Xu Hướng 12/2022 # Chia Sẻ Kỹ Thuật Trồng Cam Quýt Trĩu Quả, Mọng Nước / 2023 # Top 17 View | Duhocaustralia.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Chia Sẻ Kỹ Thuật Trồng Cam Quýt Trĩu Quả, Mọng Nước / 2023 # Top 17 View

Bạn đang xem bài viết Chia Sẻ Kỹ Thuật Trồng Cam Quýt Trĩu Quả, Mọng Nước / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Kỹ thuật trồng cam quýt đúng cách, ít sâu bệnh, cho quả sai mọng nước

Thông tin chia sẻ kinh nghiệm từ những người trồng cam, quýt:

“Mình cũng có trồng cam năm nay mới được thu hoạch nên cũng có hiểu chút ít, theo mình để cây cam canh cho quả nhỏ thì cây phải sai quả dưỡng chất mình cung cấp cho cây luôn trong tình trạng thòm thèm, chủ yếu là cho cây duy trì nuôi bằng đó trái nhưng vẫn thấy thiếu.” – bạn Nongdanbk chia sẻ“Cam, quýt có bộ rễ ăn khá nông trên mặt đất, nếu mình dùng cuốc để làm cỏ rất dễ gây đứt rễ làm nguy cơ phát sinh mầm bệnh.” – Anh Hùng chia sẻ

Chia sẻ các trồng cây ăn trái , trồng cam quýt từ trung tâm khuyến nông Lâm Đồng“Kỹ thuật trồng cam, quýt”

Giới thiệu chung

– Cây có múi cam, quýt, bưởi: Phát triển ở nhiệt độ từ 13-39oC, thích hợp nhất từ 23-29oC. Nhiệt độ có ảnh hưởng đến phẩm chất và phát triển của trái, ở đồng bằng sông Cửu Long do có nhiệt độ cao và ẩm độ thấp nên trái thường chín sớm, vị ngọt, nhưng vỏ có màu sắc không đẹp.

– Về lượng mưa: Lượng mưa thích hợp khoảng 1000-2000 mm/năm và phân bố đều trong năm.

– Ánh sáng: Cam quýt thích hợp ánh sáng tán xạ, không thích ánh sáng trực tiếp.

– Đất đai: Đất có tầng đất canh tác sâu từ 0,5-1m, thoát nước tốt, đất màu mỡ, độ pH từ 5-7 là thích hợp.

Giới thiệu về giống

Cây cam, quýt, bưởi thuộc nhóm cây có múi, có nguồn gốc ở Đông Nam Á. Ở Việt Nam, cây cam, quýt được trồng nhiều ở miền Bắc và ở Nam Bộ như Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp. Một số giống được trồng phổ biến điển hình là:

1. Giống cam sành

Là giống lai giữa cam ngọt và quýt, dạng trái hình cầu, vỏ trái dày sần sùi (4mm), khi chín có màu vàng, khá nhiều nước, ngon ngọt, nhiều hạt (10-15 hạt/trái) trọng lượng trung bình 200-250gam/quả. Hiện giống này được trồng nhiều ở huyện Tam Bình (Vĩnh Long), huyện Châu Thành và Chợ Lách (Bến Tre), tỉnh Tiền Giang và Cần Thơ.

2. Giống cam mật

Dạng trái tròn, vỏ dày 3-4 mm, có màu xanh đến xanh vàng, thịt trái màu vàng cam, ngọt đậm đà, nhiều nước, có nhiều hạt hơn cam sành (15-20 hạt.quả). Giống cam này được trồng nhiều ở Cần Thơ.

3. Giống quýt tiều

Dạng trái tròn, dẹp hai đầu, dễ bóc vỏ, thịt màu cam hoặc vàng cam, khá ráo nước, ngọt có pha vị chua, hạt nhiều (12-15 hạt/quả). Trọng lượng quả trung bình 140-190 gam/quả. Giống này được trồng nhiều tại huyện Lai Vung (Đồng Tháp), huyện Ô Môn (Cần Thơ) và huyện Bình Minh (Vĩnh Long).

4. Giống quýt đường

Dạng trái hình cầu, vỏ mỏng (dày 2mm) màu xanh đến xanh vàng, vỏ dễ bóc, thịt trái màu cam, ngọt đậm quả nhiều nước, hạt nhiều (7-11 hạt/trái), trọng lượng trái trung bình 123-200gam/quả. Giống này được trồng nhiều ở Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

5. Giống bưởi năm roi

Xuất xứ từ huyện Bình Minh (Vĩnh Long) cây được nhân giống bằng hạt, sau đó được chiết ra để trồng khắp vùng trong huyện, dạng quả hình cầu, vỏ khi chín có màu vàng, dễ bóc vỏ, vỏ dày 18mm, tép có vị ngọt, không hạt. Quả có trọng lượng trung bình 1,2 kg/quả, tỷ lệ thịt 53,5%. Giống này được trồng nhiều và tập trung ở huyện Bình Minh (Vĩnh Long) huyện Châu Thành và Ô Môn (Cần Thơ) và rải rác ở các huyện Miền Tây.

6. Giống bưởi đường lá cam

Có nguồn gốc ở Biên Hoà (Đồng Nai) dạng quả hình cầu, vỏ màu vàng xanh đẹp, thịt quả nhiều hơn bưởi Năm roi (tỷ lệ 60%) phẩm chất ngon, có vị ngọt, vỏ mỏng hơn bưởi Năm roi (dày10mm). Đây là giống chủ lực trồng ở các vùng miền Đông Nam Bộ như ở Vĩnh Cửu (Đồng Nai), Tân Uyên (Bình Dương).

7. Bưởi Da xanh

Có nguồn gốc từ cây trồng hạt, tại xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến tre. Tên gọi Da xanh xuất phát từ đặc tính của quả khi chín vẫn giữ màu xanh. Cây có khả năng cho trái sau 2,5-3,5 năm trồng bằng cây chiết hoặc cây ghép nếu được chăm sóc tốt.

Thời gian từ ra hoa đến thu hoạch trái khoảng 7-7,5 tháng. Năng suất khá cao, trên 100 trái/cây/năm đối với cây khoảng từ 14 năm tuổi, và khá ổn định.

Trái có trọng lượng khá to 1500 g/trái, dạng hình quả cầu, vỏ trái màu xanh đến xanh vàng khi chín và dễ lột, con tép màu hồng đỏ, bó chặt và dễ tách khỏi vách múi, nước quả khá, vị ngọt chua (brix 9,5-12%), tỉ lệ thịt quả trên trên 55%, mùi thơm và nhiều hạt (10-30 hạt/trái).

Kỹ thuật canh tác

Các phương pháp chính thông dụng hiện nay là:

1. Chiết cành

Chọn cây mẹ có năng suất cao, ổn định, không có triệu chứng bệnh greening hoặc phytophthora sp (quan sát bằng mắt). Chọn cành bánh tẻ (không già, không non), sinh trưởng tốt, vị trí ở ngoài trảng.

2. Ghép mắt

+ Gieo gốc ghép (hạt) khoảng 10-12 tháng có đường kính 1cm là tiến hành ghép được. Gốc ghép phải mọc thẳng, không dị dạng và sâu bệnh (hạt giống làm gốc ghép có thể là cam mật, cam 3 lá, volkameriana, citrange carrizo, quýt Cleopatra,…).

+ Chọn nhánh ghép: Chọn cây mẹ tốt, tương đối sạch bệnh, chọn nhánh mọc ngoài trảng, sau đó tách mắt ghép có kích thước vừa nhỏ hơn miệng ghép, chú ý không để mắt ghép bị dơ, dập bể.

Hiện nay, cam quýt thường được nhân giống bằng 2 phương pháp trên. Tuy nhiên một số bệnh như: Tristeza, greening, virus đều lây lan qua mắt ghép, cành chiết. Vì vậy, để cây giống được sạch bệnh và khỏe mạnh chúng ta cần phải sản xuất cây giống bằng phương pháp vi ghép đỉnh sinh trưởng (shoot tip-grafting)

3. Vi ghép

Là một kỹ thuật đòi hỏi sự chính xác, trong đó mắt ghép và gốc ghép đều được nhân lên trong ống nghiệm và thực hiện trong điều kiện vô trùng.

Sử dụng vi ghép cây con sau khi vi ghép hoàn toàn sạch bệnh.

1. Thời vụ

Có thể trồng quanh năm, nếu trồng trong mùa nắng phải đảm bảo chế độ tưới nước, thông thường ở Tây Nguyên có thể trồng vào tháng 6-7 là tốt nhất.

2. Khoảng cách

Cam nên trồng khoảng cách 4m x 4m, quýt với 4m x 5m, bưởi 5m x 5m.

3. Trồng cây chắn gió, che mát

Chắn gió có thể trồng xung quanh vườn, chú ý hướng gió chính, có thể trồng cây mít, keo lá tràm, keo lá to. Trồng cây che bóng vì cây cam quýt thích hợp ánh sáng tán xạ, có thể trồng muồng đen, so đũa v.v… ở giữa các hàng cây.

4. Làm cỏ, tủ gốc

Làm sạch cỏ để cỏ không tranh chấp dinh dưỡng với cây chính, sau đó để tủ đất giữ ẩm bởi vì đa số rễ của cam quýt mọc cạn.

5. Bón phân

Phân chuồng hoai mục trước khi trồng 10-15 kg/hốc. Sau khi trồng cứ 3 tháng tưới 1 lần phân urê pha nước (pha 40 gam phân trong thùng 8 lít nước).

* Năm thứ 2: Bón 200g urê, bón 500g lân, bón 50g Kaliclorua/cho 1cây/năm.

* Năm thứ 3: Bón 450g urê, bón 1kg phân lân, bón 170g Kaliclorua/1cây/năm.

* Năm thứ 4: Bón 900g urê, bón 1,5kg lân, bón 250g Kaliclorua/1cây/năm

* Năm thứ 5 trở đi bón:

– Trước khi ra hoa: Bón 1/5 đạm + 1/5 lân + 1/5 kali.

– Sau khi đậu quả: 1/5 đạm + 1/5 lân + 1/5 kali.

– Giai đoạn nuôi quả: 2/5 đạm + 1/5 lân.

– Trước khi thu hoạch 1 tháng bón 3/5 kali.

– Sau khi thu hoạch: Bón để phục hồi cây 1/5đạm và 2/5 lân.

* Cách bón:

Đánh rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu của tán lá (cách gốc tối thiểu 0,5m). Bón phân trong rãnh cuốc xong lấp đất lại.

Phòng trừ sâu bệnh

1. Sâu vè bùa: Sâu đục dưới lớp biểu bì lá thành những đường ngoằn ngoèo. Sự phá hại của sâu làm cho lá co cúm, quăn queo, hạn chế quang hợp. Ngoài ra, các vết thương do sâu to nên trên lá, chồi tạo điều kiện cho bệnh loét phát triển.

Biện pháp phòng trừ: Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, thúc cho các đợt ra lộc tập trung, chóng thành thục có thể hạn chế được phá hại của sâu.

Bệnh nặng dùng các loại thuốc hoá học có tác dụng nội hấp để phun phòng trừ cho cam, quýt

2. Rầy mềm: Thường chích hút nhựa ở đầu ngọn làm chồi và lá non không phát triển được, co rúm lại, đồng thời phân của chúng thải ra tạo điều kiện cho nấm bồ hóng cộng sinh và phát triển. Rầy mềm còn là môi giới truyền bệnh Tristeza trên cây có múi.

* Phòng trị: Phun thuốc phòng trừ rầy rệp trên cam, quýt vào các đợt lộc của cây.

3. Rầy chổng cánh

* Tác hại của rầy chổng cánh

– Là côn trùng truyền bệnh vàng lá greening trên cam, quýt.

– Trực tiếp gây hại bằng cách chích hút trên đọt non, làm đọt non bị chết.

– Gây hại trên tất cả các cây họ cam quýt như:

+ Cam: Cam mật, cam dây, cam sành, cam canh…

+ Quýt: Quýt đường, quýt tiều,…

+ Bưởi: Bưởi năm roi, Bưởi long, bưởi da xanh,…

+ Chanh: Chanh giấy, chanh tàu,…

– Di chuyển từ nơi này đến nơi khác chủ yếu nhờ gió

– Bị hấp dẫn bởi màu vàng và vàng nâu.

– Xuất hiện nhiều vào lúc cây ra đọt non.

* Thiên địch của rầy chổng cánh

Rầy chổng cánh có thể bị hại bởi một số thiên địch ngoài tự nhiên như bọ rùa, ong ký sinh và nấm.

* Phòng trừ rầy chổng cánh

– Không nên trồng các cây kiểng họ cam quýt gần vườn cam quýt, vườn ươm sản xuất cây giống.

– Trồng cây chắn gió xung quanh vườn để ngăn chặn rầy từ nơi khác bay đến.

– Cắt tỉa cành, điều khiển các đợt ra đọt non tập trung để xịt thuốc trừ rầy

– Thường xuyên thăm vườn để phát hiện ấu trùng và rầy trưởng thành để tiêu diệt kịp thời, nhất là những giai đoạn cây ra đọt non hoặc sau những cơn giông lớn.

– Nhổ bỏ những cây bị bệnh vàng lá trong vườn đem tiêu hủy để loại trừ nguồn bệnh lây lan sang những cây khỏe. Trước khi hủy, xịt thuốc để loại trừ rầy chổng cánh bay sang các cây khác lân cận.

– Bảo vệ các loài thiên địch phát triển bằng cách phun thuốc phòng trừ hợp lý.

– Phun thuốc:

4. Nhện đỏ

Cả ấu trùng và thành trùng đều rất nhỏ, màu nâu, vàng lợt hoặc trắng trong tùy loại, thường bu chích hút bên ngoài vỏ trái non khoảng 1-2 tháng tuổi, ít khi trái bị rụng nhưng thường làm cho vỏ trái sần sùi như cám, nên thường gọi là trái da cám, làm giảm giá trị thương phẩm.

Phòng trị: Phun các loại thuốc đặc trị nhện đỏ.

1. Bệnh loét: Do vi khuẩn gây hại. Ban đầu lá, trái cành đều bị nhiễm, dễ thấy nhất trên lá và trái. Vết bệnh lúc đầu nhỏ, sũng nước, màu xanh sậm, sau đó biến thành màu nâu nhạt, mọc nhô trên mặt lá hay vỏ trái, chung quanh vết bệnh trên lá có thể có quầng vàng.

Biện pháp phòng trị: Cắt bỏ, tiêu hủy những cành, lá bệnh, vệ sinh nghiêm ngặt kể cả quần áo công nhân làm vườn.

– Phun các loại thuốc gốc đồng như Copperzinc, Kasuran BTN (1,5-2%), hoặc Zineb 80 BHN (1/500-1/800) ở giai đoạn cây chờ đâm tược ra hoa và sau đó khi 2/3 hoa đã rụng cánh và tiếp tục phun định kỳ 2 tuần/lần cho đến khi trái chín.

– Xử lý hạt, mắt ghép trước bằng nước Javel hay nhiệt (nước: 5nóng:5 lạnh) trong 20 phút.

2. Bệnh vàng lá Greening

Bệnh vàng lá greening do vi khuẩn gram âm sống trong mạch dẫn libe của cây, lây lan qua mắt ghép hoặc do rầy chổng cánh truyền qua. Vi khuẩn gây xáo trộn sinh lý, làm tắt nghẽn quá trình vận chuyển dinh dưỡng. Do đó làm thiệt hại đến năng suất, phẩm chất trái.

Triệu chứng:

Có thể phát hiện các triệu chứng ở bất kỳ thời điểm nào trong năm (ở vùng châu Á).

Triệu chứng điển hình của bệnh: Lá vàng lốm đốm (chứa nhiều vi khuẩn) song các triệu chứng đi kèm như vàng lá gân xanh (thiếu kẽm), vàng lá thiếu Mangan cũng dể dàng tìm thấy. Cần lưu ý gân lá vẫn xanh, trong khi nếu lá vàng gân vàng thì lại điển hình hơn của bệnh do nấm Phytophthora.

Trung gian truyền bệnh: Côn trùng truyền bệnh vàng lá Greening là rầy chổng cánh Diaphorina citri, Kuwayama hút và truyền vi khuẩn từ cây này sang cây khác.

Phòng trị:

Không có thuốc trị bệnh mà chỉ có thể sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp đồng bộ và có tính cách rộng rãi trong vùng mới có hiệu quả cao.

– Loại bỏ cây đã nhiễm bệnh, cây ký chủ của rầy.

– Trồng cây giống sạch bệnh, cách ly nguồn nhiễm bệnh, nên trồng thưa và có cây chắn gió bảo vệ trong và ngoài.

– Sử dụng thuốc hóa học phun định kỳ bảo vệ các đợt lá non, nhất là vào mùa xuân, hay đầu mùa mưa, vì rầy luôn chọn các đọt non để đẻ trứng.

3. Bệnh thối gốc, chảy nhựa

Do nấm Phytopthora sp gây ra. Lúc đầu bệnh làm vỏ của thân cây ở vùng gốc bị úng nước, thối nâu thành những vùng bất dạng, sau đó khô, nứt dọc, chảy mủ hôi. Cây bệnh ít rễ mảnh, rể ngắn, vỏ rễ thối rất dễ tuột, nhất là ở các rễ con, lá bị vàng. Nấm gây bệnh này cũng làm thối trái, nhất là trái ở gần mặt đất và ở các vườn trồng dày.

Phòng trừ: Chọn gốc ghép chống chịu bệnh như cam ba lá, cam chua,…đất trồng phải ráo, tránh gây thương tích vùng gốc và rễ. Theo dõi phát hiện bệnh sớm, cạo sạch vùng bệnh, bôi dung dịch thuốc tím 1% hay bằng các loại thuốc như Captan 75 BTN, Aliette 80 BHN, Copper Zinc, chúng tôi gom, rải vôi và vệ sinh sạch vườn cam quýt là biện pháp quan trọng để hạn chế sự lây lan.

Thu hoạch và bảo quản

Cam, quýt từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 8-10 tháng, tùy theo giống, thời gian thu hoạch phải khô ráo, không nên thu trái sau mưa hoặc có sương mù nhiều. Trái thu xong cần dể nơi thoáng mát, không nên tồn trữ quá 15 ngày sẽ giảm giá trị thương phẩm.

Chia sẻ kỹ thuật trồng Cam Quýt trĩu quả, mọng nước Trồng trọt, Kỹ thuật trồng, Cây giống, Giống cây ăn quả, Giống cây Cam

Đăng bởi Mai Tâm

Tags: cách trồng cam quýt, kinh nghiệm trồng cam quýt, kỹ thuật trồng cam, kỹ thuật trồng cây ăn quả, trồng cây ăn trái

Kỹ Thuật Trồng Dâu Tằm Sai Quả Mọng Nước / 2023

Cây dâu tằm là cây có nguồn gốc từ khu vực Đông Á, thích hợp sinh trưởng và phát triển trên nền khí hậu nhiệt đới. Dâu tằm là cây thân gỗ, có thể cao tới 5 m tùy điều kiện chăm sóc. Cây ưa sáng, dễ trồng, không tốn công chăm sóc, sai quả.

Hiện nay có rất nhiều nơi trồng cây dâu làm bonsai bởi dâu tằm là cây sống lâu năm, cành dâu tằm mềm, nhiều cành, dễ uốn tỉa, tạo dáng, sai quả, quả đẹp nên rất được các nhà vườn ưa chuộng trồng làm bonsai. Đồng thời theo quan niệm dân gian cây dâu kị tà nên có tác dụng trừ tà. Các gia đình Bắc Bộ thường quan niệm trồng cây dâu để ngăn không cho các tà ma vào quấy nhiễu gia chủ.

Khi trồng cây dâu tằm nên trồng vào mùa xuân, khí hậu ấm áp, mưa gió thuận hòa để cây nhanh phát triển.

2. Kỹ thuật trồng cây dâu tằm sai quả

Bạn chọn khoảng đất tươi xốp, thoát nước tốt, khu vực nhiều ánh sáng mặt trời để cây phát triển tốt nhất.

Nếu không có đất vườn bạn có thể trồng cây dâu tại chậu cảnh, thùng xốp, hay vỏ bao xi măng…

Bạn có thể tiến hành trộn đất với phân chuồng, rơm rạ đã hoai mục hoặc mua đất đã trộn sẵn thành phần hữu cơ. Trước khi trồng cây dâu tằm, đất cần được bón vôi và phơi ải từ 7 – 10 ngày để diệt sạch mầm bệnh trong đất.

Đối với trồng cây dâu tằm tại nhà bạn có thể giâm cành dâu lấy giống cây hoặc mua sẵn cây con đã được nhân giống về trồng.

Giống dâu tằm tại nước ta là giống dâu trắng, ngoài ra hiện nay có một số giống tằm khác như giống dâu quả dài,… Dâu tằm thường được nhân giống bằng cách giâm cành bởi cách trồng dâu tằm bằng giâm cành thường sai quả và tuổi thọ cao hơn.

Kỹ thuật giâm cành, nhân giống dâu tằm

Chọn cành bánh tẻ có tuổi trên 8 tháng từ những cây dâu sai quả, quả ngọt, mọng nước nhất để tiến hành giâm cành.

Cắt cành giâm thành từng đoạn từ 18 – 20cm, mỗi đoạn phải có ít nhất 2 mắt, chặt cách mắt từ 0,5 tới 1cm.

Nếu trồng nhiều bạn có thể tiến hành nhúng cành dâu vào thuốc kích thích ra rễ cho tỉ lệ nảy mầm cao.

Sau đó tiến hành cắm cành dâu vào đất đã chuẩn bị sẵn hoặc vào hom rồi tưới đẫm nước. Hàng ngày chú ý tưới đủ ẩm cho đất để cành dâu nhanh bén rễ.

Sau khi cành giâm được từ 30 – 45 ngày bạn có thể tiến hành ruống cây ra đất trồng hoặc vào chậu.

Đối với cây con mua sẵn tại vườn thì về bạn bóc bỏ vỏ hom sau đó trồng cây vào bồn, lấp đất kín hom.

Rồi tưới đẫm nước cho cây nhanh bén rễ.

Sau khi trồng cây khoảng 15 – 20 ngày cây đã bén rễ bạn tiến hành bón thúc cho cây bằng phân hữu cơ hoặc hòa phân lân với nước rồi tưới. Cứ khoảng 1 – 2 tháng bạn lại tiến hành bón thúc và nhổ cỏ, vun gốc cho cây dâu một lần.

Thường xuyên tưới nước, giữ ẩm cho cây phát triển tốt, vặt bỏ lá sâu, lá già trên cây.

Tỉa cành: Nếu bạn không muốn cây phát triển cao thì ngắt ngọn hoặc cành của cây dâu. Ngoài ra bạn có thể uốn nắn cành dâu thành bonsai rất dễ, bởi cành dâu khá mềm, dễ sống nên bạn hoàn toàn có thể tự uốn nắn, tạo dáng bonsai cho cây dâu tằm của mình.

Cây dâu tằm thường ra hoa vào tháng 2 – tháng 3 và tới tháng 4 – tháng 5 là quả bắt đầu chín và cho thu hoạch. Trong thời gian cây ra hoa bạn nên bón thúc phân lân một đợt và khi quả đã đậu thì bón một đợt nữa để cây lấy dinh dưỡng nuôi quả.

Quả dâu tằm khi chín thường chuyển dần từ màu xanh sang vàng rồi đỏ và tím đen. Khi quả dâu tằm chuyển sang đỏ hoặc tím thì bạn có thể tiến hành thu hái và thưởng thức dâu tằm ngay tại vườn nhà.

Quả dâu tằm – vị thuốc cải lão hoàn đồng Lá dâu tằm – cách dùng lá dâu tằm chữa bệnh Cây dâu tằm – Vị thuốc chữa đau nhức sương khớp

3. Giá trị của cây dâu tằm

Cây dâu tằm được biết tới trong đời sống với nhiều giá trị to lớn trong y học, kinh tế – xã hội, thực phẩm…

Cây dâu tằm là cây được trồng chủ yếu lấy lá nuôi tằm để ươm tơ, dệt lụa. Thời xưa lụa tơ tằm là thứ đắt tiền chỉ dùng cho giới quan lại, vua chúa, quý tộc, thượng lưu trong xã hội. Lụa tơ tằm nổi tiếng bởi vẻ đẹp óng ánh của mình khi ánh sáng chiếu vào cùng vẻ mịn, mượt hiếm có của loại lụa này. Lụa tơ tằm mở ra con đường tơ lụa, phát triển nền giao thương xuyên lục địa từ thời xa xưa. Con đường tơ lụa hình thành do nghề trồng dâu nuôi tằm đem theo cả những nét văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng thời bấy giờ nối liền giữ hai nền văn minh Đông Tây từ thời cổ đại.

Cho tới ngày nay thì lụa tơ tằm vẫn luôn giữ nguyên được giá trị của nó.

Cây dâu tằm trong Đông y được biết tới với nhiều công dụng chữa bệnh thần kỳ cho sức khỏe từ thân, lá, rễ, cành, quả, tới cả cây tầm gửi trên cây dâu, tổ bọ ngựa trên cây dâu, sâu dâu đều là những vị thuốc quý trong y học cổ truyền.

Dâu tằm được biết tới với rất nhiều các món giải khát như siro dâu tằm, matcha vị dâu tằm,… được rất nhiều người ưa thích, đặc biệt là trong những ngày hè oi bức thì còn gì tuyệt vời hơn một ly siro dâu tằm. Hay trong các món bánh như bông lan dâu tằm, mứt dâu tằm… cũng rất được ưa chuộng.

Lá dâu tằm đặc biệt được ưa thích sử dụng trong các món cuốn, gỏi.. có nơi dùng lá râu tằm nấu ăn như rau hàng ngày.

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết.

Kỹ Thuật Trồng Cam, Quýt / 2023

I. GIỚI THIỆU CHUNG

– Cây có múi cam, quýt, bưởi: Phát triển ở nhiệt độ từ 13-39oC, thích hợp nhất từ 23-29oC. Nhiệt độ có ảnh hưởng đến phẩm chất và phát triển của trái, ở đồng bằng sông Cửu Long do có nhiệt độ cao và ẩm độ thấp nên trái thường chín sớm, vị ngọt, nhưng vỏ có màu sắc không đẹp.

– Về lượng mưa: Lượng mưa thích hợp khoảng 1000-2000 mm/năm và phân bố đều trong năm.

– Ánh sáng: Cam quýt thích hợp ánh sáng tán xạ, không thích ánh sáng trực tiếp.

– Đất đai: Đất có tầng đất canh tác sâu từ 0,5-1m, thoát nước tốt, đất màu mỡ, độ pH từ 5-7 là thích hợp.

II. GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG

Cây cam, quýt, bưởi thuộc nhóm cây có múi, có nguồn gốc ở Đông Nam Á. Ở Việt Nam, cây cam, quýt được trồng nhiều ở miền Bắc và ở Nam Bộ như Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp. Một số giống được trồng phổ biến điển hình là:

1. Giống cam sành

Là giống lai giữa cam ngọt và quýt, dạng trái hình cầu, vỏ trái dày sần sùi (4mm), khi chín có màu vàng, khá nhiều nước, ngon ngọt, nhiều hạt (10-15 hạt/trái) trọng lượng trung bình 200-250gam/quả. Hiện giống này được trồng nhiều ở huyện Tam Bình (Vĩnh Long), huyện Châu Thành và Chợ Lách (Bến Tre), tỉnh Tiền Giang và Cần Thơ.

2. Giống cam mật

Dạng trái tròn, vỏ dày 3-4 mm, có màu xanh đến xanh vàng, thịt trái màu vàng cam, ngọt đậm đà, nhiều nước, có nhiều hạt hơn cam sành (15-20 hạt.quả). Giống cam này được trồng nhiều ở Cần Thơ.

3. Giống quýt tiều

Dạng trái tròn, dẹp hai đầu, dễ bóc vỏ, thịt màu cam hoặc vàng cam, khá ráo nước, ngọt có pha vị chua, hạt nhiều (12-15 hạt/quả). Trọng lượng quả trung bình 140-190 gam/quả. Giống này được trồng nhiều tại huyện Lai Vung (Đồng Tháp), huyện Ô Môn (Cần Thơ) và huyện Bình Minh (Vĩnh Long).

4. Giống quýt đường

Dạng trái hình cầu, vỏ mỏng (dày 2mm) màu xanh đến xanh vàng, vỏ dễ bóc, thịt trái màu cam, ngọt đậm quả nhiều nước, hạt nhiều (7-11 hạt/trái), trọng lượng trái trung bình 123-200gam/quả. Giống này được trồng nhiều ở Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

5. Giống bưởi năm roi

Xuất xứ từ huyện Bình Minh (Vĩnh Long) cây được nhân giống bằng hạt, sau đó được chiết ra để trồng khắp vùng trong huyện, dạng quả hình cầu, vỏ khi chín có màu vàng, dễ bóc vỏ, vỏ dày 18mm, tép có vị ngọt, không hạt. Quả có trọng lượng trung bình 1,2 kg/quả, tỷ lệ thịt 53,5%. Giống này được trồng nhiều và tập trung ở huyện Bình Minh (Vĩnh Long) huyện Châu Thành và Ô Môn (Cần Thơ) và rải rác ở các huyện Miền Tây.

6. Giống bưởi đường lá cam

Có nguồn gốc ở Biên Hoà (Đồng Nai) dạng quả hình cầu, vỏ màu vàng xanh đẹp, thịt quả nhiều hơn bưởi Năm roi (tỷ lệ 60%) phẩm chất ngon, có vị ngọt, vỏ mỏng hơn bưởi Năm roi (dày10mm). Đây là giống chủ lực trồng ở các vùng miền Đông Nam Bộ như ở Vĩnh Cửu (Đồng Nai), Tân Uyên (Bình Dương).

7. Bưởi Da xanh

Có nguồn gốc từ cây trồng hạt, tại xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến tre. Tên gọi Da xanh xuất phát từ đặc tính của quả khi chín vẫn giữ màu xanh. Cây có khả năng cho trái sau 2,5-3,5 năm trồng bằng cây chiết hoặc cây ghép nếu được chăm sóc tốt.

Thời gian từ ra hoa đến thu hoạch trái khoảng 7-7,5 tháng. Năng suất khá cao, trên 100 trái/cây/năm đối với cây khoảng từ 14 năm tuổi, và khá ổn định.

Trái có trọng lượng khá to 1500 g/trái, dạng hình quả cầu, vỏ trái màu xanh đến xanh vàng khi chín và dễ lột, con tép màu hồng đỏ, bó chặt và dễ tách khỏi vách múi, nước quả khá, vị ngọt chua (brix 9,5-12%), tỉ lệ thịt quả trên trên 55%, mùi thơm và nhiều hạt (10-30 hạt/trái).

III. KỸ THUẬT CANH TÁC

A. Phương pháp nhân giống

Có 2 phương pháp chính thông dụng hiện nay là:

1. Chiết cành

Chọn cây mẹ có năng suất cao, ổn định, không có triệu chứng bệnh greening hoặc phytophthora sp (quan sát bằng mắt). Chọn cành bánh tẻ (không già, không non), sinh trưởng tốt, vị trí ở ngoài trảng.

2. Ghép mắt

+ Gieo gốc ghép (hạt) khoảng 10-12 tháng có đường kính 1cm là tiến hành ghép được. Gốc ghép phải mọc thẳng, không dị dạng và sâu bệnh (hạt giống làm gốc ghép có thể là cam mật, cam 3 lá, volkameriana, citrange carrizo, quýt Cleopatra,…).

+ Chọn nhánh ghép: Chọn cây mẹ tốt, tương đối sạch bệnh, chọn nhánh mọc ngoài trảng, sau đó tách mắt ghép có kích thước vừa nhỏ hơn miệng ghép, chú ý không để mắt ghép bị dơ, dập bể.

Hiện nay, cam quýt thường được nhân giống bằng 2 phương pháp trên. Tuy nhiên một số bệnh như: Tristeza, greening, virus đều lây lan qua mắt ghép, cành chiết. Vì vậy, để cây giống được sạch bệnh và khỏe mạnh chúng ta cần phải sản xuất cây giống bằng phương pháp vi ghép đỉnh sinh trưởng (shoot tip-grafting)

3. Vi ghép

Là một kỹ thuật đòi hỏi sự chính xác, trong đó mắt ghép và gốc ghép đều được nhân lên trong ống nghiệm và thực hiện trong điều kiện vô trùng.

Sử dụng vi ghép cây con sau khi vi ghép hoàn toàn sạch bệnh.

B. Kỹ thuật trồng

1. Thời vụ

Có thể trồng quanh năm, nếu trồng trong mùa nắng phải đảm bảo chế độ tưới nước, thông thường ở Tây Nguyên có thể trồng vào tháng 6-7 là tốt nhất.

2. Khoảng cách

Cam nên trồng khoảng cách 4m x 4m, quýt với 4m x 5m, bưởi 5m x 5m.

3. Trồng cây chắn gió, che mát

Chắn gió có thể trồng xung quanh vườn, chú ý hướng gió chính, có thể trồng cây mít, keo lá tràm, keo lá to. Trồng cây che bóng vì cây cam quýt thích hợp ánh sáng tán xạ, có thể trồng muồng đen, so đũa v.v… ở giữa các hàng cây.

4. Làm cỏ, tủ gốc

Làm sạch cỏ để cỏ không tranh chấp dinh dưỡng với cây chính, sau đó để tủ đất giữ ẩm bởi vì đa số rễ của cam quýt mọc cạn.

5. Bón phân

Phân chuồng hoai mục trước khi trồng 10-15 kg/hốc. Sau khi trồng cứ 3 tháng tưới 1 lần phân urê pha nước (pha 40 gam phân trong thùng 8 lít nước).

* Năm thứ 2: Bón 200g urê, bón 500g lân, bón 50g Kaliclorua/cho 1cây/năm.

* Năm thứ 3: Bón 450g urê, bón 1kg phân lân, bón 170g Kaliclorua/1cây/năm.

* Năm thứ 4: Bón 900g urê, bón 1,5kg lân, bón 250g Kaliclorua/1cây/năm

* Năm thứ 5 trở đi bón:

– Trước khi ra hoa: Bón 1/5 đạm + 1/5 lân + 1/5 kali.

– Sau khi đậu quả: 1/5 đạm + 1/5 lân + 1/5 kali.

– Giai đoạn nuôi quả: 2/5 đạm + 1/5 lân.

– Trước khi thu hoạch 1 tháng bón 3/5 kali.

– Sau khi thu hoạch: Bón để phục hồi cây 1/5đạm và 2/5 lân.

* Cách bón:

Đánh rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu của tán lá (cách gốc tối thiểu 0,5m). Bón phân trong rãnh cuốc xong lấp đất lại.

IV. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH

A. SÂU HẠI

1. Sâu vè bùa: Sâu đục dưới lớp biểu bì lá thành những đường ngoằn ngoèo. Sự phá hại của sâu làm cho lá co cúm, quăn queo, hạn chế quang hợp. Ngoài ra, các vết thương do sâu to nên trên lá, chồi tạo điều kiện cho bệnh loét phát triển.

Biện pháp phòng trừ: Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, thúc cho các đợt ra lộc tập trung, chóng thành thục có thể hạn chế được phá hại của sâu.

Bệnh nặng dùng các loại thuốc hoá học có tác dụng nội hấp để phun phòng trừ cho cam, quýt

2.  Rầy mềm: Thường chích hút nhựa ở đầu ngọn làm chồi và lá non không phát triển được, co rúm lại, đồng thời phân của chúng thải ra tạo điều kiện cho nấm bồ hóng cộng sinh và phát triển. Rầy mềm còn là môi giới truyền bệnh Tristeza trên cây có múi.

* Phòng trị: Phun thuốc phòng trừ rầy rệp trên cam, quýt vào các đợt lộc của cây.

3.  Rầy chổng cánh

* Tác hại của rầy chổng cánh

–  Là côn trùng truyền bệnh vàng lá greening trên cam, quýt.

– Trực tiếp gây hại bằng cách chích hút trên đọt non, làm đọt non bị chết.

– Gây hại trên tất cả các cây họ cam quýt như:

+ Cam: Cam mật, cam dây, cam sành, cam canh…

+ Quýt: Quýt đường, quýt tiều,…

+ Bưởi: Bưởi năm roi, Bưởi long, bưởi da xanh,…

+ Chanh: Chanh giấy, chanh tàu,…

– Di chuyển từ nơi này đến nơi khác chủ yếu nhờ gió

– Bị hấp dẫn bởi màu vàng và vàng nâu.

– Xuất hiện nhiều vào lúc cây ra đọt non.

*  Thiên địch của rầy chổng cánh

Rầy chổng cánh có thể bị hại bởi một số thiên địch ngoài tự nhiên như bọ rùa, ong ký sinh và nấm.

*  Phòng trừ rầy chổng cánh

– Không nên trồng các cây kiểng họ cam quýt gần vườn cam quýt, vườn ươm sản xuất cây giống.

– Trồng cây chắn gió xung quanh vườn để ngăn chặn rầy từ nơi khác bay đến.

– Cắt tỉa cành, điều khiển các đợt ra đọt non tập trung để xịt thuốc trừ rầy

– Thường xuyên thăm vườn để phát hiện ấu trùng và rầy trưởng thành để tiêu diệt kịp thời, nhất là những giai đoạn cây ra đọt non hoặc sau những cơn giông lớn.

– Nhổ bỏ những cây bị bệnh vàng lá trong vườn đem tiêu hủy để loại trừ nguồn bệnh lây lan sang những cây khỏe. Trước khi hủy, xịt thuốc để loại trừ rầy chổng cánh bay sang các cây khác lân cận.

– Bảo vệ các loài thiên địch phát triển bằng cách phun thuốc phòng trừ hợp lý.

– Phun thuốc:

4. Nhện đỏ

Cả ấu trùng và thành trùng đều rất nhỏ, màu nâu, vàng lợt hoặc trắng trong tùy loại, thường bu chích hút bên ngoài vỏ trái non khoảng 1-2 tháng tuổi, ít khi trái bị rụng nhưng thường làm cho vỏ trái sần sùi như cám, nên thường gọi là trái da cám, làm giảm giá trị thương phẩm.

Phòng trị: Phun các loại thuốc đặc trị nhện đỏ.

B. BỆNH HẠI

1. Bệnh loét: Do vi khuẩn gây hại. Ban đầu lá, trái cành đều bị nhiễm, dễ thấy nhất trên lá và trái. Vết bệnh lúc đầu nhỏ, sũng nước, màu xanh sậm, sau đó biến thành màu nâu nhạt, mọc nhô trên mặt lá hay vỏ trái, chung quanh vết bệnh trên lá có thể có quầng vàng.

Biện pháp phòng trị: Cắt bỏ, tiêu hủy những cành, lá bệnh, vệ sinh nghiêm ngặt kể cả quần áo công nhân làm vườn.

– Phun các loại thuốc gốc đồng như Copperzinc, Kasuran BTN (1,5-2%), hoặc Zineb 80 BHN (1/500-1/800) ở giai đoạn cây chờ đâm tược ra hoa và sau đó khi 2/3 hoa đã rụng cánh và tiếp tục phun định kỳ 2 tuần/lần cho đến khi trái chín.

– Xử lý hạt, mắt ghép trước bằng nước Javel hay nhiệt (nước: 5nóng:5 lạnh) trong 20 phút.

2.  Bệnh vàng lá Greening

Bệnh vàng lá greening do vi khuẩn gram âm sống trong mạch dẫn libe của cây, lây lan qua mắt ghép hoặc do rầy chổng cánh truyền qua. Vi khuẩn gây xáo trộn sinh lý, làm tắt nghẽn quá trình vận chuyển dinh dưỡng. Do đó làm thiệt hại đến năng suất, phẩm chất trái.

Triệu chứng:

Có thể phát hiện các triệu chứng ở bất kỳ thời điểm nào trong năm (ở vùng châu Á).

Triệu chứng điển hình của bệnh: Lá vàng lốm đốm (chứa nhiều vi khuẩn) song các triệu chứng đi kèm như vàng lá gân xanh (thiếu kẽm), vàng lá thiếu Mangan cũng dể dàng tìm thấy. Cần lưu ý gân lá vẫn xanh, trong khi nếu lá vàng gân vàng thì lại điển hình hơn của bệnh do nấm Phytophthora.

Trung gian truyền bệnh: Côn trùng truyền bệnh vàng lá Greening là rầy chổng cánh Diaphorina citri, Kuwayama hút và truyền vi khuẩn từ cây này sang cây khác.

Phòng trị:

Không có thuốc trị bệnh mà chỉ có thể sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp đồng bộ và có tính cách rộng rãi trong vùng mới có hiệu quả cao.

– Loại bỏ cây đã nhiễm bệnh, cây ký chủ của rầy.

– Trồng cây giống sạch bệnh, cách ly nguồn nhiễm bệnh, nên trồng thưa và có cây chắn gió bảo vệ trong và ngoài.

– Sử dụng thuốc hóa học phun định kỳ bảo vệ các đợt lá non, nhất là vào mùa xuân, hay đầu mùa mưa, vì rầy luôn chọn các đọt non để đẻ trứng.

3. Bệnh thối gốc, chảy nhựa

Do nấm Phytopthora sp gây ra. Lúc đầu bệnh làm vỏ của thân cây ở vùng gốc bị úng nước, thối nâu thành những vùng bất dạng, sau đó khô, nứt dọc, chảy mủ hôi. Cây bệnh ít rễ mảnh, rể ngắn, vỏ rễ thối rất dễ tuột, nhất là ở các rễ con, lá bị vàng. Nấm gây bệnh này cũng làm thối trái, nhất là trái ở gần mặt đất và ở các vườn trồng dày.

Phòng trừ: Chọn gốc ghép chống chịu bệnh như cam ba lá, cam chua,…đất trồng phải ráo, tránh gây thương tích vùng gốc và rễ. Theo dõi phát hiện bệnh sớm, cạo sạch vùng bệnh, bôi dung dịch thuốc tím 1% hay bằng các loại thuốc như Captan 75 BTN, Aliette 80 BHN, Copper Zinc, chúng tôi gom, rải vôi và vệ sinh sạch vườn cam quýt là biện pháp quan trọng để hạn chế sự lây lan.

V. THU HOẠCH  & BẢO QUẢN

Cam, quýt từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 8-10 tháng, tùy theo giống, thời gian thu hoạch phải khô ráo, không nên thu trái sau mưa hoặc có sương mù nhiều. Trái thu xong cần dể nơi thoáng mát, không nên tồn trữ quá 15 ngày sẽ giảm giá trị thương phẩm.

HN

Kỹ Thuật Trồng Cây Cam Quýt / 2023

Chọn đất trồng cam quýt: Cam quýt có thể trồng được trên nhiều loại đất như đất phù sa ven sông, đất đồi, đất phù sa cổ, đất thung lũng ở các vùng núi… Các loại đất trên có tầng dày 80cm, thoát nước (nhẹ và xốp), mực nước ngầm dưới 1m, độ pH từ 5,5-7, độ dốc không quá 20-25%.

Cần có biện pháp chống xói mòn, bằng trồng cây che phủ giữa hàng (cỏ mềm, lạc hoặc một số cây họ đậu…).

Thời vụ trồng: ở các tỉnh phía Bắc, thời vụ trồng cam quýt là mùa xuân và mùa thu, nhưng tốt nhất là trồng vào mùa xuân, khi có mưa xuân tỷ lệ cây sống cao.

Nhu cầu về nước: ở các tỉnh miền núi phía Bắc, lượng mưa trung bình khá lớn 1500-2000mm, nhưng tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hè và mùa thu, do vậy, cần có biện pháp chống úng cho cây vào mùa mưa. Giai đoạn khô nhất trong năm lại trùng với giai đoạn ngủ nghỉ của cây, chuẩn bị cho sự phát triển của mầm hoa. Tuy nhiên, những năm khô hạn, cần tưới nước vào những thời điểm sau:

– Giai đoạn phát lộc xuân đến giai đoạn quả nhỏ;

– Giai đoạn quả đang lớn đến trước thu hoạch 1 tháng;

– Sau các đợt bón phân.

Chắn gió: Cần có hàng rào cây chắn gió bảo vệ cây để giảm thiệt hại về cơ giới và đảm bảo cho cây phát triển tốt. Hàng cây chắn gió còn có tác dụng hạn chế sự xâm nhập của sâu hại và lây lan của bệnh hại.

Phân bón:

Bón lót: Nhằm cung cấp lượng dinh dưỡng gồm các nguyên tố đa lượng (N, P, K, Ca), vi lượng (Cu, Zn, Mn, Mg…) cho đất trước khi trồng cây để cây sinh trưởng tốt.N: Đạm urê (45% N);P: Supe photphat (17% P205);K: Kali (63% K)

Bón duy trì: Nhằm đảm bảo độ phì cho đất và dinh dưỡng cho cây. Lượng phân bón tăng dần theo tuổi cây và căn cứ vào năng suất quả. Thời kỳ bón là giai đoạn cây có nhu cầu dinh dưỡng cao nhất.

Phân bón sâu vào đất bằng cách cuốc các rãnh nhỏ xung quanh tán cây, sau đó lấp nhẹ một lớp đất.

Làm cỏ, xới xáo: Xung quanh gốc vùng dưới tán cây phải luôn sạch sẽ, để hạn chế sự cạnh tranh dinh dưỡng và nước của cỏ với cây và giúp cho cây phát triển tốt. Có thể làm cỏ bằng tay, xới xáo nhẹ bằng dầm hoặc dùng thuốc trừ cỏ. Cũng có thể dùng rơm, rạ phủ xung quanh gốc để hạn chế cỏ mọc và giữ ẩm cho đất. Thời kỳ cây chưa khép tán, có thể trồng xen một số cây họ đậu giữa các hàng, hoặc duy trì cỏ ở độ cao 10cm so với mặt đất để tránh xói mòn.

Đốn tỉa:

Tác dụng: Nhằm điều chỉnh sinh trưởng của cây, tạo cây thông thoáng, đủ ánh sáng, cây sinh trưởng và phát triển tốt, hạn chế sâu bệnh, ra hoa đậu quả đều, cho năng suất và chất lượng quả cao.

Đốn tạo hình: Thực hiện ngay trong 2 năm đầu sau khi trồng. Vào lúc trồng hoặc sau khi trồng một thời gian, tiến hành cắt ngọn thân chính ở độ cao 70-80cm. Sau khi đốn lần 1, cây bị kích thích sẽ cho ra những mầm mới phát triển, chọn giữ lại 3-4 mầm phân bố đều xung quanh cây để tạo bộ khung chính cho cây.

Đốn duy trì: Đốn dọn cho cây thông thoáng, cắt bỏ những cành khô, cành tăm, cành bị sâu bệnh, cành gãy, cành tược của gốc ghép, tạo điều kiện để lá cây tiếp xúc với ánh sáng. Đây không phải là đốn tạo quả vì đối với cam quýt là không cần thiết.

Cập nhật thông tin chi tiết về Chia Sẻ Kỹ Thuật Trồng Cam Quýt Trĩu Quả, Mọng Nước / 2023 trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!