Xu Hướng 2/2024 # Cổng Thông Tin Điện Tử Trung Tâm Khuyến Nông Quảng Nam # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Cổng Điện Tử Trung Tâm Khuyến Nông Quảng Nam được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bởi vì trong canh tác còn bộc lộ những hạn chế là: Mật độ trồng chưa hợp lý; lựa chọn đối tượng cây trồng xen và thời điểm trồng xen chưa hợp lý; nguồn giống đưa vào sản xuất chưa qua lựa chọn để hạn chế bệnh hại; không tỉa chồi và định vị cây trong canh tác để hạn chế cạnh tranh dinh dưỡng.

Việc sử dụng cây giống nuôi cấy mô sạch bệnh và áp dụng kỹ thuật trồng và chăm sóc hợp lý sẽ góp phần hạn chế sự lây lan các bệnh trên cây trồng, rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây, nâng cao năng suất. Góp phần tăng thu nhập, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho người sản xuất. Khai thác triệt để tiềm năng thế mạnh về tự nhiên ở vùng nông thôn, miền núi nhằm tạo ra sản phẩm chuối mốc có giá trị kinh tế cao, phát triển bền vững hoạt động sinh kế nghề trồng chuối, làm giàu cho gia đình và cộng đồng sớm hoàn thành tiêu chí về thu nhập trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới của tỉnh.

I. ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH 1. Nhiệt độ thích hợp: 25 – 35 0 C.

2. Ẩm độ: 50 – 90%

1. Đất trồng: Đất đồi, nương rẫy, đất phù sa…thích hợp nhất là đất có nhiều mùn, dễ tiêu thoát nước. Đất có pH thích hợp từ 5,5 – 7.

2. Hàng trồng: Được bố trí theo hướng Đông – Tây để các cây trồng trên hàng tận dụng được nhiều ánh sánh hơn. Cây trồng trên các hàng kề nhau được bố trí theo hình nanh sấu.

3. Hố trồng: Hố trồng có kích thước 40 x 40 x 40 cm, trộn lớp đất mặt với 5-7 kg phân hữu cơ + 0,5 kg lân + 10 g Furadan 3H.

4. Cây giống: Cây chuối cấy mô: Cao khoảng 20 – 25cm, có từ 3 – 5 lá.

5. Thời vụ trồng: Trồng quanh năm

III. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Mật độ trồng:

– Mật độ trồng 2.000 cây/ha: Cây cách cây 2m, hàng cách hàng 2,5m.

2. Cách trồng:

– Đặt cây con thấp hơn hố trồng từ 5 – 10 cm, sau đó lấp đất đầy hố trồng. Trồng cây vào sáng sớm hoặc chiều mát. Tưới đủ nước cho cây sau khi trồng. Nếu trồng vào mùa nắng dùng rơm rạ phủ gốc để giữ ẩm cho cây.

3. Tưới nước

– Mùa nắng ở giai đoạn cây con cần tưới 2 ngày/lần, cây trưởng thành 2 lần/tuần.

– Mùa mưa: Cần có biện pháp thoát nước tốt, tránh ngập úng vườn.

4. Bón phân

– Bón lót: Mỗi hố cần bón bổ sung 5-7 kg phân hữu cơ + 0,5 kg lân.

– Bón thúc: 300g Urê + 300g Kali/cây/vụ.

*/ Lượng phân này chia ra bón trong 6 lần như sau:

– Lần 1: 10- 20 ngày sau khi trồng 10g Urê/cây.

– Lần 2: 30 ngày sau khi trồng 10 g Urê + 10 g Kali/cây.

– Lần 3: ngày sau khi trồng 40 g Urê + 50 g Kali/cây.

– Lần 4: 120 ngày sau khi trồng 90 g Urê + 70g Kali/cây.

– Lần 5: 180 ngày sau khi trồng 100 g Urê + 70 g Kali/hố.

– Lần 6: Trước khi trổ buồng (khi cây ra lá non) 50 g Urê + 100 g Kali/hố.

– Cách bón: Xới rãnh nông theo vòng tròn cách gốc 25 – 30 cm, rải phân, lấp đất và tưới giữ ẩm. Sau khi mưa, có thể rải đều xung quanh gốc.

5. Chăm sóc

– Tỉa chồi: Thường xuyên tỉa chồi: Trên mỗi cây mẹ chỉ nên để 2 chồi con, có thời gian cách nhau bốn tháng, nên chọn chồi ở xa gốc cây mẹ và tránh vị trí dưới buồng chuối. Chọn tuổi chuồi so le sao cho 1 năm được thu hoạch từ 2 buồng trở lên.

– Bẻ bắp và chống quày: Sau khi xuất hiện 1-2 nải trung tính, tiến hành bẻ bắp. Nên bẻ bắp vào buổi trưa để hạn chế sự mất nhựa. Dùng cây chống quày tránh đỗ ngã.

– Thường xuyên cắt bỏ lá úa vàng.

– Đốn bỏ cây mẹ đã thu buồng, đào bỏ củ, cắt bỏ lá khô, sâu bệnh, bẹ khô và chuyển ra khỏi vườn.

6. Phòng trị sâu bệnh hại

Chuối trồng ở đất cát thường bị tuyến trùng gây hại làm thối toàn bộ tuyến rễ. Nên trị bằng phương pháp sau: Bơm NB.C.P(Nemagan) 30 – 35ml một hoặc hai lần/ năm

Trồng chuối trên đất nhiều mùn nhưng không sít quá hoặc cát quá thì có thể trồng luân canh với lúa

Sâu đẻ trứng vào gốc chuối, trứng nở thành sâu đục vào củ chuối và lan lên thân giả. Sâu làm cây chuối chậm phát triển

Phòng trừ: Trước khi đem trồng nên ngâm củ chuối vào nước nóng 60 – 65 0 C hoặc nước có pha loãng thuốc trừ sâu trong khoảng 10 – 15 phút.

Dùng các khúc chuối dài 30 – 50cm đặt áp vào mặt đất để ban đêm nhử sâu lên ăn chuối.

Rắc một trong những loại thuốc sâu quanh gốc chuối vào cuối mùa mưa: BAM 5H; Padan 4H; Basudin 10H

Bọ vẽ quả gặm nhấm, ăn chất xanh của dọt chuối và vỏ trái non. Để phòng ngừa nên vệ sinh vườn sạch sẽ, thông thoáng. Khi xuất hiện bọ dùng Metinparation 0,01% để phun.

Cây chuối bị bệnh sẽ vàng, thân lùn đi, trên sống lá có những vạch màu xanh đậm dài 5cm. Để phòng bệnh tốt nhất nên chọn lựa kỹ cây giống khi trồng, nếu cây bị nhiễm bệnh phải đánh cả gốc cây đem đốt sạch, phun phòng bệnh bằng một trong cách loại thuốc sau: Methy parathion 50ND, Sumithion 50 ND, Bam 50ND,

Lá có những vết xám ở giữa những vết vàng xung quanh. Để phòng trừ cần phun một trong những loại thuốc sau:

Hỗn hợp phèn xanh và vôi; Kasuran BTN; Zincopper; Oxyt clorua đồng.

Bám trên lá cắn, nát lá. Nếu không phát hiện sớm chúng sẽ ăn hết lá, lá ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây. Dùng Vofatox 0,1% để phun lên tàu lá.

*/ Bệnh cổ đỏ:

Khi ta thấy cổ cây chuối chớm đỏ, ta dùng thuốc trừ sâu Tilt super 300 EC phun theo hướng dẫn sử dụng của thuốc ở ngoài bao bì.

Cổng Thông Tin Điện Tử Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Quảng Nam

CÂY SÂM NGỌC LINH (Panax vietnamensis Ha et Grushv) DƯỚI TÁN RỪNG (Ban hành kèm theo Quyết định số 333/QĐ-SNN&PTNT ngày 29 tháng 6 năm 2024 của Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Nam)TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

Sâm Ngọc Linh ( Panax vietnamensis Ha et Grushv) là loại sâm quý thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae), còn gọi là Sâm Việt Nam, Sâm Khu 5 (K5), củ Ngải rọm con, hay cây Thuốc giấu…; được tìm thấy tại vùng núi Ngọc Linh thuộc huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam và 2 huyện Đăk Glei, Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum.Phần thân rễ của cây Sâm Ngọc Linh chứa 52 hợp chất saponin, trong đó có 26 hợp chất saponin không có trong các loại sâm khác.

Tại Quảng Nam, Sâm Ngọc Linh được gây trồng chủ yếu vùng núi Ngọc Linh thuộc xã Trà Linh, Trà Nam, huyện Nam Trà My và diện tích Sâm trồng có triển vọng mở rộng trong thời gian đến.

Trong tự nhiên, Sâm Ngọc Linh là loài đặc hữu hẹp, phân bố trong vùng xuất xứ núi Ngọc Linh.Gây trồng thích hợp trong các điều kiện đặc trưng của vùng xuất xứ, như sau:

– Nhiệt độ thích hợp trung bình trong năm dao động từ 14,0 – 18,0 0C (thấp nhất 8 – 11 0C, cao nhất 20 – 25 0 C);

– Độ ẩm trung bình từ 85 – 90%;

2. Đất đai, tài nguyên và địa hình

– Lượng mưa trung bình từ 2.800 – 3.400 mm/năm và có lượng mưa khá trong các tháng mùa khô (từ tháng 3-7).

III. CHUẨN BỊ GIỐNG, ƯƠM CÂY CON

– Độ cao so với mực nước biển từ 1.500 m trở lên, thuận lợi ở độ cao từ 1.800 m trở lên;

– Đất có đủ ẩm, giàu dinh dưỡng, lượng mùn hữu cơ trong đất cao;còn giữ cấu trúc rừng nguyên sinh và có độ tàn che từ 70-90%.

* Chọn cây giống: Cây lấy hạt giống cần phải có sự chọn lọc kỹ để đảm bảo chất lượng cây giống. Cây phải đạt từ 4 năm tuổi trở lên (đối với cây gieo từ hạt), 2 năm trở lên (đối với cây trồng từ đầu mầm), có biểu hiện đặc trưng của giống, không bị sâu bệnh, tổn thương cơ giới hoặc các tổn thương khác.

* Thời gian thu hái quả: Vào tháng 7 – 9 hằng năm.

Quả thu hái phải đảm bảo độ chín sinh lý (vỏ quả có màu đỏ tươi và có chấm đen trên đầu, vỏ quả trông sáng bóng, hạt mẩy). Do đặc điểm sinh học mà một cụm quả đạt độ chín tiêu chuẩn phải từ 6 – 10 ngày, do vậy nên thu hái làm nhiều lần (ít nhất 3 lần, mỗi lần cách nhau từ 2- 3 ngày) để đảm bảo quả giống thu vào có chất lượng cao.

* Phân loại quả: Quả sau khi thu về được sàng sảy để loại bỏ quả nhỏ, lép và phân loại như sau:

– Loại 1: Vỏ quả có màu đỏ tươi, nhìn có màu sáng bóng, hạt mẩy.

– Loại 2: Vỏ quả có màu vàng hoặc nâu đỏ.

– Loại 3: Vỏ quả có màu vàng nhạt hoặc hơi nâu.

2.Thời vụ gieo và xử lý hạt giống

– Loại 4: Vỏ quả có màu xanh, xanh nõn chuối, hạt nhỏ, lép…(nên loại bỏ).

Đối với quả loại 2 và loại 3 sau thời gian ủ từ 2 đến 3 ngày thì đạt độ chín về hình thái giống như loại 1 và 2. Tuy nhiên, chỉ nên sử dụng hạt từ quả loại 1 và loại 2 để gieo ươm, trong trường hợp thiếu hạt giống có thể sử dụng loại 3.

– Thời vụ gieo hạt trùng với thời gian thu hái quả khoảng tháng 7 – 9 hằng năm.

– Trước khi gieo hạt có thể thực hiện bằng 1 trong 2 cách:

3. Phương pháp gieo hạt

+ Sau khi thu quả, để nguyên vỏ và đem gieo ngay (nếu quả có 2 hạt thì tách riêng).

+ Sau khi thu quả, ủ khoảng 5 ngày đem chà xát và đãi sạch để loại bỏ phần thịt quả, để ráo; sau đó ngâm trong dung dịch nước tỏi 10 – 15% (1,0 – 1,5kg tỏi giã nhỏ ngâm với 10 lít nước, lọc lấy nước) trong khoảng 30 – 45 phút để ngừa một số nấm bệnh và tăng sức đề kháng cho cây con, rồi đem gieo.

Sử dụng phương pháp truyền thống, gieo hạt trực tiếp lên luống (phương pháp gieo hạt giống trong khay chuyên dụng và đặt khay cách ly mặt đất trong nhà bảo vệ đang được thử nghiệm, có kết quả tốt, sẽ có hướng dẫn để áp dụng).

– Đất làm vườn ươm phải chọn ở những vùng tương đối bằng phẳng, dưới tán rừng, có độ tàn che của rừng từ 80% trở lên, đất giàu mùn, sạch nguồn bệnh, thoát nước tốt.

– Dọn sạch cỏ dại, lên luống có mặt luống cong hình mu rùa, rộng 0,8 – 1,0 m, cao 0,2 – 0,3 m, dài không quá 10 m theo hướng đường đồng mức để hạn chế xói mòn. Nên bổ sung thêm mùn núi (mùn được phân hủy từ xác bã thực vật) để tăng cường dinh dưỡng cho đất.

4. Chăm sóc sau khi gieo hạt

– Hạt được gieo trong rãnh sâu 2 – 3 cm, với mật độ khoảng 01lon hạt/2 m 2 đất (1 lon hạt tương đương với 1.000hạt). Lưu ý, không gieo các hạt dính sát nhau, khoảng cách giữa các hạt phải trên 2 cm.

– Sau khi gieo xong, lấp đất và phủ một lớp lá khô, cỏ tranh trên mặt luống để giữ ẩm, ấm cho hạt, hạn chế cỏ dại và chống xói mòn.

– Để đảm bảo cho cây giống trong vườn ươm sinh trưởng phát triển thuận lợi, tốt nhất nên làm nhà che bằng ni lông trắng hay lưới nhằm hạn chế tác động của ngoại cảnh (mưa to, hiện tượng sương lạnh…) đến sinh trưởng phát triển của cây giống trong vườn ươm.

– Thường xuyên theo dõi, sửa chữa rãnh luống và mương thoát nước, không để vườn ươm bị đọng nước, ngập úng khi có mưa.

– Khi cây giống bắt đầu mọc mầm (5 – 10% hạt đã mọc mầm), thu dọn phần lá cây, cỏ tranh chưa hoai mục trên mặt luống để cây giống sinh trưởng phát triển thuận lợi.

– Thường xuyên theo dõi tưới nước cho cây, đảm bảo đất đủ ẩm.

– Làm cỏ thường xuyên, kết hợp với việc bổ sung mùn núi, nhưng chú ý không làm tổn thương đến cây giống.

– Thường xuyên theo dõi, phát hiện kịp thời những đối tượng dịch hại tấn công cây giống trong vườn ươm để có biện pháp quản lý hiệu quả.

5. Tạo cây con từ mầm thân

– Dùng lưới nilon căng đứng, cao 35 – 40 cm quanh luống hoặc quanh vườn để ngăn chuột, dúi… cắn cây con.

IV. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC1. Thời vụ

– Khi cây đã mọc đều, nếu có điều kiện nên bứng trồng vào khay và đưa vào chăm sóc trong nhà có mái che, đặt trên giàn đỡ cách ly mặt đất để quản lý, chăm sóc đảm bảo hơn.

2. Thiết kế vườn và chuẩn bị đất trồng

Ngoài việc tạo cây con từ hạt theo các phương pháp trên, Sâm Ngọc Linh có thể trồng được từ mầm thân (đầu mầm) bằng cách: Khi thu hoạch phần củ, cắt chừa lại phần mầm của thân rễ (đoạn thân có các mắt) để trồng.

Với tiểu khí hậu vùng Ngọc Linh, có thể trồng Sâm quanh năm (trừ các tháng mùa mưa chính) nhưng do phụ thuộc vào điều kiện cây giống đủ tiêu chuẩn nên vụ trồng phổ biến từ tháng 7 – 9 hằng năm khi cây giống đạt 1 năm tuổi; ngoài ra, có thể trồng từ tháng 3-5 với cây giống lưu vườn hơn 1 năm tuổi. Không trồng vào những ngày nắng gắt hay mưa lớn.

Thực hiện nghiêm ngặt yêu cầu hạn chế tối đa những tác động bất lợi đến môi trường rừng, để vừa bảo vệ rừng, vừa tạo môi trường sống thích hợp cho sâm trồng.Sâm có thể sinh trưởng – phát triển tốt khi mọc sát gốc các cây gỗ, cây tái sinh.Trong thiết kế vườn và chuẩn bị đất trồng, chỉ phát dọn tối thiểu dây leo, bụi rậm; tuyệt đối không được tác động đến cây gỗ và cây tái sinh.

– Lựa chọn đất trồng: Lựa chọn các vùng đất dưới tán rừng tự nhiên ở đai cao từ 1.500 m trở lên, còn giữ kết cấu rừng tự nhiên và có độ che phủ rừng từ 70% trở lên, giàu mùn, đủ ẩm.

– Trong vùng lựa chọn, thiết kế các băng chừa và băng trồng đồng mức, xen kẽ nhau,rộng 8 – 10mét và chừa lại phần đỉnh trên cùng xuống đến băng trồng ít nhất 50mét.

+ Phát dọn dây leo, bụi rậm để tạo các lối đi lại trong vườn Sâm: Lối đi lạigiữa các băng đồng mức,rộng 0,8 mét.Lối đi lại theo hướng dốc,rộng 0,8-1mét, thiết kếzích – zắc và với số lượng tối thiểu để hạn chế xói mòn.

+ Đối với phần đỉnh dốc và băng chừa, giữ nguyên hiện trạng, nghiêm cấm mọi tác động.

3. Tiêu chuẩn cây giống trước khi trồng3.1. Cây giống gieo từ hạt

+ Đối với băng trồng, chỉ được phát dọn dây leo, bụi rậm.Trong các băng trồng, thiết kế 3-4 luống trồng, mỗi luống rộng 1,6 – 2,0 mét để trồng 3-4 hàng sâm. Giữa các luống, phát dọn dây leo, bụi rậmtạo lối đi lại rộng 30-35cm.

– Chuẩn bị đất và trồng Sâm: Trên các luống trồng đã được phát dọn dây leo, bụi rậm, giữ nguyên hiện trạng mặt đất (không đánh rãnh lên luống; không thu dọn đá lẫn, gốc cây và thân gỗ chết…; chỉ thu gom thân lá dây leo, cây bụi vừa phát dọn để ủ phân hữu cơ). Đào hố trồng lan theo chiều nghiêng tự nhiên của khu vực trồng, theo quy cách và thẳng hàng để tiện trong việc theo dõi, chăm sóc sau này.

Đối với cây giống 1 tuổi, phải đảm bảo các yêu cầu xuất vườn để trồng như sau:

– Về hình thái: Lá có màu xanh đến xanh đậm;

– Chiều cao thân trung bình: Từ 10 cm trở lên (lúc có 1 lá kép).

3.2. Cây trồng từ đầu mầm

– Có đường kính củ từ 0,3 cm trở lên; có từ 2- 3 rễ chính trở lên.

4. Mật độ và cách trồng

– Cây không bị bệnh hại trên thân, rễ, củ; bệnh trên lá nhỏ hơn 5% diện tích lá.

Cây giống đầu mầm là phần mầm của thân rễ (đoạn thân có các mắt) dài khoảng 3 – 4 cm (tính từ vị trí tiếp giáp với thân khí sinh), phía trên chừa lại 1 đoạn thân khí sinh dài 5 – 7 cm.

– Khoảng cách, mật độ: Hàng cách hàng từ 40-45 cm, cây cách cây từ 30-35 cm;mật độ khoảng 20.000 -25.000 cây/ha rừng (tính bình quân trên diện tích thiết kế, bao gồm diện tích rừng không tác động).

– Cách trồng: Sử dụng cuốc nhỏ hoặc công cụ cầm tay phù hợp để đào hố tròn có đường kính 8-10 cm, sâu 6-8 cm để trồng.

+ Trồng từ cây con: Bứng nhẹ, tách cây con trên vườn ươm hoặc trong khay, tránh xây xát và đứt rễ để đem đi trồng.

Đặt cây con vào hố và điều chỉnh sao cho thân cây theo phương thẳng đứng, cổ rễ ngang với mặt đất tự nhiên; lấp đất và dùng tay ấn chặt đất xung quanh gốc cây; lấp đất theo hình mâm xôi để tránh cây bị úng khi mưa; nên trồng thẳng hàng để dễ theo dõi và tiện chăm sóc sau này; lưu ý không làm bể bầu, đứt rễ, dập nát cây khi trồng.

5. Chăm sóc vườn sâm

+ Trồng bằng đầu mầm: Sau khi chuẩn bị xong đoạn mầm, có thể tiến hành trồng ngay; tương tự như trồng cây con, đào một hốc nhỏ sâu 5 – 7 cm rồi đặt phần thân mầm vào đó, đoạn thân khí sinh hướng lên trên, lấp đất và ấn chặt phần gốc.

– Sau khi trồng, tưới nhẹ để ổn định cây, phủ một lớp lá khô lên mặt đất để giữ ẩm cho đất, hạn chế cỏ dại, đồng thời lá khô sau khi phân hủy sẽ cung cấp một lượng mùn nhất định cho cây sau này.

– Năm đầu sau khi trồng, thường xuyên theo dõi, trồng dặm lại những cây chết (dặm các cây cùng lứa tuổi).

– Hằng năm,thường xuyên phát dọn các dây leo, bụi rậm tái sinh và nhổ cỏ trong vườn trồng sâm; chỉ cần cắt, nhổ cỏ cục bộ những cây sát gốc sâm; không cắt, nhổ cỏ khi cỏ không ảnh hưởng đến cây sâm. Không làm cỏ trong mùa mưa, nhất là giai đoạn cây ngủ đông để hạn chế rửa trôi, xói mòn đất.

– Kết hợp với việc làm cỏ, bón bổ sung thêm mùn núi cho cây bằng cách phủ lên mặt đất gần gốc cây một lớp mùn dày khoảng 2 cm, để giúp cây sinh trưởng tốt và cho năng suất cao. Có thể sử dụng các chế phẩm vi sinh ủ với lá mục, lá khô tại chỗ…để bón bổ sung cho cây.

6. Phòng trừ dịch hại

– Những năm mưa ít trong các tháng mùa khô, đất trồng bị khô, cần tưới nước bổ sung để giúp cây sinh trưởng được thuận lợi.

– Dọn dẹp cành cây đổ gãy xuống vườn sâm; chăm sóc và khắc phục sớm những trường hợp cây bị tổn thương.

Để phòng trừ dịch hại trên cây Sâm Ngọc Linh hiệu quả, phải áp dụng triệt để biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), chú trọng việc tạo điều kiện tốt nhất cho cây sâm sinh trưởng và phát triển, cụ thể:

– Chọn cây giống phải đạt tiêu chuẩn, khỏe, sạch sâu bệnh.

– Chọn đất tốt để trồng, đất có nhiều mùn, không bị úng nước, có độ tàn che từ 70% trở lên.

– Tăng cường các biện pháp canh tác như: Vệ sinh vườn, thu gom, cách ly cây bệnh… để hạn chế các đối tượng dịch hại gây hại.

– Thường xuyên kiểm tra, phát hiện sớm các đối tượng dịch hại, xử lý kịp thời bằng các biện pháp thủ công như: cắt tỉa lá bị bệnh, nhổ bỏ và xử lý cây bệnh,…Cần làm bẫy lồng, bẫy kẹp, dụng cụ xua đuổi… hoặc dùng nilon, lưới để ngăn các động vật gây hại vườn sâm.

* Đối với những vườn giữ giống, nhân giống, vườn ươm khi có nguy cơ dịch hại nặng, có thể sử dụng thuốc BVTV (ưu tiên sử dụng các loại thuốc sinh học) theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn để bảo vệ tối đa nguồn giống.

7. Thu hoạch

Trồng sâm đúng hướng dẫn kỹ thuật, trồng lan trên mặt đất tự nhiên (không lên luống) để tránh nước mưa tạo thành dòng chảy hay đất trong luống sâm quá ẩm ướt sau mưa nhằm hạn chế bệnh hại sau này, đặc biệt đối với bệnh do vi khuẩn gây hại.

Ngoài ra, quả sâm có các đối tượng như chuột, chim và các động vật khác rất thích ăn. Vì vậy, khi cây kết quả, phải làm túi lưới bọc chùm quả. Túi lưới được gắn vào 1 que chắc chắn (que dài hay ngắn tùy thuộc độ cao của chùm quả), que được cắm chắc xuống đất. Ngoài tác dụng bảo vệ các đối tượng gây hại, cọc túi lưới có tác dụng giữ cho cây không bị gió, mưa lay đổ do chùm quả nặng.

Sâm Ngọc Linh trồng từ cây giống sau 6 năm có thể thu hoạch được, tuy nhiên năng suất, chất lượng và hiệu quả chưa cao, nên thu hoạch củ khi sâm đạt từ 8 năm tuổi trở lên, thu vào tháng 10 – 12 (khi cây ngủ đông).

Cổng Thông Tin Điện Tử

Kỹ thuật xử lý và chăm sóc vải thiều ra quả trên thân cây

14:51 – 24/06/2024

 

1. Tuổi cây: Nên áp dụng đối với những vườn vải có nhiều năm tuổi (trên 20 năm tuổi). Vì cây vải nhiều năm tuổi sinh trưởng, phát triển yếu, các đợt lộc ra không đều, thường xuyên xảy ra mất mùa; hoặc tỷ lệ ra hoa, đậu quả ít, ra quả từng vế, ra quả cách năm, quả nhỏ, lá nhiều, ít quả trên chùm, mẫu mã quả xấu, khó chăm sóc, giá trị sản phẩm không cao, năng suất thấp…   2. Các biện pháp kỹ thuật cần thiết * Cắt tỉa: đây là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng, thường thực hiện làm 2 đợt chính. – Đợt 1: Ngay sau khi thu hoạch vải thiều xong, tiến hành cắt tỉa cành tạo tán; Đối với cây vải năm đầu tiên áp dụng cho ra quả trên thân thì tiến hành cắt thưa loại bỏ cành hư, cành vô hiệu, cắt đầu nhánh đã cho thu hoạch quả, tạo thông thoáng có ánh nắng chiếu vào mầm lộc trên thân để tán lá trong thân quang hợp, không nên đốn sâu ngay năm đầu. Đối với các cây đã áp dụng ra quả trên thân từ năm trước thì tiến hành cắt tỉa thưa bớt các cành đã cho thu hoạch tạo sự thoáng đãng cho cây và cho các mầm lộc mới sinh trưởng đều trên thân. – Đợt 2: Sau khi cây ra đủ 2 lần lộc, cây khỏe có thể 3 lần lộc vào tháng 10, 11, thời điểm này tiến hành cắt tỉa những cành tăm, nhỏ và kém phát triển ở thân cây để lại những trồi lộc mập tạo điều kiện cho việc phân hóa ra hoa trên thân và khả năng đậu quả đạt kết quả cao, thuận tiện cho việc chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu, bệnh và thu hoạch được thực hiện dễ dàng hơn. * Khoanh cành: là biện pháp kỹ thuật không cho vải ra lộc vào vụ Đông, khi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi như mưa, nhiệt độ ấm áp… – Về dụng cụ để khoanh cành: dùng lưỡi cưa ngắn hoặc liềm chấu tự chế, (hoặc đồ chuyên dùng) để tiến hành khoanh, khi khanh cần lưu ý khoanh đều hết phần vỏ cây đến phần gỗ trắng của thân cây thì thôi, khoanh tạo thành hình tròn quanh thân. Tùy vào tuổi của cây và sự sinh trưởng và phát triển của cây để tiến hành khoanh sao cho phù hợp (khoanh rộng vành hơn đối với các cây khỏe và mịn hơn đối với các cây yếu). – Về thời gian tiến hành khoanh: Từ  25/11 đến 10/12 và khi khoanh phải quan sát lá và sự sinh trưởng và phát triển của từng cây để tiến hành khoanh cho phù hợp. * Bón phân: Việc bón phân được tiến hành thành 3 – 4 đợt tùy vào khả năng sinh trưởng và phát triển của cây: + Đợt 1: Bón thúc lộc, Cây vải thiều sau khi cho thu hoạch quả đã mất đi một lượng dinh dưỡng khá cao tập trung vào nuôi quả vải. Bởi vậy sau khi thực hiện việc tỉa cành, tạo tán xong, cần bón phân cho cây để bù đắp lượng dinh dưỡng cây đã nuôi hoa, quả, bảo đảm cho cây vải có điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt nhất (sinh trưởng được 2-3 đợt lộc thành thục trước khi khoanh cành). Kỹ thuật bón phân cho cây vải: dùng cuốc tạo rãnh vùng quanh tán cây vải. Rãnh rộng từ 15 – 20 cm, sâu khoảng 10-15 cm. Sau đó rắc phân vào và lấp rãnh lại, bảo đảm cho phân bón phát huy hiệu quả cao nhất. Phân bón cho cây vải thời kỳ này, dùng các loại phân NPK có hàm lượng đạm cao hoặc phân đơn đạm – lân – kali (Hàm lượng phân đạm bón cho cây ở thời kỳ này bằng 50% tổng lượng đạm bón cho cây trong suốt quá trình chăm sóc, tương tự lượng kali bằng 13% và phân lân bằng 20%). Tùy từng độ tuổi của cây vải và năng suất quả vừa thu hoạch để quyết định lượng phân bón hợp lý. Ngoài ra, có thể sử dụng các loại phân chuồng đã qua xử lý bằng chế phẩm sinh học (ủ mục) để bón cho cây vải, giúp cho đất tơi xốp và cây vải sinh trưởng, phát triển tốt. + Đợt 2: bón thúc hoa, bón khi vải bắt đầu ra hoa. Lượng bón dựa vào kinh nghiệm dự đoán sản lượng để tính toán. Lấy mốc tính 100kg quả, lượng bón sẽ là 0,7kg urê + 0,7 kg supe lân và 0,4kg KCl. + Đợt 3 bón thúc quả: Mục đích là bổ sung kịp thời dinh dưỡng bị tiêu hao khi ra hoa, bảo đảm cho quả sinh trưởng phát triển tốt, giảm đợt rụng sinh lý lần hai, tạo cho cây có khả năng tiếp tục ra hoa trong năm sau. Chủng loại phân bón, số lượng từng chủng loại trong đợt bón phân có tính linh hoạt rất rõ rệt. Hai chỉ tiêu quan trọng để xác định yếu tố và lượng bón lần là mầu sắc và lượng quả đậu. Nếu lá vẫn giữ màu xanh thì bón kali là chủ yếu (do thời kỳ này cây cần kali nhiều nhất, vừa hạn chế sự rụng quả, vừa làm tăng lượng rõ rệt). thêm đạm, nhưng không nên vượt quá 1 kg/100 kg quả (dự tính). * Phun thuốc bảo vệ thực vật: Ngoài biện pháp canh tác diệt sâu ngay sau thu hoạch, cần chủ động diệt sâu, phòng trừ bệnh hại vải thiều ở các giai đoạn khác nhau và chia ra từng giai đoạn phát triển của cây vải để diệt cho hiệu quả như: Giai đoạn sinh trưởng đầu lộc non ở cây trưởng thành thường là thời điểm phát sinh sâu đục cành vải xuất hiện, đó là sâu non hoặc nhộng qua đông dưới lớp vỏ cành hoặc thân cây. Sâu trưởng thành đẻ trứng vào khoảng tháng 6 – 9 vào các kẽ nứt trên thân, cành chính hoặc dưới lớp vỏ nách chạc cành… Để phòng diệt sâu hiệu quả, an toàn nhất nên dùng phương pháp thủ công bắt giết xén tóc trước khi chúng đẻ trứng khoảng tháng 6 – 10; phát hiện nơi đẻ trứng, dùng dao nhỏ cạo trứng hoặc sâu non mới nở. Khi phát hiện sớm vết đục dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non hoặc dùng thuốc Padan bơm vào lỗ đục rồi bịt cửa lỗ bảo đảm sâu chết ngay. - Giai đoạn cây ra các đợt lộc Đây là giai đoạn sâu bệnh phát triển mạnh nhất trong các giai đoạn sinh trưởng của cây vải thiều, trung bình mỗi đợt lộc có thể phải phun 2 -3 lượt tùy mức độ và thời tiết phun vào thời điểm mới nhú lộc và thời điểm lộc rộ. – Giai đoạn cây phân hóa mầm hoa, hoa nở Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa xuân nên sâu bệnh tập trung nhiều: Nhện lông nhung, bọ xít, rệp muội, sâu đo. Bệnh sương mai và thán thư cũng xuất hiện trên chùm hoa… giai đoạn này có thể dùng các loại thuốc như:  Pegasus 500 ND; Ortus3SC; Regent 800 WG, Sherpa 25EC… – Giai đoạn đậu quả đến hình thành cùi Giai đoạn này sâu đo thường tập trung đẻ trứng ngay trên quả non. Sâu non nở ra gặm vỏ quả làm quả rụng hay gây sát thương, tạo điều kiện cho nấm bệnh phát sinh. Ngoài sâu đo, cần chú ý theo dõi để phòng trừ bệnh thán thư. Cần tỉa bớt cành sâu bệnh và cành không có quả để cây thông thoáng, hạn chế sự phát sinh của sâu bệnh. - Giai đoạn quả kéo cùi kín đến chín Đây là giai đoạn quyết định đến chất lượng quả. Các loại sâu hại quan trọng như sâu đục cuống quả và ruồi hại quả kết hợp với các bệnh thán thư, sương mai và nứt quả làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng quả. Giai đoạn này có thể dùng Padan 95SP; Regent 800WG, Padan 95SP, Ridomil MZ 72WP, Bóc-đô. Thường xuyên tỉa cành cho vườn thông thoáng để hạn chế nơi trú ngụ của sâu.

Trung Tâm Khuyến Nông Tỉnh Quảng Ngãi

In

 1.Thời vụ:

Mè trồng được quanh năm, nên bố trí thời vụ sao cho khi thu hoạch có nắng để phơi và giảm thất thoát khi gặp mưa dầm

- Vụ đông xuân:Gieo từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau (khi dứt mưa) thu hoạch tháng 3 – 4.

– Vụ hè thu: Thường được trồng trên trên chân lúa vụ hè thu khó khăn nước tưới hoặc chân đất thường thiếu nước cuối vụ. Thời vụ bắt đầu gieo vào tháng 4 – 5 thu hoạch vào tháng 7 – 8.

​2. Giống và phẩm cấp hạt giống:

Sử dụng các giống mè có thời gian sinh trưởng từ 75 – 80 ngày trong vụ Hè thu, chống chịu với điều kiện nắng hạn, ít nhiễm sâu bệnh hại và cho năng suất cao như:

a. Nhóm mè vàng

– Mè vàng An Giang: trổ hoa 30 ngày sau khi trồng, phân cành ít (2 – 3 cành trên cây), thân màu xanh, chiều cao khoảng 80cm, thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 85 ngày. Năng suất bình quân 1,2 tấn/ha, giống này có sáu hoa, trái có tám khía.

– Mè vàng Miền Đông: trổ hoa 30 ngày sau khi trồng, phân cành trung bình (4 cành/cây), thân màu xanh đậm, chiều cao thấp (70 cm), thời gian sinh trưởng ngắn (80 ngày), trái có bốn đến tám khía, năng suất khá cao (1,5 tấn/ha).

– Mè vàng Cồn Khương: Trổ hoa ngày thứ 35 sau khi trồng, phân cành (4 – 6 cành/cây), chiều cao 90 cm, thời gian sinh trưởng 75 ngày, trái có bốn đến sáu khía, năng suất 1,4 tấn/ha.

b. Nhóm mè đen

– Mè đen Trà Ôn: Trổ hoa ngày thứ 35 sau khi gieo, phân cành nhiều (4 – 6 cành/cây), chiều cao 90 cm, thời gian sinh trưởng 80 ngày, trái có từ 4 đến 6 khía. năng suất khá cao (1,4 tấn/ha)

 – Mè đen ĐH-1:  Thời gian sinh trưởng ngắn (70 – 75 ngày); Dạng hình thấp cây (100 – 120 cm), phân cành mạnh (4 – 6 cành/cây), độ cao đóng trái thấp (từ mặt đất đến vị trí có trái đầu tiên từ 30 – 40 cm), cứng cây; trái có 4 múi – 8 hàng hạt, các trái đóng sít nhau trên đốt thân, cành; Năng suất cao, đạt 1.250 kg/ha trên vùng đất xám bạc màu từ 1.750 kg – 2.000 kg/ha ở vùng đất thịt, phù sa 

– Mè đen NA2: Thời gian sinh trưởng: 75 ngày, khả năng chống chịu bệnh chết nhát, hàm lượng dầu 50,79%.;Năng suất 1.893 kg/ha trong vụ Đông – Xuân và 1.630 kg/ha trong vụ Xuân – Hè.

– Giống mè đen 2 vỏ Bình Thuận:  Thời gian sinh trưởng: 75 – 80 ngày; Hàm lượng dầu 47,5%; chống chịu tốt với bệnh héo xanh; Năng suất 1,0 – 1,4 tấn/ha.

3. Làm đất, lên luống

3.1. Làm đất:

– Nếu đất khô, không đủ ẩm trước khi gieo trồng cho nước vào láng mặt ruộng, sau 2 – 3 ngày độ ẩm thích hợp (khoảng 70 – 80%) tiến hành phay (cày) đất. Sau khi phay đất lần 1, bón toàn bộ lượng phân bón lót đều trên mặt ruộng và phay lại cho đến khi đất tơi, nhuyễn (Thường phay 2 – 3 lần)  

– Hạt mè rất nhỏ do đó cần làm đất kỹ vì nếu không làm đất kỹ, gieo không đều, hạt sẽ bị vùi lấp.

3.2. Lên luống:

– Mặt luống rộng 1m – 1,2m, cao 30cm; rãnh rộng 30cm,  để dễ tưới thấm và rút nước khi gặp mưa hoặc tưới thừa nước

– Ở các chân ruộng thấp, nên lên líp cao 30-35cm, rộng 1m, rãnh rộng 40cm để dễ thoát nước (nhất là trồng vào đầu vụ Đông xuân hoặc cuối vụ Hè thu).

– Xung quanh ruộng vét mương tưới, tiêu với chiều rộng 25 – 30cm, sâu 25 – 30cm.

– Tuỳ theo chiều dài và độ bằng phẳng của ruộng, cứ 9 – 10 m cắt một rãnh tiêu nước vuông góc với chiều dài luống.

4. Gieo hạt

4.1.Xử lý hạt giống:

Hạt trước khi gieo cần phải xử lý một trong các loại thuốc sau: Copper-Zinc, Copper-B, Rovral, Benlate,..(2 gram trộn đều cho1kg hạt). Hoặc chế phẩm Trichoderma để phòng bệnh chết cây con do nấm gây hại.

4.2. Cách gieo: Có 2 cách gieo hạt:

Gieo vãi:

– Phương pháp này cần lượng hạt giống từ 4 – 5 kg/ha (0.2 – 0.25kg/sào), tốn giống, chăm sóc nhưng ít tốn công gieo hơn so với gieo hàng, khó khăn trong khâu làm cỏ và nếu sạ không đều có thể dẫn đến năng suất thấp.

 - Do hạt mè quá nhỏ nên khi gieo có thể trộn thêm với cát hoặc tro trấu để gieo. Nên gieo mè vào buổi sáng lúc trời ít gió.

 Gieo theo hàng:

          – Phương pháp này tốn ít giống hơn, khoảng 3 – 3,5kg/ha (0,15 – 0,175kg/sào), thuận lợi cho việc chăm sóc nhưng tốn nhiều công hơn.

          – Gieo theo chiều ngang luống với khoảng cách: hàng cách hàng khoảng 30 – 35cm, cách cây x cây khoảng 20 – 25cm/2 – 3 hạt (sau tỉa còn 2 cây/hốc).

          – Sau khi gieo có thể buộc chà kéo nhẹ trên mặt luống để lấp hạt.

Lưu ý:

 + Không lấp đất sâu hạt khó nảy mầm.

 + Ba ngày sau khi sạ hạt bắt đầu nảy mầm, lúc này nên giữ cho ruộng khô, hoặc tưới nhẹ nước dưới rãnh vừa đủ thấm. Nếu cho nước vào nhiều thì mè sẽ bị thối hoàn toàn.

          Kinh nghiệm dân gian: Cho hạt mè vào bình nước khoáng rỗng, khoảng ½ – 1/3 bình, đục 2 – 3 lỗ nhỏ ở nắp chai, dốc ngược bình và rắc trên hàng, nên gieo thử để điều chỉnh lượng giống rơi xuống đúng theo yêu cầu kỹ thuật.

V. Xử lý thuốc cỏ

5.1. Xử lý bằng thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm        

Sau khi gieo hạt 1 – 3 ngày sử dụng một trong các loại thuốc cỏ tiền nảy mầm: DUAL GOLD 960 EC, DIBSTAR 50EC hoặc ANTACO 500ND

            ​ Khi sử dụng thuốc cỏ cần lưu ý:

       + Tránh thuốc tiếp xúc với hạt giống.

                   +  Phun thuốc đất phải đủ ẩm.

4.2. Xử lý bằng thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm:

Trong trường hợp ruộng lạc có cỏ lá hẹp hoặc cây lúa do hạt lúa rụng từ vụ trước mọc nhiều cần sử dụng một trong các loại thuốc cỏ hậu nảy mầm sau để trừ:

– Khi phun thuốc mặt ruộng phải đủ ẩm, phun thuốc bám ướt đều trên bề mặt lá cỏ, lá lúa để thuốc tiếp xúc tốt hơn nhằm tăng hiệu quả phòng trừ.

– Thời điểm phun thuốc khi cỏ hoặc cây lúa lưu có 3 – 4 lá

Chú ý:

+ Không sử dụng trên cây trồng lá hẹp như: lúa, ngô

+ Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trên bao bì khi sử dụng

5. Bón phân.

Tùy thuộc vào độ màu mỡ và tính chất của đất mà lượng phân bón cho mè có thể khác nhau.

Lượng phân bón cho 1 ha :

+ Phân chuồng hoai mục : 4 – 5 tấn hoặc 500 kg hữu cơ vi sinh.

+ Phân vô cơ:

– Ure : 120 – 150 kg

– Super lân : 300 – 500 kg

– Cloruakali (KCl): 100 kg

– Vôi : 300 – 400 kg

Cách bón :

– Vôi: Bón 100% lượng vôi khi làm đất

– Bón lót: Bón 100%  phân chuồng  + 100% super lân + 50% lượng Ure + 40% lượng kali. Bón lót theo rãnh gieo, lấp một lớp đất mỏng 3 – 5 cm trước khi gieo hạt giống hoặc bón vãi đều trên mặt ruộng sau khi phay (cày) lần 1.

– Bón thúc: Sau khi gieo 15 – 20 ngày bón thúc 50% Urê và 60 % lượng vôi  còn lại. Bón phân kết hợp làm cỏ, xới vun gốc.

5. Chăm sóc

5.1. Tỉa định cây:

Sau khi gieo trồng 10 ngày, cây mè mọc cao 10 – 15 cm thì tỉa định cây. Nhổ bỏ những cây còi cọc, để lại cây sinh trưởng khỏe.

5.2. Tưới tiêu nước

Tuy mè không cần nước nhưng thiếu nước năng suất không cao, cần phải cung cấp nước đầy đủ, nhất là khi bón phân cho mè.

 Áp dụng phương pháp tưới thấm: tưới nước theo rãnh, khi mực nước vừa chạm mép mặt luống.

 Mè là cây chịu úng kém, sau khi mưa to cần tiêu nước kịp thời

 Mè cần nhiều nước từ khi gieo đến ra hoa đầu tiên. Sau đó giảm dần và ngưng tưới nước khi có trái chín đầu tiên.

            6. Phòng trừ sâu bệnh

6.1. Sâu khoang

– Sâu khoang là loài ăn tạp, sâu non có màu nâu đen, đốt bụng thứ nhất có một vết đen to bao quanh, Sâu ăn trụi lá, cắn đứt ngang cây. Thời kỳ ra hoa làm quả thì làm rụng hoa, đục khoét quả làm ảnh hưởng tới năng suất

– Ảnh hưởng thuốc sâu rất mạnh khi sâu ở tuổi 1 – 2, khi sâu lớn. Sâu non ban ngày núp dưới đất và ăn vào ban đêm. Vì vậy, phun thuốc vào chiều tối và phun khi sâu ở tuổi 1, 2 mới có hiệu quả.

– Biện pháp phòng trừ:

+ Trước khi làm đất phải kiểm tra mật độ sâu khoang trong đất, nếu cao thì dùng thuốc sâu hạt Diazinon trộn với đất bột rãi đều trên ruộng và bừa 1 – 2 lần để diệt sâu.

+ Khi sâu gây hại cây con nên huy động nông dân bắt diệt bằng thủ công vào chiều tối và sáng sớm.

          + Thời kỳ ra hoa làm quả: thường xuyên thăm đồng để phát hiện ổ trứng và cắt bỏ, đem đốt.

+ Khi phát hiện sâu non còn nhỏ tuổi dùng các loại thuốc sau để diệt trừ: Match 50ND, Polytrin 440ND, Sumicidin 20 EC

Sâu khoang

6.2. Sâu cuốn lá

– Sâu thường tập trung ở trên lá ngọn và nhả tơ cuốn hai mép lá vừng vào nhau để sinh sống, sâu ăn biểu bì làm hỏng lá, ảnh hưởng đến quang hợp của cây, làm giảm năng suất.

– Biện pháp phòng trừ:

+ Thăm đồng thường xuyên và phát hiện sớm, khi mật độ còn thấp thì kết hợp lúc làm cỏ dùng tay bắt diệt sâu.

+ Khi sâu ở mật độ cao, dùng các loại thuốc sau để diệt trừ: Match 50ND,  Sherpa25EC, Cyperan 25EC, Padan 95SP…

Sâu cuốn lá

6.3. Rệp hại mè

– Đặc điểm:

Rệp sống tập trung từng đàn trên thân, lá ở phần ngọn, quả non. Rệp chích hút nhựa cây làm cho cây kém phát triển, lá ngọn xoắn lại, hoa ít, quả nhỏ ảnh hưởng tới năng suất. Chất thải của rệp là môi trường cho nấm bồ hóng phát triển làm đen cây.

– Biện pháp phòng trừ:

+ Gieo trồng đúng kỹ thuật, đảm bảo mật độ, bón phân cân đối.

+ Khi mật độ rệp cao dùng các loại thuốc sau để diệt trừ:Regent800WG, Actara25EC, Bassa50EC, MapFamy700WP..

Rệp

6.4. Rầy xanh

– Ban ngày rầy ẩn dưới tán lá hoặc phía bên kia ánh sáng mặt trời, khi bị động rầy bò ngang và lẩn trốn nhanh.

– Rầy sống tập trung ở mặt dưới lá nên khó phát hiện, chích hút nhựa làm lá xoăn lại chuyển màu hơi vàng, rìa lá bị cháy và mật số rầy cao sẽ làm cháy lá, cây suy yếu không phát triển, rụng hoa và trái non. Rầy xanh cũng là tác nhân truyền bệnh virus cho cây mè.

– Biện pháp phòng trừ:

Có thể dùng một trong các loại thuốc sau: Actara 25EC, Applaud 10 WP,…

Rầy xanh

6.5. Bọ trĩ

Bọ trĩ xuất hiện từ lúc mè còn nhỏ (10-15 ngày sau gieo).

Bọ trĩ có kích thước rất nhỏ, còn non màu trắng sữa, di chuyển rất nhanh, thường ở dưới mặt lá non, chích hút nhựa làm lá bị vàng, cây cằn cỗi, kém phát triển.

    – Biện pháp phòng trừ:

Khi mật số cao có thể phun xịt thuốc như: Actara 25 WG, Admire050 EC, Confidor 100SL.

Bọ trĩ

6.6. Nhện đỏ

– Đặc điểm:

Thường tập trung ở mặt dưới lá, chích hút nhựa làm lá vàng, rụng sớm, cây kém phát triển, rụng hoa, trái, thường phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết nóng và khô, phá hại nặng từ khi cây có hoa, trái non.

- Biện pháp phòng trừ:

Khi cần thiết có thể sử dụng thuốc trừ nhện như: Ortus 5 SC, Comite 73 EC, Tập kỳ 1,8 EC, Vertimec 1,8 EC, Suparcide….

Nhện đỏ

6.7. Bệnh lỡ cổ rễ, chết cây con

– Triệu chứng:

Bệnh gây hại chủ yếu ở giai đoạn cây con, vết bệnh thường xuất hiện nơi tiếp giáp với mặt đất, vết bệnh có màu xanh tái, sau chuyển màu nâu và lan rộng quanh gốc, làm gốc teo lại, cây héo và chết.

 Lúc đầu một vài cây bị bệnh, sau lan rộng làm chết từng chòm. Nấm bệnh phát triển thích hợp ở điều kiện nhiệt độ khoảng 30oC. Sợi nấm và hạch nấm lưu tồn trong đất và lây lan sang vụ sau.

– Biện pháp phòng trừ:

– Chọn đất trồng mè phải cao ráo, dễ thoát nước;

– Không sử dụng rơm rạ vụ trước đã nhiễm bệnh khô vằn để tủ mè;

– Khi bị bệnh  có thể phun các loại thuốc như: Validacin 3L, Anvil 5SC…

Bệnh lở cổ rễ

6.8. Bệnh héo xanh vi khuẩn

Do vi khuẩn Pseudomonas Solanacerum gây ra làm cho mè bị héo xanh đột ngột, lá vẫn giữ màu xanh, cắt ngang cây thấy bó mạch có màu nâu sẫm, rễ bị đen và thối, bóp nhẹ chỗ bị thối có dịch nhầy trắng tiết ra. Bệnh gây hại từ lúc cây con đến khi thu hoạch, vi khuẩn thường ký chủ trên nhiều loại cây nhất là cây họ đậu, họ cà.

Bệnh phát sinh mạnh ở nhiệt độ 25 – 350C khi trời có mưa nắng xen kẽ, ẩm độ đất cao, ruộng thoát nước chậm.

Biện pháp phòng trừ: Đây là bệnh nguy hiểm và gây hại nặng trên diện rộng, hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu để phòng trừ. Để hạn chế tối đa bệnh héo xanh do vi khuẩn, cần thực hiện một số biện pháp sau:

– Bón đầy đủ vôi và phân cân đối;

– Giữ đúng mật độ quy định.

– Luống mè phải cao, thoát nước nhanh khi mưa to.

– Nhổ bỏ và tiêu huỷ cây mè bị nhiễm bệnh.

– Phun phòng bằng các loại thuốc như COC 85, Kasumin, Starner…

   Bệnh héo xanh vi khuẩn

6.9. Bệnh đốm phấn trắng

Bệnh lan truyền rất nhanh, bệnh phát sinh chủ yếu trên bề mặt lá, lúc đầu là những đốm nhỏ màu vàng nhạt, về sau vết bệnh lan rộng không có hình dạng rõ rệt,

Trên vết bệnh có lớp phấn màu trắng, sau chuyển vàng, có các chấm đen nhỏ là các ổ bào tử.

Lá bị nặng có màu vàng và khô, cây sinh trưởng kém, hoa rụng, quả ít. Bệnh phát sinh nhiều trong điều kiện thời tiết nóng, mưa nhiều.

Biện pháp phòng trừ:

Có thể phun một trong các loại thuốc như Carbenzim, Viben-C, Anvil 5SC .

Bệnh đốm phấn trắng

6.10. Bệnh khảm:

Đây là bệnh quan trọng khi trồng mè. Bệnh do rầy xanh, bọ trĩ, rầy mềm… truyền virus làm lá có màu vàng xanh lỗ chỗ, bị xoắn và biến dạng. Bệnh không trị được nên phải diệt tác nhân truyền bệnh.

Bệnh khảm

7. Thu hoạch, bảo quản

7.1.Thu hoạch:

 - Khi mè đã ngả màu toàn thân, tiến hành thu hoạch.

– Khi thu hoạch có thể dùng lưỡi hái cắt sát gốc (cách mặt đất khoảng 20 – 30cm), bó thành từng bó.

– Mè là quả khô tự nứt vỏ, do đó phải thu hoạch đúng lúc để giảm bớt thất thoát. Cây mè vừa thu hoạch xong, không chất nằm thành đống vì sẽ làm giảm chất lượng  hạt.

    Thu hoạch mè

7.2. Chế biến, bảo quản

- Nên dựng thành từng đống nhỏ trên sân xi măng hay sân gạch, phơi 3 – 4 nắng thấy quả mè đã khô nứt thì tiến hành giũ mè.

- Dùng tấm bạt bằng nylon rộng khoảng 5 – 6m2 đặt bên cạnh đống mè, cầm bó mè hướng phần ngọn vào giữa tấm bạt nylon, chúc đầu ngọn xuống, dùng gậy nhỏ đập vào phần có quả để các hạt mè rớt xuống.

- Mè sau khi giũ lần 1 có thể gom lại thành đống và tiếp tục phơi 1 – 2 nắng và giũ thêm một lần nữa để tận thu những quả mè chín muộn.

- Hạt mè sau mỗi lần giũ có thể dùng sàng lổ nhỏ để tách các hạt mè ra khỏi những phần thân, lá và vỏ quả còn lẫn trong hạt mè,

– Nếu bảo quản làm giống nên giữ trong chai, lu hũ, bên trên có một lớp tro trấu để hút ẩm. Chú ý lấy những trái ở giữa cây để làm giống

– Bảo quản để sử dụng, buôn bán chỉ cần để trong bao và để nơi thoáng mát.

    Bảo quản

I. SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MÈ

Thời gian sinh trưởng của mè biến động từ 75 – 90 ngày. Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng của mè kéo dài 40 – 60 ngày tùy thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh. Điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng lớn đến thời gian của thời kỳ này là nhiệt độ và độ dài ngày.

Trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, quá trình sinh lý quan trọng nhất của mè là sự sinh trưởng của các bộ phận dinh dưỡng và sự phân hóa mầm hoa. Thời kỳ sinh trưởng phát triển đặc trưng là sự ra hoa, kết quả, hình thành hạt và chín.

Mè ra hoa trong khoảng thời gian 15 – 20 ngày

Tốc độ tăng trưởng của quả rất nhanh, quả phát triển tối đa trong khoảng 9 ngày sau khi nở hoa mặc dù quả còn tiếp tục phát triển trong 24 ngày, trong thời kỳ chín trọng lượng khô của quả đạt tối đa vào khoảng ngày thứ 27 sau khi hoa nở . Quả chín hoàn toàn vào khoảng 35 – 40 ngày.

II. ĐIỀU KIỆN SINH THÁI

2.1. Nhiệt độ

Vì cây có nguồn gốc nhiệt đới. Thời gian sinh trưởng 75 – 90 ngày tùy giống và mùa vụ, nhiệt đô trung bình thích hợp khoảng 25 – 300C. Nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm, sinh trưởng, các bộ phận dinh dưỡng và sự hình thành hoa khoảng 25 – 270C. Nhiệt độ thích hợp cho sự nở hoa và sự phát triển quả vào khoảng 28 – 320C. Nếu nhiệt độ dưới 200C kéo dài thời gian nảy mầm. Nhiệt độ dưới 180C sẽ gây khó khăn cho sự phát triển và nếu nhiệt độ dưới 100C cây ngừng phát triển và chết.

Nhiệt độ cao trên 400C vào thời gian ra hoa sẽ cản trở sự thụ phấn, thụ tinh, tăng tỷ lệ hoa rụng và do đó làm giảm số hoa.

2.2 Ánh Sáng

Mè là cây ngày ngắn. Trong điều kiện thời gian chiếu sáng dưới 10 giờ/ngày sẽ rút ngắn thời gian sinh trưởng dinh dưỡng của mè. Mè sẽ ra hoa sớm hơn 15 – 20 ngày trong điều kiện tự nhiên (12giờ/ngày).

Cường độ ánh sáng, số giờ nắng số giờ nắng trong ngày ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của mè. Trong thời gian sinh trưởng, nhất là sau khi trổ hoa, mè cần khoảng 200 – 300 giờ nắng/tháng cho tới khi trái chín.

Một số kết quả nghiên cứu cho thấy: Cường độ ánh sáng trong thời gian kết quả đến khi chín 28.000 lux thích hợp nhất cho quá trình hình thành dầu. Hàm lượng dầu trong hạt giảm 8% nếu cường độ ánh sáng giảm xuống 7.000 lux.

2.3. Nước

Là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất mè. Mè tương đối chịu hạn nhưng cho năng suất thấp, khi đất có ẩm độ dưới 70%.

Mè yêu cầu lượng nước phân bố đều trong vụ:

+ Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng 34%;

+ Thời kỳ ra hoa kết quả 45%;

+ Thời kỳ chín là 21%.

 Độ ẩm đất thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của mè khoảng 70 – 80%.

Tuy nhiên mè có khả năng chịu hạn khá. Các tài liệu nghiên cứu cũng như trong thực tiễn sản xuất cho thấy mè có thể cho năng suất trong điều kiện lượng mưa 200 – 300mm phân bố đều trong vụ.

Mè rất dễ mẫn cảm với nước, nếu mưa liên tục sẽ làm cây đổ ngã và chết. Trong lúc gieo hạt, mưa nhiều hạt sẽ không nảy mầm.

2.4. Đất

Mè phát triển được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng phát triển tốt nhất là trên loại đất phì nhiêu, thoát thủy tốt.

Cơ cấu đất không quan trọng bằng khả năng thoát nước, cây sẽ chết nếu nước ngập kéo dài, nhất là thời kỳ sinh trưởng đầu.

 Tính thích nghi của mè ở nhiều loại đất đã được đề cập đến từ lâu. Cách đây nhiều thế kỷ, người Roma cho rằng: mè yêu cầu đất phải tơi xốp, đất giàu dinh dưỡng.

Các loại đất cát, cát pha có pH từ 5,5 đến 8 đều trồng mè được, nhưng tốt nhất là pH = 6. Ẩm độ thích hợp nhất là 70%. Đối với Đồng Bằng Sông Cửu Long như An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, một số vùng ven Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Trung là nơi thích hợp phát triển mè. Mè rất thích hợp với đất phù sa ven sông

III. NHU CẦU DINH DƯỠNG

3.1.Đạm (N):

Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất cho sự sinh trưởng phát triển của cây, muốn có năng suất cao không thể thiếu đạm.

Nếu thiếu đạm cây sinh trưởng còi cọc, lá chuyển vàng, ít hoa và quả nhỏ. Đối với cây mè, dạng đạm sulfat thích hợp hơn dạng đạm ammoniac.

Tuy vậy hiệu lực của đạm chỉ được thể hiện tốt khi có một tỉ lệ thích hợp với lân và kali.

3.2.Lân (P2O5):

Trong điều kiện thâm canh để cây mè đạt năng suất cao thì cũng không thể thiếu lân. Nhu cầu lân của cây mè cũng khá cao có thể phải bón tới mức 80 kg P2O5/ha, một số trường hợp cần nhiều hơn, tới 120 kg.

3.3.Kali (K2O):

Phân tích trong thân, lá và quả khi cây mè chín cho thấy có một hàm lượng kali rất cao, nhất là trong quả. Điều này cho thấy nhu cầu kali của cây mè rất lớn, nhất là trong trường hợp bón nhiều đạm và lân. Biểu hiện thiếu các chất trung và vi lượng đối với cây mè nói chung chưa phổ biến.

IV.MỘT SỐ GIỐNG MÈ ĐƯỢC TRỒNG PHỔ BIÊN HIỆN NAY

Tùy theo mục đích sau khi thu hoạch để chọn giống trồng. Những giống mè vàng dễ tiêu thụ trong nước hơn mè đen, nếu xuất khẩu, mè đen có giá trị cao hơn mè vàng, mè đen một vỏ giá trị cao hơn mè đen hai vỏ.

4.1. Nhóm mè vàng

4.1.1.Mè vàng An Giang: trổ hoa 30 ngày sau khi trồng phân cành ít (2-3 cành trên cây), thân màu xanh, chiều cao khoảng 80cm, thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 85 ngày. Năng suất bình quân 1,2 tấn/ha, giống này có sáu hoa, trái có tám khía, trồng phổ biến ở vùng Châu Phú (An Giang).

4.1.2.Mè vàng Miền Đông: trổ hoa 30 ngày sau khi trồng, phân cành trung bình (4 cành/cây), thân màu xanh đậm, chiều cao thấp (70 cm), thời gian sinh trưởng ngắn (80 ngày), năng suất khá cao (1,5 tấn/ha). Giống trồng phổ biến ở Đồng Nai, Sông Bé trên vùng đất cao, trái có bốn đến tám khía.

4.1.3.Mè vàng Cồn Khương: Trổ hoa ngày thứ 35 sau khi trồng, phân cành 4-6 cành/cây), chiều cao 90 cm, thời gian sinh trưởng 75 ngày, năng suất 1,4 tấn/ha. Trồng phổ biến ở Cồn Khương (Cần Thơ), trái có bốn đến sáu khía.

4.2. Nhóm mè đen

4.2.1.Mè đen Trà Ôn: trổ hoa ngày thứ 35 sau khi gieo, phân cành nhiều (4 – 6 cành/cây), chiều cao 90 cm, thời gian sinh trưởng 95 ngày, năng suất khá cao (1,4 tấn/ha). Trồng phổ biến ở Trà Ôn (Vĩnh Long), trái có từ 4 đến 6 khía.

4.2.2.Mè đen ĐH-1: Giống mè đen ĐH-1 được Viện KHKTNN miền Nam phục tráng từ giống mè địa phương của Long An. Quy trình kỹ thuật canh tác đồng bộ cho cây mè đen trên chân đất lúa ở các tỉnh phía Nam đã được hoàn thiện (2009 – 2012).

          - Dạng hình thấp cây (100 – 120 cm), phân cành mạnh (4 – 6 cành/cây), độ cao đóng trái thấp (từ mặt đất đến vị trí có trái đầu tiên từ 30 – 40 cm), không đổ ngã;

      - Thời gian sinh trưởng ngắn (70 – 75 ngày);

         - Nhiều trái (80 – 150 trái/cây), trái lớn, mỏ trái thẳng, trái có 4 múi – 8 hàng hạt, các trái đóng sít nhau trên đốt thân, cành;

    - Năng suất cao, đạt 1.250 kg/ha trên vùng đất xám bạc màu (Long An, An Giang) và từ 1.750 kg – 2.000 kg/ha ở vùng đất thịt, phù sa (An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long).

    - Hàm lượng dầu (48,8%) cao hơn so với giống địa phương (45,5%);

   - Khả năng chống chịu sâu ăn lá, bệnh thối cây và khả năng chịu hạn cao hơn giống địa phương, thích nghi rộng, có thể trồng trên nhiều loại đất như cát pha, đất xám bạc màu, đất thịt, phù sa.

4.2.3. Mè đen NA2: Giống được Viện Khoa học Nông nghiệp Bắc Trung Bộ thu thập từ Ấn Độ và được Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam tuyển chọn lại từ năm 2011 (Phạm Thị Phương Lan, 2011).

- Thời gian sinh trưởng: 75 ngày.

- Khả năng chống chịu bệnh chết nhát (2,50%), chống chịu sâu ăn lá cấp 1.

- Hàm lượng dầu 50,79%.

- Năng suất 1.893 kg/ha trong vụ Đông – Xuân và 1.630 kg/ha trong vụ Xuân – Hè.

4.2.4.. Giống mè đen 2 vỏ Bình Thuận

– Giống mè đen 2 vỏ Bình Thuận được Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc phục tráng từ giống mè địa phương của tỉnh Bình Thuận theo phương pháp phục tráng cây trồng tự thụ tuộc

   - Thời gian sinh trưởng: 75 – 81 ngày.

   - Hàm lượng dầu 47,5%.

   - Giống chống chịu tốt với bệnh Héo tươi (Fusarium oxysporium F)

   - Năng suất 1,0 – 1,4 tấn/ha./.

Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bà Rịa

Mở rộng vùng sản xuất chuyên canh rau lên gần 700 ha và tăng năng suất, thu nhập trên cùng một diện tích là mục tiêu được TP. Bà  Rịa đặt ra từ nay đến năm 2024. Qua đó nhằm  góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; phát triển nông nghiệp thành phố theo hướng bền vững.

Bà Nguyễn Thị Truyền, ấp Tân Phước 1, xã Tân Phước chăm sóc vườn rau đay.

Nhằm giúp nghề trồng rau phát triển bền vững, tăng giá trị sản xuất trên cùng một đơn vị diện tích; đồng thời khuyến khích nông dân sản xuất trồng rau sạch, tháng 7-2012, tổ hợp tác trồng rau an toàn (RAT) ấp Tân Phước 1, xã Tân Hưng (TP.Bà Rịa) được thành lập với sự tham gia của 28 hộ dân trồng rau. 19 hộ nông dân của tổ hợp tác đã được Quỹ hỗ trợ nông dân hỗ trợ 300 triệu đồng để đầu tư sản xuất. Với diện tích hơn 54 ha, bà con nông dân trồng chủ yếu các loại rau như: dền, cải xanh, cải cúc, mướp, bí, khoai lang, hành ngò…, năng suất đạt từ 25-30 tấn/ha, tăng 5 tấn so với cách trồng rau thông thường. Theo tính toán của bà Nguyễn Thị Truyền, bình quân 1 lứa rau cho thu nhập từ 80-90 triệu đồng/ha, sau khi trừ chi phí sản xuất, người dân thu lãi từ 60-70 triệu đồng. Thời gian từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch mỗi lứa rau khoảng 30-45 ngày, mỗi năm người trồng rau có thể gieo trồng từ 9-10 lứa rau, lợi nhuận lên tới hàng trăm triệu đồng. Các hộ dân trong tổ hợp tác đã tuân thủ hướng dẫn của cán bộ nông nghiệp về kỹ thuật sản xuất (cách làm đất, ủ phân, tưới nước, cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật) để đạt hiệu quả cao. Theo Hội Nông dân xã Tân Phước, sẽ thành lập HTX RAT, tạo điều kiện thuận lợi trong việc liên kết sản xuất, tìm thị trường tiêu thụ ổn định để mở rộng quy mô sản xuất.

Còn tại xã Long Phước, đến nay đã có hơn 43 hộ sản xuất 32,5 ha rau má, hẹ. Trong đó có hơn 12 ha đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận sản xuất RAT, sản lượng rau mỗi năm cung cấp ra thị trường gần 4.000 tấn. Chủng loại rau sản xuất ở địa phương chủ yếu là rau má và hẹ. Long Phước cũng là xã được quy hoạch vùng sản xuất rau chuyên canh của TP. Bà Rịa. Ông Nguyễn Văn Minh, Chủ tịch Hội nông dân xã Long Phước cho hay, hiện xã đã đầu tư đồng bộ các công trình hạ tầng cơ sở về thủy lợi, giao thông nông thôn, điện phục vụ sản xuất. Đồng thời vận động nông dân đa dạng hoá các chủng loại rau, từng bước hình thành vùng chuyên canh RAT. Dự kiến kinh phí thực hiện chương trình này là hơn 1,8 tỷ đồng, trong đó kinh phí UBND thành phố hơn 1 tỷ đồng và nhân dân đóng góp 853 triệu đồng. “Với việc đầu tư xây dựng vùng chuyên canh trồng rau má sẽ giúp bà con nông dân trên địa bàn xã từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập gấp 2-3 lần trên cùng diện tích, đặc biệt là hướng tới việc sản xuất sạch, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng”, ông Nguyễn Văn Minh nói.

Theo ông Nguyễn Văn Hoàng, Phó Chủ tịch UBND TP. Bà Rịa, thành phố đã phê duyệt chương trình vùng sản xuất rau xanh tập trung, RAT trên địa bàn giai đọan 2013-2024. Kinh phí đầu tư cho chương trình này gần  2,3 tỷ đồng. Theo đó, từ nay đến năm 2024, sẽ tập trung mở rộng diện tích gieo trồng rau đạt khoảng 700 ha, năng suất khoảng 25 tấn/ha. Trong đó hơn 10% tổ chức, cá nhân tại vùng sản xuất RAT tập trung bảo đảm đủ điều kiện sản xuất, sơ chế sản phẩm rau, quả an toàn phù hợp theo tiêu chuẩn VietGAP. TP. Bà Rịa cũng xây dựng 7 mô hình sản xuất, 1 mô hình sơ chế RAT theo tiêu chuẩn VietGAP. Dựa trên nền tảng 7 tổ sản xuất RAT với diện tích 19 ha để xây dựng tổ liên kết sản xuất RAT. Dự kiến tổng diện tích sản xuất RAT của 7 mô hình là 7000 m2, tập trung tại các xã, phường như Tân Phước, Long Phước, Hòa Long, Long Hương, Kim Dinh và Phước Hưng. Cũng trong thời gian này, thành phố sẽ từng bước đầu tư hoàn chỉnh, đồng bộ các công trình hạ tầng cơ sở về thủy lợi, giao thông nông thôn, điện,… phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn, nhất là các xã thực hiện chương trình nông thôn mới. Đồng thời, hỗ trợ, khuyến khích người dân ứng dụng các kỹ thuật canh tác hiệu quả cao như xây dựng nhà lưới, trồng rau trên giá thể, thủy canh; đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất, sơ chế, bảo quản RAT. TP. Bà Rịa cũng tiến hành đầu tư xây dựng 2 khu sản xuất rau xanh tập trung trên địa bàn xã Long Phước và xã Tân Hưng, với quy mô từ 30-35ha/vùng.

Nguồn: chúng tôi

Cổng Thông Tin Điện Tử Huyện Phú Xuyên

Bà con nông dân trong huyện tập trung chăm sóc lúa Xuân trong điều kiện thời tiết thuận lợi, quyết tâm thực hiện thắng lợi kế hoạch sản xuất vụ Xuân 2024

Cây lúa giai đoạn đẻ nhánh

      Theo báo cáo của các xã, thị trấn, các HTX NNtrong toàn huyện đến hết ngày 28.02.2024 toàn huyện cơ bản đã cấy xong diện tích lúa Xuân. Hiện nay điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng, phát triển, bà con nông dân cần tập trung chăm sóc cây lúa ngay sau cấy để cây lúa bén rễ, hồi xanh nhanh. Phòng Kinh tế xin lưu ý một số biện pháp chăm sóc lúa xuân như sau:

      1. Về nước tưới

Sau cấy luôn phải giữ một lớp nước nông khoảng 3-5cm trên mặt ruộng: vừa giữ ấm cho cây lúa giúp cho cây nhanh bén rễ hồi xanh tốt, hạn chế cỏ dại, tăng hiệu lực phân bón.

      Đến khi cây lúa bắt đầu đẻ nhánh thực hiện phương châm tưới nước theo công thức nông – lộ – phơi: tưới nông và giữ ẩm xen kẽ để tạo điều kiện cho mùn giun phát triển, giúp lúa đẻ nhánh sớm, đẻ khỏe, đẻ tập trung; không để ruộng khô cỏ sẽ mọc nhiều. Khi lúa đẻ nhánh kín đất tháo cạn nước để lộ chân chim giúp rễ lúa ăn sâu sẽ tăng khả năng chống đổ của cây.

      2. Dặm, tỉa

      Sau khi cấy cần kiểm tra, tỉa bớt đối với những khóm to, dặm vào những chỗ cây chết, cây chưa đồng đều để sớm ổn định mật độ, đảm bảo mật độ 30-35 khóm/m2, 1-2 dảnh/khóm đối với các giống đẻ khỏe và đối với lúa đẻ trung bình 35 – 40 khóm/m2, 2- 3 dảnh/khóm.

Tiến hành dặm tỉa càng sớm càng tốt nên kết thúc trước khi cây lúa đẻ nhánh.

      3. Phân bón và kỹ thuật bón phân

      Năm nay, các xã, thị trấn đã chủ động cày ải, tuy nhiên do thời tiết nhiệt độ thấp kéo dài nên tốc độ khoáng hóa chậm, nên phương châm bón phân là bón lót đầy đủ, tăng lượng phân bón thúc và bón rải, bón cân đối NPK, chú trọng tăng lượng kali bón thúc để hạn chế bệnh đạo ôn gây hại lá. Cần chú ý quan sát thời tiết và sinh trưởng của lúa để bổ xung phân bón đạm và kali khi lúa làm đòng một cách linh hoạt.

      *  Lượng bón: Ngoài lượng phân đã bón lót, có thể bón thúc bằng các loại phân NPK chuyên thúc có hàm lượng đạm và kali cao như loại 16:5:17; 17:5:16; 12:5:10… với lượng khoảng 12-15 kg/sào theo.

    Cách bón:

      – Thúc lần 1: bón 2/3 lượng phân thúc khi lúa bén rễ hồi xanh, ra lá mới, trời ấm trên 15oC.

      – Thúc lần 2: bón hết số phân còn lại sau lần 1 từ 10 – 12 ngày.

        Lưu ý:

      Tùy vào điều kiện cụ thể, nếu giai đoạn phân hóa đòng cây lúa có biểu hiện đói ăn cần bón bổ sung với tỷ lệ 1 đạm: 1 kaly.

Không nên sử dụng phân đơn để bón cho lúa, đặc biệt không được bón đạm lai rai sẽ kéo dài thời gian đẻ nhánh, làm cho lúa tốt lá, ruộng lúa không thông thoáng là điều kiện để sâu bệnh phát sinh gây hại.

     Đối với diện tích cấy bằng các giống mẫn cảm với bệnh đạo ôn cần theo dõi điều kiện thời tiết, khi  có mưa phùn, độ ẩm không khí cao nguy cơ bệnh đạo ôn xuất hiện và  bùng phát thành dịch cần kiểm tra, phun phòng sớm khi đạo ôn lá xuất hiện bằng các loại thuốc đặc hiệu./.

CTV: Phùng Thị Thanh Chúc – PHÒNG KINH TẾ

Admin

Cập nhật thông tin chi tiết về Cổng Điện Tử Trung Tâm Khuyến Nông Quảng Nam trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!