Xu Hướng 2/2024 # Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Phân Bón Và Hóa Chất Bảo Vệ Thực Vật Trong Sản Xuất Nông Nghiệp Và Môi Trường # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Phân Bón Và Hóa Chất Bảo Vệ Thực Vật Trong Sản Xuất Nông Nghiệp Và Môi Trường được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trước những thách thức để tăng sản lượng lương thực trong ngành nông nghiệp, chúng ta buộc phải tăng năng suất bằng cách nâng cao trình độ thâm canh, quay vòng sử dụng đất nhiều, sử dụng nhiều loại hóa chất nông nghiệp như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật để nâng cao hiệu quả canh tác. Tuy nhiên với hiệu quả mà việc sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật mang lại thì việc sử dụng không hợp lý của phần lớn người dân lại là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào vừa nâng cao sản lượng vừa đảm bảo vấn đề môi trường là một công việc mà ngành nông nghiệp và môi trường của chúng ta phải đối mặt. Cùng BTC theo dõi những tác động tích cực và tiêu cực khi sử dụng phân bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật đối với sản xuất nông nghiệp và môi trường.

Tác động tích cực của phân bón và HCBVTV đối với sản xuất nông nghiệp và môi trường Đối với sản xuất nông nghiệp

Vai trò của phân bón đối với năng suất cây trồng: bón phân là một biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất cây trồng. Theo FAO, trung bình phân bón quyết định 50% năng suất cây trồng, 1 tấn chất dinh dưỡng nguyên chất chính sẽ thu được 10 tấn hạt ngũ cốc. Qua đó cho thấy không bón phân hóa học không thể có năng suất cao.

Phân bón cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với các biện pháp kỹ thuật trồng trọt

Các biện pháp kỹ thuật trồng trọt như làm đất, giống,… chỉ phát huy hiệu quả trên cơ sở bón phân hợp lý.

Phân bón ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cây trồng: phân đạm làm tăng hàm lượng protein, caroten trong sản phẩm, làm giảm hàm lượng chất xơ trong sản phẩm;

Phân lân có tác dụng tốt với phẩm chất các loại rau cỏ chăn nuôi, chất lượng hạt giống cây trồng. Chất trung lượng có tác dụng làm tăng chất lượng protein, tinh dầu cho cây trồng.

Ngoài ra thì bón phân hợp lý, hiệu quả còn làm tăng thu nhập cho người dân. Bón phân cân đối trong trồng trọt còn giúp giải quyết mâu thuẫn giữa năng suất cao và chất lượng sản phẩm. Sâu hại ảnh hưởng xấu tới năng suất cây trồng cũng như phẩm chất cây trồng, thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với cây trồng có thể làm giảm 20% đến 25% năng suất, có khi đến 50%.

Khi sâu bệnh phát triển thành dịch, tác hại của sâu bệnh là rất lớn, gây nên hậu quả nghiêm trọng. Khi đó rất càn một biện pháp có thể dập tắt dịch hại một cách nhanh chóng để có thể bảo vệ cây trồng cũng như không làm ảnh hưởng đến năng suất của cây trồng. Biện pháp được ưu tiên hàng đầu là sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

Đáp ứng nhu cầu thâm canh tăng vụ ngày càng cao, phòng trừ dịch hại ngày càng tăng trong sản suất nông nghiệp. Đây là biện pháp phòng trừ quan trọng trong các biện pháp phòng trừ dịch hại với ưu điểm nổi trội: có thể diệt dịch hại nhanh, triệt để đồng loạt trên diện rộng và chặn đứng dịch trong thời gian ngắn, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho công tác bảo vệ thực vật và trồng trọt nói chung; dễ dùng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhau đem lại hiệu quả ổn định và nhiều khi là biện pháp duy nhất có thể áp dụng.

Khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cần phối hợp hài hòa với các biện pháp phòng trừ dịch hại khác để đem hiệu quả cao về mọi mặt. HCBVTV góp phần cao trong phòng trừ dịch hại giúp cây trồng phát triển tốt, cho năng suất cao, bảo vệ năng suất cây trồng và chất lượng nông sản, đem lại thu nhập cao cho sản xuất.

Bón phân và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật giúp bảo vệ và cải thiện môi trường

Đất trồng trọt nếu không bón phân sẽ bị suy thoái. Bón phân hợp lý làm tăng độ phì nhiêu cho đất, tăng mạnh năng suất cây trồng (đặc biệt đối với đất xấu).

Bón nhiều phân hữu cơ có tác dụng cải thiện tính chất và độ phì nhiêu đất.

Bón phân trong trồng trọt còn tạo cho cây trồng phát triển tốt, che phủ đất tốt hơn, hạn chế xói mòn, rửa trôi đất.

Bón phân nitơ hóa học ngoài việc làm tăng sản lượng cây trồng còn làm tăng tỉ lệ đạm hữu cơ và độ phì nhiêu đất (tính toán ở Pháp cho thấy 40% N của phân bón không được cây sử dụng được dùng vào việc tăng N hữu cơ và độ phì nhiêu cho đất).

Bón phân cân đối cho cây trồng còn giúp cây phát triển khỏe mạnh, ít sâu bệnh hại, làm giảm nhu cầu sử dụng HCBVTV gây ảnh hưởng xấu tới môi trường.

Như vậy bón phân hợp lý trong sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo cho năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng cao mà còn giảm thiểu ảnh hưởng xấu của phân bón, HCBVTV góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.

Tác dụng tích cực của thuốc bảo vệ thực vật tới môi trường

Trong thâm canh, đặc biệt khi kiến thức nông hóa không được trang bị đầy đủ và chỉ chú trọng tới hiệu quả kinh tế sẽ gây tác động xấu tới môi trường sinh thái, tạo điều kiện phát triển dịch hại cây trồng → rất cần sư dụng HCBCTV để dập tắt và khống chế dịch hại, ổn định và cân bằng sinh thái nông nghiệp, tạo cơ sở cho việc sử dụng các biện pháo phòng trừ dịch hại khác.

Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật hợp lý góp phần bảo vệ sự đa dạng sinh học, bảo vệ năng suất cây trồng với chất lượng nông sản tốt; giúp giảm diện tích canh tác, hạn chế ảnh hưởng xấu do hoạt động sản xuất nông nghiệp tới môi trường sinh thái và xã hội.

Ảnh hưởng tiêu cực của phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật tới sản xuất nông nghiệp và môi trường Đối với sản xuất nông nghiệp

Phân bón và HCBVTV có vai trò rất quan trọng trong việc giúp cây trồng phát triển tốt, năng suất cao và nó chỉ gây hại tới cây trồng trong trường hợp người sử dụng không đúng kỹ thuật, quá liều lượng và không phù hợp với đặc điểm tính chất của đất và cây trồng sẽ làm cho cây trồng có dấu hiệu “ngộ độc”: phát triền không cân đối, chậm phát triển, năng suất thấp.

Ngoài ra trên đồng ruộng bên cạnh những loài sinh vật có hại còn có khá nhiều sinh vật có ích – gọi là thiên địch, có vai trò tiêu diệt sâu hại trên đồng ruộng. Khi dùng thuốc BVTV bừa bãi, lạm dụng, không hợp lý thuốc sẽ tác động xấu đến các sinh vật có ích, gây mất cân bằng sinh học, làm giảm tính đa dạng của quần thể sinh vật; làm xuất hiện dịch hại mới hay phát tán dịch hại.

Ảnh hưởng tiêu cực của phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật tới môi trường Ảnh hưởng tiêu cực của phân bón tới môi trường Tới môi trường không khí

Phân bón góp phần trong ảnh hưởng lớn nhất mà sản xuất nông nghiệp tác động vào khí quyển là các chất thải CO, NO, CH 4 , NH 3 (tác nhân làm suy giảm tầng Ozon. Đáng chú ý nhất là CH 4 do phân giải các Hidrat cacbon trong điều kiện yếm khí (chiếm 40-46% tổng lượng khí thải do phân bón gây ra, nhiều nhất trong sản xuất lúa).

Tới môi trường đất, nước

Trong các loại phân bón, các dạng đạm đều rất linh động, có khả năng chuyển hóa đa dạng, dễ cung cấp dinh dưỡng cho cây nhưng cũng đễ bị thất thoát, gây ảnh hưởng tới môi trường nhiều nhất. Đặc biệt trong điều kiện bón phân không cân đối, không đúng kỹ thuật.

NO 3 – sản phẩm của quá trình nitrat hóa từ các dạng phân đạm chính là mối đe dọa cho các nguồn nước và sức khỏe co người qua 2 loại bệnh: hội chứng trẻ xanh ở trẻ sơ sinh, ung thư dạ dày ở người lớn.

Ngoài ra, hiện tượng gây phú dưỡng nguồn nước do sự tích lũy đạm và lân trong thủy vực làm cho các loại tảo, vi sinh vật yếm khí phát triển mạnh gây ô nhiễm nguồn nước và không khí.

Các loại phân hữu cơ có hàm lượng kim loại nặng thấp khi dùng với lượng lớn (nhiều chục tấn/ha) có thể gây tồn đọng là đáng kể (đặc biệt là trong phân rác và bùn cặn thải). Việc sử dụng phân bắc tươi trong trồng rau gây ảnh hưởng tới môi trường.

Bón phân hữu cơ trong điều kiện yếm khí (làm tích lũy axit hữu cơ), bón phân hóa học gây chua đất. Tuy nhiên sự thay đổi tuyệt đối chậm (bón 9 năm liên tục mỗi năm 120kg amon nitrat/ha làm pH giảm 0,1 đơn vị).

Việc bón phân không đủ trả lại lượng chất dinh dưỡng lấy theo sản phẩm thu hoạch, làm suy thoái đất trồngđang là vấn đề môi trường không nhỏ ở nước ta. Dù bón ít phân (cả hữu cơ và vô cơ) nhưng thiếu hiểu biết cần thiết cho việc bón phân an toàn và hiệu quả thì vẫn tạo điều kiện để phân bón ảnh hưởng xấu tới môi trường.

Ảnh hưởng tiêu cực của HCBVTV tới môi trường

Ở vùng phun thuốc gây ô nhiễm môi trường không khí.Thuốc có thể di chuyển đi xa nhờ gió gây ô nhiễm môi trường không khí rộng hơn. Khi thuốc tồn tại trên cây hay trong đất tiếp tục ảnh hưởng đến môi trường không khí trong một thời gian nhất định.

Với môi trường đất, nước thì dù xử lý thế nào thuốc BVTV vẫn sẽ đi vào trong đất, tồn tại trong các lớp đất trong thời gian không giống nhau. Thuốc BVTV có thời gian phân hủy dài, dùng liên tục có thể tích lũy trong đất một lượng lớn.

Khi tồn tại trong đấtcác thuốc BVTV còn tham gia vào 2 quá trình di chuyển: quá trình di động và quá trình thấm sâu vào các tầng đất. Thời gian thuốc tồn tại có thể gây ô nhiễm đất; tích lũy sinh học vào chuỗi dinh dưỡng; ảnh hưởng xấu đến khu hệ sinh vật đất, giun đất,… làm chất hữu cơ không được phân hủy, đất nghèo dinh dưỡng, độ phì nhiêu giảm sút.

HCBVTV còn tích đọng và gây ô nhiễm trước hết trong bề mặt ruộng lúa, sông ngòi, ao hồ và sau đó xuống nước ngầm. Chúng có thể tiêu diệt tôm, cua, cá, rong rêu và tảo,… gây mất cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng.

Lạm Dụng Phân Bón Hóa Học Và Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Trong Sản Xuất Nông Nghiệp

Điện Biên

Điện Biên TV – Lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật không những làm cho nông dân tăng chi phí mà còn hệ lụy đến sức khỏe của người tiêu dùng, làm ô nhiễm môi trường, không đảm bảo sự phát triển bền vững cho nền nông nghiệp.

Theo số liệu của Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, nước ta có khoảng 26 triệu ha đất nông nghiệp, nhu cầu sử dụng phân bón trung bình mỗi năm khoảng trên 10 triệu tấn. Kết quả điều tra của Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc cho thấy, hiệu quả sử dụng phân bón ở Việt Nam chỉ đạt 45-50%.

Mỗi vụ lúa, trung bình người nông dân phun thuốc bảo vệ thực vật từ 5 đến 7 lần

Số lượng phân bón bị rửa trôi mà cây không hấp thụ được chính là một trong những nguồn gây ô nhiễm đất. Một số loại phân bón có tồn dư axít làm chua đất, giảm năng suất cây trồng và tăng độc tố trong đất. Có một thực trạng nữa là việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng cách, đúng liều lượng, sử dụng loại thuốc có độ độc cao đã bị cấm sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, đang làm phát sinh khoảng 9.000 tấn chất thải nguy hại ảnh hưởng đến môi trường. Thực trạng sử dụng phân bón hóa học và thuốc BVTV không đúng, vừa làm tăng chi phí sản xuất, vừa ảnh hưởng đến môi trường và dẫn tới nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm.

Những cánh đồng lúa của huyện Điện Biên là nơi người nông dân thường xuyên dùng thuốc thuốc bảo vệ thực vật trong mỗi mùa vụ. Thuốc bảo vệ thực vật được phun phòng chống sâu bệnh trên đồng ruộng ở nhiều thời điểm khác nhau: Phun trừ cỏ trước khi cấy lúa; phun phòng chống sâu bệnh hại khi lúa mới cấy khoảng 15 – 20 ngày, phun thuốc khi lúa trổ đòng, khi lúa phơi màu và phun thuốc bảo vệ khi bông lúa uốn câu.

Người ta còn phun trừ rầy nâu trước khi gặt khoảng 1 tuần. Mỗi vụ lúa, trung bình người nông dân phun thuốc bảo vệ thực vật từ 5 đến 7 lần. Không hiểu nhiều về phản ứng của các chất hóa học độc hại, nhiều hộ gia đình còn tự mua các loại thuốc khác nhau, pha chế vào cùng một bình để phun phòng trừ sâu bệnh cho lúa.

Thanh Luông cũng là xã trồng nhiều rau màu. Có nhiều khu vực chuyên canh trồng rau. Rau màu là loại cây trồng ngắn ngày, một năm người nông dân có thể trồng nhiều vụ. Để tăng vụ và kích thích quá trình sinh trưởng, phát triển của cây rau, bà con nông dân thường sử dụng các loại phân bón hóa học. Hầu như họ không chú ý tới sự thoái hóa của đất đai cũng như việc bảo vệ đất cho sản xuất lâu dài.

Ở tỉnh Điện Biên do địa hình, địa chất chia làm các khu vực đất đai có tính chất khác nhau. Mỗi loại đất đều chứa đựng trong đó các nguyên tố hóa học cần thiết cho đời sống cây trồng. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, một gram đất bất kỳ nào cũng đều chứa ít nhất trên 30 nguyên tố hóa học. Bà con nông dân muốn canh tác lâu dài, bền vững, cần bổ sung các khoáng chất cho đất. Trong quá trình canh tác, không chú ý tới điều này sẽ làm cho đất nghèo dinh dưỡng, cây mất sức đề kháng, sâu bệnh hoành hành dẫn đến mùa màng bị ảnh hưởng.

Sử dụng phân hữu cơ và bón phân cho cân đối là biện pháp tốt nhất để bổ sung dưỡng chất cho đất. Tuy nhiên hiện nay, tình trạng bà con nông dân lạm dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tăng trưởng cho cây trồng đang khá phổ biến. Tình trạng này, đã và đang làm thoái hóa đất, cạn kiệt dinh dưỡng và làm biến đổi tính chất vật lý của đất. Các nghiên cứu cho thấy, nếu chúng ta bón dư đạm vào đất dẫn đến đất bị giảm nguyên tố đồng. Nếu bón dư lân dẫn đến thiếu kẽm. Nếu bón dư Kali sẽ bị đồng hóa Magie và Bo. Nếu bón dư vôi thì dẫn đến tình trạng giảm sắt và Mangan làm cây mất đề kháng, ô nhiễm đất và nước. Sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật còn gây ra những tác động không tốt đối với sâu bệnh hại mùa màng.   Yêu cầu phát triển nông nghiệp hiện nay là xây dựng môt nền nông nghiệp sạch, phát triển bền vững. Để thực hiện được yêu cầu này, bà con nông dân cần phải nắm vững kỹ thuật canh tác và kiến thức về sản xuất sạch, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và không gây ô nhiễm môi trường. Đây không chỉ là biện pháp nâng cao chất lượng nông sản, mà còn giúp bà con nông dân sản xuất được các sản phẩm nông nghiệp có thương hiệu, đem lại thu nhập cao. Vậy bà con phải sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật như thế nào cho đúng cách.

Sản xuất theo hướng an toàn, xanh, sạch, bảo vệ tính cân bằng của đất là điều mà bà con nông dân cần hướng đến

Sản xuất theo hướng an toàn, xanh, sạch, bảo vệ tính cân bằng của đất là điều mà bà con nông dân cần chú ý. Để bà con dễ nắm bắt, ngành nông nghiệp đã xây dựng nguyên tắc “4 đúng” trong sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Với phân bón hóa học, nguyên tắc 4 đúng là: Sử dụng đúng loại; đúng liều; đúng lúc và đúng cách. Đúng loại có nghĩa là bà con cần sử dụng đúng loại phân cho từng giai đoạn phát triển cây trồng yêu cầu và phù hợp với từng loại đất. Sử dụng phân bón đúng liều, đúng lượng, tỷ lệ các loại phân theo hướng dẫn của nhà sản xuất và tùy thời tiết, mùa vụ để quyết định bón lượng phân thích hợp. Bón phân đúng lúc là bón đúng thời điểm cây trồng yêu cầu. Còn bón đúng cách là bón phân sao cho cây trồng hấp thu hiệu quả nhất lượng dưỡng chất được cung cấp.

Nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là: Sử dụng đúng thuốc;  đúng nồng độ, liều lượng; phun thuốc đúng lúc và phun đúng cách. Việc sử dụng nguyên tắc 4 đúng trong chăm sóc, bảo vệ mùa màng, không chỉ giảm tối đa chi phí cho sản xuất, mà còn làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, và không gây ảnh hưởng đến môi trường. Đây cũng là yêu cầu sản xuất của một nền nông nghiệp sạch phát triển bền vững mà chúng ta đang hướng đến.                                                                             

Minh Giang  

Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Phân Bón Đến Môi Trường

(Agroviet-1/6/2009): Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp phân bón là một trong những vật tư quan trọng và được sử dụng với một lượng khá lớn hàng năm. Phân bón đã góp phần đáng kể làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, đặc biệt là đối với cây lúa ở Việt Nam. Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI), phân bón đóng góp khoảng 30-35% tổng sản lượng cây trồng.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

          Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp phân bón là một trong những vật tư quan trọng và được sử dụng với một lượng khá lớn hàng năm. Phân bón đã góp phần đáng kể làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, đặc biệt là đối với cây lúa ở Việt Nam. Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI), phân bón đóng góp khoảng 30-35% tổng sản lượng cây trồng.

          Tuy nhiên phân bón cũng chính là những loại hoá chất nếu được sử dụng đúng theo quy định sẽ phát huy được những ưu thế, tác dụng đem lại sự mầu mỡ cho đất đai, đem lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống con người, gia súc. Ngược lại nếu không được sử dụng đúng theo quy định, phân bón lại chính là một trong những tác nhân gây nên sự ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống.

II. LƯỢNG PHÂN BÓN SỬ DỤNG Ở VIỆT

NAM

Tính từ năm 1985 tới nay, diện tích gieo trồng ở nước ta chỉ tăng 57,7%, nhưng lượng phân bón sử dụng tăng tới 517% (Bảng 1). Theo tính toán, lượng phân vô cơ sử dụng tăng mạnh trong vòng 20 năm qua, tổng các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N+P2O5+K2O năm 2007 đạt trên 2,4 triệu tấn, tăng gấp hơn 5 lần so với lượng sử dụng của năm 1985. Ngoài phân bón vô cơ, hàng năm nước ta còn sử dụng khoảng 1 triệu tấn phân hữu cơ, hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh các loại.

Bảng 1. Lượng phân bón vô cơ sử dụng ở Việt Nam qua các năm

(Đơn vị tính: nghìn tấn N, P2O5, K2O)

Năm

N

P2O5

K2O

NPK

N+P2O5+K2O

1985

342,3

91,0

35,9

54,8

469,2

1990

425,4

105,7

29,2

62,3

560,3

1995

831,7

322,0

88,0

116,6

1223,7

2000

1332,0

501,0

450,0

180,0

2283,0

2005

1155,1

554,1

354,4

115,9

2063,6

2007

1357,5

551,2

516,5

179,7

2425,2

          Xét về tỷ lệ sử dụng phân bón cho các nhóm cây trồng khác nhau cho thấy tỷ lệ phân bón sử dụng cho lúa chiếm cao nhất đạt trên 65%, các cây công nghiệp lâu năm chiếm gần 15%, ngô khoảng 9% phần còn lại là các cây trồng khác (Sơ đồ 1). Tuy nhiên so với các nước trong khu vực và trên thế giới, lượng phân bón sử dụng trên một đơn vị diện tích gieo trồng ở nước ta vẫn còn thấp, năm cao nhất mới chỉ đạt khoảng 195 kg NPK/ha.

II. LƯỢNG PHÂN BÓN CÂY TRỒNG CHƯA SỬ DỤNG ĐƯỢC

          Theo số liệu tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực nông hoá học ở Việt Nam, hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm mới chỉ đạt từ 30-45%, lân từ 40-45% và kali từ 40-50%, tuỳ theo chân đất, giống cây trồng, thời vụ, phương pháp bón, loại phân bón… Như vậy, còn 60 – 65% lượng đạm tương đương với 1,77 triệu tấn urê, 55 – 60% lượng lân tương đương với 2,07 triệu tấn supe lân và 55-60% lượng kali tương đương với 344 nghìn tấn Kali Clorua (KCl) được bón vào đất nhưng chưa được cây trồng sử dụng.

Trong số phân bón chưa được cây sử dụng, một phần còn lại ở trong đất, một phần bị rửa trôi theo nước mặt do mưa, theo các công trình thuỷ lợi ra các ao, hồ, sông suối gây ô nhiễm nguồn nước mặt. Một phần bị rửa trôi theo chiều dọc xuống tầng nước ngầm và một phần bị bay hơi do tác động của nhiệt độ hay quá trình phản nitrat hoá gây ô nhiễm không khí (Bảng 2).

Bảng 2. Lượng phân bón hàng năm cây trồng chưa sử dụng được

(Đơn vị tính: nghìn tấn N, P2O5, K2O)

Năm

N

P2O5

K2O

N+P2O5+K2O

1985

205,4

54,6

21,5

281,5

1990

255,2

63,4

17,5

336,2

1995

499,0

193,2

52,8

734,2

2000

799,2

300,6

270,0

1369,8

2005

693,1

332,5

212,6

1238,2

2007

814,5

330,7

309,9

1455,1

Xét về mặt kinh tế thì khoảng 2/3 lượng phân bón hàng năm cây trồng chưa sử dụng được đồng nghĩa với việc 2/3 lượng tiền người nông dân bỏ ra mua phân bón bị lãng phí, với tổng thất thoát lên tới khoảng 30 nghìn tỷ đồng tính theo giá phân bón hiện nay.

Xét về mặt môi trường, trừ một phần các chất dinh dưỡng có trong phân bón được giữ lại trong các keo đất là nguồn dinh dưỡng dự trữ cho vụ sau, hàng năm một lượng lớn phân bón bị rửa trôi hoặc bay hơi đã làm xấu đi môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống, đó cũng là những tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước, không khí. Trong số đó phân do sản xuất lúa gây ra đối với việc ô nhiễm môi trường là vấn đề đáng được quan tâm nhất, vì hàng năm một lượng lớn phân bón được dành cho sản xuất lúa.

III. TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN BÓN TỚI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 

          Phân bón gây nên tác động ô nhiễm môi trường thường biểu hiện ở các khía cạnh sau:

1. Bón dư thừa các yếu tố dinh dưỡng hoặc bón phân không đúng cách

Trước hết tác động của phân bón đối với việc gây ô nhiễm môi trường phải kể đến đó là lượng dư thừa các chất dinh dưỡng do cây trồng chưa sử dụng được hoặc do bón không đúng cách… như đã được tính toán ở phần trên. Do tập quán canh tác, do chưa được đào tạo, tập huấn rất nhiều nông dân hiện nay bón phân chưa đúng lượng và đúng cách.

Hầu hết người nông dân hiện nay đều bón quá dư thừa lượng đạm, gây nên hiện tượng lúa lốp, tăng quá trình cảm nhiễm với sâu bệnh, dễ bị đổ ngã. Biểu hiện của việc bón dư thừa đạm qua quan sát bằng mắt thường cho thấy màu lá cây thường xanh mướt hoặc nếu quá dư thừa thì lá màu xanh đậm. Nếu sử dụng bảng so màu lá thì độ đậm của màu lá càng được thấy rõ hơn. Chương trình 3 giảm, 3 tăng cũng là những minh chứng cho việc lạm dụng bón quá dư thừa lượng đạm.

Cách bón phân hiện nay chủ yếu là bón vãi trên mặt đất, phân bón ít được vùi vào trong đất. Xét về mặt hoá học đất, các keo đất là những keo âm (-) còn các yếu tố dinh dưỡng hầu hết là mang điện tích dương (+). Khi bón phân vào đất, được vùi lấp cẩn thận thì các keo đất sẽ giữ lại các chất dinh dưỡng và nhả ra một cách từ từ tuỳ theo yêu cầu của cây trồng theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây. Như vậy, bón phân có vùi lấp không chỉ có tác dụng hạn chế sự mất dinh dưỡng, tăng hiệu suất sử dụng phân bón mà còn làm giảm bớt ô nhiễm môi trường. Các nghiên cứu cho thấy việc bón phân có vùi lấp làm tăng hiệu suất sử dụng phân bón của cây trồng có thể đạt được từ 70-80% so với bón rải trên bề mặt chỉ đạt được từ 20-30%.

 Các yếu tố dinh dưỡng vi lượng như Đồng (Cu), Kẽm (Zn)… rất cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển và có khả năng nâng cao khả năng chống chịu cho cây trồng. Ở một số vùng đất và một số cây trồng, loại cây trồng biểu hiện triệu chứng thiếu ding dưỡng Zn hoặc Cu khá rõ rệt. Tuy nhiên khi lạm dụng các yếu tố trên lại trở thành những loại kim loại nặng khi vượt quá mức sử dụng cho phép và gây độc hại cho con người và gia súc. Hiện nay với kỹ thuật sử dụng phân bón lá các loại phân bón vi lượng trong đó có Cu và Zn được bón trực tiếp cho cây dưới dạng Chelate (dạng mạch vòng) hoặc kết hợp với các chất mang khác để quá trình hấp thu vào cây được nhanh và thuận lợi, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón. Tuy nhiên nếu sử dụng cho các loại cây rau ăn lá, cho chè và các loại quả không có vỏ bóc mà không chú ý tới thời gian cách ly và liếu lượng sử dụng theo đúng quy thì các yếu tố dinh dưỡng trên lại trở thành các yếu tố độc hại cho người tiêu dùng. 

2. Ô nhiễm do từ các nhà máy sản xuất phân bón

          Không chỉ do bón dư thừa dinh dưỡng mà ô nhiễm do phân bón còn gây ra do từ nguồn các nhà máy sản xuất phân bón. Các minh chứng trong thực tế đã cho thấy, vào khoảng đầu thập niên 80 của thế ký trước, khi nhà máy phân đạm Hà Bắc được xây dựng và đi vào hoạt động, do quá trình xử lý môi trường chưa đảm bảo, nước thải của nhà máy đã thải ra nguồn nước của khu vực lân cận gây chết hàng hoạt các loại động, thực vật… Gần đây, một số nhà máy sản xuất các loại phân bón hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh sử dụng nguyên liệu là các phế phụ phẩm cây trồng hoặc chăn nuôi hay nguyên liệu của quá trình sản xuất mía đường, bột sắn… với các công nghệ xử lý môi trường thô sơ đã gây nên ô nhiễm cho nguồn nước do thải ra các chất độc hại chưa được xử lý triệt để và thải các chất có mùi gây ô nhiễm không khí cho các khu vực dân cư sống lân cận.

3. Phân bón có chứa một số chất độc hại

Ngay trong bản thân một số loại phân bón đã có chứa một số chất gây độc hại cho cây trồng và cho con người như các kim loại nặng hoặc các vi sinh vật gây hại, các chất kích thích sinh trưởng khi vượt quá mức quy định. Theo quy định hiện hành, các loại kim loại nặng có trong phân bón gồm Asen (As), Chì (Pb), Thuỷ ngân (Hg) và Cadimi (Cd); các vi sinh vật gây hại có trong phân bón gồm: E. Coli, Salmonella, Coliform là những loại gây nên các bệnh đường ruột nguy hiểm. Phân bón có chứa kim loại nặng và vi sinh vật gây hại thường gặp trong những hợp sau đây:

– Phân bón được sản xuất từ nguồn nguyên liệu là rác thải đô thị, phế thải công nghiệp chế biến từ nông sản, thực phẩm, phế thải chăn nuôi. Để tận dụng nguồn hữu cơ, đồng thời giải quyết những vấn đề về môi trường cho các đô thị, các trại chăn nuôi tập trung, các nhà máy chế biến nông sản… hiện nay đã có một số nhà máy sử dụng các nguồn nguyên liệu nêu trên để sản xuất ra các loại phân bón hữu cơ, hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh để bón trở lại cho cây trồng. Các loại phân bón được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu nêu trên sẽ gây nên sự ô nhiễm thứ cấp do có chứa các kim loại nặng hoặc vi sinh vật gây hại vượt quá mức quy định. Kết quả điều tra của Viện Thổ nhưỡng Nông hoá từ năm 2004 -2007 cho thấy trong số các kim loại nặng thì Thuỷ ngân, còn đối với các vi sinh vật gây hại thì Coliform là những yếu tố thường vượt quá mức cho phép ở nhiều mẫu phân bón được kiểm tra thuộc nhóm trên.

– Phân bón được sản xuất từ nguồn phân lân nhập khẩu từ nước ngoài do có chứa hàm lượng Cadimi quá cao, vượt quá mức quy định được phép sử dụng. Đã có rất nhiều tài liệu cho thấy nguồn phân lân từ các nước vùng Nam Mỹ hoặc Châu Phi  thường có hàm lượng Cd cao ở mức trên 200 ppm.

– Theo quy định, một số chất kích thích sinh trưởng như axit giberillic (GA3), NAA, một số chất kích thích sinh trưởng có nguồn gốc từ thực vật được phép sử dụng trong phân bón để kích thích quá trình tăng trưởng, tăng tỷ lệ đậu hoa, đậu quả, tăng quá trình trao đổi chất của cây trồng, tăng hiệu suất sử dụng phân bón làm tăng năng suất, phẩm chất cây trồng. Mức quy định hiện hành cho phép tổng hàm lượng các chất kích thích sinh trưởng không được vượt quá 0,5% khối lượng có trong phân bón. Tuy nhiên trên thực tế một số tổ chức, cá nhân khi sản xuất, nhập khẩu đã không tuân thủ theo các quy định trên, đưa ra thị trường các loại phân bón có chứa hàm lượng các chất kích thích sing trưởng vượt quá mức quy định, gây tác hại cho sản xuất và ảnh hưởng tới chất lượng nông sản. Việc sử dụng phân bón có chứa các chất kích thích sinh trưởng không đúng theo hướng dẫn về liếu lượng, đối tượng cây trồng cũng làm thiệt hại tới sản xuất. Do thiếu hiểu biết, hơn 20 ha mạ vụ Đông xuân 2007/2008 ở Phú Xuyên Hà Nội (Hà Tây cũ) đã bị thiệt hại do sử dụng phân bón Tăng trưởng AC GABA CYTO có chứa chất kích thích sinh trưởng mà chỉ khuyến cáo dùng cho chè và rau xanh nhưng đã sử dụng cho mạ, do dùng sai đối tượng cây trồng. Cần thiết phải có những điều tra tổng thể về hàm lượng các chất kích thích sinh trưởng trong phân bón để đưa ra những quy định, các biện pháp quản lý chặt chẽ và có hiệu quả đối với đối tượng này, tuy nhiên việc điều tra đòi hỏi tiêu tốn khá nhiều kinh phí vì mẫu phân tích các chỉ tiêu về chất kích thích sinh trưởng thường rất đắt, số lượng phòng phân tích có khả năng phân tích được các chỉ tiêu này trên cả nước còn rất ít.

4. Phân bón đối với vệ sinh an toàn thực phẩm và sức khoẻ con người

          Dư thừa đạm trong đất hoặc trong cây đều gây nên những tác hại đối với môi trường và sức khoẻ con người. Do bón quá dư thừa hoặc do bón đạm không đúng cách đã làm cho Nitơ và phospho theo nước xả xuống các thủy vực là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm cho các nguồn nước. Các chất gây ô nhiễm hữu cơ bị khử dần do hoạt động của vi sinh vật, quá trình này gây ra sự giảm oxy dưới hạ lưu. Đạm dư thừa bị chuyển thành dạng Nitrat (NO3-) hoặc Nitrit (NO2-) là những dạng gây độc trực tiếp cho các động vật thuỷ sinh, gián tiếp cho các động vật trên cạn do sử dụng nguồn nước (Tabuchi and Hasegawa, 1995). Đặc biệt gây hại cho sức khoẻ con người thông qua việc sử dụng các nguồn nước hoặc các sản phẩm trồng trọt, nhất là các loại rau quả ăn tươi có hàm lượng dư thừa Nitrat. Theo các nghiên cứu gần đây, nếu trong nước và thực phẩm hàm lượng nitơ và photpho, đặc biệt là nitơ dưới dạng muối nitrit và nitrat cao quá sẽ gây ra một số bệnh nguy hiểm cho người đặc biệt là trẻ em. TS. Lê Thị Hiền Thảo (2003) đã xác định, trong những thập niên gần đây, mức NO3- trong nước uống tăng lên đáng kể mà nguyên nhân là do sự sử dụng phân đạm vô cơ tăng, gây rò rỉ NO3- xuống nước ngầm. Hàm lượng NO3- trong nước uống tăng gây ra nguy cơ về sức khoẻ đối với cộng đồng. Ủy ban châu Âu quy định mức tối đa của NO3- trong nước uống là 50 mg/l, Mỹ là 45 mg/l, Tổ chức y tế thế giới (WHO) là 100 mg/l. Y học đã xác định NO2- ảnh hưởng đến sức khoẻ với 2 khả năng sau: gây nên chứng máu Methaemoglobin và ung thư tiềm tàng.

Các nghiên cứu về y học gần đây đã xác định, dư thừa Phospho trong các sản phẩm trồng trọt hoặc nguồn nước làm giảm khả năng hấp thu Canxi vì chất này lắng đọng với Canxi tạo thành muối triphosphat canxi không hòa tan và tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất para thormon, điều này đã huy động nhiều Canxi của xương, và nguy cơ gây loãng xương ngày một tăng, đặc biệt ở phụ nữ.

VI. ĐỂ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG HIỆU SUẤT SỬ DỤNG PHÂN BÓN GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Phân bón vừa cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, làm tăng độ mầu mỡ của đất, trái lại cũng có thể gây tác động xấu tới môi trường nếu không có biện pháp quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng hợp lý. Do vậy cần thiết phải đưa phân bón vào nhóm mặt hàng sản xuất, kinh doanh có điều kiện để tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát, đặc biệt cần giám sát chặt ngay từ khâu sản xuất, nhập khẩu và trong quá trình sử dụng. Một số giải pháp sau đây được đề xuất để giảm thiểu sự ô nhiễm, đồng thời tăng hiệu suất sử dụng phân bón:

1. Giảm lượng bón, tăng hiệu suất sử dụng phân bón

Để hạn chế tối đa lượng phân bón dư thừa trong đất do bón phân quá liều, có thể áp dụng các giải pháp về kỹ thuật sau đây:

– Sử dụng các loại phân bón hoặc các chất có tác dụng làm tăng hiệu suất sử dụng của phân bón. Hiện nay đã có một số loại phân bón hoặc các chế phẩm có khả năng làm tăng hiệu suất sử dụng đạm từ 25-50% khi sử dụng phối hợp với phân đạm. Cơ chế tăng hiệu suất sử dụng dinh dưỡng được xác định do việc hạn chế hoạt động của men phân giải Ureaza, men làm mất đạm; tăng khả năng lưu dẫn N cho cây trồng. Các loại phân bón có công dụng nêu trên như: NEB 26, Wehg, Agrotain… có thể giảm ¼ đến ½ lượng đạm so với lượng dùng thông thường mà cây trồng vẫn cho năng suất cao, chất lượng nông sản tốt. Cần phải tổ chức khuyến cáo và hướng dẫn rộng rãi để nhanh chóng đưa các chế phẩm nêu trên được sử dụng trên toàn quốc.

– Sử dụng các loại phân bón lá có chứa K-humate và các yếu tố đa lượng, trung lượng, vi lượng để bổ sung dinh dưỡng cho cây, tăng khả năng phục hồi, tăng sức đề kháng của cây trồng đối với sự thay đổi và khó khăn của thời tiết và tăng đề kháng sâu bệnh, tăng hiệu suất sử dụng các yếu tố đa lượng. Tiến bộ kỹ thuật về phân bón lá đối với cây trồng đã được khẳng định, sử dụng phân bón lá vào các thời điểm thích hợp sẽ làm tăng hiệu suất sử dụng các yếu tố dinh dưỡng đa lượng một cách cân đối, bổ sung kịp thời các chất dinh dưỡng cây trồng vào những giai đoạn thiết yếu. Liều lượng dùng theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc phân phối.

– Cần sử dụng các loại phân bón dạng chậm tan (slow release fertilizer) để cây trồng sử dụng một cách từ từ tăng hiệu suất sử dụng chất dinh dưỡng, giảm chi phí, giảm ô nhiễm môi trường.

 - Tích cực triển khai chương trình ba giảm (giảm lượng đạm bón, giảm thuốc bảo vệ thực vật, giảm lượng hạt giống gieo đối với các tỉnh phía Nam hoặc giảm lượng nước tưới đối với các tỉnh phía Bắc) ba tăng (tăng năng suất, tăng chất lượng sản phẩm và tăng hiệu quả kinh tế), bón phân theo bảng so màu, tiết kiệm tối đa lượng đạm bón nhưng vẫn đem lại năng suất cao. Thực hiện bón phân cân đối, lượng đạm có thể giảm từ 1,7 kg/sào bắc bộ, tương đương với 47 kg urê/ha tuỳ từng chân đất. Tổ chức hướng dẫn sử dụng phân bón hợp lý theo nguyên tắc “năm đúng”: đúng loại phân, đúng lúc, đúng đối tượng, đúng thời vụ, đúng cách bón sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón, tránh lãng phí và giảm ô nhiễm môi trường.

2. Nghiên cứu, đào tạo, tập huấn, thông tin tuyên truyền

Để đảm bảo các giải pháp về khoa học-kỹ thuật có thể đến được người nông dân cần thiết phẩi tổ chức đào tạo tập huấn cho người nông dân và các cán bộ quản lý, cán bộ khuyến nông các cấp cần tập trung vào một số giải pháp sau:

– Các Viện, Trường, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón tổ chức các hạot động: hội thảo, xây dựng mô hình trình diễn, hướng dẫn các biện pháp tăng hiệu suất sử dụng phân bón, triển khai chương trình “3 giảm 3 tăng”, tập huấn và hướng dẫn cho nông dân về sử dụng phân bón. Nghiên cứu tạo ra các công cụ bón phân, tạo ra các phương thức bón, để giảm thiểu sử dụng lao động, đưa phân bón vào trong đất tránh rửa trôi, bay hơi… Nghiên cứu tạo ra các chế phẩm phân bón mới, các chế phẩm sinh học giúp cho quá trình xử lý ủ phân hoặc xử lý các phế phụ phẩm từ trồng trọt, chăn nuôi mau hoai, giảm thiểu mùi hạn chế mức thấp nhất khả năng ô nhiễm môi trường.

– Thông qua hệ thống thông tin đại chúng như truyền hình, đài, báo chí…tăng cường việc phổ biến các kiến thức khoa học kỹ thuật, các kinh nghiệm về sản xuất, sử dụng phân bón có hiệu quả. Một số địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Ninh Thuận… đã tổ chức tốt chương trình truyền hình “Nhịp cầu nhà nông” để phổ biến các kiến thức về nông nghiệp cho nông dân một cách nhanh chóng và có hiệu quả, đem lại cho nông dân những hiểu biết và những kiến thức mới.

– Ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý hệ thống tổ chức, quản lý các hoạt động kiểm tra giám sát chất lượng phân bón, đặc biệt cần tăng cường giám sát các loại phân bón có chứa các chất độc hại, có nguy cơ gây ô nhiễm cao trên phạm vi cả nước.

3. Các quy định, chính sách

          Cần sớm xây dựng Luật phân bón để tăng hiệu lực công tác quản lý phân bón, trong đó cần xây dựng và ban hành đồng bộ Nghị định quy định xử phạt chi tiết đối với lĩnh vực phân bón. Có các chế tài xử phạt đủ mạnh để đảm bảo hạn chế tối đa các loại phân bón kém chất lượng, phân bón có các chất độc hại vượt quá mức quy định.

          Xây dựng, ban hành kịp thời và đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về sản xuất, sử dụng phân bón, tạo ra các hàng rào kỹ thuật để hạn chế việc sử dụng phân bón quá liều, hạn chế việc sản xuất, nhập khẩu các loại phân bón có chứa các chất độc hại vượt quá mức quy định.

          Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm để có thể nhanh chóng phân tích phát hiện để kịp thời xử lý các hoạt động đưa các loại phân bón kém chất lượng, phân bón có chứa chất độc hại vào lưu thông trên thị trường và trong quá trình sử dụng.

Việc áp dụng đồng bộ và triệt để các giải pháp nêu trên có thể tiết kiệm được hàng nghìn tỷ đồng do giảm lượng phân bón sử dụng trên toàn quốc, hạ giá thành sản xuất, giảm nhập siêu phân bón. Đồng thời đây cũng là những giải pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, góp phần quan trọng giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông nghiệp, tăng sức khoẻ cộng đồng.

TS. Trương Hợp Tác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hardman, McEldowney, Waite – Pollution: Ecology Biotreatment. Longman Group UK Limited 1993.

2. Lê Thị Hiền Thảo – Nitơ và Phospho trong môi trường. Tạp chí Điều tra-Nghiên cứu. Trường Đại học Xây dựng Hà Nội 2003.

3. Nguyền Kim Thái, Lê Hiền Thảo – Sinh thái học và bảo vệ môi trường. NXB XD 1999.

4. Tabuchi, T., and  S. Hasegawa. 1995. Paddy Field in the World. The Japanese Society of Irrigation, Drainage and Reclamation Engineering, Tokyo, Japan. 1-352.

5. Truong, H.T., M. Hirano, S. Iwamoto, E. Kuroda, and T. Murata. 1998. Effect of Top Dressing and Planting density on the number of spikelets and yield of rice cultivated with nitrogen-free basal dressing. Plant Prod. Sci. 1: 1992-1999.

6. Báo cáo của Viện Thổ nhưỡng Nông hoá về kết quả điều tra phân bón lá 2004 – 2007.

Ảnh Hưởng Của Khí Thải Nhà Máy Sản Xuất Phân Bón Đến Môi Trường Và Con Người

Việt Nam là một nước nông nghiệp nên việc chú trọng đầu tư, phát triển ngành công nghiệp phân bón là cần thiết. Tại Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ phân bón hàng năm đạt gần 11 triệu tấn với hơn 90% là phân bón hữu cơ. Ước tính trong giai đoạn 2024 đến 2023, nhu cầu phân bón sẽ tăng ở mức 1.6%/1 năm. Với xu hướng đó, công nghiệp phân bón đóng vai trò quan trọng vào việc phát triển kinh tế đất nước nhưng song song với đó là những hệ lụy nghiêm trọng về ô nhiễm môi trường, đòi hỏi các doanh nghiệp cần nâng cao ý thức và tuân thủ tốt các giải pháp xử lý khí thải.

Phân bón đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nhưng nếu khí thải từ nhà máy sản xuất phân bón không được xử lý tốt sẽ gây hậu quả nghiêm trọng

Nhà máy sản xuất phân bón bị ngừng hoạt động do không xử lý khí thải đúng tiêu chuẩn

Nhà máy sản xuất phân bón Sao Nông nằm tại thôn Đa Sỹ, Đồng Cao, Đồng Sâm xã Đông Vinh, Thanh Hóa. Đây là một công ty con thuộc Công ty CP Sản xuất và thương mại tổng hợp Cường Phát. Vào năm 2024, cơ sở này đã bị tạm ngừng hoạt động do không xử lý khí thải triệt để dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của hàng trăm hộ dân.

Không chỉ có nhà máy Sao Nông, rất nhiều nhà máy sản xuất phân bón khác đã từng bị các cơ quan chức năng cảnh cáo, phạt tiền hoặc buộc ngừng sản xuất vì vi phạm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp sản xuất phân bón hóa học QCVN 21:2009/BTNMT.

Trong quy chuẩn QCVN 21:2009/BTNMT đã nêu rõ nồng độ C của các thông số ô nhiễm trong khí thải công nghiệp sản xuất phân bón hóa học như sau:

STT Thông số Nồng độ C (mg/Nm3)

A B

1 Bụi tổng 400 200

2 Lưu huỳnh dioxit (SO2) 1500 500

3 Niot Oxit (NOx) (tính theo NO2) 1000 850

4 Amoniac (NH3) 76 50

5 Axit sunfuric (H2SO4) 100 50

6 Tổng florua (F) 90

50

Trong đó:

Cột A quy định nồng độ C của các thông số ô nhiêm trong khí thải công nghiệp phân bón hóa học làm cơ sở tính toán nồng độ tối đa cho phép đối với các nhà máy, cơ sở sản xuất phân bón hóa học bắt đầu hoat động trước ngày 16 tháng 1 năm 2007 với thời gian áp dụng đến ngày 31 tháng 12 năm 2014.

Cột B quy định nồng độ C của các thông số ô nhiễm trong khí thải công nghiệp sản xuất phân bón hóa học làm cơ sở tính toán nồng độ tối đa cho phép với:

+ Các nhà máy, cơ sở sản xuất phân bón hóa học  bắt đầu hoạt động kể từ ngày 16 tháng 1 năm 2007

+ Tất cả các nhà máy, cơ sở sản xuất phân bón với thời gian áp dụng kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2024

Ảnh hưởng của khí thải nhà máy phân bón đến môi trường và con người

Trong khí thải từ nhà máy sản xuất phân bón có chứa nhiều chất độc hại, bụi mịn. Việc tiếp xúc lâu ngày với các chất này sẽ dẫn đến hệ quả khôn lường. Cụ thể như sau:

Bụi mịn là những hạt có kích thước nhỏ như PM 1.0 và PM 2.5. Chúng tồn tại ở dạng lỏng hoặc rắn, trôi nổi trong không khí.

Bụi có kích thước càng nhỏ, càng mịn càng dễ đi sâu vào trong hệ hô hấp và ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc DNA của con người, khiến các tế bào bị mất cân bằng oxy, sự chuyển hóa các chất hữu cơ cũng bị gián đoạn. Các hệ quả sau đó mà cá nhân phải gang chịu đó là bệnh ung thư, viên đường hô hấp, viêm phổi, …

Bụi mịn khi thâm nhập vào trong cơ thể sẽ gây hậu quả khôn lường cho hệ hô hấp

Không chỉ xuất hiện trong khí thải nhà máy sản xuất phân bón, khí SO2 phát sinh trong quá trình đốt nhiên liệu. Không chỉ gây hại cho người, SO2 còn gây mưa axit, ăn mòn công trình, phá hoại cây cối.

Khi nồng độ SO2 đạt mức 5 ppm, con người bắt đầu cảm thấy các triệu chứng như khó thở, nóng rát ở mũi và cổ, … Chúng cũng là nguyên nhân gây ra các bệnh như viêm đường hô hấp, viêm mắt, viêm phổi, …

Theo các nhà khoa học, khí NOx là nguyên nhân gây tử vong cho 38.000 người trên thế giới mỗi năm. Chúng không chỉ gây tổn thương tế bào phổi mà còn gây hen suyên, viêm cuống phổi và các bệnh về tim mạch. Một trong những chất khí nito oxit điển hình, thường gặp đó là NO2.

Đối với môi trường, NOx nói chung và NO2 nói riêng cũng để lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường khi chúng là một trong những tác nhân gây mưa axit, khiến tầm nhìn xa bị thu hẹp, gây ô nhiễm dinh dưỡng ở vùng nước ven biển.

Amoniac là chất khí thường gặp nhưng khi tiếp xúc ở nồng độ cao, con người có thể bị suy hô hấp, bỏng niêm mạc mũi

Amoniac là loại khi quen thuộc vào con người bởi chúng xuất hiện trong nước tiểu. Tuy nhiên, mức độ gây hại của NH3 không hề nhỏ. Khi hít phải nồng độ cao sẽ gây bỏng niêm mạc mũi, cổ họng bị sung, suy hô hấp. Thậm chí, khi nồng độ đạt 10.000ppm, NH3 có thể gây tử vong.

Axit sunfuric có vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp, được ứng dụng rộng rãi trong việc xử lý nước thải, sản xuất phân bón, chế biến quặng nhưng chỉ một hàm lượng nhỏ của chúng cũng có thể gây bỏng thậm chí là làm tổn thương giác mạc, tử vong.

Ion florua thường xuất hiện trong các dung dịch sức miệng nhưng chúng chỉ an toàn khi ở nồng độ thấp, việc tiếp xúc liên tục với lượng florua cao là rất nguy hiểm. Ước tính, một người trưởng thành khi tiếp xúc từ 5 đến 10 g florua có thể dẫn đến ngộ độc. Ở mức độ nhẹ hơn, chúng gây khó chịu, ảnh hưởng đến đường tiêu hóa.

Máy lọc tĩnh điện được ứng dụng trong xử lý khí thải nhà máy sản xuất phân bón

Rõ ràng, xử lý khí thải là việc làm vô cùng quan trọng mà không chỉ các nhà máy sản xuất phân bón hóa học cần tuân thủ mà chúng cần được thực hiện ở diện rộng. Điều quan trọng không phải là việc thực thi pháp luật mà đó là sự tự giác, xuất phát từ trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường cũng như quốc gia. Bên cạnh những công ty “lách luật”, xả thải trái phép ra môi trường, vẫn có nhiều cơ sở sản xuất xử lý khí thải một cách nghiêm túc bằng việc ứng dụng các công nghệ xử lý khí thải hiện đại. Cần có thêm những “người tự giác” để môi trường Việt Nam được trong sạch hơn, người dân bớt phải lao đao trước thực cảnh ô nhiễm nặng nề.

Nguyên Tắc 4 Đúng Trong Việc Sử Dụng Thuốc Bảo Vệ Thực Vật

Ảnh: Thuốc bảo vệ thực vật – nguồn: tinmoitruong.vn                 

Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để bảo vệ cây trồng, bảo vệ mùa màng là một trong những biện pháp quan trọng nhất trong hệ thống các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp cho cây trồng. Tuy nhiên trong thực tế sản xuất của người dân, hiện tượng lợi bất cập hại vẫn còn thường xuyên xẩy ra, gây ảnh hưởng xấu đến năng suất, sản lượng, thu nhập, bản thân, xã hội, môi trường…Vì vậy để nâng cao hiệu quả của công tác sử dụng thuốc BVTV để phòng và trị sâu bệnh cho cây trồng, chúng tôi xin giới thiệu cùng bà con về nguyên tắc 4 đúng như sau:

   Trong hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV ngành BVTV thường hướng dẫn tuyên truyền nông dân phải áp dụng nguyên tắc 4 đúng gồm : Đúng thuốc, đúng lúc, đúng nồng độ liều lượng và đúng cách.

1. Nguyên tắc sử dụng đúng thuốc:

   Khi quyết định sử dụng thuốc BVTV cần phải biết rõ loài dịch hại cần tham khảo cán bộ chuyên môn BVTV hoặc ban nông nghiệp tại địa phương. Ưu tiên lựa chọn sử dụng các loại thuốc có tác động chọn lọc, có hiệu lực cao, thời gian cách ly ngắn và ít độc đối với sinh vật có ích, động vật máu nóng. Cần tìm hiểu kỹ xem loại thuốc định mua có an toàn với cây trồng sẽ được phun hay không đặc biệt chú ý khi mua và sử dụng thuốc trừ cỏ

Thay đổi loại thuốc trong quá trình sử dụng, không nên sử dụng một loại thuốc trong thời gian dài hoặc từ năm này qua năm khác để ngăn ngừa hiện thượng quen thuốc, kháng thuốc của dịch hại .

2- Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng lúc

   Phun thuốc vào thời điểm dịch hại dễ bị tiêu diệt, phun ở giai đoạn tuổi nhỏ đối với sâu và ở giai đoạn đầu đối với bệnh . Phun vào lúc trời má, không có gió to để thuốc tiếp xúc bám dính tốt hơn trên bề mặt lá. Hạn chế phun lúc cây đang ra hoa, không phun thuốc khi trời nắng nóng sẽ làm giảm hiệu lực của thuốc hoặc trời sắp mưa có thể làm rửa trôi thuốc. Không phun thuốc vào thời điểm quá gần ngày thu hoạch (tuỳ thuộc vào thời gian cách ly của từng loại thuốc để xác định thời gian ngừng phun thuốc trước thu hoạch). Phun khi mật độ sâu, tỷ lệ bậnh đạt đến ngưỡng gây hại kinh tế (điều này cần có cán bộ kỹ thuật hướng dẫn xác định đối với từng loại sâu, bệnh ở từng thời kỳ và mức độ sinh trưởng phát triển của cây trồng).

3. Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng nồng độ, liều lượng .

   Đúng nồng độ liều lượng ở đây bao gồm lượng thuốc và lượng nước trên đơn vị diện tích theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc khuyến cáo của cán bộ kỹ thuật. Không được tuỳ ý tăng nồng độ của thuốc cao sẽ gây hại cho người sử dụng, cây trồng, môi trường và làm tăng chi phí, hoặc phun ở nồng độ quá thấp sẽ làm cho dịch hại quen thuốc, kháng thuốc tạo nguy cơ bùng phát dịch.

4. Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng cách .

   Về nguyên tắc này trước hết phải kể từ khâu pha thuốc. Khi quyết định sử dụng thuốc phải tính toán kỹ lượng thuốc và lượng nước cần sử dụng. Khi pha thuốc nên cho vào bình 1/3 – 1/2 lượng nước rồi cho nước vào rồi khuấy đều, sau đó tiếp tục cho đủ lượng nước còn lại vào khuấy kỹ để thuốc phân tán đều trong nước. Không tự ý hỗn hợp hay nhiều loại thuốc BVTV với nhau bởi khi hỗn hợp có trường hợp làm gia tăng hiệu lực thuốc song có nhiều trường hợp hỗn hợp sẽ giảm hiệu lực thuốc, hoặc dễ gây cháy nổ, độc hại cho cây trồng và cho người sử dụng. Do đó chỉ thực hiện hỗn hợp thuốc nếu có hướng dẫn trên nhãn thuốc hay hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật và sau khi hỗn hợp phải sử dụng ngay.

(*) Lưu ý:

   Thông thường chỉ nên phối trộn hai loại thuốc trong cùng một lần phun sẽ cho hiệu quả cao, đồng thời kiểm soát được tác hại ngược lại do quá trình phối trộn. Tuy nhiên, đa số bà con nông dân chưa hiểu rõ nguyên tắc phối trộn và tuỳ tiện phối trộn thuốc BVTV nên hiệu lực phòng trừ dịch hại thấp, ngoài ra còn gây ngộ độc cho cây trồng. Để giúp bà con sử dụng thuốc BVTV hiệu quả và an toàn đối với cây trồng chúng tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm như sau:

    Những nhóm thuốc bà con có thể pha trộn:

– Chỉ nên phối hợp các loại thuốc bảo vệ thực vật thuộc các nhóm gốc khác nhau thì hiệu quả mới cao như: thuốc nhóm lân phối hợp với nhóm các ba mát, lân + cúc, các ba mát + cúc, các ba mát + điều hòa sinh trưởng, thuốc vi sinh phối hợp với gốc lân

hoặc cúc.

– Chỉ nên phối hợp thuốc có các tác dụng khác nhau như (tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp, lưu dẫn.

– Chỉ nên phối hợp thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh, thuốc trừ sâu với thuốc trừ cỏ, trừ cỏ với phân bón.

– Không nên phối hợp thuốc trừ bệnh với phân bón qua lá hoặc chất điều hòa sinh trưởng,

– Không phối hợp thuốc trừ sâu vi sinh với thuốc trừ bệnh có nguồn gốc chất kháng sinh….

– Không phối hợp thuốc trừ sâu, trừ bệnh với các loại thuốc gốc đồng như Coc 85, Coper B. Vì thuốc gốc đồng thường có tính kiềm cao, trong khi đó thuốc trừ sâu, trừ bệnh lại có tính axit. Khi pha trộn với nhau chúng sẽ trung hòa làm giảm hiệu lực thuốc.

   Để biết chắc chắn hơn bà con nên lấy một ít thuốc nguyên chất pha với lượng tương đương thuốc loại kia trong một cốc sành, sứ, thủy tinh, nhựa, dùng que khuấy nhẹ cho hòa tan để trong 2 – 5 phút. Quan sát nếu thấy có hiện tượng kết tủa bên dưới, đóng váng trên bề mặt, bốc khói tỏa nhiệt, sủi bọt hoặc biến đổi màu bất thường thì không nên pha trộn các loại thuốc đó với nhau để phun cho cây trồng.

   Nếu đã khẳng định trộn được 2 loại thuốc với nhau thì trong quá trình pha chế, bà con nên lần lượt cho từng loại thuốc thứ nhất vào bình rồi cho nước vào khoảng nửa bình khuấy đều sau đó cho loại thuốc thứ 2 vào rồi tiếp tục thêm nước cho đầy bình đủ lượng nước mình cần. Lưu ý trước khi pha thuốc trong bình phải có một lượng nước vừa phải và không nên cho 2 loại thuốc vào cùng một lúc, nồng độ của mỗi loại phải giữ nguyên như khi dùng riêng rẽ. Sau khi pha phải phun ngay.

   Để tránh hiện tượng quen thuộc đối với các loại dịch hại trên cây trồng, khi sử dụng bà con cần luân phiên các nhóm thuốc có gốc khác nhau.

   Khi phun thuốc tuỳ vào đặc điểm, vị trí gây hại của từng loại dịch hại để hướng vòi phun sao cho tia thuốc tập trung vào nơi định phun để thuốc tiếp xúc được nhiều nhất với dịch hại, không đi ngược chiều gió khi phun .

   Như vậy để sử dụng thuốc BVTV, phòng trừ dịch hại đạt hiệu quả cao thì việc hiểu và tuân thủ các nguyên tắc trên là rất cần thiết. Kính mong mọi người lưu tâm và thực hiện tốt.

Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Thuốc Trừ Sâu, Phân Bón Hóa Học Lên Môi Trường Đất, Nước, Nông Sản Và Sức Khỏe Của Người Nông Dân Ở Trà Vinh

Trong công tác bảo vệ môi trường, vấn đề quan tâm hàng đầu là việc quản lý sử dụng các hóa chất trong nông nghiệp, đặc biệt là các loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu như thế nào là hợp lý cũng như ý thức sử dụng chúng của người dân. Trước tình hình như vậy, để phát triển nông nghiệp bền vững, để hạn chế ô nhiễm do hóa chất dùng trong nông nghiệp, phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sạch và bảo vệ môi trường, chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ sâu, phân bón hoá học lên môi trường đất, nước, nông sản và sức khoẻ của người nông dân ở Trà Vinh”. Đây cũng là mục đích của đề tài.

Tỉnh Trà Vinh là một tỉnh mà nông nghiệp là ngành sản xuất chính. Do vậy, để tăng năng suất cây trồng, việc sử dụng hóa chất nông nghiệp là cần thiết. Song không thể không băn khoăn lo ngại về những tác hại do sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật rộng rãi, ồ ạt không kiểm soát và thiếu nghiên cứu toàn diện. Tình hình ngộ độc cấp tính do dùng rau quả, nông sản nhiễm phân bón, thuốc trừ sâu và ngộ độc hô hấp do phun xịt thuốc đã bộc phát đến mức báo động. Mặt khác, nó còn gây ảnh hưởng đến môi trường nước, đất trồng, tiêu diệt thiên địch và động vật có ích, làm mất cân bằng hệ sinh thái nông nghiệp.

Phân tích dư lượng thuốc trừ sâu bằng phương pháp sắc ký, tại ĐH Nông Lâm TPHCM, men Cholinesterase tại phòng Sinh hóa Bệnh viện Chợ Rẫy. Các chỉ tiêu đo đếm, quan trắc và phân tích khác dùng phương pháp phổ biến hiện nay.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hoá học trong sản xuất nông nghiệp ở Trà Vinh

Bảng 1. Thống kê tỉ lệ (%) nông hộ có sử dụng phân bón

STT

Tên phân bón

Tỉ lệ nông hộ có sử dụng (%)

Phân vô cơ (hóa học)

Sử dụng riêng

1

Kali

46,67

2

Lân

36,67

3

Urê

100

4

NPK 20-20-15

13,33

5

NPK 16-6-8

33,33

6

NPK (Đầu trâu)

36,67

7

NPK 20-20-0

23,33

8

DAP

90

Sử dụng kết hợp

9

Lân và  NPK (Đầu trâu)

20

10

Lân và urê

53,33

11

Urê và NPK (Đầu trâu)

20

12

Urê và NPK 20-20-15

13,33

13

Ure và NPK 16-16-8

30

Bảng 2. Thống kê ti lệ (%) nông hộ có sử dụng thuốc trừ sâu

STT

Tên thương mại

Tên biệt dược

% nông hộ

Thuốc trừ sâu

1

Admire 050 EC

Imidacloprid

13,33

2

Applaud 10 WP

Buproferin

2,22

3

Bassa 50 EC

Fenobucard (BPMC)

7,78

4

Cyper Alpha 5 ND

Alpha-Cypermethrin

4,44

5

Furadan 3G

Carbofuran

5,56

6

Lannate 40 SP

Methomyl

7,78

7

Lorsban 30 EC

Chlorpyrifos

2,22

8

Padan 4G, 0G,95SP

Cartap

21,11

9

Penkill 20EC

Fen valerate

2,22

10

Regent 5 SC, 0,2 G, 0,3G

Fipronil

26,67

11

Sodan

2,22

12

Sumi-a 5 EC

Esfen valerate

2,22

13

Thiodan

Endo sulfan

2,22

Thuốc trừ bệnh

14

Anvil 5 SC

Hexaconazole

20

15

Tilt 250EC/ND

Propiconazole

46,67

16

Vanicide 3DD, 5DD, 5WP

Validamycin

33,33

Thuốc trừ cỏ

17

Amine 720 EC

2,4 D

6,45

18

Anco 720 EC

2,4 D

16,12

19

Facet 25 SC

Quinclorac

12,90

20

Ronstar 25 EC, 12 L

Oxadiazon

9,67

21

Sofit 300EC/ND

Pretilachlor 300g/l + Fen clorim 100g/l

35,48

22

Tiller Super EC

Fenoxapro-P-Ethyl 4,25 % +2,4 D 6,61% +MCPA 19,81 %

19,35

Dư lượng thuốc trừ sâu trong nước mặt lấy trên khu vực trồng một số loại cây nghiên cứ

Bảng 3. Kết quả phân tích dư lượng thuốc trừ sâu trong nước mặt lấy trên một số loại cây trồng chính

Loại cây

Mẫu

Họ Chlor hữu cơ

Đơn vị: x 10-6 (mg/l)

Họ Phosphor hữu cơ

Đơn vị: x 10-5(mg/l)

Hep

Aldrin

Endrin

Dieldrin

DDE

DDT

Dime

MP

Metha

Mono

Lúa

NM20

10

10

KPH

KPH

10

KPH

200

400

300

400

NM32

20

10

KPH

KPH

310

KPH

200

300

KPH

KPH

Đậu phộng

NM2

20

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

1.400

1.000

KPH

KPH

NM13

21

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

100

2.000

KPH

100

NM14

21

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

1.400

1.000

KPH

KPH

Xoài

NM5

10

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

600

NM6

10

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

600

NM33

60

20

21

KPH

KPH

10

KPH

300

400

500

NM34

60

20

21

KPH

KPH

10

KPH

300

400

500

Nhãn

NM16

10

10

KPH

KPH

KPH

10

KPH

KPH

1.600

1.200

NM26

KPH

KPH

10

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

1.600

1.600

Rau ăn lá

NM9

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

1.500

1.500

NM10

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

1.500

1.500

Rau ăn củ

NM35

KPH

200

100

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

200

NM36

KPH

200

100

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

200

Ký hiệu

Tên thuốc

Ký hiệu

Địa điểm

Hep

Heptachlor

NM20

Ấp Kênh A – Xã Huyền Hội – Huyện Càng Long

Dime

Dimethoate

NM32

Ấp Kênh Xáng – Xã Hiếu Tử – Huyện Tiểu Cần

MP

MethylParathion

NM2

Đầu Bờ – Hòa Thuận – Châu Thành

Metha

Methamidophos

NM13,14

Sóc Chuối – Hiệp Hòa – Cầu Ngang

Mono

Monocrotophos

NM5,6

Sóc chuối – Hiệp Hòa – Cầu Ngang

NM33,34

Tân Đại – Hiếu Tử – Tiểu Cần

NM16

Hòa Hảo – Phước Hảo – Châu Thành

NM26

Chà Khảo – Hòa An – Cầu Kè

NM35,36

Ô Et. Phú Cần – Tiểu Cần

NM9,10

Chi Liêm – Hiệp Hòa – Cầu Ngang

Dư lượng thuốc trừ sâu trong nước ngầm lấy trên khu vực nghiên cứu

Bảng 4. Kết quả phân tích thuốc trừ sâu trong nước ngầm

Họ Chlor hữu cơ – Đơn vị: x 10-6 (mg/l)

Mẫu

Heptachlor

Aldrin

DDE

Dieldrin

Endrine

DDT

NN3

KPH

40

30

KPH

KPH

KPH

NN7

KPH

10

10

KPH

KPH

KPH

NN12

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

NN15

KPH

60

40

KPH

KPH

KPH

NN19

50

KPH

KPH

KPH

KPH

KPH

NN25

KPH

400

KPH

KPH

KPH

KPH

Họ Phosphor hữu cơ – Đơn vị: x 10-6 (mg/L)

Mẫu

Methamidophos

Monoprotofos

Dimethroate

Methylparathion

NN3

KPH

400

500

700

NN7

500

800

400

200

NN12

KPH

KPH

KPH

5.000

NN15

KPH

KPH

KPH

400

NN19

KPH

KPH

1.700

1.600

NN25

KPH

KPH

KPH

500

Ký hiệu

Đối tượng

Địa điểm

NN3

NN7

NN12

NN15

NN19

NN25

Xoài

Rau ăn lá

Rau ăn lá

Nhãn

Lúa

Nhãn

Hòa Hảo – Phước Hảo – Châu Thành

Ô Et. Phú Cần – Tiểu Cần

Chi Liêm – Hiệp Hòa – Cầu Ngang

Phước Hảo – Châu Thành

Lô Tư – Huyền Hội – Càng Long

Chà Khảo – Hòa An – Cầu Kè

Tuy sự ảnh hưởng của dư lượng phân bón và thuốc trừ sâu lên chất lượng nguồn nước mặt và nước ngầm là chưa vượt quá TCVN nhưng hàm lượng các chất tồn lưu trong nguồn nước đều đã được chính phủ, địa phương cảnh báo, cấm sử dụng. Điều này chứng tỏ sự ô nhiễm nguồn nước đã quá mức cho phép của địa phương.

Ảnh hưởng dư lượng thuốc trừ sâu trên một số loại nông sản chính

Bảng 5. Kết quả phân tích thuốc trừ sâu gốc Phosphor hữu cơ trên các loại nông sản

Đơn vị: x 10-5 (mg/kg)

Mẫu nông sản

Methamidofos

Dimethoate

Methyl parathion

Đậu phộng

KPH

KPH

3000

Nhãn

KPH

KPH

400

Xoài

1900

KPH

300

Lúa

900

200

300

Đậu cove

1800

100

300

Rau

3900

100

200

Bảng 6. Kết quả phân tích thuốc trừ sâu gốc Chlor hữu cơ trên các loại nông sản     

Đơn vị: x 10-6 (mg/kg)

Mẫu

Heptaclor

Aldrin

DDE

Dieldrin

Endrin

DDT

Đậu phộng

KPH

KPH

110

KPH

KPH

KPH

Nhãn

140

40

30

KPH

KPH

KPH

Xoài

30

10

10

KPH

KPH

10

Lúa

30

KPH

10

KPH

KPH

KPH

Đậu cove

20

10

KPH

KPH

KPH

KPH

Rau

50

KPH

10

KPH

KPH

KPH

+ Nông dân thường sử dụng các loại thuốc trừ sâu đã cấm sử dụng, cụ thể như: Heptachlor, Endrin, Dieldrin, DDE, DDT, chúng tôi kết quả phân tích kết hợp với tiêu chuẩn giới hạn mức dư lượng tối đa cho phép, cho thấy:

+ Dư lượng thuốc trừ sâu trong nông sản nhỏ hơn nhiều lần mức dư lượng tối đa cho phép.

+ Nhóm thuốc gốc Phosphor đều được phát hiện có trên rau, tuy hàm lượng nhỏ hơn so với mức cho phép nhưng điều này cho thấy nông dân sử dụng rất nhiều loại thuốc để phun cho rau, ngay cả những loại thuốc nguy hiểm và được khuyến cáo cấm sử dụng.

+ Đối với họ gốc Chlor hữu cơ thì ít được sử dụng hơn. Hoặc là được sử dụng nhưng đã được phân huỷ hết nên ít được phát hiện có trên rau. Cụ thể là DDE đối với rau ăn củ, Dieldrin, Endrin, DDT,  Aldrin  đối với rau ăn lá đều không được phát hiện. Còn các loại khác thì có tồn tại trên rau nhưng hàm lượng rất nhỏ, không đáng kể so với giới hạn tối đa cho phép.

Ảnh hưởng của dư lượng thuốc trừ sâu và phân bón đến sức khỏe người nông dân

Những biểu hiện cấp tính

      Một số nghiên cứu ban đầu cho thấy, có khá đông nông dân áp dụng không đúng kỹ thuật và hướng dẫn về nông dược. Việc tiếp xúc sử dụng thuốc càng thường xuyên, nguy cơ nhiễm độc càng lớn, sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của họ thông qua đường hô hấp, tiêu hoá…  ngày càng cao.

Bảng 7. Tình trạng sức khoẻ của nông dân trồng rau trước và sau khi bón phân – phun thuốc (%)

Đặc điểm về tình trạng sức khoẻ

Tỷ lệ (%)

Rau ăn lá

Rau ăn củ

Tốt

Bình thường

Xấu

Tốt

Bình thường

Xấu

Trước khi bón phân

6,67

90

3,3

7,14

92,86

Sau khi bón phân

6,67

83,33

10

3,58

92,86

3,58

Trước khi phun thuốc

13,3

86,7

7,14

92,86

Sau khi phun thuốc

3,3

43,3

53,3

3,58

10,7

85,7

Trước khi tham gia nghề nông

16,7

80

3,3

10,7

89,3

Hiện nay

6,67

46,7

46,63

3,58

53,57

42,86

Bảng 8. Tình trạng sức khoẻ của nông dân trồng lúa trước và sau khi bón phân – phun thuốc (%)

Đặc điểm về tình trạng sức khoẻ

Tỷ lệ (%)

Tốt

Xấu

Bình thường

Tình trạng sức khoẻ trước và sau khi bón phân

Trước khi bón phân

12,12

87,88

Sau khi bón phân

6,06

30,30

63,64

Tình trạng sức khoẻ trước và sau khi phun thuốc

Trước khi phun thuốc

12,12

87,88

Sau khi phun thuốc

75,76

24,24

Trước khi làm nghề nông

9,09

90,91

Hiện nay

3,03

48,49

48,48

Đánh giá, theo dõi ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu đối với sức khoẻ của nông dân chưa được tiến hành nhiều nhưng chắc chắn về lâu dài sức khoẻ của người nông dân sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Những biểu hiện mãn tính

Song song với việc điều tra, phân tích ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đối với con người, đề tài còn tiến hành phân tích mẫu máu để xác định mức độ ảnh hưởng bởi thuốc trừ sâu gốc Chlor hữu cơ và gốc Lân hữu cơ gây ra cho sức khỏe con người bằng cách  định lượng men Cholinesterase có trong máu người nông dân.

Bảng 9. Kết quả phân tích hoạt tính men Cholinesterase trong máu người phun thuốc

Tên mẫu

Tên người được lấy mẫu máu

Men Cholinesterase (micromol/L)

M1

Nguyễn Minh Dương

4.351

M2

Đặng Văn Vũ

4.223

M3

Đặng Thành Phước

4.855

M4

Thạch Kim Sơn

4.631

M5

Kim Mỹ

3.295

M6

Lê Văn Dày

5.063

Ghi chú: mức bình thường Cholinesterase trong máu là 3.000-7.400  (micromol/L)

Tên mẫu

Đối tượng

Địa chỉ

M1

Nông dân trồng lúa

Ấp Lô Tư, Huyền Hội, Càng Long

M2

Nông dân trồng lúa

Ấp Trà Mẹt, Thông Hoà, Cầu Kè

M3

Nông dân trồng nhãn

Khóm 7, thị trấn Cầu Kè, H. Cầu Kè

M4

Nông dân trồng xoài

Khóm 5, thị trấn Tiểu Cần

M5

Nông dân trồng rau

Huyện Châu Thành

M6

Nông dân trồng đậu phộng

Ấp Hoà Hưng, Mỹ Hoà, Cầu Ngang

Nhìn chung, ảnh hưởng của thuốc trừ sâu và phân bón chưa tác hại nhiều cho nông dân trực tiếp canh tác nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Nhưng sự hiện diện của chúng trong nông sản là một điều đáng lo ngại cho môi trường và sức khoẻ của con người, đặc biệt là những người trực tiếp tiếp xúc với chúng. Tuy nhiên, không vì kết quả khả quan mà chúng ta vẫn cứ tiếp tục làm theo hình thức cũ. Cần phải hướng nông dân sử dụng thuốc, phân một cách hợp lý hơn tránh hiện tượng khi môi trường bị nhiễm độc thì sẽ không có khả năng phục hồi.

Cập nhật thông tin chi tiết về Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Phân Bón Và Hóa Chất Bảo Vệ Thực Vật Trong Sản Xuất Nông Nghiệp Và Môi Trường trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!