỹ thuật thì việc quan tâm của chính quyền các cấp và các ngành hữu quan là không thể thiếu được. Điều làm được là đã có sự phối hợp giữa nhà khoa học với nhà nông nhưng vẫn chưa có sự phối hợp đồng bộ với nhà quản lý và nhà kinh doanh. Nếu có sự phối hợp giữa bốn nhà mới có thể thúc đẩy tốt hơn việc phát triển và duy trì nguồn cung ứng rau an toàn cho người tiêu dùng.

Th.sĩ Nguyễn Văn Duyệt- Chi cục BVTV Vĩnh Long, Bản tin Nông nghiệp Vĩnh Long, 2003

Có thể tận dụng sân thượng, sân cát… làm nơi trồng rau. Chỉ cần tranh thủ thời gian ngoài giờ làm việc hàng ngày chăm sóc là đủ, tận dụng nước sinh hoạt để tưới, vừa có rau an toàn để sử dụng.

Với những loại cây rau ăn quả, ăn lá có thể trồng theo cây đơn lẻ (cà chua, ớt, rau thơm, xà lách, cải rổ…) thì trồng trong các chậu gốm đất, giỏ tre đan dày, khay gỗ nhỏ, vỏ bao xi măng cắt bớt phần trên, có độ sâu trên 25 cm là được.

Những loại rau như cải, cải củ, mùng tơi, rau dền, rau muống… thì trồng trong những khay tự tạo hình vuông hoặc chữ nhật, đóng bằng gỗ tận dụng, hoặc tận dụng những thùng vỏ bao các vật dụng, nhưng nhất thiết phải có nhiều lỗ ở đáy để thoát nước. Chiều cao lớp giá thể trên khay cần vừa đủ để rễ cây phát triển (tối thiểu 25 cm). Có thể làm khung nhiều tầng để đựng khay.

Giá thể (hỗn hợp đựng trong chậu, khay để gieo trồng cây) có thể là mùn cưa, bã mùn xơ dừa, đất sạch có thành phần cơ giới nhẹ, cát mịn, mùn hữu cơ đã ủ hoai mục, tất cả đều phải sạch. Sử dụng hạt giống, cây giống tốt, sạch bệnh để gieo trồng (nên mua hạt giống tại những địa chỉ tin cậy, đảm bảo chất lượng). Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng cách ngâm hạt vào nước lạnh 3-5 giờ, rồi vớt ra, để cho ráo nước mới gieo.

Gieo hạt hoặc trồng cây vào khay, chậu: giá thể phải được trộn đều, có thêm một ít phân đạm, lân, kali nếu trồng theo những cây đơn lẻ, tưới nước đủ ẩm trước khi cho vào trong chậu, khay. Mật độ gieo tùy thuộc vào từng loại giống rau, nhưng trung bình khoảng 10 gam hạt/40 cm2 bề mặt giá thể là thích hợp. Rắc phủ một lớp giá thể mỏng lên trên lớp hạt giống đã gieo. Khi hạt đã nảy mầm, thỉnh thoảng chuyển khay rau mầm ra ngoài nắng (nếu để khay theo tầng), sau đó lại đặt vào để tăng chất lượng rau mầm.

Duy trì chế độ tưới nước hàng ngày, mỗi ngày 2 lần (vào lúc sáng sớm và chiều mát), chỉ tưới đủ ẩm. Nếu là rau mầm thì không cần bón thúc bất cứ loại phân nào, không phải phun thuốc bảo vệ thực vật. Nếu rau trồng theo cây đơn lẻ thì phải bón thúc, chú ý lượng bón thích hợp, tránh bón thừa phân.

Thời gian thu hoạch rau mầm trong khoảng từ 5-12 ngày sau gieo tùy từng loại rau. Nên thu hoạch đúng lúc và bảo quản tốt để rau có chất lượng cao; thu hoạch gọn trong khoảng thời gian nhất định để quay vòng lượt khác. Với những loại cây rau trồng theo cây đơn lẻ thì thu hoạch nhiều lần mỗi khi quả chín, tỉa những lá gốc hoặc nhổ cả cây.

Trần Duy Khả (Trung tâm KNKN Bình Định) – Báo Bình Định, 8/3/2011

Thời gian qua, ngộ độc thực phẩm trong đó có rau, củ ngày càng gia tăng. Để giảm các vụ ngộ độc do rau, củ, không có cách nào khác là nông dân phải sản xuất rau theo quy trình an toàn. Thực tế, sản xuất rau an toàn không khó, trong khi hiệu quả đem lại rất cao.

Kỹ sư Nguyễn Công Tú, Phó chi cục trưởng Chi cục bảo vệ thực vật Đồng Nai, cho hay: Nói đến sản xuất rau an toàn nhiều nông dân cứ nghĩ là rất khó thực hiện, song nhiều công đoạn trong sản xuất rau an toàn hiện nông dân đã và đang làm. Theo đó, đất trồng rau an toàn phải được cày bừa kỹ, phơi ải, bón vôi bột với số lượng từ 60-100kg/sào để diệt một số mầm bệnh gây hại trong đất. Sau đó, khoảng 10-15 ngày có thể làm luống để gieo trồng các loại rau. Tuy nhiên, với đất chuyên trồng rau, đất có tiền sử dịch bệnh nặng, trước khi gieo trồng nên xử lý đất bằng một số loại thuốc như: Hidrocop 77WP, Coc 85WP.

Sản xuất rau an toàn ở huyện Xuân Lộc.

– Đối với rau ăn lá, nông dân đánh luống cao khoảng 15-20cm và rộng 80-100cm; còn các loại rau ăn quả dài ngày như: khổ qua, dưa leo, đậu, mướp… bố trí hàng cách hàng 120-140cm và luống cao 20-25cm, riêng mùa mưa đánh luống cao 30cm.

– Nước tưới cho rau chỉ dùng nước giếng khoan, giếng đào, nước từ sông, suối, hồ không bị ô nhiễm các hóa chất và sinh vật độc hại. Tuyệt đối không dùng nước thải chăn nuôi, nước thải công nghiệp, nước ao mương tù đọng… chưa qua xử lý để tưới cho rau.

– Phân bón cho rau nên dùng nhiều phân hữu cơ ủ hoại để tăng độ mùn, độ phì nhiêu của đất. Nông dân có thể tận dụng phân gia súc, cây xanh, phế phẩm nông nghiệp ủ với EM hoặc nấm Trichoderma làm phân hữu cơ. Trường hợp không tự làm được phân hữu cơ, bà con có thể dùng phân hữu cơ vi sinh Humix, Komix. Lượng phân hữu cơ cần bón cho rau ăn lá 1-2 tấn/lứa/sào và rau ăn quả 2-3 tấn/lứa/sào, chủ yếu bón lót, bón thúc giai đoạn đầu. Riêng với phân hóa học nên sử dụng hợp lý và cân đối giữa các loại phân đạm – kali – lân; liều lượng bón dựa trên nhu cầu dinh dưỡng cụ thể của từng loại rau. Không lạm dụng phân đạm để tăng năng suất (nhất là rau ăn lá), không bón lượng đạm vượt quá nhu cầu của cây. Kết thúc bón đạm hoặc phun lên lá trước khi thu hoạch từ 7-10 ngày với rau ăn lá và 10-15 ngày với rau ăn củ, quả.

Khi bón phân hóa học, bà con nông dân nên theo phương pháp sau để tránh tồn dư chất gây hại trong rau:

* Phân đạm: Dùng bón thúc, bón lót hoặc pha loãng phun lên lá có thể bón rải nhiều lần trong vụ. Tránh bón phân đạm lúc trời nắng gắt, trời mưa, còn sương đọng.

* Phân lân: Là loại phân khó tan, tác dụng chậm nên chủ yếu dùng bón lót, bón thúc sớm.

Bên cạnh đó, nông dân phòng trừ sâu bệnh cho rau bằng cách áp dụng biện pháp quản lý tổng hợp dịch hại (IPM). Cụ thể, chọn giống tốt có khả năng kháng sâu bệnh, gieo trồng mật độ thích hợp, bảo vệ nguồn thiên địch, làm nhà lưới, dùng màng phủ ny-lông… và chỉ dùng thuốc bảo vệ thực vật khi thật cần thiết. Ưu tiên sử dụng các thuốc sinh học có độ độc thấp và phải dùng theo phương pháp “4 đúng”: đúng thuốc, đúng nồng độ, đúng lúc và đúng cách.

Không nên dùng phân hữu cơ tươi bón hoặc tưới cho rau. Phân hữu cơ cần ủ thật hoai mới được bón, hoặc dùng phân hữu cơ vi sinh vật để bón. Không nên dùng nước thải sinh hoạt chưa xử lý để tưới cho rau và dùng phân chế biến từ rác thải thành phố, vì trong loại rác thải này có chứa nhiều kim loại nặng. Phân hữu cơ nên trộn với phân lân, vôi và kali bón lót (bón trước khi gieo hay trồng) cho ruộng rau, bón xong rồi cày đất, bón theo hốc hoặc theo luống, hàng.

Bón theo hốc: trộn đều phân bón vào từng hốc, lấp đất rồi trồng, nhằm tập trung phân bón (tiết kiệm được phân), thường áp dụng cho cây có khối lượng thân lá lớn, thời gian sinh trưởng dài. Bón theo hàng (rãnh) lấp phân rồi trồng theo hàng. Bón rải đều trên mặt luống, trộn đều vào đất trước khi gieo hoặc trồng.

Một năm bón cho 1ha khoảng 20 tấn phân chuồng hoai mục, hoặc phân hữu cơ vi sinh (đã được chế biến từ phế phụ phẩm nông nghiệp), 500kg phân supe lân hoặc lân nung chảy, 250-300kg phân kali. Bón một lần hoặc chia làm hai lần trong năm vào lúc thuận tiện thời tiết, làm như vậy đất sẽ tơi xốp và có dự trữ lân, kali, lưu huỳnh, magiê và các chất dinh dưỡng khác

Đối với rau ăn lá: chúng ta phải định kỳ theo đặc điểm của loại rau ăn lá đang trồng mà tưới phân đạm càng pha loãng càng tốt và tưới vào gốc, tránh tưới trên lá. Nồng độ bón thúc tăng theo thời gian sinh trưởng: cây con 1% và cây trưởng thành 3%. Trước lúc thu hoạch rau 15-20 ngày nên ngưng tưới phân đạm để lượng Nitrat trong rau không quá cao.

Cây rau có thể hút các chất điều hòa sinh trưởng và chất dinh dưỡng qua lá, nếu dùng biện pháp này có thể tăng năng suất rau, song các chất điều hoà sinh trưởng là các chất có thể gây độc cho người và gia súc. Các chất này khi thu hoạch có khi vẫn còn bám trên mặt lá, nếu người tiêu dùng không rửa kỹ sẽ rất có hại. Người trồng rau không nên dùng bất kỳ loại phân phun lá nào cho các loại rau.

Các hỗn hợp hoá chất chỉ pha chế vừa đủ dùng. Nếu dùng không hết cần phải xử lý không gây ô nhiễm môi trường. Sau mỗi lần phun thuốc, dụng cụ phải được vệ sinh sạch sẽ và phải thường xuyên bảo dưỡng. Lập nhật ký và hồ sơ theo dõi việc sử dụng hoá chất cho rau (ghi ngày tháng, liều lượng, tên hoá chất…).

Phan Văn (Trung tâm ƯDTBKH&CN) – Báo Nghệ An, 28/04/2009

Sau nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm và xây dựng nhiều mô hình trên diện rộng thành công, mới đây Trung tâm nghiên cứu phân bón và dinh dưỡng cây trồng trực thuộc Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đưa ra khuyến cáo bà con nông dân và các hộ gia đình ở thành phố áp dụng kỹ thuật trồng rau an toàn trên nền giá thể GT 05.

GT 05 là giá thể sinh học không đất, có hàm lượng chất hữu cơ (OM) và dinh dưỡng cao: 44% chất hữu cơ (OM), 1,2% đạm (N), 0,8% lân (P2O5), 0,7% kali (K2O) và các dinh dưỡng trung, vi lượng cần thiết khác cho cây trồng. Giá thể GT 05 cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng, có độ tơi xốp, thoáng khí, nhẹ, sạch nguồn bệnh, không có tuyến trùng, hút và giữ ẩm tốt. Trong sản xuất rau an toàn, GT 05 được sử dụng làm bầu gieo ươm cây rau giống, sản xuất rau mầm, rau thương phẩm như các loại rau ăn lá, rau ăn quả rất hiệu quả và tiện lợi.

Kỹ thuật sản xuất rau mầm

Cho giá thể vào khay (khay nhựa, hộp xốp, chậu thưa, rổ, rá…) có độ dày từ 2-3cm rồi dùng tay ấn nhẹ cho bề mặt phẳng. Hạt giống sản xuất rau mầm (cải củ, rau muống, đậu Hà Lan, đỗ xanh…) được ngâm trong nước ấm 30-45oC (2 phần nước sôi + 1 phần nước lạnh) từ 1 đến 2 giờ rồi vớt ra để ráo. Rắc đều hạt giống đã ngâm no nước lên bề mặt giá thể với mật độ dày, khoảng 20g hạt giống cho 1 khay có kích thước 50 x 60cm. Dùng tay ấn nhẹ cho hạt tiếp xúc với giá thể. Đem các khay hạt đã gieo xếp vào chỗ tối, nếu không có điều kiện thì che bớt 50% ánh sáng trong 1-2 ngày đầu. Thường xuyên giữ đủ ẩm cho rau mầm bằng cách tưới nhẹ 2 lần/ngày. Sau 5-10 ngày cho thu hoạch 1 lứa rau mầm tùy theo loại rau. Dùng dao, kéo cắt sát gốc hoặc nhổ cả rễ. Sau mỗi lần thu hoạch, phơi khô giá thể để tái sử dụng bằng cách bổ sung thêm dinh dưỡng, tỷ lệ cho rau ăn lá: N:P:K=1:1:1 và rau ăn quả 8:4:8.

Kỹ thuật trồng rau ăn lá và rau ăn quả

Cách làm tương tự như đối với trồng rau mầm nhưng mật độ gieo thưa hơn, lượng giống chỉ bằng khoảng 1/5 so với trồng rau mầm (4-5g/khay). Độ dày của giá thể cần đạt ít nhất 5-7cm, trong đó: với các loại rau ăn lá như rau muống, các loại cải, mồng tơi, rau dền… giá thể dày từ 5-10cm; các loại rau ăn quả như cà chua, dưa chuột, ớt ngọt, mướp… có độ dày từ 20-25cm. Sau khi đã gieo, khay hạt giống được đặt nơi có nhiều ánh sáng như ngoài sân, lan can, sân thượng và hàng ngày tưới đủ ẩm cho cây sinh trưởng, phát triển tốt.

Với rau ăn lá 25-30 ngày sẽ cho thu hoạch (rau muống, rau dền, các loại cải, mồng tơi…) thì nên ngắt ngọn từ lá thứ 3 để kích thích cây phát triển nhiều nhánh phụ. Sau khi thu hoạch được 3-4 lứa cần bổ sung phân bón hữu cơ (khoảng 2 nắm/khay) sau mỗi lần thu hoạch. Sau mỗi đợt trồng, giá thể có thể được tái sử dụng bằng cách phơi khô (để diệt nấm bệnh, côn trùng) và trộn thêm 50% giá thể mới rồi trồng lại như cũ.

Kỹ thuật trồng rau mầm, rau ăn lá hoặc rau ăn quả

Cách làm tương tự như trồng rau ăn lá và rau ăn quả nhưng mật độ hạt được gieo dày hơn (10-20g/khay). Sau khi gieo từ 5-10 ngày, tức hạt đã nhú 2 lá thật, tiến hành tỉa thưa dùng làm rau mầm, chỗ còn lại (khoảng 1/5 số cây ở khay) tiếp tục chăm sóc để lớn thành rau ăn lá hoặc rau ăn quả. Thường xuyên tưới đủ ẩm, bổ sung thêm dinh dưỡng bằng các loại phân hữu cơ vi sinh, phân bón hữu cơ qua lá… nhằm đảm bảo có đủ dinh dưỡng tốt nhất sẽ cho năng suất cao, chất lượng rau, quả cao nhất.

Nguyên Khê – NNVN, 21/10/2008

Hội đồng Khoa học Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và PTNT) vừa nghiệm thu và cho phép áp dụng vào sản xuất đề tài nghiên cứu sản xuất rau ăn lá (cải xanh, cải ngọt) an toàn, chất lượng cao của Viện Bảo vệ thực vật. Kinh tế nông thôn xin giới thiệu cùng bà con.

Chọn và làm đất: chọn đất thịt nhẹ, đất thịt pha cát, đất phù sa ven sông có độ pH từ 5, 5 đến 6,8; đất giữ được độ ẩm, thoát nước tốt, không bị nhiễm kim loại nặng như chì, thủy ngân, asen. Làm đất tơi xốp, phơi ải. Lên luống đủ cao để thoát nước tốt. Trước khi trồng lứa khác cần xử lý đất để hạn chế sâu bệnh bằng cách rắc vôi bột (300kg/ha).

Thời vụ: Thích hợp nhất là vụ đông xuân. Với vụ hè và hè thu nên làm lưới để che nắng và mưa lớn.

Phân bón: Lượng phân bón lót cho 1ha gồm 10 – 15 tấn phân chuồng hoai mục, 140 – 150kg supe lân, 50 – 60kg kali. Bón thúc 55 – 60kg đạm urê hoặc 2 -3 tấn phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh. Ngừng bón phân trước khi thu hoạch 10 – 12 ngày.

Trồng và chăm sóc: Chỉ sử dụng các giống khỏe mạnh, có độ nảy mầm cao. Cải xanh, cải ngọt có thể gieo trực tiếp; cải làn, cải bẹ, cải chíp nên gieo thành cây con rồi nhổ trồng. Trồng với khoảng cách:10 x 10 -12cm (cải xanh), 10 x 20cm (cải ngọt). Sử dụng nguồn nước tưới sạch, tưới đủ ẩm, không để đọng nước.

Có thể trồng xen cải xanh, cải ngọt với các cây trồng khác như thìa là, cà chua.

Phòng trừ sâu hại:

Bẫy cây trồng: Trồng xen cây trồng khác không thu hoạch trên diện tích nhỏ để tập trung phun thuốc như cải dại, cải mù tạt. Khi thu hoạch để lại từng đám nhỏ (khoảng 1m2) dẫn dụ bọ nhảy rồi phun thuốc tiêu diệt.

Giống: Sử dụng giống có khả năng chống chịu bệnh.

Biện pháp thủ công: Ngắt ổ trứng chưa hoặc mới nở của sâu khoang, sâu róm. Sử dụng bẫy dính màu vàng, bẫy Pheromone để dẫn dụ và tiêu diệt sâu bọ.

Biện pháp sinh học: Bảo vệ thiên địch của sâu hại rau, điển hình như ong ký sinh sâu tơ, dòi ăn rệp, bọ cánh cứng, cánh ngắn… Sử dụng thuốc trừ sâu có nguồn gốc sinh học và thảo mộc ở thời kỳ đầu như Azadirachtin 9, Retonone…

Biện pháp hóa học: Xử lý cây con, hạt giống trước khi gieo trồng để hạn chế sâu bệnh (Oxolinic acid + metalaxyl + Fipronil + phụ gia hoặc nhúng phần thân lá cây con trong dung dịch Bt + Fipronil trong 5 giây, để khô trước khi trồng). Tăng cường sử dụng các loại thuốc sinh học, thảo mộc. Sử dụng thuốc đúng nồng độ, liều lượng và tuân thủ thời gian cách ly.

PV – KTNT, 09/06/2008

Qui Trình Kỹ Thuật Sản Xuất Cam Canh An Toàn

Ban hành kèm theo Quyết định số 2661 /QĐ – SNN ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Giám đốc Sở NN &PTNT Hà Nội)

– Vụ xuân: trồng tháng 2 – 4

– Vụ thu đông: trồng tháng 8 – 10

Sử dụng cây giống sạch bệnh, được khai thác từ cây đầu dòng hoặc vườn cây đầu dòng đã được công nhận.

a) Đất trồng:

– Đất trồng phải đảm bảo đủ điều kiện cho sản xuất quả an toàn theo quy định tại mục II của quy trình này.

– Đất trồng phù hợp cho cây cam canh là là đất có độ dốc trên 5 o, mạch nước ngầm thấp, thoát nước tốt, đất có thành phần cơ giới nhẹ (cát pha, thịt nhẹ), độ pH từ 5,5 – 6,5.

b) Chuẩn bị hố trồng:

Đào hố kích thước 0,6 x 0,6 x 0,6m. Bón lót (phân hữu cơ ủ hoai: 20 – 30kg hoặc 1-2 kg khô dầu đậu tương/hố; lân super: 1,0-1,5kg; Kali sunlfat: 0,5kg; vôi bột: 1,0kg. Trộn đều các loại phân với lớp đất mặt bón xuống đáy hố Sau khi bón dùng đất đắp ụ trên mặt hố cao 20 – 30cm, đường kính 0,8 – 1,0m. Công việc đào hố, bón lót phải xong trước khi trồng 01 tháng.

Trồng cây

– Mật độ, khoảng cách: mật độ trồng từ 830 – 1100 cây/ha, tương ứng với khoảng cách 3m x 4m hoặc 3m x 3m. Nơi đất dốc cây được bố trí theo đường đồng mức, với khoảng cách cây như nhau.

– Cách trồng: Đào hố nhỏ chính giữa hố trồng, đặt cây, lấp đất vừa bằng cổ rễ hoặc cao hơn 2-3cm.

4.1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản(từ năm thứ nhất đến năm thứ 3):

a) Chăm sóc:

– Sau khi trồng phải tưới nước, giữ ẩm trong vòng 20 ngày đến 1 tháng để cây bén rễ và hồi phục.

– Nên trồng cây họ đậu ở giữa các hàng cây để che phủ giữ ẩm, chống cỏ dại và cung cấp dinh dưỡng cho cây.

b) Bón phân:

Liều lượng (kg/gốc/năm): phân chuồng ủ hoai 10 – 15 (hoặc bột đậu tương, khô dầu đậu tương 2 – 3); đạm urê 0.2-0.3; super lân 0.5-1; kali 0.1-0.2; NPK(5:10:3): 5 – 10.

Phương pháp bón: Phân chuồng ủ hoai (hoặc bột đậu tương, khô dầu đậu tương), 50% lượng phân NPK (5:10:3) bón vào tháng 11 – 12, phân vô cơ chia ra bón 4 lần vào các đợt lộc. Tiến hành rạch rãnh theo tán cây để bón sau đó lấp đất lại.

c) Cắt tỉa tạo tán:

– Từ năm thứ 2 trở đi cần chú ý cắt tỉa bỏ cành vô hiệu, tạo tán để cây phát triển rộng đều ra xung quanh và khống chế độ vươn quá cao của thân cây.

– Trong các đợt bón thúc, làm cỏ kết hợp với tỉa lá già, lá bệnh, cành tăm,…

4.2. Thời kỳ kinh doanh (từ năm thứ 4 trở đi):

a) Chăm sóc:

– Lảm cỏ: làm cỏ kết hợp với xới xáo nhẹ vùng đất mặt.

– Tưới và thoát nước: tưới nước trong thời kỳ khô hạn, khi đất có độ ẩm giảm dưới 60%. Ở vùng đất trũng hoặc bằng phẳng cần đào rãnh thoát nước vào mùa mưa, không để vườn đọng nước quá lâu.

b) Bón phân:

Bón phân cân đối, hợp lý, theo nhu cầu của sinh trưởng của cây.

c) Kỹ thuật chăm sóc, cắt tỉa tạo tán:

– Điều khiển ra hoa, đậu quả: cuối tháng 1 đầu tháng 2 khi lộc cây chuyển sang màu bánh tẻ thì tiến hành đảo cây. Có thể đào bầu nhấc hẳn lên mặt luống (kích thước bầu bằng 1/3 đường kính tán). Khi lớp đất dưới đáy bầu ải trắng, quanh bầu các đầu rễ cam chuyển màu thâm nâu thì hạ cây trồng lại xuống hố kết hợp bón phân, tưới ẩm. Mục đích đảo rễ để cắt đứt bộ rễ tơ, làm trẻ hóa cây, thúc cây phân hóa mầm hoa, ra nhiều quả. Việc đảo cây cần được tiến hành định kỳ sau thu quả mỗi năm.

– Nuôi và giữ quả non: sau khi hết hoa, quả non hình thành tiến hành tiện mở thân cam (khoanh vỏ) khoảng 0,3 -0,5mm để cây không bị chột, không ảnh hưởng đến phát triển của quả, sau đó tiến hành phun kích quả lớn.

– Trong các đợt bón thúc, làm cỏ kết hợp với tỉa lá già, lá bệnh, cắt tỉa cành tăm,…

– Việc cắt tỉa tạo tán tập trung vào 3 thời kỳ chính:

+ Sau thu hoạch: là thời kỳ đốn tỉa mạnh nhất để điều chỉnh tán cây. Cắt bỏ các cành già, cành vô hiệu…

+ Cắt tỉa lộc thu: thực hiện vào tháng 8 – 9 (khi lộc thu còn non, từ 3-4cm). Tỉa bớt lộc thu chỉ để lại mỗi cành 1-2 lộc thu to khỏe để định hình cành mang quả năm sau và cắt bỏ hết các cành vượt.

+ Khống chế và tỉa bỏ lộc đông từ cuối tháng 10 đến tháng 1 năm sau không tưới ẩm, nếu ra lộc đông thì dùng dao, kéo cắt bỏ lộc.

Các đối tượng sâu bệnh hại chính: sâu vẽ bùa, bọ trĩ, rầy chổng cánh, nhện hại rệp muội xanh và rệp muội nâu đen, ruồi vàng, bệnh thối rễ, bệnh vàng lá Greening, bệnh loét, bệnh sẹo,…

5.1. Biện pháp canh tác, thủ công, sinh học:

Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, vệ sinh vườn cây, tỉa cành, tạo tán ngay từ khi cây còn nhỏ giúp vườn cây thông thoáng; cắt bỏ các cành, lá, quả, thu gom, tiêu hủy để hạn chế nguồn sâu bệnh.

Tăng cường sử dụng phân hữu cơ, khô dầu đậu tương ủ với EM kết hợp với nấm đối kháng Trichoderma; bón phân cân đối, hợp lý, bổ sung đủ yếu tố trung, vi lượng, bón thúc cho lộc non ra tập trung giúp cây sinh trưởng khỏe mạnh, tăng sức chống chịu, hạn chế sự phá hại của sâu bệnh.

Trồng cây chắn gió xung quanh vườn. Trồng cây đúng mật độ, khoảng cách. Trong mùa mưa không để vườn cây quá ẩm thấp, có biện pháp thoát nước nhanh sau khi mưa lớn; tránh tưới phun lên tán cây khi trong vườn có bệnh.

Thường xuyên theo dõi quan sát, để bảo vệ các chồi non vào các giai đoạn cao điểm phát triển của sâu bệnh. Ngắt bỏ lá bị bệnh, sâu gây hại, bắt giết sâu non, trưởng thành khi mật độ thấp. Trường hợp bị hại nặng nên cắt bỏ các chồi lá bị sâu bệnh đem tiêu hủy.

Sử dụng bẫy Methyl Eugenol (Flykil, Jianet, Vizubon – P,…) để trừ trưởng thành ruồi đục quả hoặc sử dụng biện pháp bao quả để phòng ngừa.

Bảo vệ thiên địch tự nhiên như bọ rùa, bọ cánh cộc, ong ký sinh trứng, sâu non, nhộng, nuôi kiến vàng.

Thường xuyên kiểm tra ruộng vườn, phát hiện và phòng trừ sâu bệnh kịp thời.

5.2. Biện pháp sử dụng thuốc BVTV:

Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm bệnh, điều tra phát dục sâu hại, dự tính thời gian trưởng thành, sâu non rộ. Dự báo mức độ bệnh hại để phòng trừ đúng thời điểm. Sử dụng thuốc khi mật độ sâu, tỷ lệ bệnh cao, theo nguyên tắc 4 đúng và đảm bảo thời gian cách ly.

Xử lý các loại thuốc khi sâu bệnh hại đến ngưỡng: sâu vẽ bùa 20% lá,lộc, bọ trĩ 20% lá,lộc, rầy chổng cánh 4 trưởng thành/cành non, nhện đỏ, nhện trắng, nhện rám vàng 10% số quả, rệp muội xanh và rệp muội nâu đen 25% cành lá, ruồi vàng trước khi quả bị hại; thối rễ 20% số rễ , bệnh vàng lá Greening 10% cây, bệnh loét, bệnh sẹo 10% lá, quả,….

– Sâu vẽ bùa: Abamectin (Catex 1.8EC, Reasgant 2WG, Brightin 4.0EC…), Emamectin benzoate (Silsau super 3EC, Tasieu 2WG…), Lufenuron (Match 050EC,…), Matrine (Agri-one 1SL, Sokupi 0.36SL…), Petroleum spray oil (Dầu khoáng DC 98.8EC…),…

– Bọ trĩ: Chlorantraniliprole (Dupont TM Prevathon 5SC, …), Emamectin benzoate (Silsau super 3EC, Tasieu 2WG…), Abamectin (Kuraba 3.6EC, Catex 1.8EC….),…

– Rầy chổng cánh: Thiamethoxam ( Actara 25WWG, Fortaras 25WG, …), dầu khoáng (DC – Tronplus 980EC, Catex 1.8EC , SK, …),…

– Nhện hại: Emamectin benzoate (Rolam 50WP, Silsau super 5WP, Dylan 2EC,…), Abamectin (Kuraba 3.6EC, Catex 1.8EC….), Dầu khoáng SK EnSpray 99EC,…

– Rệp muội xanh và rệp muội nâu đen: Chlorantraniliprole (Dupont TM Prevathon 5SC, …), Abamectin (Reasgant 2WG, Brightin 4.0EC…), Thiamethoxam (Actara 25WG…), Spinetoram (Radiant 60SC…),…

– Ruồi vàng sử dụng thuốc: sử dụng bẫy bả Methyl Eugenol (Flykil, Jianet, Vizubon – P,…),…

– Bệnh thối rễ: Ningnanmycin (Cosmos 2SL, Niclosat 2SL…), nấm đối kháng Tricoderma sp.

– Bệnh vàng lá Greening: gây hại nguy hiểm và quan trọng nhất trên cây có múi, cần phun thuốc trừ rầy chổng cánh để phòng bệnh.

– Bệnh loét: Copper Oxychloride + Steptomycin (Batocide 12WP,…), Acrylic acid 4 % + Carvacrol 1 % (Som 5 DD, …), Copper Hydroxide (DuPont Kocide 46.1WG…),…

– Bệnh sẹo: Copper Hydroxide (DuPont Kocide 46.1WG…),…

II YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN SẢN XUẤT VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM

Khi vỏ quả bắt đầu chuyển sang mầu vàng sẫm, có mùi thơm (tháng 11-12), tiến hành thu hoạch tỉa dần (quả to trước, quả bé sau).

– Mức giới hạn tối đa về kim loại nặng trong quả theo quy định tại QCVN 8-2:2011/BYT.

– Mức giới hạn tối đa về thuốc bảo vệ thực vật và hoá chất khác theo Thông tư số 50/2016/TT-BYT ngày 30/12/2016 quy định giới hạn tối đa dư lượng trong thực phẩm

– Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất dưới ngưỡng cho phép: Asen (As): ≤ 15,0 mg/kg đất khô; Cadimi (Cd): ≤ 1,5 mg/kg đất khô; Chì (Pb): ≤ 70,0 mg/kg đất khô; Đồng (Cu): ≤ 100,0 mg/kg đất khô; Kẽm (Zn): ≤ 200 mg/kg đất khô; Crom (Cr): ≤ 150,0 mg/kg đất khô.

– Đất trồng không chịu ảnh hưởng trực tiếp của các nguồn gây ô nhiễm như bãi rác, khu dân cư, nghĩa trang, bệnh viện…

Hàm lượng của một số kim loại nặng trong nước dưới ngưỡng cho phép: Thuỷ ngân (Hg): ≤ 0,001 mg/lít; Cadimi (Cd): ≤ 0,01 mg/lít; Asen (As): ≤ 0,05 mg/lít; Chì (Pb): ≤ 0,05 mg/lít.

Sản Xuất Rau An Toàn Không Lo Thiếu Thị Trường

Tin tức

»

Kinh tế

Sản xuất rau an toàn không lo thiếu thị trường

Quản lý quy trình sản xuất theo phần mềm VietGAP điện tử, kiểm soát chặt chẽ đầu vào và chất lượng sản phẩm đầu ra, cung cấp các sản phẩm rau an toàn cho người tiêu dùng, nhiều HTX sản xuất rau trên địa bàn tỉnh đã khẳng định uy tín, thương hiệu trên thị trường, được nhiều khách hàng tin tưởng lựa chọn, ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm.

6h sáng, hàng tấn dưa chuột đã được nông dân thu hái tập hợp tại nhà sơ chế HTX dịch vụ nông nghiệp, kinh doanh hàng nông sản An Hòa (xã An Hòa, Tam Dương). Cán bộ kỹ thuật của HTX phân loại, đóng gói và cung cấp cho các siêu thị, bếp ăn tập thể, trường học và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Hiện mỗi ngày, HTX thu mua từ 3 đến 4 tấn dưa chuột, thậm chí có ngày không đủ cung cấp cho khách hàng. Điều đáng mừng là chưa lúc nào, sản phẩm rau của HTX lo thiếu thị trường.

Chị Trần Thị Vân Giang, thành viên HTX cho biết: ”Trước đây, chúng tôi trồngnhiều loại rau, củ, quả chất lượng tốt nhưng đầu ra bấp bênh, chủ yếu bán lẻ cho người tiêu dùng, có bán buôn nhưng thường bị các thương lái ép giá vì vậy thu nhập không cao. Từ khi HTX được thành lập, hầu hết các sản phẩm rau đều được HTX thu mua với giá ổn định nên chúng tôi yên tâm sản xuất, thâm canh tăng vụ. Với 3 sào trồng dưa chuột, năng suất ước đạt 1-1,5 tấn/sào, giá 7-9 nghìn đồng/kg, gia đình tôi thu trên 22 triệu đồng chỉ trong vòng 40 ngày”.

Ông Đỗ Văn Dũng, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX dịch vụ nông nghiệp, kinh doanh hàng nông sản An Hòa cho biết: Ngay từ đầu năm, HTX xây dựng kế hoạch sản xuất với từng loại cây trồng; trực tiếp cung ứng các loại vật tư nông nghiêp cho các thành viên; kiên quyết không thu mua các sản phẩm rau không đạt tiêu chuẩn. Hầu hết các thành viên HTX đều tuân thủ nghiêm ngặt quy định sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Đặc biệt, năm 2018, HTX được thụ hưởng lợi ích từ chương trình hỗ trợ phát triển HTX giai đoạn 2015 – 2020 của Chính phủ và được ngân sách tỉnh hỗ trợ 80% kinh phí xây dựng kho lạnh bảo quản nông sản có dung tích lên tới 80m3. Từ khi có kho bảo quản, HTX chủ động thu hoạch, bao tiêu sản phẩm của các thành viên; tự tin cung ứng các mặt hàng nông sản với số lượng lớn, đảm bảo yêu cầu về hình thức, mẫu mã chất lượng sản phẩm. Hiện HTX đang là đối tác tin cậy, cung ứng đa dạng, phong phú các loại rau an toàn cho siêu thị Big C, nhiều đơn vị trường học, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh với sản lượng 700- 800 tấn dưa chuột/năm; 30- 40 tấn rau các loại/năm như đỗ xanh, cà chua, cà pháo. Ngoài ra, HTX ký hợp đồng với Công ty TNHH Senfood (tỉnh Hà Nam) liên kết sản xuất và tiêu thụ dưa chuột bao tử với sản lượng 3- 5 tấn/ngày.

Với diện tích canh tác trên 17ha trồng rau theo tiêu chuẩn VietGAP, mỗi năm, HTX Rau an toàn Vân Hội Xanh, xã Vân Hội (Tam Dương) cung ứng ra thị trường hàng trăm tấn rau các loại. Hiện, HTX là đơn vị tiên phong ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất.

Chị Dương Thị Quỳnh Liên, Giám đốc HTX Rau an toàn Vân Hội Xanh cho biết: Nắm bắt yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng, mẫu mã của khách hàng, HTX đã thiết kế logo, bao bì, đăng ký mã vạch, mã số bảo hộ độc quyền nhãn hiệu với Cục Sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, HTX đã được Công ty cổ phần chứng nhận VinaCert cấp Giấy chứng nhận VietGAP theo bộ tiêu chuẩn TCVN.

Xây dựng thương hiệu rau an toàn Vân hội xanh, HTX chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất chi tiết cho từng ô, thửa ruộng của từng thành viên HTX nhằm đa dạng hóa sản phẩm cung cấp cho người tiêu dùng, đồng thời truy xuất nguồn gốc của từng sản phẩm; hướng dẫn quy trình, tổ chức sản xuất các loại rau, củ, quả theo hợp đồng khách hàng; cung ứng vật tư nông nghiệp (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) với giá thấp hơn thị trường từ 5-10%; quản lý, kiểm soát chặt chẽ đầu vào và chất lượng sản phẩm đầu ra. Tháng 10/2018, HTX phối hợp với Viện An toàn thực phẩm và dinh dưỡng thử nghiệm ứng dụng VietGAP điện tử cho 13 thành viên HTX. Qua đó, Ban quản trị HTX không chỉ quản lý vật tư đầu vào dễ dàng hơn mà việc giám sát quy trình sản xuất của từng thành viên cũng khá thuận lợi. Điều quan trọng, giúp thành viên nắm được quy trình trồng của các loại cây và kế hoạch sản xuất của HTX; chủ động hơn trong từng khâu sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Theo chị Liên, nhu cầu sử dụng các loại thực phẩm an toàn của người tiêu dùng ngày càng tăng. Vì thế, các sản phẩm rau của HTX ngoài phục vụ đông đảo nhân dân với các cửa hàng bán rau thành phố Vĩnh Yên;còn cung cấp cho siêu thị CoopMart, một số bếp ăn ở các trường học, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, cuối năm 2018, HTX đã ký hợp đồng cung cấp 1-1,2 tấn cải thảo cho chuỗi nhà hàng mặt trời đỏ. Hiện nay, mỗi sản phẩm rau của HTX đều sử dụng 1 tem QR Code để nhận diện truy xuất nguồn gốc.

Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trên địa bàn tỉnh có 126 cơ sở sản xuất rau, củ, quả được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm với tổng diện tích canh tác gần 1.000ha ha; 69 cơ sở sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP với diện tích gần 700 ha. Nhiều sản phẩm đặc trưng của các địa phương như: Dưa chuột An Hòa; su su Tam Đảo; Thanh Long ruột đỏ Lập Thạch, bí đỏ Vĩnh Tường, chuối Tiêu hồng, cà chua Yên Lạc…đã xuất hiện tại các hệ thống siêu thị lớn, chuỗi cửa hàng nông sản sạch, thậm chí còn xuất khẩu sang thị trường Malaysia và Trung Quốc. Đến nay, đã có nhiều mô hình tổ chức sản xuất kiểu mới liên kết theo chuỗi sản phẩm- hợp tác xã chuyên cây như: HTX Rau an toàn Vĩnh Phúc, HTX sản xuất rau an toàn Thanh Hà, HTX Rau an toàn Visa, góp phần thúc đẩy sản xuất rau an toàn, cung cấp đến người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh sản phẩm đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, hạn chế tối đa tình trạng “được mùa mất giá” của nông dân.

Mai Liên

Các tin khác

Ban Kinh tế – Ngân sách, HĐND tỉnh thẩm tra các tờ trình về điều chỉnh, bổ sung Kế hoạch đầu tư công

(14/10/2019)

Khi “bão” dịch tả lợn châu Phi chưa qua

(11/10/2019)

Nghị quyết số 57 của HĐND tỉnh tạo động lực thu hút đầu tư

(10/10/2019)

Áp dụng sản xuất sạch hơn – lợi ích kép cho doanh nghiệp

(10/10/2019)

Công ty TNHH VIDACO: Nỗ lực khẳng định vị thế của doanh nghiệp hỗ trợ

(09/10/2019)

Các tin đã đưa ngày:

Hướng Dẫn Kỹ Thuật Sản Xuất Cải Bắp An Toàn Năng Suất Vượt Trội

Cải bắp trồng ruộng sản xuất

1. Thời vụ gieo trồng thích hợp

– Vụ sớm gieo tháng 8, trồng tháng 9 dương lịch.

– Vụ chính gieo tháng 9, trồng tháng 10 dương lịch.

– Vụ muộn gieo tháng 11, trồng tháng 12 dương lịch.

2. Kỹ thuật chọn giống cải bắp

– Lượng hạt giống cần 25 gram/500 m 2 hoặc cây giống 1.650 cây/ 500 m 2.

3. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thời kỳ vườn ươm

– Làm đất kỹ, lên luống rộng 80 – 100 cm, rải phân đều trên mặt luống, đảo đều đất và phân, vét đất ở rãnh phủ lên mặt luống. Lượng phân bón lót cho 500 m 2 từ 300 – 350 kg phân hữu cơ ủ hoai mục + 7 kg super lân + 17 kg vôi bột.

– Gieo hạt với lượng từ 1,5 – 2 gram/m 2, khi gieo nên trộn hạt giống với đất bột và chia làm 2 lượt gieo để hạt phân bố đều trên mặt luống. Gieo hạt xong cào nhẹ hoặc dùng tay xoa nhẹ, đều trên mặt luống cho đất phủ kín hạt, phủ một lớp rơm rạ hoặc trấu mỏng trên mặt luống và dùng ô doa tưới nước đủ ẩm.

– Tưới nước: Sau khi gieo hạt tưới 1 – 2 lần/ngày trong vòng 3 – 5 ngày, khi hạt nảy mầm nhô lên mặt đất thì 2 ngày tưới một lần.

– Chăm sóc: Làm dàn che để hạn chế ảnh hưởng của mưa lớn. Tiến hành nhổ tỉa định cây 2 lần; lần 1 cây được 1 lá thật, lần 2 khi cây được 3 lá thật, nên để cây cách cây từ 3 – 4 cm. Sau khi nhổ tỉa, tưới thúc bằng phân chuống ngâm ủ hoai mục pha loãng (chú ý không tưới đạm ure).

– Tiêu chuẩn cây giống: Cây khỏe, sạch bệnh, phiến lá tròn, đốt sít nhau, mập, lùn, có 5 – 6 lá thật.

Cây con cải bắp đạt tiêu chuẩn xuất trồng ra ruộng sản xuất

4. Kỹ thuật làm đất và trồng cây con cải bắp ra ruộng sản xuất

4.1 Kỹ thuật làm đất ruộng sản xuất

– Đất phù hợp cho cây cải bắp là đất thịt nhẹ, cát pha, phù sa có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, giàu mùn và dinh dưỡng.

– Làm đất kỹ, tơi nhỏ, dọn sạch cỏ và tàn dư thực vật; lên luống cao 25 – 30 cm, mặt luống rộng từ 1,1 – 1,2 m, bằng phẳng, dễ thoát nước để tránh ngập úng khi gặp mưa.

4.2 Kỹ thuật trồng cải bắp ra ruộng sản xuất

Trồng cây 2 hàng/luống theo kiểu nanh sấu. Mật độ : Vụ sớm từ 33.000 – 35.000 cây/ha, cây cách cây: 60 cm x 40 cm. Chính vụ từ 27.000 – 30.000 cây/ha, cây cách cây: 60 cm x 50 cm.

5. Kỹ thuật bón phân cho cây cải bắp giai đoạn ruộng sản xuất

– Lượng phân bón và phương pháp bón:

Chú ý: Đảm bảo thời gian cách ly với phân đạm ure ít nhất 30 ngày trước khi thu hoạch.

6. Kỹ thuật tưới nước và chăm sóc cải bắp

– Sau khi trồng, mỗi ngày tưới đủ ẩm 1 lần. Khi cây hồi xanh, 2 – 3 ngày tưới một lần. Có thể tưới rãnh cho cây, khi đủ ẩm phải tháo hết nước ngay.

– Trong các đợt bón thúc, làm cỏ cần kết hợp cắt tỉa lá già, loại bỏ cây bệnh, lá bệnh, xới xáo và làm cỏ, vét rãnh để tạo cho ruộng cải bắp thông thoáng, hạn chế sâu bệnh.

7. Biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại cải bắp

Áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp.

7.1 Biện pháp kỹ thuật canh tác:

Trồng luân canh giữa rau cải bắp với lúa nước hoặc các nhóm rau khác họ (đậu, cà). Trên cùng ruộng có thể trồng xen canh rau họ thập tự với cà chua để hạn chế gây hại của sâu tơ.

Mô hình sản xuất cải bắp xen canh với cây hành trong nhà lưới

7.2 Biên pháp hóa học – Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

– Sâu tơ là sâu gây hại nguy hiểm nhất, chúng phát sinh và gây hại liên tục từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, đặc biệt từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Sâu rất nhanh quen thuốc nên phải áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp. Xử lý cây giống trước khi trồng ra ruộng bằng cách nhúng từ bó cây con vào dung dịch thuốc Sherpa 20 EC nồng độ 0,1% hoặc Regent 800WG pha nồng độ 1 gram/10 lít nước, trong 5 – 10 giây rồi vớt ra để khô nước mới đem trồng. Khi cây lớn phải sử dụng luân phiên giữa các nhóm thuốc: Thuốc sinh học (BT, Delfin 32 BIU, Dipel 3,2 WP, Aztron 700 DBMU, …) và thuốc thảo mộc (HCĐ 95 BTN, Rotenone, Neembon A-EC, …). Nồng độ và lượng nước phải pha theo hướng dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc. Phải kết thúc phun thuốc trước thu hoạch ít nhât 7 ngày. Thời gian này nếu sâu còn gây hại nặng thì chỉ dùng nhóm thuốc sinh hoạc hoặc thảo mộc.

Phun thuốc cho cải bắp

– Các loại sâu khác như: Sâu xanh bướm trắng, sâu khoang, rệp, thường phòng trừ kết hợp với sâu tơ. Nếu chỉ có riêng rệp hại nặng thì dùng thuốc Sherpa 20 EC, Sumicidin 10 EC, Trebon 10 EC, Karate 2,5 EC, …

– Bệnh hại: Trên rau cải bắp thường có các bệnh: Thối nhũn do vi khuẩn, bệnh thối do nấm, bệnh đóm lá. Để phòng trừ cần tránh ruộng quá ẩm, úng kéo dài, thường xuyên làm vệ sinh, làm cỏ, thu gom các lá già … làm cho ruộng sạch, thông thoáng. Khi cần có thể dùng các thuốc trừ bệnh thối nhún: Zineb Bui 80 WP, Macozeb 80 WP, Ridomil MZ 72 WP, Anvil 5 SC, …, trừ bệnh đốm lá: Score 250 EC, Anvil 5 SC, Rovral 50 WP, …

8. Thu hoạch

– Khi cải bắp cuộn chặt và đủ độ lớn thì thu hoạch tỉa (cây lớn trước, cây bé sau).

Thu hoạch cải bắp

– Thiết bị, dụng cụ thu hoạch phải đảm bảo chắc chắn và vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi sử dụng. Thu hoạch dung thời gian cách ly thuốc bảo vệ thực vật và phân bón.

– Chú ý chặt cao sát thân bắp để dễ thu hồi và xử lý gốc rau trên ruộng, cần loại bỏ lá ngoài và lá xanh trên bắp, rửa sạch trước khi đóng gói đưa đi tiêu thụ, không để sản phẩm tiếp xúc trực tiếp với đất. Phương tiện vận chuyển đảm bảo sạch sẽ, không vận chuyển chung với hàng hóa có nguy cơ gây ô nhiễm.

Nguồn: Admin tổng hợp – NO

Cập nhật thông tin chi tiết về Kỹ Thuật Sản Xuất Rau An Toàn trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!