Xu Hướng 2/2023 # Hiểu Biết Về Phân Vi Sinh Vật # Top 8 View | Duhocaustralia.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Hiểu Biết Về Phân Vi Sinh Vật # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Hiểu Biết Về Phân Vi Sinh Vật được cập nhật mới nhất trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

, Khuyến cáo,

Đó là những chế phẩm chứa các loài vi sinh vật. Bao gồm các nhóm vi sinh vật có ích như vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn được sử dụng để làm phân bón. Trong đó quan trọng là các nhóm vi sinh vật cố định đạm, hoà tan lân, phân giải chất hữu cơ, kích thích sinh trưởng cây trồng, v.v…

Để chế biến phân vi sinh vật, các loài vi sinh vật được nuôi cấy và nhân lên trong phòng thí nghiệm. Khi đạt đến nồng độ các tế bào vi sinh vật khá cao người ta trộn với các chất phụ gia rồi làm khô đóng vào bao.

Trong những năm gần đây, ở nhiều nước trên thế giới, người ta đã tổ chức sản xuất công nghiệp một số loại phân vi sinh vật và đem bán ở thị trường trong nước. Một số loại phân vi sinh vật được bán rộng rãi trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, các loại phân vi sinh vật còn rất ít và chỉ là bộ phận nhỏ so với phân hoá học trên thị trường phân bón.

Phân vi sinh vật cố định đạm. Có nhiều loài vi sinh vật có khả năng cố định N từ không khí. Đáng chú ý có các loài: tảo lam (Cyanobacterium), vi khuẩn Azotobacter, Bradyrhizobium, Rhyzobium; xạ khuẩn Actinomyces, Klebsiella.

Phần lớn các loài vi khuẩn cố định đạm thường sống cộng sinh với các cây họ đậu. Chúng xâm nhập vào rễ cây và sống cộng sinh trong đó, tạo thành các nốt sần ở rễ cây. Chúng sử dụng chất hữu cơ của cây để sinh trưởng đồng thời hút đạm từ không khí để cung cấp cho cây, một phần tích luỹ lại trong cơ thể chúng.

Tảo lam cộng sinh với bèo hoa dâu và hút đạm tích luỹ lại làm cho bèo hoa dâu có hàm lượng đạm cao, trở thành cây phân xanh rất quý.

Thời gian gần đây, cùng với những tiến bộ của khoa học và công nghệ, các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ gen để tạo ra các chủng vi sinh vật cố định đạm có nhiều đặc điểm tốt: khả năng cố định đạm cao, khả năng cộng sinh tốt. Công nghệ sinh học cũng giúp tạo ra những chủng vi sinh vật có đặc tính cạnh tranh cao với các loài vi sinh vật trong đất. Mặt khác, công nghệ sinh học đã cho phép các nhà khoa học tách được gen quy định đặc tính cố định đạm từ vi khuẩn và đem cấy vào nhân tế bào cây trồng, làm cho một số loài cây trồng cũng tạo được khả năng cố định đạm như vi khuẩn.

Loading…

Hiện nay trên thị trường phân bón nước ta, phân vi sinh vật cố định đạm được bán dưới các tên thương phẩm sau đây:

– Phân nitragin chứa vi khuẩn nốt sần cây đậu tương.

– Phân rhidafo chứa vi khuẩn nốt sần cây lạc.

– Azotobacterin chứa vi khuẩn hút đạm tự do.

– Azozin chứa vi khuẩn hút đạm từ không khí sống trong ruộng lúa. Loại phân này có thể trộn với hạt giống lúa.

Vi sinh vật hoà tan lân. Cây chỉ có thể hút được lân từ đất dưới dạng hoà tan trong dung dịch đất. Vì vậy, cây chỉ có thể hút được lân ở dạng dễ tiêu trong đất. Lân ở dạng khó tan trong đất cây không hút được. Vì vậy, có nhiều loại đất như đất đỏ bazan, đất đen, v.v.. hàm lượng lân trong đất khá cao, nhưng cây không hút được vì lân ở dưới dạng khó hoà tan.

Trong đất thường tồn tại một nhóm vi sinh vật có khả năng hoà tan lân. Nhóm vi sinh vật này được các nhà khoa học đặt tên cho là nhóm HTL (hoà tan lân, các nước nói tiếng Anh đặt tên cho nhóm này là PSM – phosphate solubilizing microorganisms).

Nhóm hoà tan lân bao gồm: Aspergillus niger, một số loài thuộc các chi vi khuẩn Pseudomonas, Bacillus, Micrococens. Nhóm vi sinh vật này dễ dàng nuôi cấy trên môi trường nhân tạo. Nhiều nơi người ta đã đưa trộn sinh khối hoặc bào tử các loại vi sinh vật hoà tan lân sau khi nuôi cấy và nhân lên trong phòng thí nghiệm, với bột phosphorit hoặc apatit rồi bón cho cây. Sử dụng các chế phẩm vi sinh vật HTL đem lại hiệu quả cao ở những vùng đất cây bị thiếu lân.

Một số loài vi sinh vật sống cộng sinh trên rễ cây có khả năng hút lân để cung cấp cho cây. Trong số này, đáng kể là loài VA mycorrhiza. Loài này có thể hoà tan phosphat sắt trong đất để cung cấp lân cho cây. Ngoài ra loài này còn có khả năng huy động các nguyên tố Cu, Zn, Fe… cho cây trồng. Nhiều nơi người ta sử dụng VA mycorrhiza đã làm tăng năng suất cam, chanh, táo, cà phê… Nuôi cấy VA mycorrhiza trên môi trường nhân tạo rất khó. Vì vậy hiện nay các chế phẩm có chưa VA mycorrhiza chỉ có bán rất hạn chế trên thị trường phân bón Mỹ.

Những năm gần đây, trên thị trường phân bón ở một số nước có bán chế phẩm Phospho – bacterin trong có chứa vi khuẩn giải phóng lân dễ tiêu từ các chất hữu cơ.

Vi sinh vật kích thích tăng trưởng cây. Gồm một nhóm nhiều loài vi sinh vật khác nhau, trong đó có vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn, v.v.. Nhóm này được các nhà khoa học phân lập ra từ tập đoàn vi sinh vật đất.

Người ta sử dụng những chế phẩm gồm tập đoàn vi sinh vật được chọn lọc để phun lên cây hoặc bón vào đất làm cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, ít sâu bệnh, tăng năng suất. Chế phẩm này còn làm tăng khả năng nảy mầm của hạt, tăng trọng lượng hạt, thúc đẩy bộ rễ cây phát triển mạnh. Như vậy, chế phẩm này có tác động tương đối tổng hợp lên cây trồng.

Để sản xuất chế phẩm vi sinh vật kích thích tăng trưởng của cây, người ta sử dụng công nghệ lên men vi sinh vật. Ở các nước phát triển người ta sử dụng các thiết bị lên men tự động, công suất lớn. Ở nước ta, đã dùng kỹ thuật lên men trên môi trường bán rắn để sản xuất chế phẩm này, bước đầu cho kết quả khá tốt.

Những năm gần đây ở nước ta đang tiến hành khảo nghiệm chế phẩm EM của giáo sư người Nhật Teruo Higa. Chế phẩm này được đặt tên là vi sinh vật hữu hiệu (Effective microorganisms – EM). Đây là chế phẩm trộn lẫn một nhóm các loài vi sinh vật có ích trong đó có vi khuẩn axitlactic, một số nấm men, một số xạ khuẩn, vi khuẩn quang hợp, v.v.. Tại hội nghị đánh giá kết quả sử dụng EM tại Thái Lan tháng 11/1989, các nhà khoa học đã đánh giá tác dụng tốt của EM như sau:

– Cải tạo lý hoá tính và đặc tính sinh học của đất.

– Làm giảm mầm mống sâu bệnh trong đất.

– Tăng hiệu quả của phân bón hữu cơ.

– Cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao, phẩm chất nông sản tốt.

– Hạn chế sâu bệnh hại cây trồng.

– Góp phần làm sạch môi trường.

Chế phẩm EM còn được sử dụng trong chăn nuôi. Cho gia súc ăn, EM làm tăng hệ vi sinh vật trong đường ruột, làm tăng sức khoẻ, giảm mùi hôi của phân.

EM còn được dùng để làm sạch môi trường nước nuôi thuỷ sản.

Một số điểm cần chú ý khi sử dụng phân vi sinh vật :

Phân vi sinh vật sản xuất ở nước ta thường có dạng bột màu nâu, đen, vì phần lớn các nơi sản xuất đã dùng than bùn làm chất độn, chất mang vi khuẩn.

Phân vi sinh vật sản xuất trong nước thường được sử dụng bằng cách trộn với các hạt giống đã được vảy nước để ẩm hạt trước khi gieo 10 – 20 phút. Nồng độ sử dụng là 100 kg hạt giống trộn với 1 kg phân vi sinh vật.

Các chế phẩm vi sinh vật sản xuất trong nước thường không cất giữ được lâu. Thường sau từ 1 đến 6 tháng hoạt tính của các vi sinh vật trong chế phẩm giảm mạnh. Vì vậy, khi sử dụng cần xem kỹ ngày sản xuất và thời gian sử dụng được ghi trên bao bì.

Chế phẩm vi sinh vật là một vật liệu sống, vì vậy nếu cất giữ trong điều kiện nhiệt độ cao hơn 30oC hoặc ở nơi có ánh nắng trực tiếp chiếu vào, thì một số vi sinh vật bị chết. Do đó hiệu quả của chế phẩm bị giảm sút. Cần cất giữ phân vi sinh vật ở nơi mát và không bị ánh nắng chiếu vào.

Phân vi sinh vật thường chỉ phát huy tác dụng trong những điều kiện đất đai và khí hậu thích hợp. Thường chúng phát huy tốt ở các chân đất cao, đối với các loại cây trồng cạn.

Lưu ý : Bài viết được đăng trên chúng tôi từ năm 2012 nên có những vấn đề không còn phù hợp. Cộng đồng tham khảo để góp phần nâng cao hiểu biết về các loại phân vi sinh vật.

Theo Cục Trồng Trọt

Cẩm Nang Cây Trồng: Giới Thiệu Về Phân Vi Sinh Vật

1. Những khái niệm về phân vi sinh vật

1.1. Khái niệm

– Trong đất, đặc biệt ở vùng rễ cây trồng thường có rất nhiều VSV hoạt động, có khả năng ảnh hưởng tốt đến cây trồng. Để tăng cường số lượng và hoạt động của VSV có lợi cho cây, có thể đưa vào đất các sản phẩm chứa các VSV có ích. Các sản phẩm này còn được gọi là phân VSV.

– Khái niệm: Phân vi sinh vật là chế phẩm có chứa một hoặc nhiều chủng vi sinh vật sống có ích đã được tuyển chọn, có hoạt lực cao, có mật độ đạt theo tiêu chuẩn quy định và không có khả năng  gây hại nhằm cải tạo đất và cung cấp các chất dinh dưỡng dễ tiêu từ quá trình cố định đạm hay phân hủy các chất khó tiêu thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản.

– Thành phần của vi sinh vật gồm có: vi sinh vật có ích được tuyển chọn, chất mang và các vi sinh vật phức tạp.

+ Vi sinh vật được tuyển chọn: Là các vi sinh vật được nghiên cứu, đánh giá hoạt tính sinh học và hiệu quả đối với đất, cây trồng dùng để sản xuất phân vi sinh vật.

+ Chất mang: là chất để vi sinh vật được cấy vào đó mà tồn tại phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển, bảo quản, sử dụng.

– Chất mang không chứa chất có hại cho VSV, người, thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản. Các dạng chất mang vô cơ (bột phosphorrit, apatit, bột xương, vỏ sò), chất mang hữu cơ (than bùn, bã nấm, phế thải nông nghiệp, rác thải,…).

+ Vi sinh vật tạp: (có thể có trong phân) là vi sinh vật nhưng không thuộc loại vi sinh vật đã được tuyển chọn.

1.2. Phân loại phân vi sinh vật

* Phân loại phân vi sinh vật

– Tùy thuộc vào chất mang và mật độ VSV hữu ích, các phân VSV được chia thành 2 nhóm:

+ Nhóm phân với chất mang thanh trùng: có mật độ vi sinh vật hữu ích cao (không thấp hơn 109 tế bào/gam (ml) phân), có VSV tạp nhưng thấp (không lớn hơn 106 tế bào/gam (ml) phân.

+ Nhóm phân với chất mang không thanh trùng: có mật độ vi sinh vật hữu ích thấp hơn (106 – 107 tế bào/gam phân), vi sinh vật tạp khá cao, có phần hiệu quả của VSV không nhiều nên thường được xem như là phân hỗn hợp hữu cơ – vô cơ có chứa VSV. Thường dùng để thay thế một phần phân hữu cơ và hóa học.

* Phân loại phân vi sinh vật theo chức năng sử dụng

– Căn cứ trên chức năng sử dụng có thể phân các phân vi sinh vật thành các loại:

+ Phân vi sinh vật cố định N: Là sản phẩm chứa 1 hay nhiều chủng VSV sống, đã được tuyển chọn đạt tiêu chuẩn quy định, có khả năng cố định nito từ không khí cho đất, và cây trồng sử dụng.

Các chủng VSV này có thể sống cộng sinh với cây họ đậu, sống tự do hay sống hội sinh với cây hòa thảo. VD: Nitrazin – phân VSV cố định Nito, cộng sinh với cây họ đậu, Azotobecterin – phân VSV cố định N sống tự do.

+ Phân VSV phân giải lân khó tiêu (Phosphobacterin): có khả năng chuyển hóa hợp chất phospho khó tan thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng.

+ Phân VSV phân giải xenlulo: là sản phẩm chứa 1 hay nhiều chủng VSV sống đã được tuyển chọn có mật độ tế bào đạt tiêu chuẩn, có khả năng phân giải xenlulo, để nâng cao năng suất và chất lượng nông sản, tăng độ màu mỡ của đất.

2. Tính chất của phân VSV

– Là chế phẩm của các VSV của các VSV sống hữu ích, có hoạt lực và khả năng cạnh tranh cao. Sau khi bón phân VSV, người ta thường thấy mật độ VSV hữu ích này tăng lên rõ rệt, rồi giảm dần và ổn định trong quá trình cây trồng phát triển, đến sau thu hoạch mật độ của các chuẩn VSV này giảm mạnh nên phải bón phân VSV vào các vụ trồng tiết theo.

– Thời gian sống của các VSV trong chế phẩm có vai trò rất quan trọng, nó phụ thuộc vào đặc tính của mỗi chủng VSV, thành phần và điều kiện nơi chúng cư trú (chất mang). Đa số phân VSV ở Việt Nam có thời gian bảo quản 6 – 12 tháng, trên thế giới nhiều loại phân VSV có thời gian bảo quản từ 12 – 24 tháng.

– Trong các điều kiện thuận lợi (đủ chất dinh dưỡng, pH thích hợp, CO2, nhiệt độ môi trường tối ưu) VSV sẽ phát triển cực kỳ nhanh chóng với hệ số nhân đôi có thể chỉ sau 2 – 3 h.

– Mỗi loại phân VSV chỉ thích hợp với 1 đối tượng cây trồng, đất đai củ thể – chuyên tính. Đồng thời giữa các chủng VSV cũng có mối quan hệ khá chặt chẽ với nhau. Vd: bổ sung vi khuẩn phân giải lân vào chế phẩm Azospirillum sẽ làm tăng hoạt tính cố định N của Azospirillum. Vậy để cho phân VSV được sử dụng rộng rãi, người ta thường chọn các chủng VSV có khả năng thích nghi rộng hoặc dùng nhiều chủng trong một loại phân.

– Ngoài việc cung cấp các chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng, cải thiện môi trường đất. Phân VSV còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học.

Vd: mem, chất kích thích  sinh trưởng, kháng sinh có ảnh hưởng đến sự chuyển hóa vật chất trong cây.

3. Kỹ thuật sử dụng phân VSV

3.1. Yêu cầu về chất lượng sản phẩm

– Phân VSV là 1 loại sản phẩm sinh học chứa các cơ thể sống. Phẩm chất của sản phẩm được đánh giá ở 2 thời điểm: Khi xuất xưởng và cuối thời kỳ bảo hành. Các loại phân VSV thường rất khó bảo quản lâu dài, vì vậy phải quy định thời gian bảo quản và phải được ghi rõ ràng.

– Chỉ tiêu đánh giá phân VSV thường là mật độ vi sinh vật và chất mang. Mật độ VSV được quy định, chất mang tùy thuộc nhà sản xuất nhưng phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền. Phân không được có các loại vi khuẩn có thể gây bệnh và không có khả năng gây độc.

– Chất lượng của phân bón trước hết thể hiện ở hiệu quả tăng năng suất và phẩm chất nông sản. Hiệu quả của phân bón thường thay đổi theo cây và điều kiện thổ nhưỡng. Một loại phân được phép lưu hành trên thị trường cần được thí nghiệm rộng rãi, các kết quả nghiên cứu được xác nhận cần được trình các hội đồng có thẩm quyển.

– Phân VSV phải có nhãn ghi đầy đủ với các nội dung: Tên cơ sở sản xuất, tên sản phẩm, vi sinh vật sử dụng, thành phần chất mang, độ ẩm, công dụng, ngày sản xuất và thời gian bảo hành, khối lượng tịnh, số đăng ký chất lượng, có hướng dẫn sử dụng kèm theo.

3.2. Yêu cầu về kỹ thuật sử dụng

– Các loại phân VSV cần được sử dụng đúng cách, tuân thủ đúng hướng dẫn sử dụng được ghi trên bao bì.

– Khi bảo quản phân VSV không để lẫn với hóa chất bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ), phân hóa học. Không để nơi quá ẩm và quá nóng, dưới ánh sáng mặt trời gay gắt.

– Khi sử dụng phân VSV thường trộn lẫn với hạt giống để gieo hoặc bón theo hàng theo hốc cùng phân hữu cơ.

– Đối với phân VSV có chất mang không thanh trùng, và mật độ VSV hữu ích thấp, VSV tạp khá cao, thường sử dụng để thanh thế một phần phân hữu cơ, và hóa học với lượng bón từ 100 – 1000 kg/ha.

– Đối với phân VSV có chất mang thanh trùng và mật độ VSV hữu ích cao thì người ta sử dụng nhóm phân VSV này chủ yếu là để nhiễm VSV cho đất nhằm cải thiện hệ VSV cho đất. Số lượng phân được đưa vào đất không nhiều (300 – 3000g/ha) Vd: Phân VSV cố định Nito cộng sinh – Nitragin.

Nguồn: admin

Những Hiểu Biết Cơ Bản Về Thuốc Bảo Vệ Thực Vật

Những hiểu biết cơ bản về thuốc bảo vệ thực vật

Ảnh: Thuốc bảo vệ thực vật

Thuốc bảo vệ thực vật là các loại hoá chất do con người sản xuất ra để diệt trừ sâu bệnh và cỏ dại có hại cho cây trồng. Thuốc bảo vệ thực vật được phân thành hai loại chính là: thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ. Bên cạnh ưu điểm là diệt sâu bệnh, cỏ dại nhanh, sử dụng lại đơn giản thì thuốc bảo vệ thực vật cũng có rất nhiều tác hại, đó là:

– Khó khăn trong quá trình sử dụng:

    Trong tự nhiên, có rất nhiều loại sâu hại khác nhau, có loại sâu ẩn núp dưới lá (như sâu vẽ bùa, sâu xanh, nhện đỏ, rệp sáp…), có loại đục vào thân cây (như sâu đục thân), có loại lại chui vào đất, có loại chui vào quả,… nên phải dùng nhiều loại thuốc khác nhau để tiêu diệt chúng. Việc này gây khó khăn cho người sử dụng, nhất là những người nông dân có trình độ văn hoá thấp. Nhiều người chỉ thích mua thuốc rẻ để phun, không cần biết phạm vi tác dụng của chúng ra sao. Có người hay phun quá liều chỉ dẫn để cho “chắc ăn”, làm tăng lượng thuốc thừa tích đọng trong đất và nước.

– Diệt trừ cả thiên địch, côn trùn có ích (là các loài chim bắt sâu, ong,…).

    Các loại thuốc trừ sâu thường có tính năng, phổ tác dụng rộng, nghĩa là có thể diệt được nhiều loại côn trùng, từ các loại sâu ăn lá, rệp sáp đến các loại sâu đục thân, đục quả… Khi bà con dùng thuốc diệt sâu hại, một số côn trùng có ích cũng bị diệt luôn, đồng thời ảnh hưởng tới các loại chim ăn sâu, vì chim ăn phải sâu đã trúng độc. Như vậy đồng nghĩa với việc là số lượng thiên địch của nhiều loại sâu cũng giảm. Do đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sâu hại.

– Độ độc cao

   Các loại thuốc trừ sâu đều có độc tính cao. Trong quá trình dùng thuốc, một lượng thuốc nào đó có thể đi vào trong thân cây, quả, hoặc dính bám chặt trên lá, quả. Người và động vật ăn phải các loại nông sản này có thể bị ngộ độc tức thời đến chết, hoặc nhiễm độc nhẹ, từ từ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ. Do trình độ hạn chế, một số nông dân không tuân thủ đầy đủ các quy định về sử dụng, bảo quản thuốc trừ sâu, có người cất thuốc vào chạn bát, vào tủ quần áo, nên đã gây nên những trường hợp ngộ độc, thậm chí chết thảm thương do ăn nhầm, sử dụng nhầm phải thuốc. Một số loại thuốc trừ sâu có khả năng bay hơi mạnh nên gây khó chịu, mệt mỏi, thậm chí choáng ngất cho người trực tiếp phun thuốc sâu trên đồng ruộng, nhất là trong trường hợp không có các biện pháp phòng tránh tốt. Việc dùng thuốc trừ sâu liên tục sẽ sinh chứng nhờn thuốc. Vì thế mỗi loại thuốc trừ sâu chỉ có tác dụng mạnh một số năm đầu sử dụng. Ðể hạn chế bệnh nhờn thuốc, tăng khả năng diệt trừ sâu người ta thường tăng dần nồng độ thuốc, tăng số lần dùng thuốc. Tuy nhiên biện pháp này không lâu dài do không thể tăng mãi nồng độ được. Mặt khác, nó làm ô nhiễm môi trường mạnh hơn, do lượng tồn dư trong môi trường nhiều lên.

– Khó phân hủy

   Một số loại thuốc trừ sâu có tính năng hoá học ổn định, khó phân huỷ, nên sẽ tích luỹ trong môi trường. Sau nhiều lần sử dụng lượng tích luỹ này có thể cao đến mức gây độc cho môi trường đất, nước, không khí và con người. Do thuốc tồn đọng lâu không phân huỷ, nên có thể theo nước và gió phát tán tới các vùng khác, theo các loài sinh vật đi khắp mọi nơi. Thuốc diệt cỏ được dùng ở mức ít hơn. Tuy nhiên do có tính độc, chúng cũng gây nên những tác hại tới môi trường giống như thuốc trừ sâu.

    Nói tóm lại, thuốc trừ sâu, diệt cỏ không chỉ có tác dụng tích cực bảo vệ mùa màng, mà còn gây nên nhiều hệ quả môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng tới hệ sinh thái động thực vật và con người. Do vậy cần phải thận trọng khi dùng thuốc và phải dùng đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng và nồng đô, đúng cách theo chỉ dẫn của cán bộ kỹ thuật sau đây:

1. Dùng đúng thuốc:

   Chọn đúng loại thuốc có trong danh mục thuốc BVTV nhằm đạt hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao đối với loại dịch hại cần phòng trừ. Cùng một đối tượng nhưng có nhiều loại thuốc có thể diệt được, vì thế nên thường xuyên thay đổi thuốc nhằm tránh khả năng kháng của sinh vật gây hại. Ngoài ra thuốc phải an toàn cho cây trồng, nông sản, ít ảnh hưởng đến sinh vật có ích, môi trường, con người và vật nuôi.

 2. Dùng đúng lúc:

    Dùng thuốc khi dịch hại mới phát sinh hoặc ở ngưỡng gây hại cần phòng trừ và ở các giai đoạn phát triển dễ mẫn cảm với thuốc thì hiệu quả diệt trừ cao, chi phí lại giảm. Ví dụ như với cỏ dại và sâu non tuổi càng nhỏ thì hiệu quả của thuốc càng cao. Không phun thuốc trong các trường hợp như: khi trời nắng gắt, trời sắp mưa hoặc ngay sau khi mưa, cây cối hoa đang nở rộ, lúa đang trổ bông… Nếu cần thiết thì phun vào sáng sớm hoặc chiều mát sẽ có tác dụng tốt nhất. Đối với thuốc lưu dẫn nên phun vào buối sáng sẽ có hiệu quả cao hơn phun vào buổi chiều. Phải tuyệt đối đảm bảo thời gian cách ly (bao nhiêu ngày) cho từng loại thuốc  trên từng loại cây trồng, không phun thuốc gần ngày thu hoạch.

    Đối với những loại thuốc trừ bệnh có tác dụng phòng là chính, khi dùng thuốc vào lúc bệnh còn chớm phát thì đạt hiệu quả phòng trừ cao, nếu dùng thuốc khi bệnh đã phát thành dịch thì hiệu quả sẽ thấp.

 3. Dùng đúng liều lượng và nồng độ:

    Cần theo đúng chỉ dẫn của nhãn thuốc về liều lượng, cách pha thuốc, lượng nước. Đảm bảo đúng liều lượng thuốc cần pha cho một bình phun và số bình phun trên một đơn vị diện tích. Nếu dùng thuốc với liều lượng cao hơn khuyến cáo thì làm gia tăng nguy cơ bị ngộ độc cho người phun, sử dụng nông sản và môi trường sống xung quanh. Ngoài ra còn có nguy cơ cây trồng bị ngộ độc, tăng tính kháng thuốc của sinh vật gây hại và tăng chi phí đầu tư.

 4. Dùng đúng cách:

    Phun, rải thuốc chú ý vào chỗ dịch hại thường tập trung nhiều. Ví dụ rầy nâu thường chúi dưới gốc lúa nên khi phun cần phải gạt gốc lúa và vòi phun cần chúc thẳng xuống mặt đất, trước khi phun cần cho nước vào ruộng cao để rầy bò lên phía trên sẽ dễ dính thuốc. Bệnh hại hay xuất hiện chỗ bón thừa phân, lá tươi tốt; cỏ dại có nhiều nơi chỗ gò cao, thiếu nước. Thuốc hạt thì trộn với phụ gia (phân bón, tro, cát) để rải, thuốc nhũ dầu, thuốc dung dịch thì phải pha với nước để phun. Cùng một liều lượng thuốc, pha nhiều nước để phun sẽ đạt hiệu quả cao hơn pha ít nước, ít ảnh hưởng cho người và cây trồng. Lượng nước phun cần ướt đều, trung bình cần 320 – 480 lít nước/ha. Dùng nước trong để pha thuốc, nước đục bùn sẽ làm giảm hiệu quả của thuốc. Tùy vào đặc tính của từng sinh vật gây hại mà chọn vòi phun, hướng phun cho thích hợp.

(*) Kinh nghiệm:

– Thuốc trừ sâu có nhiều loại, có nguồn gốc khác nhau. Đa phần là thuốc có nguồn gốc hóa học, còn lại là sinh học. Do thuốc có nguồn gốc hóa học có độ độc cao nên trồng trong quy mô gia đình (trên tầng thượng, ban công) nên chỉ dùng các loại dầu khoáng, thuốc trừ sâu gốc sinh học và dùng sớm phòng trừ khi cây, rau có dấu hiệu bị bệnh để đạt hiệu quả cao nhất.

– Cần hiểu biết rau an toàn là gì? Nên đọc tiêu chuẩn vietgap để biết trồng rau an toàn như thế nào. Không phải cứ rau an toàn là không phun thuốc, sử dụng thuốc BVTV mà là sử dụng hợp lý theo các khuyến cáo đã nêu ở trên.

Những Điều Cần Biết Về Thủ Tục Nhập Khẩu Phân Bón Vi Sinh

Phân bón là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu của cây trồng. Nếu thiếu phân bón cây không thể sinh trưởng và phát triển tốt được, làm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của cây. Vì vậy, bà con cần tìm hiểu thật kỹ các bước trong thủ tục nhập khẩu phân bón vi sinh nếu đang có ý định kinh doanh mặt hàng này.

Không phải tự nhiên mà các cụ ngày xưa hay nhắc đến cụm từ “phân tươi, phân thiên nhiên” hay còn gọi là “phân chuồng”.

Manure là nghĩa của từ phân bón trong tiếng anh. Là thứ phân chủ lực của người Bắc, loại phân bón có chứa một mùi rất đặc trưng mà những phân bón khác không thể có được. Phân này thân thiện với môi trường và thường được người dân miền Bắc sử dụng trong nông nghiệp được gọi là “Phân Bắc”, “phân chuồng” là cách gọi của người miền Nam.

Thủ tục nhập khẩu phân bón vi sinh

Thực hiện theo quy định tại Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính “quy định thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”. Mà trong đó, hồ sơ hải quan được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 16 của Thông tư.

Các sản phẩm phải xin giấy phép

– Nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất phân bón vi sinh hoặc nhập khẩu phân bón trong các trường hợp đặc biệt khác phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

+ Đơn đăng ký nhập khẩu phân bón (Biểu mẫu số 02).

+ Tài liệu về đặc tính loại phân bón khảo nghiệm:

Tên thương mại và các tên khác;

Loại phân bón (phân bón lá, bón rễ);

Tên hãng hoặc tên công ty hoặc nước sản xuất;

Đặc điểm: dạng (lỏng, viên, bột), mầu sắc.

Phân bón lá: các yếu tố đa dạng, trung lượng, vi lượng, chất hữu cơ, chất mang và chất điều hòa sinh trưởng;

Phân hữu cơ sinh học: hàm lượng chất hữu cơ, các hoạt chất sinh học, độ ẩm, pHKCL, các chất dinh dưỡng khác;

Phân hữu cơ khoáng: hàm lượng chất hữu cơ, các yếu tố đa lượng, trung lượng, vi lượng, độ ẩm;

Phân vi sinh vật: chủng và mật độ vi sinh vật có ích, độ ẩm;

Phân hữu cơ vi sinh: chất hữu cơ, chủng và mật độ vi sinh vật có ích, độ ẩm;

Phân bón có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng: thành phần, hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng của nền phân cơ bản và chất điều hòa sinh trưởng được phép sử dụng;

Chế phẩm cải tạo đất: thành phần và hàm lượng từng yếu tô có trong chế phẩm.

+ Tài liệu về độc tính của phân bón: những loại phân bón sản xuất từ rác thải công nghiệp, rác thải đô thị và những loại khác có chứa các yếu tố độc hại phải phân tích hàm lượng kim loại nặng: Pb, Hg, Cd, As; mật độ vi sinh vật gây bệnh (E. Coli)…

+ Với phân nhập khẩu: tên hãng hoặc tên công ty và nước sản xuất, các tài liệu cho phép sản xuất kinh doanh và hướng dẫn sử dụng ở nước ngoài, ngoài ra còn có nhãn phân bón.

+ Với phân bón sản xuất trong nước: quy trình công nghệ và tác giả của quy trình đó; kết quả khảo nghiệm sơ bộ và hướng dẫn sử dụng của cơ sở sản xuất loại phân bón đó.

+ Chỉ rõ nguồn gốc và thành phần nguyên liệu chủ yếu được sử dụng làm phân bón.

– Những tổ chức, cá nhân được phép xuất khẩu phân bón theo yêu cầu của khách hàng.

– Phân bón lưu hành trên thị trường phải có nhãn hàng phù hợp với các quy định hiện hành.

– Đơn vị kinh doanh phân bón trên thị trường buộc phải có giấy đăng ký kinh doanh mặt hàng phân bón do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

– Phải tuân thủ các thủ tục về Đại lý quy định trong Luật Thương mại.

Trường hợp nhập khẩu không cần giấy phép

– Phân bón có tên trong Danh sách phân bón đã công bố hợp quy do Bộ NN&PTNN và Bộ Công thương công bố.

Muốn xác định được mức thuế nhập khẩu của một mặt hàng cần căn cứ trên mã số hàng hóa của mặt hàng đó. Việc xác định mã số HS và thuế suất của một mặt hàng nào đó thì phải căn cứ dựa trên thành phần cấu tạo, cách miêu tả hàng hóa và thực tế của loại hàng hóa đó.

Việc xác minh mã HS chi tiết theo đúng quy định phù hợp với thực tế hàng hóa, đòi hỏi bạn phải đọc và tìm hiểu kỹ lưỡng những tính chất, cấu tạo cũng như quy tắc phân loại hàng hóa, cách phân tích để phân loại, để kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm với với loại hình nhập khẩu, xuất khẩu.

Cập nhật thông tin chi tiết về Hiểu Biết Về Phân Vi Sinh Vật trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!