Xu Hướng 2/2023 # Kỹ Thuật Bón Phân Cân Đối, Hợp Lý Và Hiệu Quả Cho Cây Trồng # Top 6 View | Duhocaustralia.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Kỹ Thuật Bón Phân Cân Đối, Hợp Lý Và Hiệu Quả Cho Cây Trồng # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Kỹ Thuật Bón Phân Cân Đối, Hợp Lý Và Hiệu Quả Cho Cây Trồng được cập nhật mới nhất trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bón phân hợp lý là sử dụng lượng phân bón đảm bảo năng suất thu hoạch như mong muốn, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất; đồng thời không để tồn dư trong sản phẩm thu hoạch cũng như không gây ảnh hưởng đến môi trường. Giải pháp chính để đảm bảo điều này là bón phân đúng kỹ thuật theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:

1. Bón phân cân đối

Cây trồng có nhu cầu dinh dưỡng ở những lượng và tỷ lệ nhất định. Thiếu hay thừa một chất dinh dưỡng nào đó, cây sẽ sinh trưởng phát triển kém. Các nguyên tố dinh dưỡng không chỉ tác động trực tiếp lên cây mà còn có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, có thể làm tăng hay cản trở sự hấp thu của cây, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.

Mỗi loại cây trồng có nhu cầu về lượng và tỷ lệ các chất dinh dưỡng khác nhau. Lượng và tỷ lệ các chất dinh dưỡng đối với mỗi cây trồng còn phụ thuộc vào lượng phân bón được sử dụng và loại đất trồng. Trong bón phân, cần chú ý đến nhu cầu của cây, đặc điểm lý, hóa tính của đất trồng, năng suất thu hoạch mong muốn… quyết định lượng phân bón, loại phân bón, phương pháp bón phù hợp, cân đối, nhằm ổn định và cải thiện độ phì nhiêu của đất, chống rửa trôi, ô nhiễm môi trường; tăng năng suất thu hoạch, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đối với sản phẩm thu hoạch, nâng cao hiệu quả của phân bón và của các biện pháp kỹ thuật canh tác khác.

2. Bón đúng loại phân

Có rất nhiều loại phân bón cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Tuy nhiên, mỗi loại phân có những đặc điểm riêng và có tác dụng khác nhau đối với cây trồng. Do đó, khi bón phân cho cây cần phải bón đúng loại cây trồng cần, có như vậy cây mới hấp thu và sinh trưởng phát triển tốt. Nếu bón loại phân không đúng với nhu cầu của cây thì không những gây lãng phí mà còn ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây cũng như môi trường. Đúng loại phân không những dựa vào nhu cầu của cây mà còn phải dựa vào đặc điểm và tính chất của đất. Đất chua không nên bón các loại phân có chứa axít. Ngược lại, đất kiềm không nên bón các loại phân có tính kiềm cao.

3. Bón đúng lúc, đúng lượng

Đối với cây trồng, nhu cầu về dinh dưỡng thay đổi tùy theo từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây. Có giai đoạn cây cần nhiều đạm hơn kali, ngược lại, có giai đoạn cây cần nhiều kali hơn đạm… Bón phân đúng thời điểm cây cần thì mới phát huy được hiệu quả của phân bón.

Cây trồng có nhu cầu về dinh dưỡng suốt cả chu kỳ sinh trưởng phát triển. Do đó, khi bón phân cho cây, cần chia ra nhiều lần và bón vào lúc cây cần, để cây hấp thu được hiệu quả nhất đối với các loại phân bón. Tránh bón một lượng quá nhiều vào một lúc, vì nồng độ và liều lượng phân bón quá cao sẽ gây ngộ độ cho cây, ảnh hưởng xấu đến bộ rễ và sự sinh trưởng của cây. Ngoài ra, cây không thể sử dụng hết phân bón, sẽ bị rửa trôi hoặc bị cố định lại ở trong đất, dẫn đến lãng phí và ảnh hưởng xấu đến môi trường.

4. Bón đúng đối tượng

Bón phân có nghĩa là cung cấp dinh dưỡng cho cây. Do đó, đối tượng của việc bón phân là cây trồng. Ngoài ra một số chất dinh dưỡng được tập đoàn vi sinh vật đất cung cấp cho cây thông qua việc phân hủy các chất hữu cơ hoặc cố định từ không khí. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho thấy, bón phân để kích thích và tăng cường hoạt động của tập đoàn vi sinh vật đất nhằm cung cấp cho cây một số chất dinh dưỡng cần thiết với số lượng đầy đủ và cân đối. Trong trường hợp này, đối tượng gần nhất của phân bón là tập đoàn vi sinh vật đất.

Trong canh tác, cũng có trường hợp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt tạo nên nguồn thức ăn dồi dào cho sâu bệnh gây hại nặng hơn. Những trường hợp này, khi bón phân cần nhằm đạt mục tiêu là ngăn ngừa sự tích lũy và gây hại của sâu bệnh.

Bón phân còn có tác dụng làm tăng khả năng chống chịu của cây trồng đối với các điều kiện không thuận lợi trong môi trường và với sâu bệnh gây hại. Trong các loại phân, kali thường được sử dụng trong trường hợp này. Như vậy, bón phân không chỉ để cung cấp dinh dưỡng, thúc đẩy sinh trưởng và phát triển của cây trồng, mà còn có những trường hợp bón phân nhằm tác động theo chiều hướng ngược lại, nhằm kìm hãm bớt tốc độ sinh trưởng và phát triển, làm tăng tính chống chịu của cây trồng.

Như vậy, đối tượng của bón phân là cây trồng, tập đoàn vi sinh vật đất… Cần chọn đúng đối tượng để tác động nhằm nâng cao hiệu quả của phân bón.

5. Bón đúng thời tiết, mùa vụ

Thời tiết có ảnh hưởng đến hiệu quả của phân bón. Mưa có thể làm rửa trôi phân bón, cây không thể hấp thụ được, gây lãng phí về kinh tế và ô nhiễm môi trường. Nắng gắt cùng với các phản ứng của phân bón có thể gây nên hiện tượng cháy lá, chết cây… Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây trồng ở từng vụ khác nhau, nên nhu cầu đối với các nguyên tố dinh dưỡng khác nhau. Lựa chọn đúng loại phân, dạng phân và thời vụ bón hợp lý có thể nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón trong sản xuất.

6. Bón đúng cách

Có nhiều phương pháp bón phân: Bón vào hố, bón vào rãnh, bón rải trên mặt đất, hòa vào nước để phun lên lá, bón phân kết hợp với tưới nước…

Có nhiều thời kỳ bón phân: Bón lót, thúc ra hoa, thúc đậu quả… cần lựa chọn đúng cách bón, thích hợp cho từng loại cây trồng, cho từng thời vụ canh tác, từng loại đất… sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp.

Nguyễn Minh Trường – TTKN Lâm Đồng

Kỹ Thuật Bón Phân Hiệu Quả Cho Cây Cà Phê

Nguyên tắc chung: Bón phân cho các loại cây trồng nói chung và cây cà phê nói riêng phải đảm bảo các nguyên tắc: Bón phân cân đối (đúng tỷ lệ). Bón phân kịp thời vụ (đúng lúc). Bón phân đúng cách. Bón phân đủ hàm lượng (đúng hàm lượng).

1. Phân hữu cơ 1.1. Liều lượng và thời điểm bón phân hữu cơ

Phân chuồng và vỏ cà phê được ủ hoai mục trước khi bón, phân hữu cơ được bón theo rãnh vào đầu hoặc giữa mùa mưa, rãnh được đào theo hình vành khăn dọc theo một bên thành bồn, rộng 20cm, sâu 25-30cm, sau khi bón phân cần lấp đất lại. Các năm sau rãnh được đào và bón phân hữu cơ theo hướng khác.

1.2. Kỹ thuật xử lý vỏ cà phê làm phân bón

Nguyên liệu: 1 tấn vỏ cà phê + 50kg phân lân + 200-250kg phân chuồng + 8-10kg vôi + 8-10kg urê + 2-3kg men ủ vi sinh vật (chế phẩm nấm Trichoderma).

Kỹ thuật ủ như sau:

– Phối trộn nguyên liệu: trộn đều vỏ quả cà phê, phân chuồng, phân lân, phân urê theo tỷ lệ trên, kết hợp tưới nước cho đến khi đống ủ nguyên liệu có độ ẩm từ 50-60% (dùng tay bốc lên, nắm chặt thấy có nước rỉ ra là được). Sau đó đánh luống nguyên liệu cao khoảng 1,5-2,0m. Dùng bạt hoặc các vật liệu khác che đậy đống ủ tránh mưa, nắng.

– Hoạt hóa men: sau 5 ngày ủ, hòa 2-3kg vi sinh vật trong 200 lít nước sạch + 1kg rỉ mật mía hoặc đường kính + 0,1 kg urê khuấy đều cho tan hết hỗn hợp.

– Tưới men: Sau khi đã hoạt hóa men xong, tiến hành tưới toàn bộ hỗn hợp men (kể cả phần cặn không tan) lên đống nguyên liệu và trộn đều. Sau đó gom nguyên liệu thành đống cao 1,5m, rộng 2-2,5m, chiều dài tùy theo vị trí và khối lượng nguyên liệu. Dùng bạt hoặc các vật liệu khác che đậy đống ủ để tránh mưa, nắng.

– Đảo đống nguyên liệu: Sau khi ủ được từ 20-30 ngày, tiến hành đảo trộn lại đống ủ, nếu thiếu ẩm, cần bổ sung thêm nước để đạt được độ ẩm từ 50-60%. Dùng bạt hoặc các vật liệu khác che đậy đống ủ để tránh mưa, tránh nắng. Đống nguyên liệu ủ trong 2,5-3 tháng sẽ hoai mục và có thể đem đi bón cho cây trồng. Liều lượng và cách bón thực hiện như quy trình bón phân hữu cơ khác đã được khuyến cáo.

2. Phân hóa học

Để xác định chế độ phân bón cân đối và hợp lý cho từng vùng cần căn cứ vào độ phì của đất và khả năng cho năng suất của vườn cây cà phê. Những vùng chưa có điều kiện phân tích đất, phân tích lá thì có thể áp dụng định lượng phân bón vô cơ như sau:

2.1. Liều lượng phân bón vô cơ cho cà phê vối (tính theo hàm lượng nguyên chất) :

2.2. Lượng phân thương phẩm bón cho cà phê hàng năm:

Nếu dùng các loại phân đơn thì bón với lượng như sau

Nếu dùng các loại phân hỗn hợp như NPK16-16-8 + 13S thì dùng với lượng sau:

2.3. Thời kỳ bón phân

Tùy theo điều kiện thời tiết của từng vùng mà các đợt bón phân có thể vào các tháng khác nhau giữa các vùng. Ở Lâm Đồng, mỗi năm có thể bón 4 lần như sau:

Lần 1 (giữa mùa khô, kết hợp tưới nước lần 2, tháng 1-2): Bón 100% lượng phân SA.

Lần 2 (đầu mùa mưa, tháng 5-6): 30% phân urê, 30% phân kali và 100% phân lân.

Lần 3 (giữa mùa mưa, tháng 7-8): 40% phân urê, 30% phân kali.

Lần 4 (cuối mùa mưa, tháng 9-10): 30% phân urê, 40% phân kali.

Riêng năm thứ nhất (năm trồng mới): bón lót toàn bộ phân lân, phân urê và kali được chia đều và bón 2 lần trong mùa mưa.

Nếu sử dụng phân NPK16-16-8 +13S, urê, kali clorua thì bón như sau:

Lần 1: Bón 80% lượng phân urê.

Lần 2: Bón 60% phân NPK + 20% phân kali.

Lần 3: Bón 40% phân NPK + 40% phân kali.

Lần 4: Bón 20% phân urê còn lại + 40% phân kali còn lại.

Đối với trồng mới thì bón lót 70% lượng phân NPK, 30% còn lại bón sau trồng 2 tháng trong mùa mưa.

2.4. Cách bón

– Phân lân: rải đều trên mặt, cách gốc 30-40cm. Lưu ý: Không được trộn phân lân nung chảy với phân đạm.

– Phân đạm và kali có thể trộn đều và bón ngay. Đào rãnh chung quanh tán cây cà phê, rộng 10-15cm, sâu 5cm, rải phân đều và lấp đất.

3. Bón phân trung, vi lượng

Ngoài các yếu tố đa lượng (N, P, K), cây cà phê cần một số nguyên tố trung, vi lượng (Zn, B, Mn, Mg…).

Khi vườn cà phê có triệu chứng thiếu các yếu tố trung, vi lượng, có thể cung cấp các chất này cho vườn cà phê bằng cách phun qua lá các hợp chất có chứa các nguyên tố cần thiết đó.

Một số hợp chất có chứa trung, vi lượng thường dùng cho cây cà phê:

Cách bón: Phun 600-800 lít dung dịch hòa tan hợp chất cần thiết/ha hoặc bón vào gốc cùng với phân vô cơ.

Ngoài ra, để tăng khả năng sinh trưởng phát triển và phục hồi bộ rễ cà phê có thể sử dụng một số loại phân bón lá để phun hoặc tưới gốc cho cà phê theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Nguyễn Minh Trường – TTKN Lâm Đồng

Bón Phân Cây Mía Sao Cho Hợp Lý?

Năng suất mía bình quân của nước ta chỉ dưới 60 tấn/ha. Những vùng trồng mía có độ dốc hơi cao khiến độ phì nhiêu thấp, trong lúc đó phân bón chưa đáp ứng được yêu cầu của từng loại giống khiến năng suất thấp, kéo theo năng suất bình quân mía cả nước xuống.

ĐBSCL đã có nhiều CLB 200 tấn mía/ha, nhưng năng suất và chữ đường cũng chưa phải là cao. Chính vì thế, làm gì để cây mía cho năng suất và chữ đường cao thì yếu tố bón phân hợp lý, đúng phân chuyên dung là một yếu tố quan trọng…

Mía thuộc họ hòa thảo (Poaceae), tong Andopogoneae gồm các loài: Saccharum barbari (mía); Saccharum bengalense (mía Bengal); Saccharum edule (mía); Saccharum officinarum (trồng ở VN); và Saccharum sinense (mía lau).

Mía thuộc nhóm lau sậy, nhưng than to, chứa nhiều đường. Các nhà khoa học đã phân loại mía thuộc loại cây có hoạt động quang hợp theo thực vật C4. Nghĩa là sản phẩm quang hợp đầu tiên là hợp chất hữu cơ có 4 gốc các bon.

Ưu thế của nhóm thực vật C4 là có cường độ quang hợp cao, nhiệt độ tối đa cho quang hợp cũng cao hơn nhóm C3 và điểm bù ánh sang thấp hơn nhóm C3. Vì lẽ đó mà cây mía có khả năng hoạt động quang hợp trong khoảng nhiệt cũng như ánh sáng khá rộng.

Vì vậy, mía cho năng suất sinh học cũng như năng suất sinh học cũng như năng suất kinh tế thường cao hơn cây lúa (cùng họ Poaceae). Kèm theo đó, cây mía cũng cần được cung cấp đầy đủ với số lượng dinh dưỡng nhiều hơn cây lúa.

Một đặc điểm khác là cây mía sống ở trên cạn, có bộ rễ phát triển khỏe, khả năng phá vỡ các tầng đất sâu hơn cây lúa nên khả năng len lỏi, tìm kiếm dinh dưỡng tốt hơn cây lúa. Cùng với bộ rễ khá nhiều nên sau khi trồng, nếu hàng năm trả lại được bộ lá cho đất thì mía có khả năng cải tạo tầng đất canh tác khá tốt.

Sản phẩm người ta cần ở cây mía là lượng đường chứa trong cây. Lượng đường và chất lượng đường phụ thuộc rất nhiều vào số lượng và tỷ lệ các chất dinh dưỡng cung cấp cho mía. Trong đó kali và Ca có ảnh hưởng lớn đến hàm lượng và chất lượng đường. Mía có thể trồng được trên rất nhiều loại đất kể cả trên đất phèn thoát nước tốt.

Nhưng do tính chất đất khác nhau, khả năng chứa các thành phần dinh dưỡng khác nhau nên việc cung cấp dinh dưỡng cho mía ở các loại đất khác nhau cũng rất khác nhau. Phân tích cây mía khi thu hoạch cho thấy, ruộng mía có năng suất 100 tấn mía cây, cây lấy đi hết 142 – 200 kg N, 42 -85 kg P 20 5, 314 – 425 kg K 2 0, 40 kg Ca0, 47 kg Mg0, 25 kg S, 400 kg Silic, 6 kg Na, 2 – 3 kg Fe, 1 kg Mn, 0,11 – 0,05 kg Cu, 0,02 – 0,05 kg Zn, 0,1 – 0,2 kg B và 0,001 kg B.

Số lượng dinh dưỡng trên tương đương với 310 – 435 kg ure, 262 – 531 kg super lân và 523 – 710 kg phân KCL. Đấy là tính lượng phân cây mía cần. Nhưng do hiệu suất sử dụng phân cuả các chất này khác nhau, nên số phân bón vào không phải như vậy, nhất là phân lân. Thường hiệu suất sử dụng lân chỉ dao động trong phạm vi 15 – 25% tính chung cho các loại đất.

Trong số P cây mía hút ở trên là 42 – 85 kg P 20 5 (262 – 531 kg super lân). Nếu lấy hiệu suất sử dụng P là 25%, thì số P do ta bón vào ở trường hợp này đóng góp được 10,5 – 21,25 kg P 20 5, phần còn lại cây lấy từ đất. Tuy nhiên, lượng phân P ta cần bón vào phải tương đương với 262 – 531 kg super lân (bón gấp 4 phần cây mới lấy đi có 1 phần).

Còn đạm và kali do có hiệu suất sử dụng cao hơn lân, hiệu suất sử dụng của N khoảng 35 – 40%, của kali khoảng 40 – 50%. Nhưng khi bón phân cho mía thì tùy thuộc hàm lượng dinh dưỡng của các chủng loại phân khác nhau nên số lượng phân bón vào cũng khác nhau.

Trường hợp nói trên thì phân đạm bón cho mía trung bình cũng khoảng 400 – 427 kg ure và khoảng 200 – 250 kg phân kali. Phần dinh dưỡng còn lại rễ cây tận dụng từ các lớp đất khác nhau. Nếu khi dùng P trong DAP thì do hàm lượng P cao nên số lượng phân bón vào ít hơn so với khi dùng super lân và ta cũng sẽ giảm số lượng phân ure xuống cho phù hợp.

Cách bón người ta bón lót toàn bộ lân lúc trồng (nếu dùng super lân) và một phần ít phân đạm, 1/4 kali. Số phân đạm còn lại chia ra bón thúc 2 lần vào lúc 4 – 5 lá và lúc mía vươn dóng (7 – 8 lá), phân kali bón 1/3 lúc đẻ nhánh còn lại 2/3 bón vào lúc vươn dóng.

Cty CP Phân bón Bình Điền có loại phân chuyên dùng bón cho mía là Đầu Trâu – TE Mía-1 (20-10-15-TE) và Đầu trâu – TE Mía 2 (15-7-20+TE). Sử dụng phân Đầu trâu TE – Mía 1 bón lót và thúc đẻ nhánh, và Đầu trâu – TE Mía 2 để thúc lúc vươn dóng, tuân theo lượng bón được khuyến cáo rõ trên bao bì.

Bên cạnh 2 chủng loại phân này bà con có thể tìm mua phân Đầu trâu đẻ nhánh (19-12-6-TE) và Đầu trâu vươn dóng (16-6-19+TE). Liều lượng cũng được ghi rõ trên bao bì. Bón 2 loại phân này sẽ tiện lợi, cân đối và tiết kiệm phân cũng như công bón, năng suất cao, chữ đường cũng cao.

Mía cần nền dinh dưỡng dồi dào và tỷ lệ dinh dưỡng hợp lý thì vừa có năng suất sinh vật cao, vừa có tỷ lệ đường cao. Hiện năng suất mía bình quân của nước ta chỉ khoảng 60 tấn/ha. Những vùng trồng mía trên đồi có độ dốc hơi cao, nhờ nước mưa mà độ phì thấp, trong khi phân bón chưa đáp ứng được yêu cầu của từng loại giống nên năng suất thấp.

ĐBSCL đã có nhiều câu lạc bộ 200 tấn mía/ha, điển hình có nông dân đạt được 268 tấn mía cây/ha. Tuy nhiên năng suất chữ đường cũng chưa thật cao và phải thu hoạch trong tháng 9 dương lịch, mía chưa đến thời kỳ đạt đủ độ chín.

Để phá vỡ thế khó khăn của ngành mía đường hiện nay, một mặt cần ngăn chặn tình trạng nhập đường qua lối tiểu ngạch; mặt khác tích cực hơn thì ngành mía đường cần đầu tư đúng vùng nguyên liệu nhằm đưa năng suất mía cao hơn (80 – 100 tấn/ha), hạ giá thành sản xuất sẽ là phương pháp cơ bản.

Theo chúng tôi MAI VĂN QUYỀN – báo Nông Nghiệp Việt Nam

Kỹ Thuật Xử Lý Ra Hoa Cho Cây Điều Hiệu Quả

Kỹ thuật xử lý ra hoa cho cây điều hiệu quả

Trước hết, nói về đặc điểm của hoa cây điều. Hoa cây điều có hai loại: hoa đực và hoa lưỡng tính. Hoa đực chỉ gồm nhị đực. Hoa lưỡng tính thì ngoài 8 – 12 nhị đực còn có nhuỵ cái ở chính giữa. Hoa điều mọc thành chùm có vài chục tới 1 – 2 trăm hoa, gồm hoa đực và hoa lưỡng tính. Số hoa đực chiếm tỷ lệ cao, hoa cái chiếm thấp từ 0 – 30% tổng số hoa. Những chùm hoa đầu và cuối vụ thường là hoa đực hoa chính vụ tỷ lệ hoa lưỡng tính cao. Tỷ lệ hoa lưỡng tính còn phụ thuộc vào cá thể cây trong vườn. Có cây tỷ lệ hoa lưỡng tính thấp, có cây cao – còn gọi là điều chùm. Đây là chỉ tiêu để chọn cá thể giống có năng suất cao làm giống gốc để nhân giống.  

Mùa hoa nở bắt đầu từ tháng 11 kéo dài tới tháng 3 năm sau. Rộ nhất vào tháng giêng, tháng 2. Hoa chủ yếu thụ phấn nhờ côn trùng. Gặp mưa thì phấn không tung được, dẫn đến tỷ lệ đậu trái thấp. Trong chùm có hoa nở sớm, nở trễ. Có thể chênh lệch nhau 2 – 3 ngày. Giữa các chùm hoa cùng một cây và giữa các cây trong vườn cũng có sự chênh lệch nở hoa. Do đó việc xử lý ra hoa đồng loạt sẽ giúp cho việc thụ phấn, chăm sóc tốt, tỷ lệ đậu trái sẽ cao hơn.  

Để vấn đề xử lý ra hoa điều hiệu quả, ngay từ đầu mùa mưa phải áp dụng chế độ chăm sóc, bón phân đủ cho cây cây tăng trưởng mạnh, ra đọt, cành phát triển để cuối mùa mưa sẽ đủ sức ra hoa. Lượng phân bón giai đoạn đầu mùa mưa được tập trung là phân đạm (nếu là phân vô cơ) phân hỗn hợp NPK ưu tiên loại có hàm lượng đạm cao: 16 – 16 – 8; 20 – 20 – 16; 20 – 10 – 10. Đợt này nên sử dụng kết hợp phân hữu cơ sinh học như CUGASA, Humix, Komix liều lượng từ 3 – 4 kg/gốc cho các loại cây từ 5 năm tuổi trở lên.  

Vào cuối mùa mưa khoảng tháng 10, tháng 11 trên cây điều sẽ xuất hiện đợt đọt non thứ hai, đây là đợt đọt rất quan trọng ảnh hưởng đến năng suất điều sau này, vì vậy cũng phải phun thuốc trừ sâu bệnh ngay từ khi đọt non mới nhú. Vào đợt này, khi ta quan sát thấy vườn điều bắt đầu rụng lá khoảng 20%, ta sử dụng loại phân bón lá có chứa Thioure để xử lý rụng lá điều. Sau khi phun được 5 – 7 ngày lá điều rụng rất nhanh, và đọt non sẽ xuất hiện. Khi chồi non được khoảng 5 lá ta tiến hành phun thuốc kích thích ra hoa điều. Thông thường lá các loại phân bón lá có hàm lượng lân cao, trong khi đó đạm thấp, ví dụ như loại 6 – 30 – 30, 10 – 52 – 10. Có thể phun liên tiếp hai lần, mỗi lần cách nhau 3 – 4 ngày, sau khi phun khoang 10 ngày thì điều sẽ ra hoa đồng loạt. Lưu ý là giai đoạn này đối với phân bón gốc cũng phải lưu ý không nên sử dụng phân đạm nhiều, đặc biệt là phân urê, mà tăng cường loại phân NPK có hàm lượng lân cao, hoặc DAP hoặc super lân Có thể bón phân hữu cơ nhưng chỉ bón loại hữu cơ sinh học sẽ có tác dụng nhanh và ta chỉ bón sau khi điều tra hoa. Khi chồi hoa nhú ra khoảng 1 tấc, ta có thể sử dụng các loại phân bón lá có hàm lượng kali cao, có phối trộn thêm vi lượng (B) để giúp cho việc ra hoa và đậu trái điều được tốt hơn. Thông thường có thể phun từ 2 – 3 lần.

Một số vấn đề cần chú ý thêm khi xử lý:

Để tranh thủ xử lý ra hoa điều: Cần chọn thời điểm để khi vừa dứt mưa khoảng 15 – 20 ngày là cây điều bắt đầu nở hoa. Như vậy phải xử lý trước trong thời điểm còn một số cơn mưa cuối vụ. Do đó người trồng điều phải theo dõi kỹ dự báo thời tiết để chuẩn bị cho chính xác.

Thời gian điều ra hoa, đất còn đủ ẩm hoặc nếu có điều kiện tưới nước (tùy theo từng vùng và từng hộ trồng) thì năng suất hạt điều có thể tăng 25 – 30%. Có thể sử dụng phân bón lá loại 6 – 30 – 30 hoặc MKP (Mong Potassium Phosphate). Có thể phun thêm GA 3 cho phát hoa dài; Botrac cho bớt rụng hoa, trái non.

Phòng trừ sâu bệnh cho cây điều thật tốt trong mùa mưa, đặc biệt khi cây ra đọt non sẽ xuất hiện bọ xít muỗi, bọ cánh cứng, sâu ăn tạp thì ta cần xử lý các loại thuốc như Cyperan, Sherpa, Hopsan, Visher hoặc Bian.

Các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh thường sử dụng: Ridomil Gom, Cyperan, Actara. Đối với bọ xít muỗi – vườn cây rậm rạp, không thông thoáng thì mật độ sẽ cao hơn. Thường tập trung thành vùng, cụm. Nên phun thuốc vào sáng sớm sẽ có hiệu quả cao hơn. Sử dụng các loại thuốc dạng nhũ dầu hoặc loại lưu dẫn vào đọt non. Đối với sâu đục thân, đục ngọn: Basudin 50 ND, Diazan 60 ND, tiêm trực tiếp vào cây 30 – 50 cc/1ần/cây.

Giai đoạn này bông và hoa điều rất nhạy cảm với các loại sâu hại như bọ xít muỗi, các loại bệnh như thán thư, phấn trắng. Vì.vậy phải phun xịt các loại thuốc trừ sâu bệnh kịp thời, tuy nhiên tránh vào thời điểm hoa đang nở sẽ làm giảm khả năng thụ phấn Đặc biệt lưu ý thời tiết giai đoạn này vẫn còn một số cơn mưa cuối mùa nên rất dễ gây bệnh khô bông, cháy lá trên cây điều. Vì vậy, sau mỗi cơn mưa nên dùng các loại thuốc như Benlate, Captan, Anvil, Mancozeb, Benomyl, Carban, Carbendazim, Appencarb để phun xịt. .

Vấn đề rụng trái non trên vườn điều: Thường xảy ra vào cuối tháng giêng, đầu tháng 2 khi thời tiết khô hạn. Nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm cao, ban ngày có thể là 35 – 36 độ C, ban đêm là 20 – 21độ C. Dẫn đến trái lớn cũng có thể bị rụng. Do đó nên tìm cách tránh để cây điều đậu trái non vào thời điểm này do bất lợi về thời tiết. Tuy nhiên sớm quá sẽ gặp những cơn mưa cuối mùa sẽ ảnh hưởng do bọ xít muỗi hoặc thán thư. Có thể do bón phân không đủ nên cây không có khả năng nuôi trái dẫn tới rụng trái non.

Trừ cỏ vườn điều: Paragoat: Glamoxol trừ nhóm cỏ trên mặt đất. Glyphosat (lưu dẫn) trừ nhóm cỏ có thân ngầm, phun khi cây đang sinh trưởng tốt.

Cập nhật thông tin chi tiết về Kỹ Thuật Bón Phân Cân Đối, Hợp Lý Và Hiệu Quả Cho Cây Trồng trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!