Xu Hướng 12/2022 # Hướng Dẫn Thực Hành Sử Dụng Phân Vi Lượng Đồng / 2023 # Top 20 View | Duhocaustralia.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Hướng Dẫn Thực Hành Sử Dụng Phân Vi Lượng Đồng / 2023 # Top 20 View

Bạn đang xem bài viết Hướng Dẫn Thực Hành Sử Dụng Phân Vi Lượng Đồng / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

* Nhu cầu của cây đối với đồng

Từ năm 1931 người ta đã phát hiện cây có đồng mới phát triển tốt. Dần dần người ta thấy rằng cây trồng trên các đất than bùn, đất giàu hữu cơ có hiện tượng thiếu đồng. Gần đây hiện tượng thiếu đồng xuất hiện trên nhiều loại đất khác.

Đồng ảnh hưởng đến nhiều qua trình sinh lý sinh hóa của cây như quá trình cố định N, sự khử nitrat, sự phân giải, sự khử CO2, sự tổng hợp clorofin tổng hợp các chất điều hòa sinh trưởng, sự thoát hơi nước, sự chuyển hóa gluxit, tạo các mô mới thân lá rễ, và ảnh hưởng đến tính chịu hạn, chịu lạnh, chịu nóng của cây.

Đồng ảnh hưởng đến sự tổng hợp nhiều loại chất đường bột, hợp chất có đạm, chất béo, clorofin và các sắc tố khác, vitamin C và các enzim.

Hiện tượng thiếu đồng thường xuất hiện đối với cây lúa gây ra hiện tượng trắng lá và các hạt đầu bông không thụ phấn (lúa bị rơm đầu), đẻ nhiều nhưng dảnh thành bông ít và xuất hiện ở các cây hòa thảo khác.

Sự bón nhiều đạm đã làm xuất hiện hiện tượng thiếu đồng có làm giảm năng suất và phẩm chất cỏ. Bón nhiều lân cũng làm giảm hàm lượng đồng và năng xuất cam quýt

Đồng dễ tiêu thường có nhiều trong đất và thường được đưa vào đất qua phân bón và các loại thuốc trừ nấm bệnh. Số lượng đồng trong đất phụ thuộc vào đá mẹ và hàm lượng Cu trong đất tăng dần qua quá trình tích lũy sinh vật (cây trồng hút Ci từ các tầng sau đưa lên mặt đất). Lượng Cu dễ tiêu trong đất thay đổi theo lượng chất hữu cơ. Chất hữu cơ trong đất thay đổi theo lượng chất hữu cơ. Chất hữu cơ trong đất kết hợp với đồng thành các phức chất đồng – hữu cơ cây trồng khó sử dụng. Nếu trong đất lượng N và S cao thì phức hợp đồng – mùn càng bền. Sét cũng có thể hấp thu các ion đồng, mặc dù sự hấp thu có yếu hơn. Đất giàu hữu cơ lại giàu sét thì sụ thiếu đồng càng dễ xuất hiện. Ở nước ta các vùng thung lũng núi, vùng đất sinh lầy ven biển, đất than bùn, đất phèn giàu hữu cơ đều có thế có hiện tượng thiếu đồng.

Các nghiên cứu cho thấy rằng khi pH đất tăng lên hàm lượng đồng dễ tiêu giảm xuống. Cho nên bón vôi cải tạo độ chua cũng dễ dẫn đến hiện tượng thiếu đồng.

Người ta còn nhận thấy rằng có quan hệ nghịch giữa lượng Al và đồng dễ tiêu. Khi hàm lượng Al tăng lên cây hút đồng ít đi. Người ta cũng thấy mối quan hệ tương tự giữa đồng và sắt.

Các loại đất chua, nhiều sắt, nhôm di động càng dễ xuất hiện hiện tượng thiếu đồng.

* Các loại nguyên liệu sử dụng sản xuất phân vi lượng đồng

Có hai nhóm chủ yếu:

Các hợp chất hòa tan trong nước: Đồng sunfat ngậm phân tử nước (CuSO4.H2O), có tỷ lệ Cu 35% ở dạng bột hoặc dạng viên. Đồng sunfat ngậm 5 phân tử nước (CuSO4.5H2O) có tỷ lệ Cu 25% ở dạng bột hoặc viên. Phức đồng (Cu.EDTA) ở dạng bột hoặc viên.

• Các hợp chất tan trong axit xitric: Đồng (II) oxit (CuO) có chứa 75% Cu, đồng (I) oxit (Cu2O) có chứa 89% Cu; sunfat hydroxit đồng (CuSO4.3Cu(OH)2.2H2O) có chứa 53% Cu ở dạng bột hoặc viên; đồng silicat ở dạng thủy tinh (silicat đồng) ở dạng bột; muối đồng amôn có chứa 30% đồng.

• Các hợp chất trên có thể dùng trực tiếp làm phân bón hoặc sản xuất phân đa nguyên tố chứa đồng. Quạng pyrit Cu có chứa 0,3-0,6% Cu cũng được sử dụng như một loại nguyên liệu để sản xuất các loại phân đa nguyên tố chứa đồng và chứa lưu huỳnh hoặc để bón trực tiếp.

* Sử dụng phân có đồng

Có thể cung cấp đồng cho cây bị thiếu đồng theo 2 cách:

Dùng dung dịch phun lên lá. Các loại muối đồng tan trong nước được pha với nồng độ tương đương 0,02-0,05% CuSO4 phun từ 600-1000 lít 1 ha, hoặc ngâm hạt giống trong vòng 6-12 giờ trước lúc gieo.

Dùng các muối đồng không hòa tan trong nước chỉ hòa tan trong axit xitric như đồng oxit và các silicat, các muối đồng amôn phootphat. Lượng bón tương đương 10-25kg Cu/ha.

Cu bón nhiều năm đễ tích lũy và gây độc. Nhiều vùng trồng nho do dùng dung dịch boócđô (hỗn hợp sunfat với vôi) qua nhiều năm để trừ bệnh nho đã tích lũy nhiều đồng đến mức gây độc đồng. Các vườn rau thường dùng thuốc trừ sâu bện có đồng cũng thường xảy ra hiện tượng độc thừa đồng.

Hướng dẫn thực hành sử dụng phân bón, NXB Nông nghiệp, Hà Nội,1996. (GS Võ Minh Kha)

Nguồn: camnangcaytrong.com

Hướng Dẫn Thực Hành Sử Dụng Phân Trung Lượng Magie / 2023

Nhu cầu bón magie ngày càng bộc lộc rõ do nhiều lý do tương tự S (lưu huỳnh)

Ở nước ta vấn đề ngày càng đáng chú ý hơn. Do điều kiện thời tiết mưa nhiều, các cation như Ca, Mg, Na rửa trôi mãnh liệt, gây sự thiếu trầm trọng hơn.

Vai trò sinh lý của magie

Hàm lượng magie trong cây cần bằng lưu huỳnh và cao hơn lân. Số lượng magie trong một tấn thóc còn cao hơn lưu huỳnh. 1 tấn thóc có chứa 3.99kg MgO. Trong 1 tấn lúa mình có 2kg MgO và nếu tính cả rơm rạ là 3,5 kg MgO.

Vai trò của magie vừa là vai trò của yếu tố cấu tạo (cấu tạo nên sắc tố) vừa là yếu tố gây tác động đến các quá trình chuyển hóa như các vi lượng. Nó là thành phần của các enzim hoặc có tác dụng xúc tác hoạt động của các enzim. Vì vậy yếu tố magie thường được đưa vào hỗn hợp các phân vi lượng. Trong trường hợp này nó nên được xem là loại phân sinh hóa.

Các tác dụng chính của magie đến đời sống của cây trồng có thể kể ra như sau:

1. Là thành phần cấu tạo của clorofin, và của các xantofin và caroten, do đó ảnh hưởng đến hoạt động quang hợp, tính chống chịu và chất lượng sản phẩm.

2. Ảnh hưởng đến sự tạo thành gluxit, chất báo, protit do tác động đến quá trình vận chuyển lân trong cây.

3. Ảnh hưởng đến quá trình hút lân, vận chuyển lân và tạo thành các hợp chất lân dự trữ như estephotphoric, phytin.

4. Ảnh hưởng đến sự tạo thành các lipit. Hiện tượng này có thể do tác động đến sự vận chuyển các hợp chất có chứa lân.

5. Magie làm tăng tính trương nước của tế bào do đó tăng tính giữ nước của tế bào giúp cho cây chống hạn.

6. Magie có tác dụng đối kháng với cation khác (Ca2+, NH3+, K+, v.v…) do đó giữ được pH thích hợp trong cây giúp cây chịu chua.

7. Một tác dụng đáng chú ý của magie là tạo được sự cân đối Ca, làm cho chất lượng của sản phẩm chăn nuôi tốt hơn trách nhiệm tránh bệnh uốn ván cho cỏ.

Vì vậy magie là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, tính chống chịu và phẩm chất nông sản.

Magie giúp cho sự vận chuyển đường bột về các cơ quan dự trữ của cây vì vậy cung cấp đủ magie là cho củ hạt nhiều bột, mía nhiều đường, quả ngọt hơn. Magie làm tăng hiệu quả phân lân và phân đạm, tăng sự tổng hợp protein làm tăng tỷ lệ protein trong hạt cây họ đậu. Magie cần cho sự hình thành chất béo, có lợi cho cây lấy dầu (lạc, vừng, đậu tương, cọ dầu, dừa v.v…). Magie cần cho sự hình thành tinh dầu có lợi cho cây lấy tinh dầu (bạc hà, sả, hương nhu, bạch đàn cánh kiến), cây kích thích (thuốc lá, cà phê, chè, cacao). Magie cần cho sự hình thành nhựa mủ (cao su, thông nhựa sơn). Tỷ lệ magie cao trong hạt củ quả và thức ăn gia súc làm cho giá trị nuôi dưỡng người và gia súc tăng lên.

Người ta đã phát hiện hiện tượng cỏ chăn nuôi thiếu magie do nhiều năm bón kali gây ra bệnh uốn ván cho bò, cừu ăn các loại cỏ đó.

magie ảnh hưởng đến chất lượng lá dâu cho tằm ăn. Dâu được bón đủ magie lá dày hơn, tằm ăn ít bệnh, dày kén, tơ dài và bền hơn.

Hiện tương thiếu magie thường biểu hiện trước tiên ở các lá già. Lá bị mất màu xanh. Phần thịt lá mất màu trước. Không giống như thiếu kali, sự mất màu xanh bắt đầu ở mép lá, sự mất màu xanh do thiếu magie xuất hiện trước tiên ở phần thịt giữa các gân lá tạo thành các đốm vàng rất rõ: Sau một thời gian phần đó chết đi và lá rụng sớm. Hiện tượng lan dần lên các lá phía trên nếu thiếu trầm trọng.

Một số hình ảnh cây thiếu Magie

Đốm vàng là do sự tạo thành anthoxyan, nên nhiều khi lá chuyển sang màu vàng đỏ. Đối với cây dứa thiếu magie, các lá phía dưới xuất hiện màu vàng, sau đó lá héo queo lại như bị luộc, vì vậy được gọi là bệnh luộc lá dứa. Bệnh này thường xuất hiện trong mùa rét và khô hanh, có thể là do điều kiện rét và khô hanh làm cho sự hút magie khó khăn hơn và hoạt động các enzim yếu đi. Đối với cây ngô, mép lá cây thiếu magie hơi gợn sóng, giữa các gân lá thứ cấp vẫn có màu vàng, tạo thành các sọc xanh vàng rất rõ.

Đối với lạc và đậu tương, gân lá nhỏ nên hiện tượng vàng gần như toàn lá, và chỉ có những vết hoạc thư trên lá biểu hiện rõ.

Hiện tượng thiếu magie thường xuất hiện ở giai đoạn cuối của cây.

Cần chú ý đảm bảo các nhu cầu magie cho các loại cây sau đây:

1. Cây hòa thảo: ngô, lúa, lúa mì

2. Cây họ cà: cà chua, khoai tây

3. Cây họ thập tự

4. Cây họ đậu

5. Cây ăn quả: dứa, cam quýt, nho

6. Cây lấy tinh dầu và nhựa mủ

Khả năng cung cấp magie từ đất cho cây trồng

Lượng magie trong đất thay đổi rất lớn từ 0,01% đến 3%. Phần lớn magie trong đất là từ đá mẹ như biotit, clorit, secpentinit, olivin phong hóa ra và ở dạng các muối silicat và cacbonat không hòa tan. Chỉ có 2-10% tổng số đó hòa tan trong nước và hấp thu trong khoáng sét. Lượng magie trong đất thay đổi theo đá mẹ hình thành ra đất. Đất do secpentinit, dolomit phong hóa có nhiều magie. Đất phù sa nhiễm mặn cũng có nhiều magie hơn các loại đất khác.

Đất bị xói mòn thường nghèo Magie

magie trong đất dễ di động nên cũng dễ bị rửa trôi. Lượng magie trong đất thay đổi theo điều kiện khí hậu, nhiệt độ lượng mưa. Các yếu tố này gây ảnh hưởng đến sự phong hóa và rửa trôi. Đất vùng nhiệt đới ẩm, mưa nhiều thương chua, nghèo magie hơn đất ôn đới. Đất canh tác lâu đời, bào mòn và rửa trôi mạnh nghèo magie hơn đất mới khai phá. Đất cát khả năng hấp thu kém nghèo magie hơn đất thịt. Sự thay đổi lượng magie tổng số cũng như magie trao đổi được theo thành phần cơ giới của đất (đất nặng nhẹ) rất rõ rệt. Đất cát trung bình có 0,08% MgO trong đó có 5 mg MgO trao đổi. Đất thịt trung bình có trung bình 0,11% MgO trong đó có 7mg MgO trao đổi. Đất sét có trung bình 0,19% MgO trong đó có 12mg MgO trao đổi. Nhu cầu bón magie thay đổi theo tính chất đất. Có loại đất cung cấp đủ magie không cần bón. Cũng cần lưu ý có những trường hợp đất thừa magie đến mức gây độc. Hiện tượng này hiếm thấy, chỉ đôi khi bắt gặp ở đất phát triển trên đá secpentinit.

Magie do bị cuốn theo nước thấm sâu mà mất. Con số ước tính ở vùng đất có tưới từ 25-28kg/ha. Ở vùng nhiệt đới con số có thể còn lớn hơn. Sau nhiều năm trồng trọt có tưới, ở vùng mưa nhiều nhu cầu bón magie ngày càng lộ rõ.

Đất có bón nhiều kali, bón các loại phân đạm có chứa ion amon, bón muối, các ion hóa trị I này thay thế magie trong hệ hấp thu của đất làm tăng sự rửa trôi kali. Mặt khác có sự đối kháng giữa sự hút magie với các ion kali, canxi, khi có nhiều kali, canxi trong hệ hấp thu cây hút ít magie. Nhu cầu bón magie sẽ thể hiện khi thâm canh bón vôi cải tạo đất và bón nhiều phân kali.

Người ta thường xác định nhu cầu bón magie dựa theo hàm lượng magie trao đổi trong đất. Tuy nhiên phương pháp này cũng không phát hiện nhu cầu bón magie chính xác lắm vì các lý do sau đây:

– Có sự chuyển trả lại từ dự trữ trong đất. Sự chuyển trả này thay đổi theo đất.

– Có sự hấp thu và giữ chặt Mg trao đổi.

– Sự cung cấp nhiều hay ít còn tùy thuộc tác dụng đối kháng của các in khác: kali, canxi, amon.

Các nhận xét cây trồng trên đồng ruộng và đoán định theo điều kiện địa lý thổ nhưỡng (lượng mưa, địa hình và thành phần ở cơ giới của đất) có thể cho kết quả chính xác hơn.

Nguyên nhân hiện tượng thiết magie xuất hiện muộn và dự kiến tình hình xuất hiện sự thiếu magie.

Cũng như S, sự thiếu magie chưa xuất hiện rộng rãi. Nguyên nhân của hiện tượng này như sau:

* Nguồn cung cấp tự nhiên không ít: Có những loại đá mẹ có nhiều magie đến mức có thể gây độc như trên đất phát triển từ đá secpentinit và trên đất thường có sự xâm nhập của nước biển. Trong phân chuồng có chứa từ 0,5-4,5kg MgO/tấn. Sự thay đổi rất nhiều phụ thuộc vào hàm lượng magie trong đất độn dùng để độn chuồng và trong thức ăn gia súc. Cây trồng trên đất nghèo magie chứa lượng magie thấp nên trong phân chuồng và xác hữu cơ hoàn trả lại cho đất thấp. Người ta cho răng nếu đất đã nghèo magie thì dùng phân chuồng không có khả năng làm giàu thêm magie cho đất. Magie cũng cso thể được đưa vào đất từ nước tưới với số lượng hàng năm không nhiều lắm. Nước ngầm ven biển có chứa có chứa Na và Mg. Từ nước mao quản và từ nước mặt, các ruộng vùng ven biển được cung cấp một lượng magie khá cao. Nước mưa các vùng ven biển cũng có thể đưa vào đất một lượng magie từ 5-15kg MgO/ha/năm.

* Số lượng lấy đi trong sản phẩm hằng năm không nhiều

Số lượng lấy đi trong sản phẩm thu hoạch nếu năng suất thấp không nhiều lắm. Con số ước tính như sau:

Trong 1 tấn thóc và rơm rạ có 3,99kg MgO, còn riêng 1 tấn thóc có 1,49 kg MgO.

* Trong các loại phân bón được sử dụng như phân lân nung chảy, photphat cứt sắt và voi tro thảo mộc đều có chứa lượng magie cao. Trong phân lân nung chảy Văn Điển và Ninh Bình có chứa 15%MgO, như vậy bón 60kg/ha P2O5 (360kg phân) có thể cung cấp cho cây 54 kg MgO một lượng MgO đủ để đảm bảo cân bằng magie. Trong photphat cứt sắt có 2-5% MgO, trong photphat tự nhiên có 0,7% và supe lân 0,5%MgO. các loại phân kali có nhiều loại có chứa magie. Trong phân Kali magie có 18% MgO, patent-kali có 8% MgO. Khi bón vôi, tùy thuộc nguồn gốc của đá dùng để nung vôi mà vô tình chúng ta cũng cung cấp lượng magie khác nhau. Tỷ lệ Mg trong đá vôi thông thường từ 0-0,9% còn trong Dolomite có thể từ 9,3-20%. Tro thảo mộc chứa toàn bộ lượng magie trong cây. Đốt cỏ khi khai hoang không làm mất magie. Trong cho chứa hàm lượng magie khá, nhưng cũng như đã nói trên, cây trồng ở vùng thiếu magie, tro chứa hàm lượng magie thấp. Không có hy vọng dùng tro để sửa chữa lại sự thiếu hụt về magie của các cảnh quan thiếu magie.

Tuy nhiên gần đây nhu cầu bón magie được chú ý hơn ngoài các lý do số lượng lấy đi trong sản phẩm thu hoạch tăng lên, nguyên nhân được chú ý nhiều hơn là các nguyên nhân sau đây:

– Ở vùng nhiệt đới mưa nhiều các catinon kiềm như canxi, magie bị rửa trôi ra khỏi đất. Con số bị rửa trôi ngày được xúc tiến khi dùng nhiều loại phân đạm amon và kali. Các ion amon và kali đẩy ion magie ra khỏi hệ phức hấp thu làm cho dễ dàng bị rửa trôi. Ion canxi cũng có thể thay thế magie trong hệ hấp thu. Khi bón vôi, bón kali thường dẫn đến sự thay đổi cân bằng canxin, magie natri trong đất làm cho sự cung cấp magie của đất trong cây kém đi.

– Chăn nuôi phát triển, số lượng gia súc ngày càng cao cũng đòi hỏi dùng nhiều magie hơn. Vùng đồng cỏ nuôi bò sữa càng cần chú ý bón thêm magie. Một con bò sữa cho 25 lít 1 ngày cần 75 – 100kg MgO. Nếu hàm lượng magie trong máu gia súc không đủ, gia súc có thể bị co giật thường gọi là bệnh kinh giãn hay bệnh uốn ván do cỏ.

– Đòi hỏi của phẩm chất nông sản ngày càng cao.

Gần đây hiện tượng thiếu magie đã xuất hiện gây bệnh ở nhiều nơi. Điển hình nhất là hiện tượng héo lá dứa (còn gọi là luộc lá dứa). Sau nhiều năm bón kali cho dứa, đã làm magie trong đất bị kiệt quệ dẫn đến hiện tượng thiếu magie. Hiện tượng thiếu magie cũng thấy rõ ở các vùng chồng mía thâm canh bón nhiều đạm và kali. Các kết quả nghiên cứu cho thấy bón magie hoặc phân lân có chứa magie như phân lân nung chảy làm tăng năng suất đồng thời làm tăng phẩm chất mía. Hiện tương thiếu magie cũng thấy rõ trên các vùng trồng dâu, đặc biệt là dâu đồi và dâu trồng trên đất cát Hà Sơn Bình và Thái Bình. Bón magie hoặc thay thế bằng phân lân nung chảy có chứa magie không những tăng năng suất dâu mà còn giảm tằm bị bệnh, tăng tỷ lệ làm kén, tăng độ dày kén, độ dài và độ bền sơi tơ và tỷ lệ trứng tằm thụ tinh. Hiệu quả bón magie thể hiện rõ đối với lạc, đậu tương, ngô trồng trên đất cát và đất phù sa bạc màu. Trên vùng đất này các cây nói trên cũng cần lưu huỳnh. Bón phối hợp phân lân nung chảy và supe lân cho hiệu quả tốt.

Nhiều vùng cảnh quan nông nghiệp nước ta thiếu magie và cần được chữa bằng cách bón các loại phân hóa học hoặc các loại vôi có chứa magie. Có thể kể ra sau đây.

– Vùng đất đồi bị thoái hóa do đốt nương làm rẫy trồng trọt không hợp lý, canxi và magie bị rửa trôi. Đáng chú ý hơn là các loại phát triển như đá granit.

– Vùng đất bạc màu và đất xám.

– Vùng đất cát ven biển.

– Vùng đất phù sa thành phân cơ giới nhẹ.

* Các giải pháp để đảm bảo nhu cầu magie cho cây.

Trừ trường hợp đất cát và đất phát triển trên đá cát, các loại đất khác ban đầu đều giàu magie. Sau nhiều năm trồng trọt không hợp lý, đất bị rửa trôi xói mòn làm cho magie nghèo kiệt dần. Để bảo vệ magie cũng như các loại cation khác cần chú ý các biện pháp chống xói và phủ kiens mặt đất bằng thảm thực vật trong mùa mưa. Áp dụng hệ thống canh tác có hoàn trả hữu cơ cũng có tác dụng duy trì độ phì về magie của đất. Ngoài ra nên áp dụng các biện pháp sau đây:

1. Thay thế phân supe bằng lân nung chảy Văn Điển hay Ninh Bình hoặc dùng loại supe lân có chứa magie như supe lân M. Thay thế cấc loại phân có chứa kali bằng cấc loại phân có chứa kali magie.

2. Dùng các dạng vôi có chứa magie như dolomite, secpentin bón vào đất.

Dolomite là loại đá vôi có khá nhiều ở nước ta. Tỷ lệ magie trong dolomite nước ta trình bày trong bảng sau:

Có thể dùng ở dạng MgO (dolomite nung) hay MgCO3 (dolomite nghiền). Tỷ lệ MgO trong dolomite nung cao hơn dolomite nghiền. Tỷ lệ MgO trong một số dolomite nung như sau:

Nung từ dolomite: 29,3 – 33,3% MgO

Nung từ đá vôi dolomite A 1,5 – 5,5% MgO

Nung từ đá vôi dolomite B 15,5 – 29,3 MgO

Secpentin là loại khoáng silica magie có chứa 2Mg.2SiO3.2H2O hay Mg3H42O9, ngoài ra còn có MgSiO3 và một ít hợp chất sắt. Hàm lượng MgO là 18-25% và SiO2 là 40-48%.

Secpentin có thể dùng để trộn với supe lân hoặc nghiền bón trực tiếp.

Secpentin là hợp chất khó hòa tan, hiệu quả không thực hiện ngay tức khắc như dolomite hay magie sunphat.

Ngoài ra người ta còn có thể dùng quặng Dunit và Kiserit.

Dunit Mg2SiO4 + Fe2SiO4 là loại quặng chứa 24-28% MgO 35-39% SiO2 và 3-8% FeO.

Mg2SiO4 không hòa tan trong nước, nhưng Mg có thể trao đổi với ion H trong phức hệ hấp thu, vừa khử chua vừa làm giàu Mg.

Kiserit (MgSO4.H2O) và magie sunphat (MgSO4.7H2O) là hai loại muối hòa tan.

Trong Kiserit có chứa 29,13% MgO, magie sunphat có chứa 16,2% MgO.

Hai loại này có thể dùng phun lên cây hoặc hòa vào nước tưới vào đất hoặc trộn với phân lân để bón.

3. Phun magie lên lá. Biện pháp phun magie lên lá thường sử dụng với hai mục đích khác nhau: Cung cấp kịp thời magie khi có hiện tượng thiếu magie nghiêm trọng và cung cấp magie vào thời kỳ nhất định để xúc tiến các quá trình sinh hóa trong cây.

Trường hợp đầu phun thường chỉ giải quyết cấp thời lượng cung cấp không đủ, kèm theo nên tưới bằng dung dịch có chứa magie và sau đó sử dụng các loại phân có chứa magie để đảm bảo cung cấp magie lâu dài.

Trường hợp sau chỉ cần phun với nồng độ 1-2% MgSO4 phun 4-5 lần lên lá vào thời kỳ được chỉ định.

Magie có thể sử dụng trộn để phun cùng thời với các vi lượng khác và chát điều hòa sinh trưởng. Sử dụng hỗn hợp magie với lân và kali thường có lợi cho cây ăn quả và cây lâu năm.

Trong trường hợp có bệnh uốn ván do cỏ thiếu magie người ta có thể trộn MgSO4 vào thức ăn cho gia súc.

Trước đây người ta ít chú ý đến với đề bón magie và chỉ trong trường hợp yếu tố này thiếu đến mức gây hại như sự thiếu Mg gây ra bệnh héo lá dứa ở một số nông trường trồng dứa. Không nên chờ đến lúc thể hiện bệnh mới chữa trị, vì năng suất và phẩm chất, đặc biệt là phẩm chất đã bị tổn hại. Ở vùng nhiệt đới mưa nheiefu nên chú ý bổ sung canxi và magie thường xuyên cho đất bằng các loại đá vôi chứa magie, phân lân nung chảy bón từng vụ.

Tất cả các loại phân bón có chứa magie đều được bón lót.

Hướng dẫn thực hành sử dụng phân bón, NXB Nông nghiệp, Hà Nội,1996. (GS Võ Minh Kha)

Nguồn: camnangcaytrong.com

Hướng Dẫn Sử Dụng Vi Lượng Sắt (Fe Chelate) / 2023

Hướng dẫn sử dụng vi lượng sắt (Fe chelate) Cây ăn trái, giai đoạn kiến thiết cơ bản (cây con) cần 4-12g/cây Giai đoạn bắt đầu ra trái 2-3 năm: 12-20g/cây Giai đoạn trưởng thành 3-5 năm: 20-40g/cây Giai đoạn già cỗi (lớn) 5-10 năm: 40-80g/cây. Cây hoa, cây dây leo lấy quả: 2-4 g/m2 hoặc gốc. Cây trồng sử dụng hệ thống nước tưới nhỏ giọt hòa dinh dưỡng (tiết kiệm nước và phân bón), giảm 40% lượng phân bón vi lượng sắt. use crops and method : Soil base: irrigating root Fruit, peach, orange, pear, apple, navel orange, kiwi fruit, litchi, loquat, dongzao, cherry, etc The young tree · · · · · · · · · · · · · · · · · · 4 to 12 g/tree Hanging in the early fruit · · · · · · · · · · · · · · · · 12 to 20 grams/tree Adult tree · · · · · · · · · · · · · · · · · 20-40 grams/tree Old tree · · · · · · · · · · · · · · · · · 40-80 grams/tree seedbed: Plant · · · · · · · · · · · · · · · · · · 0.8 to 4.0 grams Every square metre · · · · · · · · · · · · · · · · 2.4 to 4.0 grams Stolons plants: grapes, strawberries, etc young plant · · · · · · · · · · · · · · · · · · 2.4 4.0 g/strain Adult plant · · · · · · · · · · · · · · · · · 4 to 8 g/plant Flower gardening: lily, rose, African chrysanthemum, carnation, anthurium, sowbread, chrysanthemum, yulan, etc Every square metre · · · · · · · · · · · · · · · · · · 0.8 4 grams Used with nutrient solution drip irrigation, a 40% reduction in usage theo aminohvp

Thông tin sản phẩm

Thành phần: Fe = 13 % Tên hóa học: Ethylenediaminetetraacetic acid, ferric-sodium complex; EDTA-FeNa.3H2O Công thức phân tử: C10H12N2O8FeNa.3H2O Khối lượng phân tử: 421,1 Tính chất: Bột mịn khô, màu hơi vàng nâu, tan nhanh trong nước, cây dễ hấp thụ hiệu quả tức thì. Đặc điểm chính Davidking E-Fe-13 là một chelate kim loại tan tốt trong nước Độ hòa tan trong nước: approx.90 g / L (20oC); approx.120 g / L (30oC) Đóng gói: Trong bao 25 kg hoặc trong hộp các tông với túi polyethylene bên trong. Sử dụng: Trong nông nghiệp và rau quả cho đất hoặc các ứng dụng thức ăn trên lá. Tác dụng của Sắt đối với cây trồng: + Cần thiết cho sự tổng hợp và duy trì chất, diệp lục tố trong cây. + Là thành phần chủ yếu của nhiều enzym. + Đóng vai trò chủ yếu trong sự chuyển hóa axit nucleic, ảnh hưởng đến sự chuyển hóa RNA hoặc diệp lục tố. 130.000 đ/kg Chi tiết liên hệ: dong.nguyen@dpcc.biz – 0903865035

Tham khảo Hướng dẫn sử dụng vi lượng sắt (Fe chelate)

VAI TRÒ CỦA PHÂN BÓN VI LƯỢNG SẮT CHELATE ĐỐI VỚI CÂY

“Chelate” bắt nguồn từ chữ “chele” của Hy Lạp nghĩa là “móng vuốt”, một sự kết hợp mang tính thích ứng cao bởi vì chelate hóa là một quá trình giống như sự nắm chặt và giữ lấy cái gì đó bằng móng vuốt. Rất nhiều nguyên tố vi lượng tích điện dương dạng ion trong dung dịch, trong khi những lỗ hoặc những đường mở trên rễ và lá cây tích điện âm. Những nguyên tố này vì vậy mà không thể vào được bên trong cây bởi sự dính chặt của điện tích âm và điện tích dương; với việc thêm một chelate, những nguyên tố dạng ion sẽ được bao bọc và điện tích dương biến thành điện tích âm hoặc đẳng điện, sẽ cho phép nguyên tố đó đi qua lỗ này vào trong cây trồng một cách dễ ràng.

2. Sự hấp thu sắt ở thực vật: Rễ cây hấp thu sắt chủ yếu ở hai dạng Fe 2+ và Fe 3+, nhưng Fe 3+ thường được khử thành Fe 2+ trước khi rễ hấp thu. Dạng Fe 2+ được hấp thu và tồn tại nhiều trong cây trồng, đây là dạng tương đối hòa tan, nhưng lại dễ dàng bị oxy hóa thành Fe 3+. Cơ chế chính trong hấp thu sắt ở thực vật là rễ cây sản sinh ra các proton (H+), làm giảm pH ở vùng rễ, tăng tính hòa tan của sắt hoặc rễ cây tiết ra các hợp chất được gọi là siderophores, có khả năng “chelation” nhằm “kìm sắt” để tăng cường khả năng hấp thu sắt. Ở đất có tính kiềm, Fe 3+ không được hòa tan, vì dễ dàng kết hợp với phosphate, carbonate, magie, calcium và các hydroxid. Vì vậy, cây thường biểu hiện triệu chứng thiếu sắt ở môi trường đất kiềm và môi trường đất có chứa nhiều calcium. 3. Phân bón chứa sắt (Fe): – Sắt sulphate (FeSO 4): chứa khoảng 20% sắt (Fe 2+), thường được sử dụng chủ yếu để phun lên lá. Bón vào đất thường không mang lại hiệu quả cao, đặc biệt là ở các đất có pH trên 7.0, bởi Fe 2+ sẽ nhanh chóng biến đổi thành Fe 3+ và tạo tủa trong các oxid sắt. – Phân bón vi lượng Sắt chelate: “Chelate” là các hợp chất ổn định các ion kim loại (sắt) và bảo vệ chúng khỏi quá trình oxy hóa hoặc rửa trôi. Sắt chelates bao gồm ba thành phần: – Fe 3+. – Ion có cấu trúc phức tạp: chẳng hạn như EDTA, DTPA, EDDHA, acid amine, acid humic-fulvic, citrate. – Natri (Na+) hoặc Amoni (NH 4+). Trước kia, người ta cho sắt vào dung dịch dinh dưỡng cùng với acid salicylic, citric hay tartric. Các acid này được gọi là các “chất kìm – chelate”, có thể tạo phức hợp hòa tan với các cation như sắt và calcium. Ngày nay, người ta thường dùng EDTA để kìm Fe 3+. Ở bề mặt rễ, Fe 3+ bị khử thành Fe 2+ và rời phức hợp Fe-EDTA hòa tan. EDTA trở lại dung dịch để “kìm” Fe 3+ mới, trong khi Fe 3+ vào rễ và được giữ hòa tan nhờ các chất kìm hữu cơ trong tế bào. Dường như acid citric là chất kìm sắt quan trọng nhất của sự vận chuyển đường dài trong mô mộc. Sử dụng Fe – EDTA (Etylendiamin Tetra Acetate) dạng chelate không bị kết tủa và được giải phóng dần tùy theo nhu cầu của thực vật. Fe – EDTA thường ổn định ở mức pH dưới 6,0; nếu pH trên 6,5 thì khoảng 50% của sắt không hiệu quả. Vì vậy, Fe – EDTA thường không hiệu quả trong đất kiềm, dạng chelate này cũng có ái lực cao với calcium, vì vậy không nên sử dụng nó trong đất giàu calcium. Fe – DTPA thường ổn định ở mức độ pH lên đến 7.0 và không phải là dễ bị thay thế sắt bằng calcium. Fe – EDDHA ổn định ở các cấp độ pH cao là 11,0, nhưng đây là một dạng chelate sắt có giá rất cao và hiếm gặp trên thị trường. Trong thiên nhiên, acid humic – fulvic có vai trò chất kìm để chuyển ion vào tế bào thực vật, mà không cần sự “gỡ kìm” để phóng thích ion. Acid fulvic hình thành 4 điểm kết nối với các nguyên tố “được chelate hóa”. Nhưng khác với những chế phẩm chelate tổng hợp (EDTA, DTPA, EDDHA), acid fulvic có thể được hấp thụ vào bên trong cây trồng. Điều này, làm tăng thêm tính di động của dinh dưỡng trong cây. Những dưỡng chất “được chelate hóa” bởi acid fulvic có thể dịch chuyển tự do hơn trong những điều kiện môi trường không thuận lợi như: cố định bởi Canxi – thường xảy ra đối với những dưỡng chất có tính di động thấp. Acid fulvic duy trì hiệu lực của nó ở những điều kiện như độ pH cao hoặc thấp. Trong những điều kiện đối nghịch như vậy, những cây trồng được cung cấp acid fulvic được ghi nhận là không có biểu hiện sốc hoặc thiếu hụt dinh dưỡng… so với những cây trồng được cung cấp những chế phẩm chelate tổng hợp. Acid fulvic còn tăng cường cải thiện tính lưu động của các dưỡng chất khác nhau trong mô thực vật. Kết luận: Các chế phẩm chelate có tác dụng tăng cường tính linh động của nhiều dưỡng chất, đặc biệt là các yếu tố vi lượng, có vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, nên nhà nông cần tìm kiếm những dưỡng chất đáp ứng một dãy các hợp chất được chelate. Điều này đảm bảo chắc chắn tính “dễ tiêu” của dinh dưỡng ở nhiều điều kiện khác nhau bao gồm cả những điều kiện trên hoặc dưới ngưỡng tối ưu, gây ảnh hưởng tới sự hấp thu của các yếu tố dinh dưỡng. CN Sinh học Phan Văn LệDịch từ: www.smart-fertilizer.com

Hướng Dẫn Sản Xuất Phân Hữu Cơ Vi Sinh Từ Phân Gà Sử Dụng Chế Phẩm Vi Sinh Em Fert / 2023

I. Đặc tính cơ chất – Phân gà thải ra từ các trại chăn nuôi là dạng cơ chất rất giàu dinh dưỡng, hàm lượng đạm chiếm đến hơn 2%, độ ẩm phân gà khá cao, trung bình khoảng 70-80%. Do độ ẩm cao, phân gà rất dễ phát sinh mùi, quá trình ủ phân cần phải phơi hoặc trộn với các giá thể khác để làm giảm ẩm. – Hàm lượng hữu cơ trong phân gà cao, rất dễ gây ngộ độc hữu cơ cho cây trồng nếu chưa qua quá trình ủ hoai. – Phân gà có chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt là nhóm vi khuẩn Salmonella (vi khuẩn gây bệnh thương hàn) và E. coli gây bệnh đường ruột ở người, cần phải ủ hoai trước khi sử dụng như phân bón trong canh tác nông nghiệp.

II. Phương án sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh vật từ nguồn phân gà 1. Thành phần nguyên liệu  Thành phần nguyên liệu cho mỗi tấn phân hữu cơ vi sinh được sản xuất gồm: – Phân gà tươi: 2-3 tấn – Mạt cưa trồng nấm hoặc mạt cưa thải sau trồng nấm: 500 kg – Lân supe: 5 kg – Vôi bột 10 kg

Chế phẩm vi sinh vật hữu ích: – Chế phẩm vi sinh EM Pro-1 – Chế phẩm vi sinh EM Fert-1

2. Quy trình trộn ủ 2.1. Xử lý mạt cưa – Mạt cưa mới hoặc mạt cưa thải sau trồng nấm được trải mỏng thành lớp 20-30 cm. – Hoà vôi bột vào nước và tạt đều lên mạt cưa, độ ẩm mạt cưa không quá 40%. – Trộn đảo đều mạt cưa, gom thành đống lớn, phủ bạt và ủ trong thời gian 2 ngày. Quá trình ủ sẽ giảm thiểu và tiêu diệt các loại nấm mốc và vi khuẩn tạp, làm mềm mạt cưa và khử độc các hợp chất độc có trong mạt cưa.

2.2. Hoạt hoá chế phẩm vi sinh EM Fert-1 Cho 1 kg mật đường + 2kg bột bắp + 3kg cám gạo vào thùng chứa 100 lít sạch, sau đó cho 1kg EM Fert-1 vào trộn đều. Ủ kín trong thời gian 2 ngày để vi sinh vật và nấm hoạt hóa trở lại từ dạng bào tử.

2.3. Xử lý phân gà – Phân gà tươi thu gom từ trại trăn nuôi được thải thành lớp mỏng 10 cm. – Phun đều chế phẩm EM Pro-1 đã pha loãng với nước (theo tỉ lệ 1 chế phẩm: 20 nước) lên bề mặt lớp phân. Quá trình xử lý chế phẩm Em Pro-1 sẽ khử mùi hôi của phân và ức chế các vi sinh vật lên men thối, vi sinh vật gây bệnh. – Tiếp tục tạt đều chế phẩm EM Fert-1 lên lớp phân với liều lượng 100 lít chế phẩm EM Fert-1 đã hoạt hoá cho 2-3 tấn phân gà tươi.. Duy trì độ ẩm của phân sau khi xử lý 2 chế phẩm không quá 70%. Quá trình xử lý chế phẩm EM Fert-1 sẽ phân huỷ nhanh các thành phần hữu cơ có trong phân gà và mạt cưa, tạo dạng dinh dưỡng dễ hấp thu cho cây trồng đồng thời cung cấp một lượng lớn các vi sinh vật hữu ích cho đất, đối kháng mạnh và tiêu diệt các loại nấm khuẩn gây bệnh, đặc biệt là các loại nấm bệnh gây hại bộ rễ cây trồng.

2.4. Phối trộn nguyên liệu và ủ phân – Phân gà sau khi xử lý chế phẩm vi sinh được phối trộn ngay với mạt cưa đã ủ 2 ngày theo tỉ lệ 2 tấn phân gà: 500 kg mạt cưa. – Hỗn hợp được đảo trộn đều. Độ ẩm duy trì khoảng 60-70%. – Hỗn hợp phân gà mạt cưa được đánh thành luống lớn đề ủ. Luống phân không cần phủ bạt nếu ủ trong nhà xưởng và cần phủ bạt để tránh trời mưa khi ủ ngoài trời. – Định kỳ kiểm tra nhiệt độ trong lòng luống ủ, duy trì nhiệt độ không quá 70oC. – Sau mỗi tuần, tiến hành đảo trộn luống ủ. – Quá trình ủ phân sẽ hoàn tất sau thời gian 25-30 ngày. Phân có màu nâm sẫm, mùi thơm nhẹ, không có mùi hôi của phân gà ban đầu, độ tơi tốt. Có thể sử dụng để chế biến thành phân bón thành phẩm.

Cập nhật thông tin chi tiết về Hướng Dẫn Thực Hành Sử Dụng Phân Vi Lượng Đồng / 2023 trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!