Xu Hướng 9/2023 # Cẩm Nang Cây Trồng: Giới Thiệu Về Phân Vi Sinh Vật # Top 14 Xem Nhiều | Duhocaustralia.edu.vn

Xu Hướng 9/2023 # Cẩm Nang Cây Trồng: Giới Thiệu Về Phân Vi Sinh Vật # Top 14 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Cẩm Nang Cây Trồng: Giới Thiệu Về Phân Vi Sinh Vật được cập nhật mới nhất tháng 9 năm 2023 trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Những khái niệm về phân vi sinh vật 1.1. Khái niệm

– Trong đất, đặc biệt ở vùng rễ cây trồng thường có rất nhiều VSV hoạt động, có khả năng ảnh hưởng tốt đến cây trồng. Để tăng cường số lượng và hoạt động của VSV có lợi cho cây, có thể đưa vào đất các sản phẩm chứa các VSV có ích. Các sản phẩm này còn được gọi là phân VSV.

– Khái niệm: Phân vi sinh vật là chế phẩm có chứa một hoặc nhiều chủng vi sinh vật sống có ích đã được tuyển chọn, có hoạt lực cao, có mật độ đạt theo tiêu chuẩn quy định và không có khả năng  gây hại nhằm cải tạo đất và cung cấp các chất dinh dưỡng dễ tiêu từ quá trình cố định đạm hay phân hủy các chất khó tiêu thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản.

– Thành phần của vi sinh vật gồm có: vi sinh vật có ích được tuyển chọn, chất mang và các vi sinh vật phức tạp.

+ Vi sinh vật được tuyển chọn: Là các vi sinh vật được nghiên cứu, đánh giá hoạt tính sinh học và hiệu quả đối với đất, cây trồng dùng để sản xuất phân vi sinh vật.

+ Chất mang: là chất để vi sinh vật được cấy vào đó mà tồn tại phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển, bảo quản, sử dụng.

– Chất mang không chứa chất có hại cho VSV, người, thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản. Các dạng chất mang vô cơ (bột phosphorrit, apatit, bột xương, vỏ sò), chất mang hữu cơ (than bùn, bã nấm, phế thải nông nghiệp, rác thải,…).

+ Vi sinh vật tạp: (có thể có trong phân) là vi sinh vật nhưng không thuộc loại vi sinh vật đã được tuyển chọn.

1.2. Phân loại phân vi sinh vật * Phân loại phân vi sinh vật

– Tùy thuộc vào chất mang và mật độ VSV hữu ích, các phân VSV được chia thành 2 nhóm:

+ Nhóm phân với chất mang thanh trùng: có mật độ vi sinh vật hữu ích cao (không thấp hơn 109 tế bào/gam (ml) phân), có VSV tạp nhưng thấp (không lớn hơn 106 tế bào/gam (ml) phân.

+ Nhóm phân với chất mang không thanh trùng: có mật độ vi sinh vật hữu ích thấp hơn (106 – 107 tế bào/gam phân), vi sinh vật tạp khá cao, có phần hiệu quả của VSV không nhiều nên thường được xem như là phân hỗn hợp hữu cơ – vô cơ có chứa VSV. Thường dùng để thay thế một phần phân hữu cơ và hóa học.

* Phân loại phân vi sinh vật theo chức năng sử dụng

– Căn cứ trên chức năng sử dụng có thể phân các phân vi sinh vật thành các loại:

+ Phân vi sinh vật cố định N: Là sản phẩm chứa 1 hay nhiều chủng VSV sống, đã được tuyển chọn đạt tiêu chuẩn quy định, có khả năng cố định nito từ không khí cho đất, và cây trồng sử dụng.

Các chủng VSV này có thể sống cộng sinh với cây họ đậu, sống tự do hay sống hội sinh với cây hòa thảo. VD: Nitrazin – phân VSV cố định Nito, cộng sinh với cây họ đậu, Azotobecterin – phân VSV cố định N sống tự do.

+ Phân VSV phân giải lân khó tiêu (Phosphobacterin): có khả năng chuyển hóa hợp chất phospho khó tan thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng.

+ Phân VSV phân giải xenlulo: là sản phẩm chứa 1 hay nhiều chủng VSV sống đã được tuyển chọn có mật độ tế bào đạt tiêu chuẩn, có khả năng phân giải xenlulo, để nâng cao năng suất và chất lượng nông sản, tăng độ màu mỡ của đất.

2. Tính chất của phân VSV

– Là chế phẩm của các VSV của các VSV sống hữu ích, có hoạt lực và khả năng cạnh tranh cao. Sau khi bón phân VSV, người ta thường thấy mật độ VSV hữu ích này tăng lên rõ rệt, rồi giảm dần và ổn định trong quá trình cây trồng phát triển, đến sau thu hoạch mật độ của các chuẩn VSV này giảm mạnh nên phải bón phân VSV vào các vụ trồng tiết theo.

– Thời gian sống của các VSV trong chế phẩm có vai trò rất quan trọng, nó phụ thuộc vào đặc tính của mỗi chủng VSV, thành phần và điều kiện nơi chúng cư trú (chất mang). Đa số phân VSV ở Việt Nam có thời gian bảo quản 6 – 12 tháng, trên thế giới nhiều loại phân VSV có thời gian bảo quản từ 12 – 24 tháng.

– Trong các điều kiện thuận lợi (đủ chất dinh dưỡng, pH thích hợp, CO2, nhiệt độ môi trường tối ưu) VSV sẽ phát triển cực kỳ nhanh chóng với hệ số nhân đôi có thể chỉ sau 2 – 3 h.

– Mỗi loại phân VSV chỉ thích hợp với 1 đối tượng cây trồng, đất đai củ thể – chuyên tính. Đồng thời giữa các chủng VSV cũng có mối quan hệ khá chặt chẽ với nhau. Vd: bổ sung vi khuẩn phân giải lân vào chế phẩm Azospirillum sẽ làm tăng hoạt tính cố định N của Azospirillum. Vậy để cho phân VSV được sử dụng rộng rãi, người ta thường chọn các chủng VSV có khả năng thích nghi rộng hoặc dùng nhiều chủng trong một loại phân.

– Ngoài việc cung cấp các chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng, cải thiện môi trường đất. Phân VSV còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học.

Vd: mem, chất kích thích  sinh trưởng, kháng sinh có ảnh hưởng đến sự chuyển hóa vật chất trong cây.

3. Kỹ thuật sử dụng phân VSV 3.1. Yêu cầu về chất lượng sản phẩm

– Phân VSV là 1 loại sản phẩm sinh học chứa các cơ thể sống. Phẩm chất của sản phẩm được đánh giá ở 2 thời điểm: Khi xuất xưởng và cuối thời kỳ bảo hành. Các loại phân VSV thường rất khó bảo quản lâu dài, vì vậy phải quy định thời gian bảo quản và phải được ghi rõ ràng.

– Chỉ tiêu đánh giá phân VSV thường là mật độ vi sinh vật và chất mang. Mật độ VSV được quy định, chất mang tùy thuộc nhà sản xuất nhưng phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền. Phân không được có các loại vi khuẩn có thể gây bệnh và không có khả năng gây độc.

– Chất lượng của phân bón trước hết thể hiện ở hiệu quả tăng năng suất và phẩm chất nông sản. Hiệu quả của phân bón thường thay đổi theo cây và điều kiện thổ nhưỡng. Một loại phân được phép lưu hành trên thị trường cần được thí nghiệm rộng rãi, các kết quả nghiên cứu được xác nhận cần được trình các hội đồng có thẩm quyển.

– Phân VSV phải có nhãn ghi đầy đủ với các nội dung: Tên cơ sở sản xuất, tên sản phẩm, vi sinh vật sử dụng, thành phần chất mang, độ ẩm, công dụng, ngày sản xuất và thời gian bảo hành, khối lượng tịnh, số đăng ký chất lượng, có hướng dẫn sử dụng kèm theo.

3.2. Yêu cầu về kỹ thuật sử dụng

– Các loại phân VSV cần được sử dụng đúng cách, tuân thủ đúng hướng dẫn sử dụng được ghi trên bao bì.

– Khi bảo quản phân VSV không để lẫn với hóa chất bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ), phân hóa học. Không để nơi quá ẩm và quá nóng, dưới ánh sáng mặt trời gay gắt.

– Khi sử dụng phân VSV thường trộn lẫn với hạt giống để gieo hoặc bón theo hàng theo hốc cùng phân hữu cơ.

– Đối với phân VSV có chất mang không thanh trùng, và mật độ VSV hữu ích thấp, VSV tạp khá cao, thường sử dụng để thanh thế một phần phân hữu cơ, và hóa học với lượng bón từ 100 – 1000 kg/ha.

– Đối với phân VSV có chất mang thanh trùng và mật độ VSV hữu ích cao thì người ta sử dụng nhóm phân VSV này chủ yếu là để nhiễm VSV cho đất nhằm cải thiện hệ VSV cho đất. Số lượng phân được đưa vào đất không nhiều (300 – 3000g/ha) Vd: Phân VSV cố định Nito cộng sinh – Nitragin.

Nguồn: admin

Cẩm Nang Phân Kali: Phần 1: Giới Thiệu Các Loại Phân Kali

GS Võ Minh Kha, Hướng dẫn thực hành sử dụng phân bón, NXB Nông nghiệp, Hà Nội,1996.

Mặc dù loại phân hóa học được sử dụng đầu tiên là phân lân, sau đó đến phân kali rồi mới đến phân N, hiện nay lượng phân N được sử dụng lớn nhất, sau đó đến phân lân rồi mới đến phân kali. Hiện tượng lạ lùng này là sự thực khách quan.

Nhu cầu bón kali không cấp thiết bằng lân và đạm vì các lý do sau đây:

1/ Kali có nhiều trong đất.

Trong vỏ quả đất chỉ có 0,11 % lân và có đến 2 – 4 % kali. Tỷ lệ đạm trong đất trồng thay đổi từ 0,02 – 0,4 % còn tỷ lệ kali trong đất trồng thay đổi từ 0,2 – 0,4 % có loại đất lên đến 1%. Như vậy có những loại đất rất nghèo đạm đến mức cây trồng không phát triển chứ không có loại đất mà do thiếu kali cây không mọc được. Trong đá mẹ hình thành ra đất không có N. Đạm được hình thành do hoạt động của vi sinh vật và khi lớp tán rừng bị khai phá đi để trồng trọt thì chất hữu cơ và đạm giảm đi nhanh chóng.

Các khoáng vật trong đá như felspat, muscovite, biotit bị phong hóa và giải phóng ra kali. Một phần kali sau khi khai phá đất trồng trọt bị rửa trôi đi nhưng một số lượng khá lớn kali đươc giữ lại trong khoáng vật thứ sinh như hydromica, vecmiculit, clorit. Như vậy khác với N, sau khi khai hoang kali không mất đi quá nhanh chóng như đạm.

2/ Khi trồng cây, một số lượng kali trong đất bị cây lấy đi, đất nghèo kali dễ tiêu, nhưng sau khi để đất nghỉ một thời gian không trồng trọt, kali trong đất lại hồi phục.

Thời gian hồi phục không kéo dài quá 2 tháng nếu cày đất sớm và đủ ẩm.

3/ Khi trả lại rơm rạ cho đất bằng cách vùi trực tiếp hoặc qua gia súc ăn rơm rạ dung làm chất độn chuồng, ít nhất có trên ½ số lượng kali do cây trồng hút đi được hoàn trả lại cho đất.

Tập quán nông dân dùng tàn dư thực vật làm chất đốt. Tro bếp thường được dùng bón ruộng. Nếu nơi nào có tập quán tốt dùng phân chuồng, vùi rơm rạ và bón tro trở lại ruộng, ít nhất trên 2/3 lượng kali bị lấy đi trong sản phẩm thu hoạch được trả lại ruộng đồng.

Cùng với sự phát triển của xã hội, dân số ngày càng đông, diện tích dùng cho nông nghiệp thu hẹp, sản xuất nông nghiệp chuyển sang hướng thâm canh tăng vụ, nhu cầu bón kali ngày càng bức thiết hơn.

Có thể phác một bức tranh của các vùng trồng lúa trên đất phù sa thong thường của các con song Hồng và song Mê Kông không được bồi hàng năm có lượng kali trung bình như sau:

– Ruộng một hai vụ, năng suất 1 vụ dưới 2,5 tấn, bón kali thường là hiệu lực không rõ, đặc biệt ruộng 1 vụ càng không rõ. Ruộng hai vụ năng suất từ 2,5 tấn đến 4,5 tấn, bón kali làm tăng năng suất rõ, thường số lượng cần bón không nhiều (20-30 kg K2O) và có  nhu cầu vào cuối vụ.

– Ruộng hai vụ, ba vụ và năng suất 4,5 tấn trở lên, nhất thiết phải bón kali nếu muốn đạt năng suất mong muốn và cần cả bón lót và bón vào cuối vụ.

Hình ảnh nhu cầu bón kali xuất hiện khi muốn có năng suất cao nói như trên cũng thể hiện đối với cây hoa màu dưới ruộng cũng như trên đồi và một số cây công nghiệp.

I. Giới thiệu các loại phân hóa học chứa Kali 1. Các loại khoáng vật dùng để sản xuất phân kali.

Có nhiều khoáng vật chứa kali nhưng chỉ một số trong các khoáng vật này khai thác để chế biến làm phân bón đó là: kali nitrat, sylvinit, carnalit, longbenit và kainit, chứa các hợp chất hòa tan trong nước. Ngoài ra còn có các khoáng vật chứa kali ở dạng không hòa tan, đó là các silicat. Các nước có nguồn quặng chứa kali phong phú nhất là Canada (Bắc Mỹ), SNG (Châu Âu), Isarel và Joocdani (Trung Đông), Thái Lan và Lào cũng có mỏ kali. Người ta có thể dùng nước ót ruộng muối có chứa 10 % NaCl. 1,8 % KCl, 9,7 % MgCl2, 69 % MgSO4 để điều chế phân Kali.

Bảng 3: Các loại khoáng vật có chứa kali.

Loại chất

công thức hóa học

%K2O

(1)

(2)

(3)

Nhóm clorit

 

 

Sylvin

KCl

63,1

sylvinit

KCl. NaCl

12 – 15

Carnalit

KCl. MgCl. 6 H2O

17

Kainit

KCl.MgSO4. 3H2O

18,9

Hanksit

KCl.9Na2SO4. 2Na2CO3

3

Rinneit

3KCl.NaCl.FeCl2

120

Nhóm sunfat

 

 

Alunit

K2SO4.Al2(SO4)3.4Al(OH)3

11,4

Glaserir

(K.Na)SO4

12,5

Kalinit

K2SO4.Al2(SO4)3.Na2SO4

9,9

Polyhanit

K2SO4.MgSO4.2CaSO4.2 H2O

15,5

langbeinit

K2SO4.2MgSO4.nNaCl

15 – 22,6

Krugit

K2SO4.MgSO4.4CaSO4.2 H2O

10 – 15,5

Leonit

K2SO4.MgSO4.4H2O

25,5

picromerit

K2SO4.MgSO4.6H2O

23,3

(Schoenit)

 

 

Syngenit

K2SO4.CaSO4.H2O

28,8

Aphthitalit

(K.Na)2SO4

29,8

Nhóm nitrat

 

 

kali nitrat

KNO3

46,5

nhóm felspath

 

 

AnOcthoclaz

(Na.K)AlSi3O8

2,4 – 12

microlin

2(KAlSi3O8)

16,8

Octhoclaz

KAlSi3O8

16,8

Lơxit

Kal(SiO3)2

21,4

Nhóm Mica

 

 

Biotit

(H.K)2.(MgFe)2Al2(SiO4)3

6,2 – 10,1

lepidolit

K.LiAl(H.F)2Al(SiO3)3

10,7 – 12,3

Muscovit

H2KAl3(SiO4)3

11,8

Plogopit

(H, K, Mg, F)3Mg3Al(SiO4)3

7,8 – 10,3

Roscoelit

H8K(Al.V)4(SiO3)12(Mg,Fe)

7,6 – 10,3

Zinnwaldit

H2K4Li4Fe3Al8FeSi14O42

10,6

Các nhóm khác

 

 

Glauconit

KFeSi2O6.nH2O

2,3 – 8,5

Cacnotit

K2O.2U2O3.V2O5.3H2O

10,3 – 11,2

nephelin

(NaK)2.Al2O3.2SiO2

7,0 – 8,0

hartsalz

NaCl.KCl.MgSO4.H2O

14,0 -16,0

2. Phân kali clorua

Kali clorua là phân tinh chế từ quặng sylvinit có chứa 12 – 15%b KCl. Dùng phương pháp hòa tan phân biệt để tách NaCl ra khỏi KCl. Trong trường hợp loại hết NaCl ra thì người ta có phân kali clorua. Khi không loại hết NaCl ra thì người ta có sylvinit kép hay còn gọi là phân kali 40%. Phân kali clorua là loại muối trắng có vị mặn có chứa 55-60% K2O và khoảng 3% Na2O. Phân có khi có màu lấn tấm hồng, đó là ảnh hưởng của gỉ sắt còn lại trong phân. Hai loại phân màu trắng hay màu hồng giá trị không khác nhau. Phân có dạng tinh thể ít chảy nước, đóng cục.

Phân kali 40% K2O và khoảng 10% Na2O (30% NaCl), một ít CaSO4 và MgSO4.

Cả hai loại đều trình bày ở dạng viên hoặc tinh thể.

Các loại phân KCl dễ tan trong nước bón vào đất cây có thể sử dụng ngay. Sau khi bón vào đất ion kali có thể thay thế ion H+ trong phức hệ hấp thu làm cho dung dịch đất hóa chua. Các ion canxi, magie cũng có thể bị thay thế (mặc dù kali hóa trị thấp hơn nhưng nồng độ cao hơn). Vì vậy bón kali clorua qua nhiều năm làm cho đất chua. Sau nhiều năm bón kali, magie và canxi bị rửa trôi, đất trở thành nghèo kali. Ở nước ta, các vùng trồng dứa sau nhiều năm bón kali đất bị thiếu magie và cây dứa bị hại trầm trọng, lá dứa về mùa đông bị héo như bị luộc và cây dứa chết hoặc không ra hoa kết quả được. Hiện tượng do bón nhiều kali làm cho đất mất các yếu tố Ca, Mg, Na đã phát hiện ở các nước phát triển nhiều năm trước đây. Bón nhiều kali đã làm cho magie trong cỏ giảm từ 0,22 % còn 0,17%, natri từ 0,91% còn 0,04 % và canxi từ 0,52 còn 0,33%. Hiện tượng sau đó dẫn đến sự thiếu Mg do bón nhiều kali còn xuất hiện nhiều ở châu Âu đối với cây ăn quả và rau.

Bón quá nhiều kali còn gây ra hiện tượng thiếu Bo ở châu Âu làm cho bắp cải bị rỗng ruột. Hiện tượng thối nõn dứa xuất hiện ở nhiều nông trường trồng dứa phía Bắc bị nghi là do bón nhiều kali làm cho thiếu Bo. Xử lý bằng cách phun borat có tác dụng làm cho giảm tỷ lệ bệnh.

Nhược điểm chính của KCl là phân có thể để lại ion Cl trong đất làm ảnh hưởng đến cây, đặc biệt và phẩm chất nông sản. Ion clo có thể làm cho thuốc lào có vị khét, chậm cháy. Tránh bón cho rau quả, sợ ảnh hưởng đến phẩm vị rau quả còn tồn dư gây hại. Ở Pháp người ta tránh bón KCl cho nho, nhất là khi muốn sản xuất rượu vang đặc biệt, vì sợ clo tồn dư trong quả ảnh hưởng đến sự lên men. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Cl có thể ảnh hưởng đến hoạt động cố định đạm của vi sinh vật nốt sần họ đậu. Cl còn làm cho tỷ lệ nước trong hạt, củ tăng cao.

Tuy nhiên, clo là yếu tố dễ di động. Tồn dư trong đất không nhiều nếu đất được tưới hoặc ở vùng nhiều mưa. Những kiểm tra trên đất lúa bón các loại phân có clo trong nhiều năm liền cho thấy rằng tồn dư của Cl không đáng kể.

Lượng natri còn lại trong sylvinit kép có cả mặt nhược điểm và mặt ưu điểm. Lượng NaCl có đến 30% có thể làm giảm sức nảy mầm và làm cho đất không thoáng khí và bị nứt nẻ nếu là đất sét nặng. Đối với đất nhẹ nhiều cát, ít  sét có lại làm tăng tính dính kết của đất làm cho đất đỡ mất nước. Sự tạo nên cân đối giữa natri và kali cần thiết cho chất lượng thức ăn gia súc. Vì thiếu muối trong cỏ nên các nhà chăn nuôi thường thêm khẩu phần muối vào thức ăn gia súc. Thiếu natri làm giảm lượng carotene trong cà rốt, bắp cải. Natri phối hợp với kali làm tăng tỷ lệ đường trong mía, củ cải đường, làm tăng tỷ lệ bột trong khoai tây, khoai sọ, khoai lang, sắn. Điều này khiến chúng ta chú ý đến kĩ thuật nông dân ta đã thực hiện lâu đời, bón muối cho cây lấy củ, ruộng lúa, cho dừa và các cây ăn quả khác.

3. Kali sunfat

Kali sunfat được điều chế từ KCl trao đổi với axit sunfuric hay từ các quặng chứa kali sunfat và kali magie như poligalit langvinit theo phương pháp nhiệt.

Trên thương trường hay gặp loại kali sunfat màu trắng chứa 50% K2O và 18% S, ít chảy nước dễ bảo quản. Loại phân này cũng như KCl và còn cung cấp thêm lưu huỳnh. Nên ưu tiên loại phân này cho các cây không ưa Clo như thuốc lá, rau, cây ăn quả có múi (cam, quýt, chanh, nho..) cây họ đậu và dùng trong nghề trồng hoa.

4. Phân kali – magie

Phân kali – magie được sản xuất từ quặng langbenit. Trong thành phần có từ 33 – 39% K2SO4 (24% K2O) 55% MgSO4 (18% MgO) và từ 1 – 5% NaCl. Đây là loại phân có nhiều nguyên tố, thích hợp cho vùng đất nhẹ cho khoai tây và thuốc lá, cho các cây trồng có chứa magie và kali như dứa, cây ăn quả và nho.

Một loại phân kali magie khác sản xuất ở Đức và Nga gọi là rêfooc – kali là loại có chứa 26 – 30 % K2O ở dạng K2SO4, và 25 – 30% MgSO4, 10 % thạch cao.

5. Kainit

Là loại phân sản xuất ở vùng tây Ukrain từ quặng kainit – langbenit có chứa 8-12 % K2O. sau khi chế biến phân có chứa 30-40% K2O ở hai dạng clorua và sunfat, ngoài ra còn có một tỷ lệ nhất định K, Mg, Na, Cl và SO4.

6. Patăng kali

Là loại phân sản xuất ở Đức, chứa 28% K2O ở dạng K2SO4 và 8% MgO ở dạng MgSO4.

7. Kali cacbonat và kali bicacbonat (K2CO3 và KHCO3)

Kali cacbonat có chứa 50 – 56 % K2O và kali bicacbonat có chứa 40-46% K2O. nó là loại phân kiềm, dễ bảo quản, màu trắng, không chảy nước, thích hợp cho cây trồng ở đất chua và không ưu clo. Loại phân  này khi bón còn làm cho đất thêm CO2, lợi cho quang hợp làm tăng hàm lượng tinh bột trong cây lấy củ.

8. Phân kali nitrat

Có chứa 44% K2O và 13%N. khi sử dụng thường được chú ý nhiều về hiệu quả của N hơn là kali cũng là điều không hợp lý.

9. Kali electrolit

Là loại phân kali sản xuất ở Nga từ kacnalit một quặng có chứa 32% K2O 6% MgO và Na2O ở dạng clorua.

10. Tro bếp.

Nông dân ta cũng như nông dân nhiều nước thường đốt bằng củi hoặc cây nhỏ phơi khô, rơm rạ ngũ cốc. Nông dân đồng bằng đun bằng rơm rạ. Nông dân miền núi trước vụ gieo trồng thường phát cây đốt, tro than cày vùi sâu xuống đất.

Cây có thành phần hóa học khác nhau nên thành phần tro rất khác nhau. Các thành phần đáng kể là lân, canxi, kali và silic. Các cây trồng vùng chua, mặn như tro cói, phi lao, tràm đước có tỷ lệ Fe, Al và mangan cao. Tro rơm rạ lúa, trấu có hàm lượng silic cao. Hàm lượng SiO2 có đến 80 – 95% (tro trấu). Tro một số cây như sắn, bông, ngô, mía, dâu tằm, vừng, điền thanh giàu lân và canxi.

Hàm lượng kali trong tro thay đổi rất nhiều theo loại cây từ 1 – 30%. Tro rơm rạ, trấu, ngô, lá tre, lá mía có tỷ lệ kali không cao; còn các loại cây lấy sợi như đay, bong, cây họ cau dừa (lá dứa, lá cau, lá cọ) một số cây hoa màu (Như vùng, đậu đỗ, đay, gai, quế dại, sắn…) có tỷ lệ kali rất cao.

Kali trong tro ở dạng cacbonat, có tính kiềm mạnh sử dụng tốt cho mọi loại cây trồng ở đất chua.

11. Sử dụng trực tiếp các quặng có chứa kali khai thác từ mỏ lên không qua chế biến công nghiệp.

Vấn đề bảo vệ môi trường đặt ra trước các nhà sản xuất phân bón hai vấn đề:

– Nên chăng sử dụng các loại phân quá hòa tan.

– Nên chăng sử dụng các loại phân quá đậm đặc.

Nước ta là nước nhiệt đới mưa nhiều. Khoáng nguyên sinh chứa kali nhanh chóng phong hóa và chuyển thành các dạng dễ chuyển kali vào hệ hấp thu và vào dung dịch. Điều kiện mưa nhiều làm cho kali bị rửa trôi nhiều, hàm lượng kali tổng số trong đất thấp. Đồng thời với sự rửa trôi kali, các bazơ kiềm khác như canxi, magie, natri cũng bị rửa trôi theo. Bổ sung kali cho đất là cần thiết, nhưng nếu chỉ bổ sung kali dễ dàng dẫn đến sự thiếu các yếu tố khác, trước hết là canxi, magie, natri và một số vi lượng như bo và đồng.

Các dạng khoáng chứa kali được khai từ các mỏ lên có chứa kali clorua và kali sunfat, và nhiều yếu tố khác như magie, canxi và natri. Vì trước đây chỉ tập trung sự chú ý vào các yếu tố phân bón chính N, P, K nên công nghiệp phân bón đã làm một việc ngày càng thấy là vô lý: tẩy hết các yếu tố khác như magie, natri để có hàm lượng kali trong phân bón cao. Câu hỏi đặt ra là: Sử dụng các loại quặng chưa chế biến chứa kali dễ hòa tan trong nước và các yếu tố khác như canxi, magie và natri có lợi hơn các loại kali đậm đặc không? Các khoáng vật khó hòa tan thuộc dạng silicat có khả năng sử dụng không?

Vì vậy, trong cuốn sách này chúng tôi dành giới thiệu các khoáng vật có chứa kali tự nhiên đáng chú ý.

* Các khoáng vật có chứa kali dễ hòa tan.

Sylvinit KCl. NaCl

Sylvinit là loại quặng chứa KCl (Silvin) và NaCl (halit) có nhiều ở Liên Xô (cũ), Pháp, Mỹ, Đức, Rumani. Khoáng vật có kết cấu tinh thể lập phương, thường có lẫn với thạch cao và Kacnalit. Thành phần gồm có KCl 10 – 25%, NaCl 37,8 – 45%, MgCl2 19%, CaSO4 7,8 % và các chất khác.

Hàm lượng K2O thay đổi trong khoảng 12 – 20%.

Sylvinit đã được thử sử dụng cho nhiều loại cây như củ cải đường, ngũ cốc, đồng cỏ chăn nuôi và cây ăn quả.

Kacnalit KCl. MgCl2. H2O.

Kacnalit là các loại quăng có chứa KCl và MgCl2 có nhiều ở Liên Xô cũ và Đức. Thành phần trong quặng ngoài Kacnalit còn có lẫn sylvinit và halit. Thành phần gồm có: KCl 23,5%, NaCl 20,6%, MgCl2 25,9%. Ngoài ra còn có MgBr2, BaSO4. Tỷ lệ kali trong phân 8-17%.

Kainit KCl.MgSO4.3H2O là quặng có chứa KCl và MgSO4 có nhiều ở Đức, Pháp, Liên Xô cũ, Rumani, Mỹ. Tùy theo loại quặng có chứa 12 – 18% K2O và 3,8 – 5,7 % MgO.

Harxan NaCl. KCl. MgSO4.H2O là khoáng vật có chứa KCl, NaCl và MgSO4 có nhiều ở Đức, Rumani. Có chứa 14 – 16% K2O, 25 – 30% NaCl và 28% MgSO4.

Langbenit K2SO4.2MgSO4.nNaCl. Là quặng dùng để sản xuất phân kali sunfat có chứa 42% K2SO4 và 58% MgSO4, tỷ lệ K2O là 15 – 22,6%.

Poli galit K2SO4.MgSO4.2CaSO4.2H2O. Là khoáng vật chứa K2SO4, MgSO4 và CaSO4. Trong thành phần còn có 15,5 % K2O.

* Các khoáng vật có chứa kali không hòa tan.

Trong các đá đều có chứa kali:

Granit có chứa 6 – 7% K2O. Kali trong các đá này thường ở dạng các silicat không hòa tan, hoặc các khoáng vật hàm lượng nhôm cao. Về nguyên tắc có thể sử dụng các khoáng vật này làm phân bón trực tiếp. Trong điều kiện nhiệt đới phong hóa mạnh khả năng này ngày càng cần được chú ý.

-Alunit K2SO4.3Al2(SO4)3.6H2O hay K2[Al(OH)3]6(SO4)3. Alunit là sunfat kali và alumini ngậm nước, không hòa tan trong nước, có nhiều ở Mỹ, Ý, Úc và Nhật Bản, Triều Tiên. Thành phần gồm có 5,5 – 9% K2O, 37 % Al2O3, 38% SO3, 4% CaO, 0,05 % MgO. Loại quặng này dùng để sản xuất phân kali sunfat.

– Lơ xit K2O.Al2O3.4SiO2 hay KAl3(SiO3)2. Là quặng không màu, trong có tinh thể lập phương. Quặng chứa 21,5% K2O, 23% Al2O3 và 55% SiO2. Loại quặng này có nhiều ở Mỹ và Venexuela.

Microlin K2O.Al2O3.6SiO2. Là khoáng vật có tinh thể tam phương có chứa 9 – 16,8 % K2O.

– Nephelin [(NaK)2O.Al2O3.2SiO2]n.SiO2. Là khoáng vật hình khối lục phương có chứa 5 -5 8 % K2O

– Glauconit KFe.SiO6.nH2O. Ở dạng tinh thể có chứa 2,3 – 9,5% K2O ở dạng silicat có chứa Fe.

-Poocphia có chứa khoảng 5 – 10% K2O.

– Pecmatit [Si3AlO8]K có chứa 9-11% K2O.

12. Nguồn Kali sản xuất trực tiếp từ muối biển.

Trong nước biển có chứa muối NaCl, KCl, Na2SO4, MgCl2, K2SO4, MgSO4 và một số các muối khác với lượng ít. Các nhà nghiên cứu cho rằng có khả năng khai thác kali từ nước biển. Khả năng này cao hơn ở các biển kín và các hố mặn. Khi sản xuất muối từ nước biển vì nồng độ kết tinh của các muối chứa natri thấp hơn các muối kali và magie nên kết tinh trước. Trong nước còn lại của các ruộng muối có chứa muối natri, magie, kali. Nồng độ kali có thể đạt đến 0,51% – 2,19%. Có thể dùng các phương pháp vật lý để loại tiếp phần kali để có hỗn hợp các muối KCl và K2SO4 và MgSO4 – 6 H2O và MgCl2. 6H2O. Hỗn hợp này có thể dùng như một loại phân cung cấp Mg và kali.

Nhược điểm của loại phân này là hàm lượng NaCl còn khá cao, nếu sử dụng ít thì lượng natri có thể có tác dụng tốt, nếu quá nhiều sẽ có ảnh hưởng xấu đến lý tính đất: Trong nước biển chết Isarel có chứa 11,5g KCl/lit, ngoài ra còn có 130g MgCl2/lit, 87 g NaCl/lit, 37 g CaCl2/lit, 5g MgBr/lit; trong một số biển chết SNG có chứa 1,81 % KCl, 4,13% NaCl, 15,2% MgCl2, 8,17% MgSO4; trong một số hồ mặn của Mỹ có chứa 2,9% – 5,02% KCl, 15,5 – 16,1% NaCl, 5,5 – 6,7 % Na2SO4. trong nước biển hở và đại dương hàm lượng kali thấp hơn nhiều, 0,07% KCl, 2,8% NaCl, 0,3% MgCl2, 0,22% MgSO4. Do đó sản xuất từ nước biển ở nước ta chỉ có thể là công nghiệp đi kèm của công nghiệp làm muối. Nếu độ Be của nước ót ruộng muối lên đến 35 thì hàm lượng các chất có thể đạt được 2,19% KCl, 12,1% NaCl, 14,79% MgCl2, 8,67% MgSO4. Tách lấy bớt NaCl và MgCl2, MgSO4 để làm các việc khác. MgCl2 có thể bị thủy phân ở nhiệt độ cao để sản xuất HCl và magie oxyt.

Bảng 4: Bảng thống kê các loại phân kali

Kali Clorua

55 – 60 % K2O, 3% Na2O

 

Thể tích riêng 80 – 90 dm3/100kg

Kali sunfat

50% K2O, 18% S

 

Thể tích riêng75 – 85 dm3/100kg

Kali – magie

24% K2O, 18% MgO

 

1 – 5% NaCl (0,3 – 1,6 Na2O)

Kainit

30 – 40 % K2O ở cả hai dạng clorua và sunfat

Kali 40%

40 % K2O, 10% Na2O, một ít CaSO4 – MgSO4.

 

Thể tích riêng 80 – 90 dm3/100kg

Pa tăng Kali

28% K2O, 8% MgO ở dạng muối sunfat

Kali cacbonat

50 – 56% K2O

 

Thể tích riêng 90 – 100 dm3/ 100kg.

Kali bicacbonat

40 – 46% K2O

 

Thể tích riêng 100 – 105 dm3/100kg.

Kali nitrat

44% K2O, 13% N ở dạng nitrat

 

Thể tích riêng 90 – 110 dm3/ 100kg.

13. Chọn phân kali.

Chọn phân kali không phức tạp như chọn phân lân. Giá 1 kg K2O quyết định sự lựa chọn. Kali sunfat hay kali clorua đều có giá trị.  Nên chọn kali clorua cho các vùng đất mặn sulfat vì phần lớn đất mặn ở nước ta là mặn sulfat và ion Cl- dầu gây mặn nhưng dễ rửa. Nên tránh dùng KCl cho các loại cây không ưa clo hoặc dùng clo có ảnh hưởng xấu. Thường là các cây làm nguyên liệu hương liệu: đầu tinh, thuốc lá, các loại rau, quả hành tỏi. Trái lại cần chú ý bổ sung clo cho các vùng đất thâm canh và các vùng đất đồi đất bạc màu bị rửa trôi. Sự lựa chọn các loại phân kali thường dựa trên nhu cầu bổ sung cho đất các yếu tố phụ trong phân magie, natri, lưu huỳnh, clo.

Xu hướng gần đây người ta cho rằng dùng khéo léo các nguyên liệu điều chế phân kali phối hợp với phân kali đã được làm giàu để có một hỗn hợp phân có chứa K, Ca, Mg, Na có lợi cho năng suất và giữ được độ phì lâu dài  của đất.

Mời các bạn đón đọc phần 2: Hướng dẫn thực hành sử dụng phân Kali

Nguồn: Admin

Hiểu Biết Về Phân Vi Sinh Vật

, Khuyến cáo,

Đó là những chế phẩm chứa các loài vi sinh vật. Bao gồm các nhóm vi sinh vật có ích như vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn được sử dụng để làm phân bón. Trong đó quan trọng là các nhóm vi sinh vật cố định đạm, hoà tan lân, phân giải chất hữu cơ, kích thích sinh trưởng cây trồng, v.v…

Để chế biến phân vi sinh vật, các loài vi sinh vật được nuôi cấy và nhân lên trong phòng thí nghiệm. Khi đạt đến nồng độ các tế bào vi sinh vật khá cao người ta trộn với các chất phụ gia rồi làm khô đóng vào bao.

Trong những năm gần đây, ở nhiều nước trên thế giới, người ta đã tổ chức sản xuất công nghiệp một số loại phân vi sinh vật và đem bán ở thị trường trong nước. Một số loại phân vi sinh vật được bán rộng rãi trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, các loại phân vi sinh vật còn rất ít và chỉ là bộ phận nhỏ so với phân hoá học trên thị trường phân bón.

Phân vi sinh vật cố định đạm. Có nhiều loài vi sinh vật có khả năng cố định N từ không khí. Đáng chú ý có các loài: tảo lam (Cyanobacterium), vi khuẩn Azotobacter, Bradyrhizobium, Rhyzobium; xạ khuẩn Actinomyces, Klebsiella.

Phần lớn các loài vi khuẩn cố định đạm thường sống cộng sinh với các cây họ đậu. Chúng xâm nhập vào rễ cây và sống cộng sinh trong đó, tạo thành các nốt sần ở rễ cây. Chúng sử dụng chất hữu cơ của cây để sinh trưởng đồng thời hút đạm từ không khí để cung cấp cho cây, một phần tích luỹ lại trong cơ thể chúng.

Tảo lam cộng sinh với bèo hoa dâu và hút đạm tích luỹ lại làm cho bèo hoa dâu có hàm lượng đạm cao, trở thành cây phân xanh rất quý.

Thời gian gần đây, cùng với những tiến bộ của khoa học và công nghệ, các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ gen để tạo ra các chủng vi sinh vật cố định đạm có nhiều đặc điểm tốt: khả năng cố định đạm cao, khả năng cộng sinh tốt. Công nghệ sinh học cũng giúp tạo ra những chủng vi sinh vật có đặc tính cạnh tranh cao với các loài vi sinh vật trong đất. Mặt khác, công nghệ sinh học đã cho phép các nhà khoa học tách được gen quy định đặc tính cố định đạm từ vi khuẩn và đem cấy vào nhân tế bào cây trồng, làm cho một số loài cây trồng cũng tạo được khả năng cố định đạm như vi khuẩn.

Loading…

Hiện nay trên thị trường phân bón nước ta, phân vi sinh vật cố định đạm được bán dưới các tên thương phẩm sau đây:

– Phân nitragin chứa vi khuẩn nốt sần cây đậu tương.

– Phân rhidafo chứa vi khuẩn nốt sần cây lạc.

– Azotobacterin chứa vi khuẩn hút đạm tự do.

– Azozin chứa vi khuẩn hút đạm từ không khí sống trong ruộng lúa. Loại phân này có thể trộn với hạt giống lúa.

Vi sinh vật hoà tan lân. Cây chỉ có thể hút được lân từ đất dưới dạng hoà tan trong dung dịch đất. Vì vậy, cây chỉ có thể hút được lân ở dạng dễ tiêu trong đất. Lân ở dạng khó tan trong đất cây không hút được. Vì vậy, có nhiều loại đất như đất đỏ bazan, đất đen, v.v.. hàm lượng lân trong đất khá cao, nhưng cây không hút được vì lân ở dưới dạng khó hoà tan.

Trong đất thường tồn tại một nhóm vi sinh vật có khả năng hoà tan lân. Nhóm vi sinh vật này được các nhà khoa học đặt tên cho là nhóm HTL (hoà tan lân, các nước nói tiếng Anh đặt tên cho nhóm này là PSM – phosphate solubilizing microorganisms).

Nhóm hoà tan lân bao gồm: Aspergillus niger, một số loài thuộc các chi vi khuẩn Pseudomonas, Bacillus, Micrococens. Nhóm vi sinh vật này dễ dàng nuôi cấy trên môi trường nhân tạo. Nhiều nơi người ta đã đưa trộn sinh khối hoặc bào tử các loại vi sinh vật hoà tan lân sau khi nuôi cấy và nhân lên trong phòng thí nghiệm, với bột phosphorit hoặc apatit rồi bón cho cây. Sử dụng các chế phẩm vi sinh vật HTL đem lại hiệu quả cao ở những vùng đất cây bị thiếu lân.

Một số loài vi sinh vật sống cộng sinh trên rễ cây có khả năng hút lân để cung cấp cho cây. Trong số này, đáng kể là loài VA mycorrhiza. Loài này có thể hoà tan phosphat sắt trong đất để cung cấp lân cho cây. Ngoài ra loài này còn có khả năng huy động các nguyên tố Cu, Zn, Fe… cho cây trồng. Nhiều nơi người ta sử dụng VA mycorrhiza đã làm tăng năng suất cam, chanh, táo, cà phê… Nuôi cấy VA mycorrhiza trên môi trường nhân tạo rất khó. Vì vậy hiện nay các chế phẩm có chưa VA mycorrhiza chỉ có bán rất hạn chế trên thị trường phân bón Mỹ.

Những năm gần đây, trên thị trường phân bón ở một số nước có bán chế phẩm Phospho – bacterin trong có chứa vi khuẩn giải phóng lân dễ tiêu từ các chất hữu cơ.

Vi sinh vật kích thích tăng trưởng cây. Gồm một nhóm nhiều loài vi sinh vật khác nhau, trong đó có vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn, v.v.. Nhóm này được các nhà khoa học phân lập ra từ tập đoàn vi sinh vật đất.

Người ta sử dụng những chế phẩm gồm tập đoàn vi sinh vật được chọn lọc để phun lên cây hoặc bón vào đất làm cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, ít sâu bệnh, tăng năng suất. Chế phẩm này còn làm tăng khả năng nảy mầm của hạt, tăng trọng lượng hạt, thúc đẩy bộ rễ cây phát triển mạnh. Như vậy, chế phẩm này có tác động tương đối tổng hợp lên cây trồng.

Để sản xuất chế phẩm vi sinh vật kích thích tăng trưởng của cây, người ta sử dụng công nghệ lên men vi sinh vật. Ở các nước phát triển người ta sử dụng các thiết bị lên men tự động, công suất lớn. Ở nước ta, đã dùng kỹ thuật lên men trên môi trường bán rắn để sản xuất chế phẩm này, bước đầu cho kết quả khá tốt.

Những năm gần đây ở nước ta đang tiến hành khảo nghiệm chế phẩm EM của giáo sư người Nhật Teruo Higa. Chế phẩm này được đặt tên là vi sinh vật hữu hiệu (Effective microorganisms – EM). Đây là chế phẩm trộn lẫn một nhóm các loài vi sinh vật có ích trong đó có vi khuẩn axitlactic, một số nấm men, một số xạ khuẩn, vi khuẩn quang hợp, v.v.. Tại hội nghị đánh giá kết quả sử dụng EM tại Thái Lan tháng 11/1989, các nhà khoa học đã đánh giá tác dụng tốt của EM như sau:

– Cải tạo lý hoá tính và đặc tính sinh học của đất.

– Làm giảm mầm mống sâu bệnh trong đất.

– Tăng hiệu quả của phân bón hữu cơ.

– Cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao, phẩm chất nông sản tốt.

– Hạn chế sâu bệnh hại cây trồng.

– Góp phần làm sạch môi trường.

Chế phẩm EM còn được sử dụng trong chăn nuôi. Cho gia súc ăn, EM làm tăng hệ vi sinh vật trong đường ruột, làm tăng sức khoẻ, giảm mùi hôi của phân.

EM còn được dùng để làm sạch môi trường nước nuôi thuỷ sản.

Một số điểm cần chú ý khi sử dụng phân vi sinh vật :

Phân vi sinh vật sản xuất ở nước ta thường có dạng bột màu nâu, đen, vì phần lớn các nơi sản xuất đã dùng than bùn làm chất độn, chất mang vi khuẩn.

Phân vi sinh vật sản xuất trong nước thường được sử dụng bằng cách trộn với các hạt giống đã được vảy nước để ẩm hạt trước khi gieo 10 – 20 phút. Nồng độ sử dụng là 100 kg hạt giống trộn với 1 kg phân vi sinh vật.

Các chế phẩm vi sinh vật sản xuất trong nước thường không cất giữ được lâu. Thường sau từ 1 đến 6 tháng hoạt tính của các vi sinh vật trong chế phẩm giảm mạnh. Vì vậy, khi sử dụng cần xem kỹ ngày sản xuất và thời gian sử dụng được ghi trên bao bì.

Chế phẩm vi sinh vật là một vật liệu sống, vì vậy nếu cất giữ trong điều kiện nhiệt độ cao hơn 30oC hoặc ở nơi có ánh nắng trực tiếp chiếu vào, thì một số vi sinh vật bị chết. Do đó hiệu quả của chế phẩm bị giảm sút. Cần cất giữ phân vi sinh vật ở nơi mát và không bị ánh nắng chiếu vào.

Phân vi sinh vật thường chỉ phát huy tác dụng trong những điều kiện đất đai và khí hậu thích hợp. Thường chúng phát huy tốt ở các chân đất cao, đối với các loại cây trồng cạn.

Lưu ý : Bài viết được đăng trên chúng tôi từ năm 2012 nên có những vấn đề không còn phù hợp. Cộng đồng tham khảo để góp phần nâng cao hiểu biết về các loại phân vi sinh vật.

Theo Cục Trồng Trọt

Cẩm Nang Phân Lân: Phần 1: Giới Thiệu Các Loại Phân Lân Hóa Học

GS Võ Minh Kha, Hướng dẫn thực hành sử dụng phân bón, NXB Nông nghiệp, Hà Nội,1996.

Người ta phân loại các loại lân theo độ hòa tan của chúng

1/ Phân lân hòa tan trong nước: supe lân (SP), điamôn photphat (DAP)

2/ Phân lân ít hòa tan trong nước, chỉ hòa tan trong axit yếu như axit xitric 2 % axit foomic hay xitrat amôn, phân lân nung chảy TP, photphat cứt sắt (còn gọi là Toomat sowlac), photphan, phân lân kết tủa (dicanxi phôtphat) và phân lân chậm tan (phân lân axit hóa một phần).

3/ Phân lân khó tan. Đó là các loại quặng tự nhiên khai từ mỏ lên đem nghiền để bón trực tiếp như apatit, photphorit, bột xương động vật…

Người ta còn phân loại theo quá trình chế biến:

1/ Phân lân tự nhiên: là sản phẩm khai thác từ các mỏ, nghiền bột đem sử dụng, không qua quá trình chế biến. Phần lớn phân lân tự nhiên là phân khó hòa tan: apatit photphorit, vivianit.

2/ Phân lân chế biến bằng axit. Có hai loại:

– Hòa tan trong nước: supe lân, điamôn photphat.

– Hòa tan trong axit yếu: phân lân kết tủa, phân lân chậm tan.

3/ Phân lân sử dụng nhiệt năng để chuyển hóa: Các loại phân lân nung chảy và phân lân cứt sắt.

1. Các loại phân lân điều chế bằng axit.

Supe lân là loại phân lân được sản xuất bằng cách cho tác động axit sunfuric với apatit. Lượng axit được tính toán thế nào để chuyển hết apatit thành canxi photphat. Trên thị trường có 3 loại supe lân:

– Loại supe lân thông thường: Loại này điều chế bằng cách cho tác động photphat tự nhiên với axit sunfuric, tạo thành monocanxi photphat và thạch cao. Tỷ lệ thạch cao chiếm 50%. Tùy theo hàm lượng lân trong quặng apatit mà tỷ lệ lân trong phân thay đổi từ 16 – 24 % P 2O 5 tan trong am ôn xitrat trong đó có đến 90 % tan trong nước, ngoài ra có từ 8 – 12 % và khoảng 28 % CaO ở dạng CaSO 4, một ít vi lượng như Fe, Zn, Mn, Bo, Mo.

– Loại supe lân giàu: là loại supe lân điều chế từ apatit tác động bởi hỗn hợp axit sunfuric và photphoric. Tùy theo tỷ lệ giữa axit sunfuric và axit photphoric mà có chứa 25 – 35 % P 2O 5 hòa tan trong a môn xitrat. Lượng CaSO 4 còn lại ít hơn trong supe lân, chứa từ 6 – 8% S và khoảng 20 % CaO..

– Loại supe lân rất giàu: Được sản xuất bằng cách cho tác động axit photphoric với apatit có chứa từu 36 -38% P 2O 5 tan trong amôn xitrat.

Trong quặng apatit có chứa Fe, Al và các vi lượng nhiều ít tùy quặng. Axit sunfuric cũng kết hợp với Fe, Al tạo thành sufat sắt hay sunfat nhôm.

Trước đây người ta cho rằng lân tan trong nước càng nhiều chất lượng supe lân càng cao nên sản xuất supe lân thường dùng thừa một ít axit tạo thành axit photphoric, để cho trong khi cất trữ supe lân, lân hòa tan trong nước không chuyển ngược lại thành lân ít hòa tan. Vì vậy, supe lân thường chua. Lượng axit càng cao, supe lân càng dễ hút ẩm, ướt nhão. Thông thường tỷ lệ axit trong phân không nên quá 5% và độ ẩm dưới 13%. Từ khi người ta nhận thấy rằng không nhất thiết lân phải hòa tan trong nước nhiều cây mới dễ sử dụng, các nhà sản xuất phân supe lân giảm bớt số axit sử dụng, phân có chứa hai canxi phôtphat nhiều hơn, phân không chua ít hút ẩm và tơi rời hơn.

Tùy theo nguyên liệu sử dụng mà supe lân có màu xám trắng hay xám xẫm. Trên thị trường thường trình bày dưới hai dạng: Dạng supe lân bột và dạng supe lân viên. Do lân trong supe lân dễ hòa tan, khi bón vào đất dễ bị các nhân tố trong đất chuyển thành dạng cây khó sử dụng. Viên phân supe lân thành viên nhằm giảm hiện tượng này làm cho hiệu quả supe lân cao hơn.

Như vậy hai mặt mạnh của supe lân là:

– Dễ hòa tan, hiệu quả nhanh hơn các loại phân lân khác.

– Có chứa S.

Mặt mạnh thứ hai gần đây mới bắt đầu nhận thức hết. Nếu liên tục bón nhiều phân đã bị tẩy bớt lưu huỳnh như loại supe lân rất giàu điều chế từ axit photphoric trong nhiều năm thì sự thiếu S ngày càng thể hiện rõ nét. Trong tương lai S được xem là yếu tố phân bón thì supe lân nên được xem là loại phân có hai yếu tố.

Vì hàm lượng lân trong supe lân và hàm lượng S trong phân thay đổi rất lớn tùy theo chất lượng quặng và qui trình sản xuất nên phân lân trên thị trường cần được ghi ít nhất hàm lượng của lân hòa tan trong a môn xitrat và hàm lượng S tổng số. Ghi rõ hàm lượng CaO và các vi lượng khác của phân là điều nên làm.

Trên thương trường còn có loại phân supe được sản xuất từ axit xitric, hoặc hỗn hợp axit xitric và axit sunfuric. Sản phẩm là các nitrophotphat có hàm lượng N và P2O5 khác nhau. Tùy theo tỷ lệ giữa N và P mà nó được sư dụng như phân lân hay phân đạm (sẽ trình bày ở dạng phân phức).

Nhà máy supe lân Lâm Thao Vĩnh Phú và nhà máy supe lân Long Thành chủ yếu sản xuất phân supe lân. Supe lân Lâm Thao có chứa 16,5% P 2O 5 tan trong xitrat amôn 11,2%, 22-23% CaO và có chứa ít hơn 4 % axit sự do.

Vì nước ta, diện tích trồng lúa rất lớn, sản xuất phân lân chủ yếu là để bón cho lúa nên cả hai nhà máy supe lân Lâm Thao và Long Thành đều chưa trang bị dây chuyền để sản xuất supe lân viên. Chắc rằng sản xuất phân viên sau này sẽ được chú ý, vì trên đất laterit chua, hiệu quả của phân viên sẽ cao hơn và bền hơn phân bột rất nhiều.

Supe lân là loại phân rất quý cho đất trung tính, đất cacbonat và đất cà giang (đất kiềm do nhiều natri). Bón supe lân vào các loại đất này, lân cũng bị hấp phụ giữ lại do chuyển thành các dạng hợp chất lân giàu canxi, ít hòa tan hơn. Nhưng các hợp chất này về sau vẫn tiếp tục được cây sử dụng. Ở các loại đất có độ chua cao, nhiều sắt di động như đất chua, đất phèn, đất đồi laterit chua, đất trũng lầy thụt, supe lân dễ bị hấp phụ và giữ chặt trên keo đất hoặc chuyển thành các photphat Fe, Al. Lân bị giữ chặt theo kiểu này cây không còn sử dụng được nữa. Nhiều thí nghiệm trên đất đồi trồng hoa màu chua hiệu lực vụ sau của supe lân rất thấp còn trên đất phèn, nhất là sau khi đất bị xì phèn hiệu lực còn lại không còn gì nữa.

Sản xuất các loại supe lân viên hay các loại phân lân axit hóa một phần (dùng lượng axit ít hơn quy trình thông thường) cần được xem xét đến, vì hiệu quả phân sẽ cao hơn.

Trộn thêm các loại vi lượng vào supe lân rất có ích, vừa cung cấp thêm vi lượng hữu hiệu cho cây vừa làm tăng hiệu lực supe lân. Các vi lượng thường được chú ý là bo, molipđen, kẽm và mangan. Super lân dùng bón cho cây họ đậu nên chú ý trộn thêm magiê, mangan, molypđen và bo cho vùng trồng lúa nên chú ý đến kẽm và đồng. Những nhận xét đầu tiên của trung tâm nông nghiệp Đồng Tháp Mười cho thấy trên đất phèn nên chú ý trộn thêm bo. Nhà máy super lân Long Thành đã trộn thêm bột đá xà vân để có loại super lân M chứa 17% P 2O 5 tổng số, 14,2% P 2O 5 tan trong amôn xitrat và 3% MgO và lượng axit còn lại 1%.

Trong thành phần super lân có canxi sunfat. Ngoài tác dụng cung cấp S ra, canxi sunfat còn là chất để cải tạo đất kiềm do natri gây ra. Canxi trong CaSO 4 đẩy Na ra khỏi keo đất và làm giảm độ kiềm của đất. Super lân có thể xem như là chất cải tạo đất kiềm có hiệu quả cao do tỷ lệ 50% CaSO 4.

Trước đây do tính chất cải tạo kiềm này người ta lầm tưởng bón supe lân làm chua đất. Theo Gros nhiều thí nghiệm lâu năm chứng tỏ rằng ngay cả khi bón với liều lượng cao supe lân không ảnh hưởng đến độ chua của đất.

Phân supe lân phù hợp cho tất cả các loại đất, loại cây, có thể dùng để bón lót, lên mặt đất hoặc bón theo hàng theo hốc, có thể dùng để bón thúc, hòa nước để tưới và phun lên lá. Ở đất chua, hiệu lực supe lân có thể được tăng cường nếu đất được bón vôi.

Nông dân miền Bắc đã quen với tập quán ủ phân chuồng có thêm supe lân. Cách làm này làm cho hiệu lực phân lân tăng và làm giảm sự mất đạm khi ủ phân.

1.2. Phân monoamôn photphat (MAP) và phân diamon photphat (DAP).

Phân DAP được sản xuất bằng cách cho phối hợp khí amoniac với axit photphoric tạo thành một hỗn hợp monoamon photphat, diamon photphat và triamon photphat mà diamon photphat là chủ yếu. Hợp chất này dễ hòa tan cây sử dụng và bền vững hơn triamon photphat (không bị phá vỡ mà mất amon) lại có tỷ lệ amon cao hơn monoamon photphat. Hàm lượng 46-50% P 2O 5 hòa tan trong amon xitrat 2% và 18 – 20 % N. Phân có thành phần monoamon phôtphat là chính cũng được sử dụng khá phổ biến. Tỷ lệ N trong phân là 12 – 15% N và 49 – 61 % N, 20% P 2O 5 và có 7 -8 %.

Các loại phân này hoàn toàn hòa tan trong nước, dễ hút ẩm nên thường được sản xuất dưới dạng viên hoặc dùng để sản xuất các loại phân đa nguyên tố. Phân dùng trực tiếp bón lót hoặc bón thúc.

Ưu điểm của DAP và MAP là loại phân giàu chất dinh dưỡng, chứa hàm lượng lân cao nhất trong các loại phân lân và còn chứa đạm nên vận chuyển rẻ tiền hơn.

Lượng đạm so với lân thấp nên thích hợp cho các vùng đất giàu hữu cơ, giàu đạm, chua và thiếu lân. Các vùng đất rừng mới khai phá, các loại đất vùng ven biển mới tiêu thủy để trồng trọt còn giàu hữu cơ và đạm mà lại thiếu lân dùng loại phân này rất hợp.

Sau 10 – 15 năm khai phá và thường xuyên sử dụng loại phân này, tỷ lệ N và P trong phân trở thành không phù hợp nữa. Đất sau nhiều năm khai phá và bón đạm ít, nghèo dần hữu cơ và đạm do bón lượng lân cao, đạm thấp nên đất thiếu đạm và các yếu tố khác. Đó là tình hình diễn biến của sử dụng phân bón ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long trong nhiều năm qua. Sự ưa chuộng DAP giảm dần và công thức phối hợp supe lân hoặc phân lân nung chảy với ure nên khuyến cáo ở các vùng thâm canh. Ở các vùng mới khai hoang, một công thức phối hợp DAP với ure và phân lân nung chảy để có thể khử chua, cung cấp sớm P cho giai đoạn đầu và lân cho giai đoạn sau nên được khuyến cáo cho vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

1.3. Phân nitrophos.

Phân nitrophos là phân sản xuất từ quặng có chứa lân và axit nitric. Sản phẩm tạo ra có chứa canxi nitrat nên dễ hút ẩm, chảy nước. Người ta khắc phục bằng cách cho thêm axit sunfuric và axit photphoric để tạo canxi photphat, hoặc dùng CO2 để tạo ra CaCO3. Như vậy phân sẽ là một hỗn hợp đa nguyên tố. Các loại phân lân sản xuất từ axit nitric phổ biến trên thị trường E.U (Pháp, Ý, Hà Lan).

Ưu điểm của các nitrophos là loại phân có khả năng khử chua và ít hòa tan. Lượng lân hòa tan trong nước chỉ chiếm 80% tổng số.

Nhược điểm của nitrophos là hàm lượng thấp, dễ chảy nước và giá thành hơi cao.

Hiệu quả của dạng đạm nitrat ở ruộng lúa và vùng đất nhiệt đới rửa trôi nhiều thấp hơn các dạng đạm amon cũng là điều cần được cân nhắc khi xét chọn loại phân lân thích hợp cho nông nghiệp Việt Nam.

1.4. Đúp và tripsupe.

Các loại phân này được điều chế bằng cách dùng axit photphoric kết hợp với CaCO3 tạo thành môn canxi photphat. Loại này được gọi là strip supe lân có hàm lượng P2O5 cao có khi đến 50% P2O5, không có CaSO4. Loại thứ hai được sản xuất bằng cách cho H3PO4 tác động lên apatit. Hàm lượng P2O5 vào khoảng 30%. Loại này gọi là đúp supe.

Hiệu quả của loại phân này khác supe lân ở các thành phần phụ còn lại trong phân trước hết là lưu huỳnh. Phân sẽ tốt hơn supe lân ở các vùng quá giàu lưu huỳnh và ngược lại ở những vùng nghèo lưu huỳnh hiệu quả sẽ kém hơn supe lân. Nhu cầu bón S bắt đầu lộ rõ, ưu thế của supe lân đơn càng ngày càng nên được coi trọng hơn.

1.5. Silico photphat canxi.

Là loại phân lân sản xuất bằng cách cho H3PO4 và SiO2 tác động với apatit, tạo ra chúng tôi (silicophotphat canxi) có chứa 63 – 64 % P2O5 trong đó 92 – 94% tan trong nước 21 – 26% CaO và 10 – 11% SiO2.

Phân silico photphat canxi có ưu thế hơn các loại đúp và trip supe do tác động của SiO2. Loại phân này làm cho cây hòa thảo cứng cây.

1.6. Các loại meta photphat.

Từ axit octophotphoric (H 3PO 4) người ta sản xuất ra các loại axit đậm đặc hơn bằng cách chưng cất. Các axit này là axit pyro photphoric (H 4P 2O 7) axit meta photphoric (HPO 3) và các axit poliphotphoric khác có thể chứa đến 65 – 83% P 2O 5 hay còn cao hơn nữa. Dùng các axit này để tạo với canxi hay kali các muối photphat.

Metaphotphat canxi: Là loại phân tinh thể giòn và óng ánh như thủy tinh chứa 64 – 70% P2O5 ngoài ra còn có CaO, Fe 2O 3, Al 2O 3, silic và fluor. Có 3 cách sản xuất meta photphat canxi. Cách thứ nhất từ axit meta photphoric ít phổ biến. Cách thứ hai sản xuất từ quặng apatit và P 2O 5 gia nhiệt cao. Hai cách sản xuất sau thông dụng hơn. Các meta phophat do cách sản xuất và tính ít hòa tan có thể xếp vào nhóm phân lân nung chảy; và là loại phân không hòa tan trong nước mà chỉ hòa tan trong axit yếu hoặc axit loãng, loại phân ít hòa tan.

Meta photphat kali:. Loại phân ở dạng tinh thể nhỏ. Sản phẩm công nghiệp thường là hỗn hợp của meta photphat kali và pyro photphat kali có chứa khoảng 40% K 2O và 60% P 2O 5.

Các sản phẩm này không tan trong nước nhưng dễ hòa tan trongg oxalat hay xitrat amon sử dụng như các loại phân lân ít hòa tan.

1.7. Các loại phân supe lân ít hòa tan (chậm tan).

Trong những năm đầu thế kỷ thứ 20, sự cố gắng của công nghiệp sản xuất phân hóa học nhằm vào:

– Sản xuất các loại phân tan nhiều trong nước để cây dễ dàng sử dụng, hiệu quả nhanh.

– Sản xuất các loại phân có chứa ba yếu tố phân bón cao.

Dần dần trong quá trình sử dụng người ta thấy rằng nếu độ hòa tan quá cao thì phân lân lại dễ chuyển thành dạng khó hòa tan và bị giữ chặt lại do tiếp xúc nhiều với các nhân tố gây cố định và giữ chặt có sẵn trong đất. Vì vậy, xuất hiện quan niêm cho rằng không nhất thiết phải phá vỡ hoàn toàn tinh thể apatit bằng lượng axit cao, chỉ cần dùng một lượng vừa phải đủ để tạo ra sự phá vỡ ban đầu của tinh thể apatit, tạo ra CaHPO4 và các photphat canxi ít hòa tan khác. Loại phân lân này gọi là phân lân bị oxy hóa một phần (PAPR) hay còn gọi là phân ít tan hay phân chậm tan. Sau khi bón vào đất, phân sẽ tham gia vào các quá trình trong đất mà tiếp tục phân giải. ý định rất được các nhà khoa học Pháp (IRAT CITRAT) và Mỹ (Trung tâm phát triển phân bón quốc tế Alabama) chú ý và đã sản xuất thử nghiệm. Các kết quả thử nghiệm rộng rãi trên mạng lưới nhiều nước và nước ta cho thấy rằng loại phân lân này có những ưu điểm sau đây:

– Hàm lượng lân tổng số trong phân cao hơn supe lân thông thường. Ví dụ loại phân A sản xuất từ apatit Lào Cai loại I có hàm lượng P2O5 là 25,1% trong đó có 69 % tan trong xitrat amon. Do đó chuyên chở, bảo quản rẻ tiền hơn.

– Giá thành 1 kg P2O5 rẻ tiền hơn.

– Hiệu quả vụ đầu không kém supe lân trên đất ít chua, kém nột ít trên đất trung tính và cao hơn supe lân ở đất chua nhiều. Hiệu quả vụ sau trội hơn rõ.

Loại supe lân PA của nhà máy supe lân Long Thành có tỷ lệ P2O5 20%, trong đó có 8% P2O5 hữu hiệu và 4% MgO có lẽ đã vận dụng sáng tạo thành tựu nghiên cứu này.

Các kết quả nghiên cứu trên nhiều vùng đất đai khí hậu nước ta miền bắc, miền Trung và miền Nam, trên đất lúa cũng như đất trồng hoa màu cho thấy rằng loại phân này có nhiều triển vọng.

1.8. Supe lân sản xuất từ các axit clohydric.

Người ta cũng có thể sản xuất ra loại sản phẩm tương đương supe lân bằng cách cho HCl tác động với apatit. Quá trình này hình thành CaCl2 và làm cho phân ướt. Ở vùng khô hạn ion Cl- có thể tồn dư trong đất và gây độc cho cây.

Ở vùng mưa nhiều, nhất là vùng đất lúa, Clo dễ bị rửa trôi theo nước thấm sâu. Nhiều kết quả điều tra và thí nghiệm cho thấy rằng số lượng Cl- tồn dư rất thấp không phát hiện được bằng phương pháp phân tích thông thường, sau 4 vụ trồng lúa bón liên tiếp bằng phân lân sản xuất từ axit clohydric. Sản xuất phân lân từ axit clohydric nên được chú ý đối với các nước sản xuất nhiều muối như nước ta.

1.9. Phân lân kết tủa (Prexipitat).

Ở các nước ôn đới do sợ rằng clo sẽ tích lũy trong đất gây hại cho hệ sinh vật đất ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm và làm cho phân ướt nên tìm cách loại CaCl2. Trước hết sử dụng HCl tác động lên apatit để tạo ra axit photphoric sau đó dùng sữa vôi để kết tủa. Sản phẩm tạo thành là dicanxi photphat và vì vậy gọi là phân lân kết tủa.

Trong phân phức chứa 38 – 42% P2O5, không hòa tan trong nước mà chỉ hòa tan trong xitrat amon.

Phân lân kết tủa màu trắng đục, vô định hình, tơi rời ít hút ẩm, thích hợp cho đất chua và ít chua.

Phân lân kết tủa thường dùng để sản xuất các loại phân phức hoặc dùng để làm thức ăn gia súc.

2. Các loại phân lân sản xuất từ quy trình nhiệt.

Phân lân nung chảy còn được gọi là phân lân cao nhiệt, phân lân thủy tinh, Tecmo photphat. Nguyên lý sản xuất loại phân lân này là: nung chảy quặng apatit ở nhiệt độ cao để chuyển lân thành các hợp chất phức tạp hòa tan được trong axit yếu. Phân này sản xuất đầu tiên ở Bỉ được đưa ra từ năm 1916 và đã được ứng dụng rộng rãi ở Đức, Bỉ, Hà Lan, Nga, Pháp, Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc. Có hai loại phân lân nung chảy.

Phân lân nung chảy có phụ gia kiềm. Loại này có độ kiềm cao, có khả năng khử chua và chứa nhiều yếu tố dinh dưỡng quan trọng khác ngoài lân như Mg, Ca, Na, K và các vi lượng tùy thuộc quặng apatit và chất kiềm sử dụng.

Phân lân nung chảy không dùng hoặc dùng ít phụ gia kiềm. Loại này thường có lượng P2O5 cao hơn nhưng khả năng khử chua thấp hơn và nghèo các yếu tố khác hơn.

2.1. Phân lân nung chảy dùng phụ gia kiềm.

Các chất kiềm thường dùng là đá xà vân (secpentin), đá bạch vân (đolomit) quặng olivin. Nước ót thừa ở các ruộng muối có chứa các muối NaCl, KCl, MgCl2, MgSO4 cũng được dùng làm chất kiềm để tạo thành loại phân gọi là phân lân nước ót.

+ Photphat canxi – magie ( F.M.P)

Ở nước ta có hai công ty sản xuất phân lân nung chảy Công ty phân lân nung chảy Văn Điển và Công ty phân lân nung chảy Ninh Bình. Cả hai công ty này đều sử dụng quặng apatit loại 2 của mỏ apatit Lào Cai và quặng secpentin Thanh Hóa làm nguyên liệu chính tạo thành photphat canxi – magie. Sản phẩm của hai công ty có thành phần lân và magie gần giống nhau.

Phân lân nung chảy Văn Điển có 3 loại :

+ Loại 1 có tỷ lệ P2O5 20% và MgO 15%.

+ Loại 2 có tỷ lệ P2O5 17,5 % – 18,5 % và MgO 15-17%.

+ Loại 3 có tỷ lệ P2O5 15 – 16 % và MgO 17 – 20%.

Ngoài ra còn có chứa 24 – 30% SiO2 và các vi lượng cần thiết cho cây như:

Sắt 4%

Mangan 0,4%

Đồng 0,02%

Molypđen 0,001%

Coban 0,002%

Bo 0,05 – 0,07%

Lân trong phân lân nung chảy ở dưới dạng phức hợp photphat canxi, magie, không tan trong nước, có khoảng 90% tan trong axit xitric 2%. Các loại phân này có độ kiềm cao PH = 8,5. Lượng vôi và magie trong phân gần bằng lượng vôi trong bột đá vôi và có khả năng khử chua bằng 80 – 90% bột đá vôi. Bón 2 – 2,5 kg phân lân nung chảy có tác dụng khử chua ngang 1 kg vôi bột hoặc 2 kg bột đá vôi.

Phân lân nung chảy thương trường hiện nay có hai loại hạt. Loại cỡ hạt ±2 mm có màu xanh xám óng ánh như thủy tinh và cỡ hạt mịn, 70% qua rây canh 0,25 mm có màu xanh nhạt, nhìn kĩ cũng óng ánh như thủy tinh. Phân khô không hút ẩm, đóng cục.

Ưu điểm chính chung của các loại phân lân nung chảy là:

– Có khả năng khử chua cải tạo đất chua, đất phèn.

– Lân trong phân ở dạng ít hòa tan nên tuy hiệu quả chậm hơn supe lân một ít nhưng hiệu quả bền hơn vì lân không bị chuyển thành dạng cây khó sử dụng. Các loại đất có khả năng hấp phụ và giữ chặt lân lân cao như đất phù sa năng chua, đất phèn, đất đồi laterit chua, đất phù sa trũng và lầy thụt hiệu quả lân nung chảy có trội hơn lân supe.

Các yếu tố trung lượng như Silic, canxi, Magie, là các yếu tố dần dần được chú ý nhiều hơn khi sản xuất thâm canh và bón đủ các yếu tố chính N, P, K. Sự thiếu canxi đã thể hiện ở một số loại đất chua nhiều. Sự thiếu magie cũng biểu hiện rõ trên đất đồi thoái hóa, đất xám và đất bạc màu, đất phù sa sông. Silic tích lũy trên thân cây hòa thảo (ngô, lúa, cao lương) làm cho cây cứng cáp và giảm bớt bệnh hại. Magie lợi cho phẩm chất của cây lấy đường, cây lấy dầu, cây họ đậu, phẩm chất lá dâu.

Các khảo sát của các cơ quan nghiên cứu Việt nam cho thấy phân lân nung chảy có hiệu quả đặc biệt cho các cây trồng sau đây: lúa, ngô, lạc đậu, đỗ, mía, dâu tằm, dứa, hồ tiêu, chè, cà phê, cao su, đồng cỏ chăn nuôi và các vùng đất chua PH < 5, vùng đất bạc màu, đất chua mặn (đất phèn) đất cát ven biển, đất trũng lầy thụt, đất đồi feralit chua.

Mặt yếu của loại phân này là hiệu quả hơi chậm đặc biệt là ở vùng đất trung tính kiềm và quá nghèo lân, làm cho trong thời gian ngắn ban đầu cây sẽ không được cung cấp đủ lân.

Cách khắc phục đơn giản là:

– Nếu đất quá nghèo lân, vài vụ đầu nên bón cao hơn mức bình thường 20%, các vụ sau giảm dần.

– Sử dụng phối hợp supe lân và phân lân nung chảy, phân supe lân dễ tan hơn đảm bảo nhu cầu lân cho cây giai đoạn đầu. Phân lân nung chảy ít bị cố định hơn chuyển dần ra cung cấp lân cho cây ở các thời vụ sau. Lưu huỳnh trong supe lân và magie trong phân lân nung chảy đều là hai yếu tố có thể được xem là yếu tố phân bón cho các vùng nhiệt đới sản xuất thâm canh.

Tỷ lệ phối hợp có thể là 1/3 – 1/2 supe lân và 1/2 đến 2/3 phân lân nung chảy. Đối với các cây ưa đất chua, cần nhôm và lưu huỳnh như chè, cà phê, ca cao bón phối hợp supe lân và phân lân nung chảy lại càng cần thiết.

Vấn đề độ mịn của phân lân nung chảy cũng là vấn đề đang tranh cãi. Phân lân nung chảy không tan trong nước mà chỉ tan trong axit yếu, gần như không di động trong đất. Rễ cây chỉ lấy được phân khi lông hút tiếp cận được với hạt phân. Điều này làm cho nhiều nhà nghiên cứu muốn phân phải được nghiền mịn để phân có thể tiếp xúc trực tiếp với rễ. Tuy nhiên, nếu nghiền mịn sự tiếp xúc nhiều giữa phân với đất cũng làm cho lân bị đất cố định mặc dù phân lân nung chảy là loại phân lân ít hòa tan. Hiện tượng này cũng đã gặp khi bón phân lân nung chảy và supe lân trên đất phèn mới khai hoang. Trên loại đất chua phèn có khả năng hấp phụ cao này bón supe lân cho lúa đầu vụ cuối vụ đã mất hiệu lực. Bón làm 3 lần một lần bón lót và 2 lần bón thúc cho năng suất cao hơn. Nếu bón phân lân nung chảy dạng bột cuối vụ cũng thể hiện thiếu lân nhưng không rõ bằng, bón thúc 1 lần bằng phân lan nung chảy tốt hơn bón lót tất cả. Điều này chứng tỏ rằng trên các loại đất có độc chua cao, có tình trạng bốc phèn, bón phân lân nung chảy dạng bột mịn chưa chắc đã tốt bằng dạng không nghiền mịn.

Cũng như tất cả các loại phân lân khác, phân lân nung chảy thường được dùng để bón lót. Các thí nghiệm ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy trộn phân lân nung chảy cùng với hạt giống lúa để gieo hiệu quả rất tốt. Cách trộn này cũng có thể áp dụng cho các loại hạt giống khác.

Bón lót phân lân nung chảy cho ruộng lúa cần bón trước lúc bừa cấy để trộn lân phân với đất. Đối với ruộng trồng hoa màu có thể bón lót vải ra ruộng, bừa kỹ trước khi lên luống hoặc bón theo hàng theo hốc nhưng cần dùng cuốc đảo đều để trộn lẫn phân với đất. Đối với cây lâu năm nên bón sớm lúc đặt cây và bón vào rãnh cùng phân hữu cơ vào cuối vụ đông.

Phân lân nung chảy không thể dùng để hòa nước tưới và phun lên lá. Chỉ nên trộn phân lân nung chảy với phân chuồng trước khi bón, không nên trộn với phân đem ủ như supe lân và photphoric vì phân lân nung chảy có thể làm mất đạm trong phân chuồng. Phân lân nung chảy cũng không nên trộn với nước giải vì lý do mất đạm. Khi dùng phân đạm bón lót có thể trộn với phân lân nung chảy để cùng bón, nhưng không nên để quá lâu trong điều kiện ẩm.

* Phân lân nước ót. Nước ót là nước thừa ở ruộng muối đã kết tinh. Trong nước ót có các muối NaCl, KCl, MgCl2, MgSO4, MgBr2và một số vi lượng. Khi nung apatit với nước ót cũng thu được một số loại phân lân nung chảy có các nguyên tố có ích cho cây như Na, K, Mg, Si.

Phối hợp nước ót cùng với các nguyên liệu không kiềm khác để sản xuất loại phân có nhiều yếu tố mà không chảy nước là hướng có nhiều triển vọng đối với một nước có thể sản xuất nhiều muối như nước ta.

* Renanit: Còn gọi là phân lân thiêu kết. Quặng kiềm để sản xuất các loại phân lân này là Na2CO3, NaOH hoặc K2CO3, KOH hoặc có khi dùng Na2SO4. Khi nung tạo ra Na2O là một chất kiềm mạnh, đẩy flo ra khỏi tinh thể và làm cho phân trở thành dễ tiêu hơn. Nhiều khi người ta còn sử dụng Canxi.

Loại phân này thích hợp cho các vùng chua nghèo natri, nhưng cần chú ý ảnh hưởng xấu của natri làm phân tán keo đất, làm xấu lý tính đất, đất bị chai cứng dễ nứt nẻ.

* Photphat cứt sắt (còn gọi là phân lân tomat hay Tomat solac).

Khi luyện thép theo quy trình do Thomas đề nghị, để loại bỏ lân có trong quặng sắt với vôi. Sắt kết hợp với vôi tạo thành các tinh thể tetra canxi photphat Ca 4P 2O 9. Có khả năng hoặc phức hợp của solicophotphat hòa tan nhiều trong xitrat amon có thể đến 75-90% lân tổng số. Trong photphat cứt sắt còn có 15-55% CaO trong đó có 80% CaO có hoạt tính cao (như vôi bột), cho nên photphat cứt sắt cũng có tác dụng khử chua cao như phân lân nung chảy.

Ưu điểm của photphat cứt sắt là có thể cung cấp thêm một số vi lượng, rất đáng kể. Trong 1 tấn có 25 – 50 kg mangan và magie, 10 – 60 g đồng, 2 – 5 g coban, 5 – 10 g molybden.

Photphat cứt sắt là loại phân được sử dụng rộng rãi ở Pháp và các nước EU, tỷ lệ có thể lên đến 30% số lượng lân sử dụng. Trong tương lai khi công nghiệp luyện thép của các nước EU thay đổi, mặt hàng photphat cứt sắt không còn nữa cần có mặt hàng khác thay thế vì vậy phân lân nung chảy đang được thị trường châu Âu để ý đến.

* Photphan. Photphan là loại phân sản xuất từ alumino – canxi-photphat là loại quặng có lân giàu nhôm có nhiều ở vùng Thiêt- Senegan. Đó là một loại phân có hàm lượng lân cao 34% P2O5 trong đó có 26% hòa tan trong amon xitrat và 8% ở dạng khó tan. Loại này thường dùng để trộn thành phân phức hợp dễ bảo quản. Người ta trộn thêm Mg, Bo và vi lượng.

Kỹ thuật sử dụng photphan tương tự các loại phân lân nung chảy.

2.2. Phân lân nung chảy không dùng hoặc ít dùng phụ gia kiềm.

* photphat khử Fluo: Còn gọi là phân lân thủy nhiệt vì vừa dùng tác động nhiệt, vừa dùng tác động hơi nước để phá vỡ tinh thể apatit và đẩy fluo ra khỏi tinh thể. Phân là một hỗn hợp canxi photphat và canxi silicat. Hàm lượng lân trong phân tùy thuộc lân trong apatit được sử dụng, từ 20 – 22 % P2O5 với quặng nghèo, 30 – 32 % P 2O 5 với quặng giàu trong đó có từ 70 – 92 % lân hòa tan trong axit xitric.

* Metaphôtphat. Metaphôtphat và pyrophotphat có thể sản xuất từ các axit metaphophoric hoặc axit pyrophotphoric như đã nói ở trên, đồng thời cũng có thể sản xuất bằng phương pháp nhiệt bằng cách khử mono canxiphotphat ở T = 275 – 300 oC hoặc bằng cách nung quặng apatit và P 2O 5 ở nhiệt độ 1000 – 1200 oC. Metaphôtphat có hàm lượng lân cao, trên lý thuyết có đến 71,7% P 2O 5, phân thương trường có 60 – 65% P 2O 5 phần lớn tan trong axit xitric 2%, ngoài ra còn có 25% CaO và 4 % SiO 2.

Các loại metaphotphat, pyrophotphat, supe lân ít tan, phân lân kết tủa, phân lân nung chảy; phân lân nước ót, photsphan, photphat khử fluo, renanit, photphat cứt sắt dầu cách sản xuất có khác nhau, theo quy trình tác động bằng axit hay tác động nhiệt đều có một đặc điểm chung, thành phần lân không hòa tan trong nước mà chỉ hòa tan trong axit xitric, hoặc xitrat trung tính thuộc nhóm phân lân ít hòa tan. Các loại phân lân sản xuất từ axit hòa tan cao trong dung môi xitrat trung tính tương tự supe lân, còn các loại sản xuất theo quy trình nhiệt hòa tan cao trong điều kiện axit. Các loại phân lân này đều cùng một số đặc điểm chung về cách sử dụng:

– Có ưu thế đặc biệt ở đất chua.

– Tốt nhất là bón lót sớm.

– Hiệu quả ban đầu hơi chậm nhưng kéo dài đến cuối vụ và vụ sau.

Các loại sản xuất từ quy trình nhiệt kiềm thường khủ chua mạnh hơn và có chứa một số vi lượng có ích.

2.3. Một số loại khác ít phổ biến.

* Phân lân ở dạng nước.

Đó là hỗn hợp các axit photphoric như axit octophotphoric H3PO4, axit pyrophotphoric H 4P 2O 7, axit triphotphoric H 5P 3O 10, axit tetraphotphoric H 6P 4O 10… Sản phẩm chứa đến 75 – 79% P 2O 5.

* Photphin. Là hỗn hợp các photphua hydro hóa lỏng nước ở nhiệt độ – 88 oC và chuyển sang thể rắn ở nhiệt độ -134 o C. Phân có chứa đến 91% P.

3. Các loại phân lân tự nhiên.

Đó là loại quặng khai thác từ các mỏ dùng làm phân bón. Các mỏ này có nguồn gốc do núi lửa phun ra tạo thành hoặc do lân tích đọng ở đáy biển tạo thành. Lân trong các loại quặng này đều là các hợp chất photphat canxi có chứa gốc Cl–, F–, OH– hay CO 32- . Tùy theo thành phần hợp chất, nguồn gốc thành tạo mà phân làm hai loại apatit và photphorit. Apatit phần lớn có nguồn gốc phún xuất và có cấu trúc tinh thể hoặc vi tinh thể và cũng khó phá vỡ, khó dùng để bón trực tiếp. Apatit Lào Cai cũng thuộc về loại này. Các loại quặng nguồn gốc trầm tích, cấu trúc vô định hình, dễ phá vỡ có thể dùng để bón trực tiếp gọi là photphorit. Các loại này thường lẫn lộn với đất có nhiều chất hữu cơ và tỉ lệ Fe, Al cao.

3.1. Photphorit.

Photphorit sử dụng ở các nước EU đều lấy từ các mỏ của Bắc Phi, Mỹ, canada, SNG. Mỏ này nhỏ trữ lượng ít hàm lượng lân thấp. Trong các hang núi đấ vôi ven bờ biển (Còn gọi là phân lèn). Các núi đá này rải rác ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Bắc Thái, Hòa Bình, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình. Tính chất các loại này gần giống photphorit Vĩnh Thịnh.

Cần phân biệt phân lèn là photphorit chính cống với loại phân cũng lấy được từ trong hang đá nhưng là xác của phân dơi, chim chóc sống lâu trong hang đá để lại. Loại phân này là một loại phân đặc biệt giàu chất dinh dưỡng rất tốt, dùng như các loại phân hữu cơ nhiều yếu tố N, P, K và vi lượng khác hẳn photphorit thông thường.

Chất lượng của photphorit được đánh giá theo các tiêu chuẩn sau:

– Tính chất vật lý- xốp nhẹ.

– Tính chất hóa học: Lân tổng số và lân tan trong axit citric cao, tỷ lệ CaO cao và tỷ lệ P2O3 thấp, hàm lượng fluo thấp.

Chất lượng photphorit thay đổi rất nhiều tùy nơi khai thác. Các loại photphorit của Maroc, Angieri, Mỹ, Canada chất lượng tốt được nghiền bón trực tiếp và có tín nhiệm trên thị trường. Photphorit ở mỏ Vĩnh Thịnh và các núi đá vôi nhiều sắt nhôm, tỷ lệ lân thấp thay đổi rất nhiều tùy nơi khai thác. Hàm lượng P 2O 5 tổng số thay đổi từ 10-31% P 2O 5.

Ưu điểm chính của bột photphorit là có khả năng khử chua, hiệu lực lâu dài trong nhiều vụ.

Nhược điểm chính là không phải đất nào, cây nào bón photphorit cũng có hiệu lực. Ở đất trung tính và ít chua, photphorit chỉ có hiệu lực rõ đối với một số cây họ đậu và cây phân xanh, cây họ thập tự.

Ở đất chua pH< 5,5 hiệu lực của photphorit mới rõ. Đất càng chua hiệu lực càng rõ. Hiệu lực photphorit rõ nhất ở các chân ruộng trũng, lầy thụt giàu hữu cơ.

3.2. Apatit.

Apatit phần lớn là các mỏ thành tạo có nguồn gốc phún xuất, nhưng cũng có mỏ có nguồn gốc trầm tích. Mỏ apatit Lao Cai thuộc loại sau.

Quặng loại 3 được làm giàu để sản xuất supe lân. Quặng loại hai dùng để sản xuất phân lân nung chảy.

Trong 3 loại quặng, quặng 1 có cấu trúc tinh thể, ít bền chặt, dễ phá vỡ, có thể nghiền bón trực tiếp, nhưng hàm lượng P 2O 5 cao nên dùng để sản xuất supe lân và xuất khẩu. Quặng loại 3 có hàm lượng P 2O 5 thấp có thể dành nghiền bón trực tiếp nhưng tinh thể khá bền vững, hiệu lực kém hơn.

Hiệu lực các loại phân bón khó tan dùng bón trực tiếp phụ thuộc vào sự tiếp xúc của các phân với đất và rễ cây. Dựa vào axit do rễ cây tiết ra và dựa vào độ chua của đất mà các loại phân khó tiêu trở thành dễ tiêu. Cây có thể sử dụng được. Các biện pháp chính để làm tăng hiệu quả các loại phân lân này là:

– Nghiền mịn: Độ mịn càng cao càng có hiệu quả. Phân phải có độ mịn đạt 20% qua rây 0,25 mm mới có thể làm tăng năng suất khá. Nếu giá thành cho phép tốt nhất là 100% qua rây 0,10 mm.

– Bón sớm: các loại phân lân khó tan chỉ có thể bón lót. Bón tập trung theo hàng hoặc hàng cây tốt hơn bón vãi ra ruộng vì phân dễ tiếp xúc với cây hơn. Trong trường hợp dùng với lượng lớn để vừa cải tạo độ chua vừa cung cấp cho cây mới nên bón vãi và cày bừa trộn đều trong toàn tầng đất canh tác.

– Ủ với phân chuồng để lợi dụng chất chua khi chất hữu cơ phân giải. Trộn photphorit với các loại phân vô cơ có khả năng gây chua như amon sunfat, amon clorua hay các loại phân Kali cũng có tác dụng làm tăng hiệu lực của phân.

Cũng như các loại phân ít hòa tan, sự phối hợp phân lân khó tiêu với các loại phân lân dễ tiêu thường có tác dụng tốt. Nhà máy supe lân Long Thành đã có sáng kiến xuất loại supe lân PA bằng cách trộn supe lân sau khi ủ 5 ngày với bột đá xà vân và bột apatit hoặc bột phophorit. Loại phân này có tác dụng giống như các loại phân snr xuất theo quy trình chậm tan.

Lượng bón các loại phân khó tiêu nên cao hơn supe lân 1,5 – 2 lần.

4. Phân lân vi sinh:

Lân trong đất thường tồn tại dưới hai dạng:

Các hợp chất lân vô cơ và các hợp chất lân hữu cơ. Lân hữu cơ chiếm khoảng 25 – 50 % tổng số lượng lân trong đất tùy thuộc lượng hữu cơ và mùn trong đất nhiều hay ít. Ở đất mới khai phá, đất vùng ôn đới, mùn nhiều, lân hữu cơ rất cao. Khi có nhiệt độ thích hợp, không quá thấp các vi sinh vật phân giải chất hợp chất hữu cơ chứa lân thành lân vô cơ cung cấp cho cây. Nhiệt độ dưới 20 oC, hoạt động này ngừng lại, cây trồng sử dụng lân chủ yếu dưới dạng vô cơ chứa sẵn trong đất. Khi nhiệt độ từ 35oC trở lên sự giải chất hữu cơ rất mạnh nguồn cung cấp lân dựa nhiều vào lân hữu cơ phân giải ra.

Quá trình phân giải lân hữu cơ có sự tham gia của một loại vi sinh vật đặc biệt gọi là vi sinh vật phân giải lân hữu cơ (Bacillus megatherium phosphaticum). Để tăng cường sự phân giải lân hữu cơ trong đất người ta đã tuyển chọn các dòng có khả năng phân giải mạnh bổ sung thêm vào đất. Đó là các loại phân vi sinh vật phân giải lân hữu cơ. Loại phân vi sinh vật phân giải lân hữu cơ này chỉ có hiệu quả trên đất ôn đới giàu hữu cơ. Đất vùng nhiệt đới nghèo hữu cơ và mùn ít có triển vọng.

Trong đất cũng có các loài vi sinh vật chuyển hóa các dạng lân vô cơ khó tiêu thành dạng lân vô cơ dễ tiêu. Loại vi sinh vật phân giải lân vô cơ khó tiêu này tìm thấy nhiều ở chung quanh rễ các loại cây họ đậu, rễ bèo dâu, rễ lúa các dòng kháng thiếu lân. Người ta cũng đã thử sử dụng các dòng vi khuẩn này để sản xuất phân vi sinh vật phân giải lân vô cơ bón vào đất. Tuy nhiên các dòng vi khuẩn này chỉ có thể phân giải canxi photphat mà trong đất nhiệt đới chứa lân vô cơ khó tiêu tồn tai dưới dạng sắt photphat và nhôm photphat là chính. Vì vậy triển vọng của phân vi sinh vật phân giải lân vô cơ ở đất nhiệt đới chua cũng không có gì là hấp dẫn.

Các nhà nghiên cứu chú ý vận dụng vai trò của vi sinh vật phân giải lân vô cơ theo một hướng khác. Nhờ phát hiện được các giống có khả năng phân giải lân vô cơ mạnh nên có triển vọng dùng các dòng này để thay thế vai trò của axit và nhiệt chuyển lân vô cơ khó tiêu thành dạng dễ tiêu để sản xuất phân lân. Nguyên lý cơ bản củ giải pháp này là dùng hỗn hợp hữu cơ tươi như bã mía, rỉ đường làm nguồn gốc cung cấp năng lượng cho hoạt động của vi sinh vật phân giải photphorit hay apatit (thường là các photphorit mềm, hợp chất lân dễ phân giải) thành dễ tiêu hơn. Các nhà nghiên cứu còn hi vọng rằng quá trình lên men có thể tạo ra các chất điều hòa sinh trưởng, chất diệt nấm, cố định đạm nên tên là phân lân hữu cơ vi sinh.

Đây là vấn đề mới. Khó khăn cơ bản là có dòng vi khuẩn có khả năng phân giải nhanh và sự cung cấp đủ chất hữu cơ cho quá trình lên men, bảo quản phân cho đến lúc sử dụng không mất chất dinh dưỡng và giữ được số vi sinh vật trong phân theo đúng quy định. Phân cần đảm bảo yêu cầu tối thiểu của một loại phân lân chế biến công nghiệp có tỷ lệ P2O5 trong phân lân ít nhất là trên 10 % với 80 % lân hữu hiệu.

Hệ số sử dụng lân của cây trồng rất thấp. Hệ số sử dụng biểu kiến chỉ đạt tối đa 30%. Tăng hệ số sử dụng thêm khoảng 10% nữa hết sức khó khăn. Cho nên các quy trình sử dụng phân lân vi sinh không nên đưa ra các mức bón quá thấp so với quy trình hướng dẫn khuyến nông. Ví dụ quy trình khuyến nông hướng dẫn bón cho cây lúa là 60 kg P 2O 5/ha thì các quy trình khuyến nông sử dụng phân vi sinh ít nhất cũng đảm bảo cung cấp cho cây ít nhất 90% số đó, 54 kg P2O5 / ha/vụ.

Cần đảm bảo đủ đạm cho cây phát triển. Các loại phân hữu cơ vi sinh, khó có khả năng tăng lượng đạm trong đất nhiều cho nên các quy trình sử dụng phân lân hữu cơ vi sinh nên đảm bảo bón đủ đạm cho cây, ít nhất 80 % số lượng đạm cần bón theo quy trình hướng dẫn khuyến nông. Ví dụ quy trình hướng dẫn nên bón 120 kg/ha/vụ cho lúa chiêm xuân ở vùng đồng bằng bắc bộ thì tổng số lượng đạm đưa vào cho cây lúa nếu sử dụng phân lân hữu cơ vi sinh cần đạt ít nhất là 96 kg N/ha/vụ.

Sự phối hợp với các loại phân khoáng (phân đạm, lân, kali) thích hợp, đảm bảo đủ để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng là điều kiện quan trọng để phát huy được hiệu quả. Một hình thức phối hợp giữa phân lân hữu cơ vi sinh và phân khoáng như vậy nếu chi phí bón phân không vượt quá xa quy trình đang được áp dụng có thể được nông dân chấp nhận và sẽ rất có ích cho vùng đất cát biển, đất bặc màu những nơi thiếu hữu cơ nghiêm trọng và hoạt động của vi sinh vật yếu. Đó là bài toán khó khăn mà các nhà sản xuất phân lân hữu cơ vi sinh đang phải tiếp tục giải để có thể đứng vững.

Hiện nay có nhiều nhà sản xuất phân lân hữu cơ vi sinh như phân lân hữu cơ Thiên Nông, phân lân sinh hóa hữu cơ Komix của công ty sinh hóa nông nghiệp và thương mại thiên Sinh, phân sinh hóa hữu cơ Biomix của công ty phân bón hóa chất Kiên Giang, Biofer của Hội phân bón Việt Nam… đều sản xuất phân lân hữu cơ vi sinh.

Một loại phân lân khác gọi là Biosuper (phân lân super vi sinh) được sản xuất bằng cách trộn photphorit với các sản phẩm có chứa lưu huỳnh như than bùn sú vẹt hoặc đất có chứa lưu huỳnh thấp vùng mỏ lưu huỳnh (thiobacillus, thiooxidant). Loại vi sinh vật này oxy hóa S thành axit sunfuric, dựa vào axit tạo ra để chuyển lân khó tiêu thành dạng dễ tiêu. Các nhà sản xuất Australia và Canada đã sản xuất theo cách này và đưa ra thử nghiệm rộng rãi. Kết quả thử nghiệm cho thấy nguyên liệu sử dụng cần chứa lượng S đáng kể đủ để chuyển hóa các quặng lân khó tiêu. Hàm lượng lân trong sản phẩm thấp, hiệu lực không bằng supe lân và họ cho rằng các sản phẩm kiểu này có thể sử dụng tốt cho đồng cỏ hoặc đất khai hoang để phục hồi đất hoang và sử dụng cho các nước đang phát triển mà công nghiệp phân bón chưa phát triển.

5. Chọn loại phân lân như thế nào?

Các loại phân lân được chia thành 3 nhóm chính;

1/ Các loại dễ hòa tan bao gồm các nhóm lân chế biến bằng axit, lượng axit sử dụng đến mức tạo thành các photphat 1 canxi dễ tan trong nước. Tùy mức axit thừa 1-3% axit photphoric mà có mang tính chua nhiều hay ít. Do có còn một ít axit nên phân dễ hút ẩm. Các loại phân này thích hợp nhất ở các loại đất kiềm và trung tính vì phân có khả năng làm giảm độ kiềm của đất và tồn tại ở dạng cây dễ sử dụng. Ở các loại đất quá kiềm hoặc quá chua nhất là các đất quá chua sử dụng loại phân này (trừ đất lúa) nên dùng các loại phân viên. Nhờ được viên nên phân ít tiếp xúc với các nhân tố trong đất (canxi ở đất kiềm, sắt nhôm dễ đông ở đất chua và các keo đất mang dấu hiệu dương trong đất chua) làm giảm độ hòa tan.

Các loại phân lân giàu và rất giàu chứa ít lưu huỳnh ở dạng canxi sunfat thích hợp cho đất mặn chua ven biển giàu sunfat, đất trũng lầy thụt nhiều hữu cơ yếm khí. Trên 2 loại đất này, lưu huỳnh có thể làm tăng ion sunfat đến mức gây ngộ độc (đất mặn sunfat) hoặc làm tăng lượng H2S gây độc (đất lầy thụt yếm khí trồng lúa).

Supe lân thông thường có lợi cho đất thoái hóa, bạc màu, nghèo hữu cơ, nghèo lưu huỳnh, đất cát, thâm canh không có điều kiện hoàn trả hữu cơ; đất đồi thoái hóa, do cả hai mặt: cung cấp P và S. Nó cũng có lợi cho các cây cần nhiều S cây họ thập tự, họ hành tỏi, cây lấy dầu thuộc họ lạc, đậu đỗ, cau dừa chúng tôi các loại cây họ chè (chè, cà phê, ca cao) và cây lấy mủ.

2/ Các loại phân ít hòa tan và khó hòa tan thường rất hữu hiệu đối với các loại đất chua, giàu hữu cơ và sét dễ làm cho lân trong phân chuyển thành dạng khó tan.

Chỉ các loại đất có độ chua cao pH KCl< 5 và thành phần cơ giới của đất từ thịt trung bình trở lên đến thịt nặng và sét mới nên sử dụng các loại quặng tự nhiên khó tan như apatit và photphorit. Các loại phân lân ít hòa tan (không tan trong nước chỉ tan được trong axit citric 2%) như các loại phân lân axit hóa một phần (phân lân chậm tan), các loại phân lân chế biến bằng nhiệt (phân lân nung chảy) hiệu quả trên đất trung tính hoặc ít chua không kém supe lân nhưng trên đất chua càng phát huy được ưu điểm khử chua và sắt nhôm di động.

Sự cung cấp điều hòa lân trong giai đoạn đầu và giai đoạn cuối của cây trồng rất có lợi cho cây vì vậy sự phối hợp với tỷ lệ thích hợp khoảng 70% phân lân ít hòa tan có lợi cho mọi trường hợp.

Các loại phân lân chế biến bằng quy trình nhiệt thường giàu canxi, magie, natri có khi có cả kali và vi lượng thường có lợi cho đất cát, đất bặc màu, đất đồi thoái hóa. Trên các loại đất này cũng thường thiếu lưu huỳnh và kali. Sự phối hợp các loại phân này với supe lân hoặc kali sunfat, amon sunfat nên được chú ý.

3/ Các loại phân được gọi là phân lân sinh hóa hữu cơ, nhiều chất hữu cơ hơn là lân. Đối với đất thiếu lân dễ tiêu cần được bổ sung thêm cho đủ lượng lân dễ tiêu cần thiết. Loại phân này có triển vọng tốt cho các loại đất cát, đất bạc màu, đất thoái hóa thiếu hữu cơ.

Các loại phân lân có chứa N như DAP được nông dân vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, đặc biệt vùng thấp Đồng Tháp mười, Hậu Giang chú ý vì hai lý do:

– Đất thiếu lân dễ tiêu đến mức hạn chế trong lúc hữu cơ và đạm có trong đất tương đối khá. Đất tuy giàu đạm nhưng thiếu N dễ tiêu. Tỷ lệ 46 – 50% P2O5 và 18 – 20% N (tỷ lệ N-P:1-2,5) trong phân thích hợp cho loại đất như vậy với lúa năng suất trung bình.

– Sự không có mặt gốc sunfat không độc hại do mặn sunfat và H2S trên đất vốn giàu ion sunfat này. Tuy nhiên trên loại đất này sử dụng phân lân nung chảy kết hợp với ure tỷ lệ 1,5 -1 cho lúa năng suất cao có lẽ lợi hơn vì hỗn hợp này còn khử chua và cố định sắt nhôm di động, giảm bớt độc và xúc tiến sự phân giải hữu cơ cung cấp thêm đạm. Nếu đất trồng trọt lâu ngày, tỷ lệ mùn và N đã suy giảm, dùng DAP cần bổ sung thêm cho đủ đạm. Trong trường hợp này dùng ure kết hợp với supe lân hay lân nung chảy chi phí sử dụng phân bón sẽ ít hơn.

Giới thiệu các loại phân lân * Phân lân chế biến bằng axit Supe lân:

+ Loại thông thường: 16 – 24% P 2O 5 tan trong amon xitrat 2%; 8-12%S; 28% CaO

Thể tích riêng: viên 107 – 124 dm3/100 kg phân bột 106 -122dm 3/100 kg

+ Loại giàu: 25 – 36 % P 2O 5 tan trong amon 2 % xitrat 6 – 8% S; 20 % CaO

+ Loại rất giàu: 36 – 38% P 2O 5 tan trong amon xitrat 2 %; 15% CaO lưu huỳnh không đáng kể.

Thể tích riêng: viên 105 – 120 dm3/100 g

Phân Metaphotphat canxi: 64 – 70% P2O5 tan trong amon xitrat 2 %

Metaphotphat kali: 40 – 60% P 2O 5 tan trong amon xitrat 2%

Phân lân kết tủa: 28 – 42% P 2O 5 tan trong xitrat amon 21%

Phân DAP: 18 – 20% N; 46 – 50 % P 2O 5 tan trong amon xitrat 2%

Thể tích riêng 90 – 110 dm3/ 100 kg.

* Phân lân chế biến bằng quy trình nhiệt

+ Loại giàu: 20% P 2O 5 tan trong axit xitric 2%; 15% MgO; 32% CaO & SiO2: 24%; Thể tích riêng 67 – 71 dm3/100kg.

+ Loại trung bình: 17,5 – 18,5 % tan trong axit xitric 2%; 30 – 36% CaO; 15 – 17 % MgO; 24 – 30% SiO

Thể tích riêng 67 – 70 % dm3/100 kg

+ Loại thấp: 15 % tan trong axit xitric; 28 – 32 % CaO; 17 – 20% MgO ; 24 – 30% SiO 2.

Photphan: 34% tổng số 26 % tan trong amon xitrat

Photphat khử fluo

+ Loại trung bình: 26 % tan trong amon xitrat

Photphat cứt sắt: 14 – 22 % P 2O 5 tổng số; 10,5 -20% P 2O 5 tan trong axit xitric 2%

* Các loại quặng tự nhiên chứa lân Photphorit thành phần rất thay đổi theo mỏ: 10 – 31% P2O5 tổng số. Apatit Lào Cai

+ Loại trung bình 23 – 31 % P 2O 5 tổng số

+ Loại nghèo < 23% P 2O 5 tổng số

Hết phần 1

Mời các bạn đón đọc phần 2: Hướng dẫn thực hành sử dụng phân lân

Nguồn: camnangcaytrong.com

Phân đạm là từ chung, dùng để chỉ các loại phân có chứa nitơ. Nhiều người muốn thay chữ phân đạm bằng phân Nitơ, nhưng chúng tôi thiết nghĩ…

Bảng chỉ số dinh dưỡng cây trồng trong các loại nguyên liệu sản xuất phân bón: Tính chất, độ tan, hàm lượng, cách tính hàm lượng dinh dưỡng…

Cẩm nang các loại phân đạm: Đạm Urea, Đạm Amonium Clorua, Đạm Amonium Sunphat (SA) tính chất, khả năng sử dụng, hàm lượng, công ty sản xuất…

Lân là yếu tố phân bón có thể xuất hiện nhu cầu ngay khi đã bón đủ đạm. Có khi lân là yếu tố hạn chế năng suất chứ không phải là đạm. Bón đủ lân mới có thể…

Giới Thiệu Về Các Loại Phân Bón Cho Cây Thủy Sinh

Giới thiệu về các loại phân bón cho cây thủy sinh

https://thuyte.com/hinh/tin/to/1527495326.jpg

phan nuoc, phan thuy sinh ,phan nuoc phan thuy sinh

Vào lại vấn đề chính , để cây phát triển tốt vấn đề chính đó là ánh sáng:

– Ánh sáng càng cao thì việc quang hợp tăng cao dẫn đến cây cần nhiều chất dinh dưỡng sau đó chọn phân cho phù hợp

– Ngước lại nếu cây cần ánh sáng thấp lượng hấp thụ chất thải phân cá , là đã đủ chất dinh dưỡng

Yêu cầu tiếp theo cho cây phát triển khỏe mạnh là Co2 :

– Với bể cá nhỏ thì không cần phun Co2 vi hồ sẽ ở trang thái cân bằng 7ppm Co2

– Với bể lớn cần phun trực tiếp Co2 vào nước để khuếch tán phục vụ cho cây

Và phân bón sẽ chia ra làm 2 phần :

1- Vi chất dinh dưỡng , hoặc vi lượng 2- Macro Nutrients ( NPK) – Ni tơ ( N):

+ Ni tơ được cung cấp thông qua chất thải của cá amoniac, nitrit , nitrat được bổ sung khi có nguồn cá sống trong bể

+ Ni tơ được cung cấp qua dạng khô thông qua việc kết hợp Kali nitrate (KNO3)

+ Mức Ni tơ chuẩn : 10-20 ppm ( ppm search google)

+ Thiếu Ni tơ cây vàng lá , lá non nhợt nhạt

Phốt pho là một chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tăng trưởng và sức khỏe của cây trồng. Nó thường được sử dụng bởi thực vật ở dạng Phosphate (PO4). Do tính chất độc hại của PO4 đối với các sinh vật thủy sinh khác trong bể của bạn nên bổ sung chúng có liều lượng . Nó thường là một trong những chất dinh dưỡng cuối cùng cần thiết để bổ sung vì chúng ta có thể đạt được ở mức rất thấp, và PO4 được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm chúng ta cho cá ăn, còn lại là quá đủ để bổ sung cây trồng của chúng ta.

Nó thường được thêm vào bể dưới dạng phân bón dạng lỏng như Seachem Phospho hoặc dạng bột như Monopotassium Phosphate hoặc KH2PO4, Giữ ở mức 1,0-2,0ppm PO4

Sự thiếu hụt phốt pho biểu hiện bản thân như vàng lá trong sự tăng trưởng , và có thể trông rất giống với sự thiếu hụt nitơ.

Không nên dùng liều P trong các hệ thống ánh sáng trung bình hoặc ánh sáng yếu. Nó có thể dễ dàng gây ra các vấn đề về tảo, và về sức khỏe của cá.

+ Nó là một chất dinh dưỡng khá nhân từ khi nói đến đời sống thủy sinh, vì vậy không có nhiều tác hại trong việc tự do dùng nó.

+ Nó cùng với N thường là chất dinh dưỡng đầu tiên tôi sẽ khuyên bạn nên dùng cho bể nhỏ – trung binhg .

+ Lượng Kali trong bể 10-20ppm, nhưng nó có thể được bón cao hơn nhiều mà không có vấn đề

+Dạng bột khô dưới dạng Kali Sulfate, hoặc K2SO4.

Sự thiếu hụt kali biểu hiện như các cạnh lá vàng hoặc các lỗ nhỏ ở lá

Các nguyên tố vi lượng có thể hiểu như các số chất vô cơ hữu cơ , ở nồng độ ít , duy trì sức khỏe phát triển của cây

Bao gồm : magie , đồng , sắt , kẽm , coban vv..

Chúng sẽ được sử dụng dưới dạng các hỗn hợp lỏng , Vì vậy sẽ bổ sung bằng cách mua tại các cửa hàng các loại phân vi lượng dành cho cây trồng thủy sinh

Hướng dẫn sử dụng:

– Bể nhỏ , vừa sử dụng Seachem Flourish ( có tại cửa hàng cá cảnh) không gây quá nhiều tác dụng phụ

– Bể trung , Vẫn dòng Seachem nhưng riêng lẻ của N, P, K rất tốt

Vi Sinh Vật Và Các Loại Phân Bón Vi Sinh Vật

2. Các dạng (nhóm) phân vi sinh vật

– Nhóm sản xuất với chất mang không thanh trùng. Có mật độ vi sinh vật hữu ích thấp hơn (106-107 tế bào/gam) và vi sinh vật tạp khá cao. Lượng bón thường từ 100-1000kg/ha. Hiệu quả của phân dựa trên các chất dinh dưỡng có trong chất mang thường là các chất hữu cơ (than bùn, bã mắm, phế thải nông nghiệp, rơm rạ …) và các chất vô cơ như phân lân khó tiêu (apatit, phootphorit, bột đá vôi, vỏ sò hến, bột xương …). Các chất mang thường được ủ yếm khí hay hảo khí (tùy nguyên liệu hữu cơ) để tiêu diệt các mầm vi sinh vật có thể gây bệnh cho người và gia súc, sau đó bổ sung các vi sinh vật có ích.

3. Các loại phân bón vi sinh vật 3.1. Phân vi sinh vật cố định đạm (N)

Hiện nay có nhiều loại phân bón chứa các chủng vi sinh khác nhau dành cho các loại cây khác nhau. Dành cho cây họ đậu, thường dùng vi sinh vật cố định nitơ cộng sinh bao gồm Rhizobium, Bradyrhizobium, Frankia; cây lúa, sử dụng VSV cố định nitơ hội sinh như Spirillum, Azospirillum. Các loại cây trồng khác, sử dụng VSV cố định nitơ tự do như Azotobacter, Clostridium..

3.2. Phân giải lân

Chứa vi sinh vật có khả năng tiết ra các hợp chất có khả năng hòa tan các hợp chất phosphor vô cơ khó tan trong đất (lân khó tiêu) thành dạng hòa tan (lân dễ tiêu) mà cây trồng, VSV có thể sử dụng được. Các chủng vi sinh được dùng bao gồm: Bacillus megaterium, B. circulans, B. subtilis, B. polymyxa, B. sircalmous, Pseudomonas striata; Nấm: Penicillium sp, Aspergillus awamori.

3.3. Phân vi sinh phân giải silicat

Có chứa vi sinh vật tiết ra các hợp chất có khả năng hòa tan các khoáng vật chứa silicat trong đất, đá … để giải phóng ion kali, ion silic vào môi trường. Các chủng vi sinh được dùng bao gồm Bacillus megaterium var. phosphaticum, Bacillus subtilis, Bacillus circulans, Bacillus mucilaginous, Pseudomonas striata.

3.4. Tăng cường hấp thu phốt pho, kali, sắt, mangan cho thực vật

Có chứa vi sinh vật (chủ yếu là nhóm nấm rễ, vi khuẩn, xạ khuẩn….) trong quá trình sinh trưởng, phát triển, thông qua hệ sợi cũng như những thể dự trữ, có khả năng tăng cường hấp thu các ion khoáng của cây. Các chủng vi sinh được dùng bao gồm Arbuscular mycorrhiza, Ectomycorrhiza, Ericoid mycorrhizae, Rhizoctonia solani, Bacillus sp, Pseudomonas putida, P. fluorescens Chao và P. fluorescens Tabriz. Loại PBVS này chưa được thương mại nhiều, vẫn còn đang trong giai đoạn nghiên cứu.

3.5. Phân vi sinh vật ức chế VSV gây bệnh

Chứa vi sinh vật tiết ra các hợp chất kháng sinh hoặc phức chất siderophore có tác dụng kìm hãm, ức chế nhóm VSV gây bệnh khác. Các chủng vi sinh được dùng bao gồm Bacillus sp., Enterobacter agglomerans, Pseudomonas sp., Lactobacillus sp.

3.6. Sinh chất giữ ẩm polysacarit

Có chứa VSV tiết ra các polysacarit có tác dụng tăng cường liên kết các hạt khoáng, sét, limon trong đất. Loại này có ích trong thời điểm khô hạn. Các chủng vi sinh được dùng bao gồm Lipomyces sp. Loại này chưa có sản phẩm thương mại tại Việt Nam.

3.7. Phân vi sinh vật phân giải hợp chất hữu cơ (phân giải xenlulo)

Có chứa vi sinh vật tiết ra các enzym có khả năng phân giải các hợp chất hữu cơ như: xenlulo, hemixenlulo, lighin, kitin…. Các chủng vi sinh được dùng bao gồm Pseudomonas, Bacillus, Streptomyces, Trichoderma, Penicillium, Aspergillus.

3.8. Sinh chất kích thích sinh trưởng thực vật

Có chứa VSV tiết ra các hocmoon sinh trưởng thực vật thuộc nhóm: IAA, Auxin, Giberrillin … vào môi trường. Các chủng vi sinh được dùng bao gồm Azotobacter chroococcum, Azotobacter vinelandii, Azotobacter bejerinckii, Pseudomonas fluorescens, Gibberella fujikuroi.

Thời gian gần đây, cùng với những tiến bộ của khoa học và công nghệ, các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ gen để tạo ra các chủng vi sinh có nhiều đặc điểm tốt, cạnh tranh cao với các loài VSV trong đất. Các chủng biến đổi gen có thể kể đến như Pseudomonas putida strain CBI, Pseudomonas putida strain TVA8, Alcaligenes xylosoxidans subspecies denitrificans strain AL6.1…

Th.S Lê thị Hồng Nhung

Cập nhật thông tin chi tiết về Cẩm Nang Cây Trồng: Giới Thiệu Về Phân Vi Sinh Vật trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!