Xu Hướng 2/2024 # Ảnh Hưởng Của Mật Độ, Phân Bón Đến Khả Năng Sinh Trưởng Và Năng Suất Của Giống Đậu Xanh Hạt Nhỏ Nam Đàn # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Ảnh Hưởng Của Mật Độ, Phân Bón Đến Khả Năng Sinh Trưởng Và Năng Suất Của Giống Đậu Xanh Hạt Nhỏ Nam Đàn được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ảnh hưởng của mật độ, phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của giống đậu xanh hạt nhỏ Nam Đàn

Đậu xanh [Vigna radiata (L.) Wilczek] là một trong những cây họ đậu điển hình có thời gian sinh trưởng ngắn, sinh trưởng khỏe, thích ứng với khí hậu khô nóng (Hussain et al., 2011; Nair et al.,2013).

Đậu xanh cũng được đánh giá là cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu vì nó có thể chịu được khô hạn ở đầu thời vụ, có thể chịu được khí hậu khô nóng trong vụ Hè Thu, có thể sinh trưởng và thích ứng trên đất nghèo dinh dưỡng (Phạm Văn Chương và ctv., 2011; Nguyễn Quốc Khương và ctv.,2014). Giống đậu xanh hạt nhỏ Nam Đàn – Nghệ An là giống địa phương, hiện nay vẫn được người dân lưu giữ và gieo trồng trong vụ Hè. Giống có chất lượng tốt, khả năng chịu hạn và chống chịu sâu bệnhkhá. Giống đậu xanh hạt nhỏ Nam Đàn ăn thơm, bở, được người tiêu dùng rất ưa thích. Tuy nhiên, do tập quán canh tác lạc hậu đã dẫn đến đặc điểm hình thái, năng suất và chất lượng giống giảm.Do vậy, để phát triển đậu xanh có hiệu quả, trong giai đoạn tới rất cần có sự đầu tư nghiên cứu đồng bộ các giải pháp công nghệ như: Xác định giống đậu xanh năng suất cao, chống chịu sâu bệnh, chịu hạn, chín tập trung và các biện pháp kỹ thuật canh tác như mật độ, liều lượng phân bón… phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Để góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất đậu xanh cũng như xác định lượng phân bón và mật độ thích hợp cho giống đậu xanh Nam Đàn, thí nghiệm “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón đến sinh trưởng và năng suất của đậu xanh trong vụ Hè tại Nam Đàn, Nghệ An” đã được thực hiện.

Nghiên cứu do Nhóm tác giả gồm: Đoàn Minh Diệp, Nguyễn Trọng Dũng, Vũ Linh Chi (Trung tâm Tài nguyên thực vật), Vũ Ngọc Thắng, Nguyễn Thanh Tuấn (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) thí nghiệm được tiến hành vào vụ Hè năm 2024 tại xã Nam Thượng, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ngày gieo: 22/6/2024.

Vật liệu nghiên cứu được thực hiện trên Giống đậu xanh hạt nhỏ Nam Đàn đã được phục tráng và các loại phân bón: Đạm Ure 46,6% N; Super lân Lâm Tao 16,5% P2O5; KCL 60% K2O.

Phương pháp nghiên cứu: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô chính ô phụ (Split Plot Design), trong đó, ô chính là nhân tố phân bón (P) với 3 liều lượng phân bón NPK theo tỷ lệ 1 : 1, 5 : 1 tương ứng: P1: 30 N : 45 P205 : 30 K20; P2: 40 N : 60 P205 : 40 K20; P3: 50 N : 75 P205 : 50 K20; ô phụ là nhân tố mật độ (M) với 3 mật độ gieo: M1: 20 cây/m2; M2: 25 cây/m2; M3: 30 cây/m2, nhắc lại 3 lần. Diện tích ô nhỏ 10 m2 (5 m ˟ 2 m) và diện tích ô lớn 30m2.

Phân bón nền sử dụng cho thí nghiệm: 1 tấn HCVS sông Gianh + 400 kg vôi bột/ha.

Các chỉ tiêu, phương pháp theo dõi Thời gian nảy mầm, thời gian ra hoa, thời gian sinh trưởng. Các chỉ tiêu sinh trưởng.

Các chỉ tiêu đặc điểm hình thái, khả năng tích lũy chất khô (g/cây), diện tích lá và chỉ số diện tích lá.

Khả năng chống đổ và khả năng chống chịu sâu bệnh hại: Khả năng chống đổ: cho điểm theo phương pháp IBPGR; Khả năng chống chịu sâu bệnh hại (sâu cuốn lá, bệnh lở cổ rễ, bệnh phấn trắng) được đánh giá theo QCVN 01-62:2011-BNNPTNT. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất: Đếm số chùm quả/cây, số quả/cây, số hạt/quả, P 1000 hạt (g).

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và phân bón đối với giống đậu xanh hạt nhỏ Nam Đàn, Nghệ An cho thấy mật độ 25 cây/m2 và nền phân bón 40 N : 60 P205 : 40 K20 cho năng suất cao nhất (1,697 tấn/ha), đồng thời có ảnh hưởng tới diện tích lá và khả năng tích lũy chất khô. Mật độ và phân bón không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh trưởng và đặc điểm hình thái của giống.

NTD – Canthostnews, Theo TC KHCN NN Việt Nam – Số 2/2024

Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Thời Vụ Trồng Đến Năng Suất, Chất Lượng Và Khả Năng Chống Chịu Bệnh Của Giống Cà Chua Savior Tại Đồng Bằng Sông Hồng

Nghiên cứu do nhóm tác giả Đặng Văn Niên (Công ty Sygenta), Nguyễn Thị Ngọc Huệ (Hội Giống cây trồng) và Trần Ngọc Hùng (Viện Nghiên cứu Rau quả) thực hiện nhằm xác định được thời vụ thích hợp giúp cho người nông dân đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất trong sản xuất là rất cần thiết.

Giống Savior là giống cà chua dạng bán hữu hạn, có tiềm năng năng suất cao, chất lượng quả tốt, phù hợp cho cả ăn tươi và chế biến, hiện đang được trồng với diện tích khá lớn tại một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng (ĐBSH). Tuy nhiên, hiện nay trong sản xuất vẫn chưa xác định rõ giống này trồng ở thời vụ nào là tối ưu nhất và mang lại lợi nhuận cao cho người trồng. Do đó, việc nghiên cứu để tìm ra thời vụ trồng thích hợp nhất, giúp cho người sản xuất đạt được hiệu quả kinh tế cao là rất cần thiết. Trong sảm xuất cà chua ở ĐBSH, việc phát triển trồng cà chua trái vụ (vụ hè thu và xuân hè) mang lại lợi nhuận rất cao cho người nông dân và biện pháp tác động các kỹ thuật canh tác để nâng cao năng suất trong điều kiện trái vụ là một yêu cầu bức thiết trong sản xuất.

Nhóm tác giả đã tiến hành trồng 12 thời vụ khác nhau, trong đó 2 thời vụ trong vụ hè thu, 3 thời vụ trong vụ thu đông, 3 thời vụ trong vụ đông và 4 thời vụ trong vụ xuân hè. Thời vụ đầu tiên bắt đầu trồng từ 20/7 và vụ muộn nhất vào 20/2 cứ 10 ngày trồng 1 lần để xác định thời điểm thích hợp.

Kết quả, tại ĐBSH, thời vụ tròng có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sinh trưởng, phát triển và các yếu tố cấu thành năng suất của giống cà chua Savior và ảnh hưởng nhẹ đến các tình trạng chất lượng quả. Trong cả điều kiện chính vụ và trái vụ, giống Savior đều thể hiện tốt khả năng chống chịu bệnh xoăn vàng lá (0,0-6,7%), nhiễm bệnh mốc xương ở mức nhẹ – trung bình (điểm 1,0-3,0), nhiễm nhẹ bệnh héo xanh vi khuẩn và nhiễm trung bình bệnh vàng lá trong điều kiện vụ xuân hè (điểm 3).

Giống Savior có khả năng thích ứng rộng với điều kiện mùa vụ, cho năng suất cao trong điều kiện chính vụ (67,2-68,6 tấn/ha) và năng suất khá trong điều kiện trái vụ (vụ thu đông 46,4-51,0 tấn/ha, vụ xuân hè đạt 47,5-51,6 tấn/ha). Năng suất cà chua Savior ở 2 lần thu hoạch trong vụ hè thu có năng suất thấp hơn so với các thời vụ khác do đậu quả vào thời điểm nắng nóng, tuy nhiên, giá trị thương phẩm ở thời điểm thu hoạch rất cao nên người trồng vẫn thu được lợi nhuận khá. Do đó, ở ĐBSH có thể trồng cà chua Savior từ 20/7. Các mô hình trình diễn ở các địa phương cho hiệu quả kinh tế khá cao với mức lãi thuần, điển hình trong vụ thu đông 106,9-173,2 triệu đồng/ha.

Ảnh Hưởng Của Giá Thể Đến Sinh Trưởng Của Lan Hoàng Thảo Trúc Đen

Hôm nay Phong Lan Rừng .com xin chia sẻ bài nghiên cứu “Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của Lan Hoàng thảo Trúc Đen“, khá hay và bổ ích về lan Hoàng thảo Trúc Đen của nhóm tác giả: Vũ Ngọc Lan, Nguyễn Hữu Cường, Nguyễn Văn Giang (Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội).

Mục đích của nghiên cứu nhằm xác định giá thể tốt nhất cho hoa lan Hoàng thảo Trúc Đen Dendrobium Hancockii. Giống lan Hoàng thảo Trúc Đen được trồng trong 3 giá thể khác nhau: giá thể gỗ nhãn, giá thể than củi và giá thể xơ dừa.

Vẻ đẹp của Hoàng thảo Trúc Đen, loại này hoa bền, đẹp, thơm mùi mật ngọt, không đắt nhưng khá khó sưu tầm vì ít gặp hơn các loại lan khác, bác nào chưa trồng thì nên kiếm một ít về sưu tầm

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Gần đây trong số các loại lan Hoàng thảo được khai thác, trên thị trường có Hoàng thảo trúc đen (Dendrobium hancockii) đang được ưa chuộng, mang những đặc điêm thực vật học và hình thái nổi bật như: màu vàng đậm tươi có hương thơm mật ong của hoa, hoa nở vào tháng 4-5 dương lịch, thân lá của cây lan mang dáng vẻ loài tre. Tuy nhiên, lan rừng nói chung và lan Hoàng thảo trúc đen nói riêng vốn sống trong môi trường tự nhiên có điều kiện cho sinh trưởng phát triển rất khác với môi trường nhân tạo, vì thế khi nuôi trong nhà thường bị mắc bệnh, không phát triến được hoặc thậm chí không ra hoa. Nhìn chung năng suất và chất lượng hoa lan Dendrobium trồng hiện nay chưa cao do còn nhiều hạn chế về giống, các kỹ thuật chăm sóc, đặc biệt là giá thể trồng chưa phù hợp.

Ở Việt Nam, Huỳnh Thanh Hùng (2007) đã có công trình nghiên cứu các vật liệu làm giá thể trồng lan Dendrobium; xác định được giá thể có hàm lượng dinh dưỡng, có độ bền, giữ ẩm, thoát nước tốt cho lan Dendrobium lai. Ngoài ra nhiều kết quả công bố đã xác định được giá thể thích hợp cho trồng các loại lan khác như Phalaenopsis, Cymbidium… đã và đang được ứng dụng trong thực tế nuôi trồng và sản xuất lan nói chung (Nguyễn Quang Thạch, 2003; Dương Thảo Chinh, 2008). Tuy nhiên, đến hiện nay chưa có kết quả nghiên cứu nào được công bố đối với giống lan Hoàng thảo trúc đen (Dendrobium hancockii).

Để lan Hoàng thảo Trúc Đen (Dendrobium hancockii) có thể sinh trưởng phát triến thuận lợi ở môi trường nhà cũng giống như các giống lan Hoàng thảo rừng khác, trước khi nhân rộng ra sản xuất thì bước đầu cần nghiên cứu xác định được loại giá thể phù hợp nhất cho sự sinh trưởng của lan.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liêu nghiên cứu

Giống lan rừng Hoàng thảo Trúc đen (Dendrobium hancockii) được thu thập từ vùng rừng núi Sơn La trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 6/2009.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành tại vườn Thực vật, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần nhắc lại, có 3 công thức thí nghiệm gồm:

CT1: Trồng trên giá thể xơ dừa xé chỉ.

CT2: Trồng trên giá thể gỗ nhãn.

CT3: Trồng trên giá thể than củi.

Các chậu cây có chung quy trình chăm sóc. Hàng ngày tưới phun mù giữ ẩm cho cây bằng nước sạch. Tưới dinh dưỡng Yogent (2g/lít) 1 lần/tuần. Nếu thấy xuất hiện bệnh trên lan cần tiến hành cắt bỏ các lá, các cành bị bệnh. Trong quá trình cắt tỉa các dụng cụ như dao kéo phải được khử trùng bằng cồn 70% và những vết vừa được cắt bỏ phần bị bệnh được khử trùng bằng H2O2 3% để tránh lây lan sang các bộ phận khác trong một cây hoặc lây từ cây này sang cây khác.

Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm các chỉ tiêu nông sinh học thông thường, tuy nhiên thí nghiệm có quy ước riêng như thân mới là cá thể mới được sinh ra từ thân chính cây lan và mầm là cá thể mới được sinh ra từ các phần thân khác nhưng không phải là thân chính cây lan.

Các số liệu được xử lý trên máy tính theo chương trình Excel 2003 và phần mềm IRRISTAT 4.0.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái tăng chiều cao thân chính

Lan Trúc Đen là loại lan thân đứng, chiều cao có thể đạt 150 cm – 200 cm, hình dáng bên ngoài rất giống cây trúc, cây tre (Diah Sulistiarini, 2001). Lan Dendrobium hancockii càng cao thì càng đẹp.

Trên cơ sở các tài liệu và kinh nghiệm quý báu về nghề trồng hoa lan (Minh Trí và Xuân Giao, 2010; Trần Văn Bảo, 1999), nghiên cứu đã tìm hiểu ảnh hưởng của các loại giá thể đến chiều cao thân lan Dendrobium hancockii. Kết quả cho thấy, các giá thể khác nhau về khả năng thông thoáng khí và giữ ẩm đã ảnh hưởng tới sinh trưởng, phát triến chiều cao thân của lan. Sau 75 ngày sinh trưởng thì chiều cao thân của CT2 (giá thể gỗ nhãn) đạt 125,05 cm, tăng 13,65 cm; trong khi đó CT1 (giá thể xơ dừa) tăng 8,23 cm, còn chiều cao cây của CT3 (giá thể than củi) chỉ tăng 8,16 cm (Hình 1).

Hình 1. Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái tăng chiều cao thân chính của lan Dendrobium hancockii.

Bảng 1. Ảnh hưởng của các loại giá thể lên động thái tăng chiều dài lá,

chiều rộng lá và diện tích lá

Ghi chú: DL: dài lá, RL: rộng lá, DTL: diện tích lá.

3.2. Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái tăng diện tích lá

Ở mùa ra hoa, lá lan Dendrobium hancockii làm tôn thêm vẻ đẹp thanh tao của hoa. Nếu không vào mùa hoa thì lá lan là một trong những bộ phận chính tạo sự cuốn hút đối với người chơi hoa. Vì thế, chỉ tiêu về chiều dài, chiều rộng, diện tích lá lan Dendrobium hancockii được quan tâm. Theo dõi các chỉ tiêu về lá đã cho thấy: tốc độ tăng chiều dài, chiều rộng lá của các công thức về giá thể khác nhau là không giống nhau (Bảng 1). Sau 5 lần theo dõi, chiều cao của CT1 (giá thể xơ dừa) tăng 5,06 cm, tại CT2 (giá thể gỗ nhãn) chiều dài lá tăng 5,54 cm, CT3 (giá thể than củi) tăng 4,8 cm. Từ lần theo dõi thứ nhất đến lần theo dõi cuối cùng cho thấy, tốc độ tăng chiều rộng của CT1 (giá thể xơ dừa) tăng 0,24 cm và CT3 (giá thể than củi) tăng 0,26 cm, trong khi CT2 (giá thể gỗ) tăng cao nhất đạt 0,30 cm. Chỉ tiêu diện tích lá có công thức 2 (giá thể gỗ) đạt 4,66 cm2 là công thức tối ưu thúc đẩy quá trình gia tăng diện tích lá quang hợp, công thức 3 (giá thể than củi) đạt 3,92 cm2 và công thức 1 (giá thể xơ dừa) chỉ đạt 3,77 cm2.

3.3. Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái tăng chiều cao và đường kính thân mới

Với các loài lan đa thân ngoài biện pháp nhân giống phổ biến nhờ nuôi cấy mô, nhân giống hữu tính ngoài tự nhiên qua đẻ keiki, còn có biện pháp tạo ra nhiều cây con một cách tự nhiên và khi các cây con này có sức sống tốt, có rễ phát triển khỏe mạnh thì có thể tách ra khỏi thân mẹ để trồng. Đặc biệt đối với các loài lan này, tách bụi lan là một biện pháp nhân giống đơn giản, không tốn kém. Vấn đề là làm thế nào để tạo ra nhiều mầm hay cây con có sức sống tốt? Một trong các điều kiện cần thiết là phải có các giá thể phù hơp.

Tốc độ tăng trưởng chiều cao và đường kính thân mới rất nhanh trên cả 3 loại giá thể (Bảng 2). Ở lần theo dõi thứ 2, tốc độ tăng trưởng của thân mới chậm nhất do trong khoảng thời gian từ 24/8 – 9/9 thời tiết nắng nóng (nhiệt độ trên ngưỡng 32°C) đồng thời ẩm độ cũng cao, vì thế tốc độ phát triền giảm. Từ lần theo dõi thứ 4 đến lần theo dõi thứ 6 (từ 5/10 – 5/11) tốc độ tăng trưởng chiều cao thân mới mạnh, do nhiệt độ bắt đầu giảm xuống 25°C – 28°C đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự sinh trưởng và phát triển của thân mới. Sau 75 ngày, chiều cao mầm của CT1 (giá thể xơ dừa) tăng từ 3,92 cm lên 29,02 cm (tăng 25,1 cm), CT3 (giá thể than củi) tăng từ 3,95 cm – 29,22 cm (tăng 26,27 cm) và đặc biệt CT2 (giá thể gỗ nhãn) có mức tăng cao nhất đạt 29,45 cm (tăng từ 4,11 cm – 33,56 cm). Vậy tốc độ tăng chiều cao và đường kính thân mới của lan Dendrobium hancockii trên giá thể gỗ nhãn (CT2) là tốt nhất.

3.4. Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái tăng số lá của thân mới

Tốc độ ra lá của thân mới tác động tương hỗ đến khả năng sinh trưởng phát triển của cây lan Dendrobium hancockii. Sau 6 lần theo dõi thì số lá của CT1 (giá thể xơ dừa) tăng 8,05 lá từ (0,48 lá – 8,53 lá), CT2 (giá thể gỗ nhãn) tăng 9,45 lá (tăng cao nhất từ 0,48 lá – 9,93 lá), CT3 (giá thể than củi) tăng 8,26 lá (từ 0,46 lá – 8,72 lá) (Hình 2).

Hình 2. Biểu đổ ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái tăng sô lá của thân mới lan Dendrobium hancockii

3.5. Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái tăng thân mới

Ở nước ta, lan Dendrobium hancockii là loài lan mới, đươc phát hiện vào năm 2005 nên những nghiên cứu về loài lan này còn rất ít, đặc biệt các biện pháp nhân giống tạo số lượng lớn đang đươc các nhà nghiên cứu về lan quan tâm. Việc nghiên cứu tìm ra loại giá thể cho phù hợp với sinh trưởng phát triển của lan, trong đó có chỉ tiêu gia tăng thân mới là một trong những chỉ tiêu quan trọng.

Các công thức khác nhau đều có sự sai khác ở trong cùng một lần theo dõi và ở các lần theo dõi. CT2 (giá thể gỗ nhãn) có tốc độ gia tăng thân mới của lan Dendrobium hancockii vượt trội đáng kể so với CT1 (giá thể xơ dừa) và CT3 (giá thể than củi). Công thức 2 (giá thể gỗ) đạt 26,33 thân mới/3 tháng, trong khi CT3 (giá thể than củi) đạt 19,33 thân mới/3 tháng và CT1 (giá thể xơ dừa) chỉ đạt 19 thân mới/ 3 tháng (Hình 3).

Hình 3. Động thái ra thân mới của lan Dendrobiun hancockii trên các loại giá thể

Giá thể gỗ nhãn (CT2) có tác động tốt đến động thái bật chồi sinh thân mới của cây lan Dendrobium hancockii.

3.6. Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái tăng chiều cao mầm

Lan Dendrobium hancockii có hình thái rất giống cây Trúc, vì vậy vẻ đẹp của nó còn phụ thuộc vào dáng của tán cây. Dáng của tán cây còn chịu ảnh hưởng bởi số lượng mầm, đặc biệt phụ thuộc rất nhiều vào chiều cao mầm. Chỉ tiêu về chiều cao mầm được theo dõi và kết quả được thế hiện ở hình 4.

Hình 4. Ảnh hưởng của các loại giá thể lên động thái tăng chiều cao mầm của lan Dendrobium hancockii

Kết quả ở hình 4 cho thấy, chiều cao mầm của lan Hoàng thảo trúc đen ở CT1 (giá thể xơ dừa) tăng 10 cm (từ 1,95 cm – 11,95 cm), CT2 (giá thể gỗ nhãn) tăng 11,91 cm (từ 1,97 cm – 13,88 cm), CT3 (giá thể than củi) tăng 10,05 cm (1,92 cm – 11,97 cm). Kết quả trên thể hiện tác động của ba loại giá thể đến động thái tăng chiều cao mầm của lan Hoàng thảo trúc đen có sự chênh lệch nhau, tuy nhiên sự chênh lệnh này là chưa đáng kể. Giá thể gỗ nhãn (CT2) là tối ưu cho việc tăng chiều cao mầm, sau đó đến giá thể than củi (CT3) và cuối cùng là giá thể xơ dừa (CT1).

3.7. Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái tăng số lá của mầm

Đối với hoa cây cảnh thì động thái ra lá là một trong những chỉ tiêu quan trọng. Nó không những ảnh hưởng đến vẻ đẹp thẩm mỹ của cây cảnh. Đối với những cây vừa chơi hoa vừa chơi thân lá như lan Dendrobium hancockii, nó ảnh hưởng gần như là trực tiếp đến năng suất và chất lượng hoa. Nếu lá trên chồi ra nhiều thì tổng số lá trên một giò lan tăng dẫn đến diện tích lá tăng, khả năng quang hợp và tích lũy chất khô cũng tăng. Theo lý thuyết cũng như trong thực tiễn khi cây tích lũy đươc nhiều chất khô thì ra hoa nhiều, độ bền hoa tăng và hương hoa đậm hơn.

Trên giá thể gỗ, tốc độ ra lá của lan Dendrobium hancockii nhanh nhất, số lá tăng thêm là 4,02 lá (từ 0,56 lá – 4,58 lá), CT3 (giá thể than củi) tăng 3,49 lá (từ 0,58 lá – 4,07 lá) và cuối cùng là CT1 (giá thể xơ dừa) chỉ tăng 3,39 lá (từ 0,58 lá – 3,97 lá) (Hình 5).

Hình 5. Động thái tăng số lá mầm của lan Dendrobium hancockii trên các loại giá thể

3.8. Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái bật mầm

Hình 6. Động thái bật mầm của mỗi giò lan Dendrobium hancockii trên các loại giá thể

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỂ NGHỊ

Trong 3 loại giá thể, giá thể gỗ nhãn là loại giá thể phù hợp nhất cho sinh trưởng của lan Hoàng thảo Trúc Đen, được thể hiện qua tốc độ gia tăng của các chỉ tiêu sau 75 ngày sinh trưởng:

* Cây có chiều cao thân chính đạt 125,05 cm và chỉ sau 60 ngày cây có diện tích lá đạt 4,66 cm2.

* Thân mới cây lan có chiều cao là: 33,56 cm, đường kính thân mới 0,48 cm, số lá thân mới đạt 9,93 lá và số thân mới 26,33 thân.

* Mầm của cây lan có chiều cao mầm đạt 13,88 cm; số lá mầm 4,58 lá; số mầm đạt 45,67 mầm.

Giống lan Dendrobium hancockii khi sinh trưởng trên giá thể xơ dừa xé chỉ không tốt có thể do giá thể xơ dừa xé chỉ có độ mặn nhất định, thoát nước nhanh và khả năng giữ ẩm kém, nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hấp thu, chuyển hóa và sử dụng dinh dưỡng.

Để hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc giống hoa lan Dendrobium hancockii, cần tiếp tục duy trì thí nghiệm trên nhưng ở các mùa vụ khác nhau tại Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và đánh giá ảnh hưởng của các loại dinh dưỡng, ẩm độ đến động thái sinh trưởng và phát triển của giống lan Dendrobium hancockii.

Nếu đang xem bài viết bằng điện thoại: Dưới bài viết này có nút Chia sẻ (Share) bé bé màu xanh dương đó, ấn vào đó chọn Facebook rồi ấn Đăng lên Facebook thôi (nếu trình duyệt đòi đăng nhập thì bạn đăng nhập) Nếu đang xem bài viết bằng máy tính: Dưới bài viết này có nút Chia sẻ (Share) bé bé màu đỏ, ấn vào đó chọn Facebook rồi ấn Đăng lên Facebook thôi (nếu trình duyệt đòi đăng nhập thì bạn đăng nhập).

Ai có nhu cầu mua hoa lan các loại xin đặt hàng với Vũ Văn Ngọc 0943 184 225, địa chỉ: Số 15, ngách 62, ngõ 20 đường Mỹ Đình, Hà Nội (sau bến xe Mỹ Đình khoảng 500m). (Luôn gọi điện trước khi đến chắc chắn có nhà hoặc còn hàng)

Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Phân Bón Đến Môi Trường

(Agroviet-1/6/2009): Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp phân bón là một trong những vật tư quan trọng và được sử dụng với một lượng khá lớn hàng năm. Phân bón đã góp phần đáng kể làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, đặc biệt là đối với cây lúa ở Việt Nam. Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI), phân bón đóng góp khoảng 30-35% tổng sản lượng cây trồng.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

          Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp phân bón là một trong những vật tư quan trọng và được sử dụng với một lượng khá lớn hàng năm. Phân bón đã góp phần đáng kể làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, đặc biệt là đối với cây lúa ở Việt Nam. Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI), phân bón đóng góp khoảng 30-35% tổng sản lượng cây trồng.

          Tuy nhiên phân bón cũng chính là những loại hoá chất nếu được sử dụng đúng theo quy định sẽ phát huy được những ưu thế, tác dụng đem lại sự mầu mỡ cho đất đai, đem lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống con người, gia súc. Ngược lại nếu không được sử dụng đúng theo quy định, phân bón lại chính là một trong những tác nhân gây nên sự ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống.

II. LƯỢNG PHÂN BÓN SỬ DỤNG Ở VIỆT

NAM

Tính từ năm 1985 tới nay, diện tích gieo trồng ở nước ta chỉ tăng 57,7%, nhưng lượng phân bón sử dụng tăng tới 517% (Bảng 1). Theo tính toán, lượng phân vô cơ sử dụng tăng mạnh trong vòng 20 năm qua, tổng các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N+P2O5+K2O năm 2007 đạt trên 2,4 triệu tấn, tăng gấp hơn 5 lần so với lượng sử dụng của năm 1985. Ngoài phân bón vô cơ, hàng năm nước ta còn sử dụng khoảng 1 triệu tấn phân hữu cơ, hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh các loại.

Bảng 1. Lượng phân bón vô cơ sử dụng ở Việt Nam qua các năm

(Đơn vị tính: nghìn tấn N, P2O5, K2O)

Năm

N

P2O5

K2O

NPK

N+P2O5+K2O

1985

342,3

91,0

35,9

54,8

469,2

1990

425,4

105,7

29,2

62,3

560,3

1995

831,7

322,0

88,0

116,6

1223,7

2000

1332,0

501,0

450,0

180,0

2283,0

2005

1155,1

554,1

354,4

115,9

2063,6

2007

1357,5

551,2

516,5

179,7

2425,2

          Xét về tỷ lệ sử dụng phân bón cho các nhóm cây trồng khác nhau cho thấy tỷ lệ phân bón sử dụng cho lúa chiếm cao nhất đạt trên 65%, các cây công nghiệp lâu năm chiếm gần 15%, ngô khoảng 9% phần còn lại là các cây trồng khác (Sơ đồ 1). Tuy nhiên so với các nước trong khu vực và trên thế giới, lượng phân bón sử dụng trên một đơn vị diện tích gieo trồng ở nước ta vẫn còn thấp, năm cao nhất mới chỉ đạt khoảng 195 kg NPK/ha.

II. LƯỢNG PHÂN BÓN CÂY TRỒNG CHƯA SỬ DỤNG ĐƯỢC

          Theo số liệu tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực nông hoá học ở Việt Nam, hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm mới chỉ đạt từ 30-45%, lân từ 40-45% và kali từ 40-50%, tuỳ theo chân đất, giống cây trồng, thời vụ, phương pháp bón, loại phân bón… Như vậy, còn 60 – 65% lượng đạm tương đương với 1,77 triệu tấn urê, 55 – 60% lượng lân tương đương với 2,07 triệu tấn supe lân và 55-60% lượng kali tương đương với 344 nghìn tấn Kali Clorua (KCl) được bón vào đất nhưng chưa được cây trồng sử dụng.

Trong số phân bón chưa được cây sử dụng, một phần còn lại ở trong đất, một phần bị rửa trôi theo nước mặt do mưa, theo các công trình thuỷ lợi ra các ao, hồ, sông suối gây ô nhiễm nguồn nước mặt. Một phần bị rửa trôi theo chiều dọc xuống tầng nước ngầm và một phần bị bay hơi do tác động của nhiệt độ hay quá trình phản nitrat hoá gây ô nhiễm không khí (Bảng 2).

Bảng 2. Lượng phân bón hàng năm cây trồng chưa sử dụng được

(Đơn vị tính: nghìn tấn N, P2O5, K2O)

Năm

N

P2O5

K2O

N+P2O5+K2O

1985

205,4

54,6

21,5

281,5

1990

255,2

63,4

17,5

336,2

1995

499,0

193,2

52,8

734,2

2000

799,2

300,6

270,0

1369,8

2005

693,1

332,5

212,6

1238,2

2007

814,5

330,7

309,9

1455,1

Xét về mặt kinh tế thì khoảng 2/3 lượng phân bón hàng năm cây trồng chưa sử dụng được đồng nghĩa với việc 2/3 lượng tiền người nông dân bỏ ra mua phân bón bị lãng phí, với tổng thất thoát lên tới khoảng 30 nghìn tỷ đồng tính theo giá phân bón hiện nay.

Xét về mặt môi trường, trừ một phần các chất dinh dưỡng có trong phân bón được giữ lại trong các keo đất là nguồn dinh dưỡng dự trữ cho vụ sau, hàng năm một lượng lớn phân bón bị rửa trôi hoặc bay hơi đã làm xấu đi môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống, đó cũng là những tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước, không khí. Trong số đó phân do sản xuất lúa gây ra đối với việc ô nhiễm môi trường là vấn đề đáng được quan tâm nhất, vì hàng năm một lượng lớn phân bón được dành cho sản xuất lúa.

III. TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN BÓN TỚI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 

          Phân bón gây nên tác động ô nhiễm môi trường thường biểu hiện ở các khía cạnh sau:

1. Bón dư thừa các yếu tố dinh dưỡng hoặc bón phân không đúng cách

Trước hết tác động của phân bón đối với việc gây ô nhiễm môi trường phải kể đến đó là lượng dư thừa các chất dinh dưỡng do cây trồng chưa sử dụng được hoặc do bón không đúng cách… như đã được tính toán ở phần trên. Do tập quán canh tác, do chưa được đào tạo, tập huấn rất nhiều nông dân hiện nay bón phân chưa đúng lượng và đúng cách.

Hầu hết người nông dân hiện nay đều bón quá dư thừa lượng đạm, gây nên hiện tượng lúa lốp, tăng quá trình cảm nhiễm với sâu bệnh, dễ bị đổ ngã. Biểu hiện của việc bón dư thừa đạm qua quan sát bằng mắt thường cho thấy màu lá cây thường xanh mướt hoặc nếu quá dư thừa thì lá màu xanh đậm. Nếu sử dụng bảng so màu lá thì độ đậm của màu lá càng được thấy rõ hơn. Chương trình 3 giảm, 3 tăng cũng là những minh chứng cho việc lạm dụng bón quá dư thừa lượng đạm.

Cách bón phân hiện nay chủ yếu là bón vãi trên mặt đất, phân bón ít được vùi vào trong đất. Xét về mặt hoá học đất, các keo đất là những keo âm (-) còn các yếu tố dinh dưỡng hầu hết là mang điện tích dương (+). Khi bón phân vào đất, được vùi lấp cẩn thận thì các keo đất sẽ giữ lại các chất dinh dưỡng và nhả ra một cách từ từ tuỳ theo yêu cầu của cây trồng theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây. Như vậy, bón phân có vùi lấp không chỉ có tác dụng hạn chế sự mất dinh dưỡng, tăng hiệu suất sử dụng phân bón mà còn làm giảm bớt ô nhiễm môi trường. Các nghiên cứu cho thấy việc bón phân có vùi lấp làm tăng hiệu suất sử dụng phân bón của cây trồng có thể đạt được từ 70-80% so với bón rải trên bề mặt chỉ đạt được từ 20-30%.

 Các yếu tố dinh dưỡng vi lượng như Đồng (Cu), Kẽm (Zn)… rất cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển và có khả năng nâng cao khả năng chống chịu cho cây trồng. Ở một số vùng đất và một số cây trồng, loại cây trồng biểu hiện triệu chứng thiếu ding dưỡng Zn hoặc Cu khá rõ rệt. Tuy nhiên khi lạm dụng các yếu tố trên lại trở thành những loại kim loại nặng khi vượt quá mức sử dụng cho phép và gây độc hại cho con người và gia súc. Hiện nay với kỹ thuật sử dụng phân bón lá các loại phân bón vi lượng trong đó có Cu và Zn được bón trực tiếp cho cây dưới dạng Chelate (dạng mạch vòng) hoặc kết hợp với các chất mang khác để quá trình hấp thu vào cây được nhanh và thuận lợi, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón. Tuy nhiên nếu sử dụng cho các loại cây rau ăn lá, cho chè và các loại quả không có vỏ bóc mà không chú ý tới thời gian cách ly và liếu lượng sử dụng theo đúng quy thì các yếu tố dinh dưỡng trên lại trở thành các yếu tố độc hại cho người tiêu dùng. 

2. Ô nhiễm do từ các nhà máy sản xuất phân bón

          Không chỉ do bón dư thừa dinh dưỡng mà ô nhiễm do phân bón còn gây ra do từ nguồn các nhà máy sản xuất phân bón. Các minh chứng trong thực tế đã cho thấy, vào khoảng đầu thập niên 80 của thế ký trước, khi nhà máy phân đạm Hà Bắc được xây dựng và đi vào hoạt động, do quá trình xử lý môi trường chưa đảm bảo, nước thải của nhà máy đã thải ra nguồn nước của khu vực lân cận gây chết hàng hoạt các loại động, thực vật… Gần đây, một số nhà máy sản xuất các loại phân bón hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh sử dụng nguyên liệu là các phế phụ phẩm cây trồng hoặc chăn nuôi hay nguyên liệu của quá trình sản xuất mía đường, bột sắn… với các công nghệ xử lý môi trường thô sơ đã gây nên ô nhiễm cho nguồn nước do thải ra các chất độc hại chưa được xử lý triệt để và thải các chất có mùi gây ô nhiễm không khí cho các khu vực dân cư sống lân cận.

3. Phân bón có chứa một số chất độc hại

Ngay trong bản thân một số loại phân bón đã có chứa một số chất gây độc hại cho cây trồng và cho con người như các kim loại nặng hoặc các vi sinh vật gây hại, các chất kích thích sinh trưởng khi vượt quá mức quy định. Theo quy định hiện hành, các loại kim loại nặng có trong phân bón gồm Asen (As), Chì (Pb), Thuỷ ngân (Hg) và Cadimi (Cd); các vi sinh vật gây hại có trong phân bón gồm: E. Coli, Salmonella, Coliform là những loại gây nên các bệnh đường ruột nguy hiểm. Phân bón có chứa kim loại nặng và vi sinh vật gây hại thường gặp trong những hợp sau đây:

– Phân bón được sản xuất từ nguồn nguyên liệu là rác thải đô thị, phế thải công nghiệp chế biến từ nông sản, thực phẩm, phế thải chăn nuôi. Để tận dụng nguồn hữu cơ, đồng thời giải quyết những vấn đề về môi trường cho các đô thị, các trại chăn nuôi tập trung, các nhà máy chế biến nông sản… hiện nay đã có một số nhà máy sử dụng các nguồn nguyên liệu nêu trên để sản xuất ra các loại phân bón hữu cơ, hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh để bón trở lại cho cây trồng. Các loại phân bón được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu nêu trên sẽ gây nên sự ô nhiễm thứ cấp do có chứa các kim loại nặng hoặc vi sinh vật gây hại vượt quá mức quy định. Kết quả điều tra của Viện Thổ nhưỡng Nông hoá từ năm 2004 -2007 cho thấy trong số các kim loại nặng thì Thuỷ ngân, còn đối với các vi sinh vật gây hại thì Coliform là những yếu tố thường vượt quá mức cho phép ở nhiều mẫu phân bón được kiểm tra thuộc nhóm trên.

– Phân bón được sản xuất từ nguồn phân lân nhập khẩu từ nước ngoài do có chứa hàm lượng Cadimi quá cao, vượt quá mức quy định được phép sử dụng. Đã có rất nhiều tài liệu cho thấy nguồn phân lân từ các nước vùng Nam Mỹ hoặc Châu Phi  thường có hàm lượng Cd cao ở mức trên 200 ppm.

– Theo quy định, một số chất kích thích sinh trưởng như axit giberillic (GA3), NAA, một số chất kích thích sinh trưởng có nguồn gốc từ thực vật được phép sử dụng trong phân bón để kích thích quá trình tăng trưởng, tăng tỷ lệ đậu hoa, đậu quả, tăng quá trình trao đổi chất của cây trồng, tăng hiệu suất sử dụng phân bón làm tăng năng suất, phẩm chất cây trồng. Mức quy định hiện hành cho phép tổng hàm lượng các chất kích thích sinh trưởng không được vượt quá 0,5% khối lượng có trong phân bón. Tuy nhiên trên thực tế một số tổ chức, cá nhân khi sản xuất, nhập khẩu đã không tuân thủ theo các quy định trên, đưa ra thị trường các loại phân bón có chứa hàm lượng các chất kích thích sing trưởng vượt quá mức quy định, gây tác hại cho sản xuất và ảnh hưởng tới chất lượng nông sản. Việc sử dụng phân bón có chứa các chất kích thích sinh trưởng không đúng theo hướng dẫn về liếu lượng, đối tượng cây trồng cũng làm thiệt hại tới sản xuất. Do thiếu hiểu biết, hơn 20 ha mạ vụ Đông xuân 2007/2008 ở Phú Xuyên Hà Nội (Hà Tây cũ) đã bị thiệt hại do sử dụng phân bón Tăng trưởng AC GABA CYTO có chứa chất kích thích sinh trưởng mà chỉ khuyến cáo dùng cho chè và rau xanh nhưng đã sử dụng cho mạ, do dùng sai đối tượng cây trồng. Cần thiết phải có những điều tra tổng thể về hàm lượng các chất kích thích sinh trưởng trong phân bón để đưa ra những quy định, các biện pháp quản lý chặt chẽ và có hiệu quả đối với đối tượng này, tuy nhiên việc điều tra đòi hỏi tiêu tốn khá nhiều kinh phí vì mẫu phân tích các chỉ tiêu về chất kích thích sinh trưởng thường rất đắt, số lượng phòng phân tích có khả năng phân tích được các chỉ tiêu này trên cả nước còn rất ít.

4. Phân bón đối với vệ sinh an toàn thực phẩm và sức khoẻ con người

          Dư thừa đạm trong đất hoặc trong cây đều gây nên những tác hại đối với môi trường và sức khoẻ con người. Do bón quá dư thừa hoặc do bón đạm không đúng cách đã làm cho Nitơ và phospho theo nước xả xuống các thủy vực là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm cho các nguồn nước. Các chất gây ô nhiễm hữu cơ bị khử dần do hoạt động của vi sinh vật, quá trình này gây ra sự giảm oxy dưới hạ lưu. Đạm dư thừa bị chuyển thành dạng Nitrat (NO3-) hoặc Nitrit (NO2-) là những dạng gây độc trực tiếp cho các động vật thuỷ sinh, gián tiếp cho các động vật trên cạn do sử dụng nguồn nước (Tabuchi and Hasegawa, 1995). Đặc biệt gây hại cho sức khoẻ con người thông qua việc sử dụng các nguồn nước hoặc các sản phẩm trồng trọt, nhất là các loại rau quả ăn tươi có hàm lượng dư thừa Nitrat. Theo các nghiên cứu gần đây, nếu trong nước và thực phẩm hàm lượng nitơ và photpho, đặc biệt là nitơ dưới dạng muối nitrit và nitrat cao quá sẽ gây ra một số bệnh nguy hiểm cho người đặc biệt là trẻ em. TS. Lê Thị Hiền Thảo (2003) đã xác định, trong những thập niên gần đây, mức NO3- trong nước uống tăng lên đáng kể mà nguyên nhân là do sự sử dụng phân đạm vô cơ tăng, gây rò rỉ NO3- xuống nước ngầm. Hàm lượng NO3- trong nước uống tăng gây ra nguy cơ về sức khoẻ đối với cộng đồng. Ủy ban châu Âu quy định mức tối đa của NO3- trong nước uống là 50 mg/l, Mỹ là 45 mg/l, Tổ chức y tế thế giới (WHO) là 100 mg/l. Y học đã xác định NO2- ảnh hưởng đến sức khoẻ với 2 khả năng sau: gây nên chứng máu Methaemoglobin và ung thư tiềm tàng.

Các nghiên cứu về y học gần đây đã xác định, dư thừa Phospho trong các sản phẩm trồng trọt hoặc nguồn nước làm giảm khả năng hấp thu Canxi vì chất này lắng đọng với Canxi tạo thành muối triphosphat canxi không hòa tan và tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất para thormon, điều này đã huy động nhiều Canxi của xương, và nguy cơ gây loãng xương ngày một tăng, đặc biệt ở phụ nữ.

VI. ĐỂ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG HIỆU SUẤT SỬ DỤNG PHÂN BÓN GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Phân bón vừa cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, làm tăng độ mầu mỡ của đất, trái lại cũng có thể gây tác động xấu tới môi trường nếu không có biện pháp quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng hợp lý. Do vậy cần thiết phải đưa phân bón vào nhóm mặt hàng sản xuất, kinh doanh có điều kiện để tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát, đặc biệt cần giám sát chặt ngay từ khâu sản xuất, nhập khẩu và trong quá trình sử dụng. Một số giải pháp sau đây được đề xuất để giảm thiểu sự ô nhiễm, đồng thời tăng hiệu suất sử dụng phân bón:

1. Giảm lượng bón, tăng hiệu suất sử dụng phân bón

Để hạn chế tối đa lượng phân bón dư thừa trong đất do bón phân quá liều, có thể áp dụng các giải pháp về kỹ thuật sau đây:

– Sử dụng các loại phân bón hoặc các chất có tác dụng làm tăng hiệu suất sử dụng của phân bón. Hiện nay đã có một số loại phân bón hoặc các chế phẩm có khả năng làm tăng hiệu suất sử dụng đạm từ 25-50% khi sử dụng phối hợp với phân đạm. Cơ chế tăng hiệu suất sử dụng dinh dưỡng được xác định do việc hạn chế hoạt động của men phân giải Ureaza, men làm mất đạm; tăng khả năng lưu dẫn N cho cây trồng. Các loại phân bón có công dụng nêu trên như: NEB 26, Wehg, Agrotain… có thể giảm ¼ đến ½ lượng đạm so với lượng dùng thông thường mà cây trồng vẫn cho năng suất cao, chất lượng nông sản tốt. Cần phải tổ chức khuyến cáo và hướng dẫn rộng rãi để nhanh chóng đưa các chế phẩm nêu trên được sử dụng trên toàn quốc.

– Sử dụng các loại phân bón lá có chứa K-humate và các yếu tố đa lượng, trung lượng, vi lượng để bổ sung dinh dưỡng cho cây, tăng khả năng phục hồi, tăng sức đề kháng của cây trồng đối với sự thay đổi và khó khăn của thời tiết và tăng đề kháng sâu bệnh, tăng hiệu suất sử dụng các yếu tố đa lượng. Tiến bộ kỹ thuật về phân bón lá đối với cây trồng đã được khẳng định, sử dụng phân bón lá vào các thời điểm thích hợp sẽ làm tăng hiệu suất sử dụng các yếu tố dinh dưỡng đa lượng một cách cân đối, bổ sung kịp thời các chất dinh dưỡng cây trồng vào những giai đoạn thiết yếu. Liều lượng dùng theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc phân phối.

– Cần sử dụng các loại phân bón dạng chậm tan (slow release fertilizer) để cây trồng sử dụng một cách từ từ tăng hiệu suất sử dụng chất dinh dưỡng, giảm chi phí, giảm ô nhiễm môi trường.

 - Tích cực triển khai chương trình ba giảm (giảm lượng đạm bón, giảm thuốc bảo vệ thực vật, giảm lượng hạt giống gieo đối với các tỉnh phía Nam hoặc giảm lượng nước tưới đối với các tỉnh phía Bắc) ba tăng (tăng năng suất, tăng chất lượng sản phẩm và tăng hiệu quả kinh tế), bón phân theo bảng so màu, tiết kiệm tối đa lượng đạm bón nhưng vẫn đem lại năng suất cao. Thực hiện bón phân cân đối, lượng đạm có thể giảm từ 1,7 kg/sào bắc bộ, tương đương với 47 kg urê/ha tuỳ từng chân đất. Tổ chức hướng dẫn sử dụng phân bón hợp lý theo nguyên tắc “năm đúng”: đúng loại phân, đúng lúc, đúng đối tượng, đúng thời vụ, đúng cách bón sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón, tránh lãng phí và giảm ô nhiễm môi trường.

2. Nghiên cứu, đào tạo, tập huấn, thông tin tuyên truyền

Để đảm bảo các giải pháp về khoa học-kỹ thuật có thể đến được người nông dân cần thiết phẩi tổ chức đào tạo tập huấn cho người nông dân và các cán bộ quản lý, cán bộ khuyến nông các cấp cần tập trung vào một số giải pháp sau:

– Các Viện, Trường, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón tổ chức các hạot động: hội thảo, xây dựng mô hình trình diễn, hướng dẫn các biện pháp tăng hiệu suất sử dụng phân bón, triển khai chương trình “3 giảm 3 tăng”, tập huấn và hướng dẫn cho nông dân về sử dụng phân bón. Nghiên cứu tạo ra các công cụ bón phân, tạo ra các phương thức bón, để giảm thiểu sử dụng lao động, đưa phân bón vào trong đất tránh rửa trôi, bay hơi… Nghiên cứu tạo ra các chế phẩm phân bón mới, các chế phẩm sinh học giúp cho quá trình xử lý ủ phân hoặc xử lý các phế phụ phẩm từ trồng trọt, chăn nuôi mau hoai, giảm thiểu mùi hạn chế mức thấp nhất khả năng ô nhiễm môi trường.

– Thông qua hệ thống thông tin đại chúng như truyền hình, đài, báo chí…tăng cường việc phổ biến các kiến thức khoa học kỹ thuật, các kinh nghiệm về sản xuất, sử dụng phân bón có hiệu quả. Một số địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Ninh Thuận… đã tổ chức tốt chương trình truyền hình “Nhịp cầu nhà nông” để phổ biến các kiến thức về nông nghiệp cho nông dân một cách nhanh chóng và có hiệu quả, đem lại cho nông dân những hiểu biết và những kiến thức mới.

– Ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý hệ thống tổ chức, quản lý các hoạt động kiểm tra giám sát chất lượng phân bón, đặc biệt cần tăng cường giám sát các loại phân bón có chứa các chất độc hại, có nguy cơ gây ô nhiễm cao trên phạm vi cả nước.

3. Các quy định, chính sách

          Cần sớm xây dựng Luật phân bón để tăng hiệu lực công tác quản lý phân bón, trong đó cần xây dựng và ban hành đồng bộ Nghị định quy định xử phạt chi tiết đối với lĩnh vực phân bón. Có các chế tài xử phạt đủ mạnh để đảm bảo hạn chế tối đa các loại phân bón kém chất lượng, phân bón có các chất độc hại vượt quá mức quy định.

          Xây dựng, ban hành kịp thời và đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về sản xuất, sử dụng phân bón, tạo ra các hàng rào kỹ thuật để hạn chế việc sử dụng phân bón quá liều, hạn chế việc sản xuất, nhập khẩu các loại phân bón có chứa các chất độc hại vượt quá mức quy định.

          Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm để có thể nhanh chóng phân tích phát hiện để kịp thời xử lý các hoạt động đưa các loại phân bón kém chất lượng, phân bón có chứa chất độc hại vào lưu thông trên thị trường và trong quá trình sử dụng.

Việc áp dụng đồng bộ và triệt để các giải pháp nêu trên có thể tiết kiệm được hàng nghìn tỷ đồng do giảm lượng phân bón sử dụng trên toàn quốc, hạ giá thành sản xuất, giảm nhập siêu phân bón. Đồng thời đây cũng là những giải pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, góp phần quan trọng giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông nghiệp, tăng sức khoẻ cộng đồng.

TS. Trương Hợp Tác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hardman, McEldowney, Waite – Pollution: Ecology Biotreatment. Longman Group UK Limited 1993.

2. Lê Thị Hiền Thảo – Nitơ và Phospho trong môi trường. Tạp chí Điều tra-Nghiên cứu. Trường Đại học Xây dựng Hà Nội 2003.

3. Nguyền Kim Thái, Lê Hiền Thảo – Sinh thái học và bảo vệ môi trường. NXB XD 1999.

4. Tabuchi, T., and  S. Hasegawa. 1995. Paddy Field in the World. The Japanese Society of Irrigation, Drainage and Reclamation Engineering, Tokyo, Japan. 1-352.

5. Truong, H.T., M. Hirano, S. Iwamoto, E. Kuroda, and T. Murata. 1998. Effect of Top Dressing and Planting density on the number of spikelets and yield of rice cultivated with nitrogen-free basal dressing. Plant Prod. Sci. 1: 1992-1999.

6. Báo cáo của Viện Thổ nhưỡng Nông hoá về kết quả điều tra phân bón lá 2004 – 2007.

Mật Độ Trồng Ngô Cho Năng Suất Cao

Viện Nghiên cứu dinh dưỡng cây trồng quốc tế khuyến cáo: Với cây ngô vùng nhiệt đới, khoảng cách giữa các hàng tối ưu từ 50 – 70cm, càng hẹp càng tốt. Khoảng cách cây trong hàng từ 20 – 30cm, (càng rộng càng tốt).

Có thể trồng hàng đơn 50cm x 25 đến 28cm/cây/hốc hoặc hàng kép với khoảng cách rộng 60 – 70cm, khoảng cách hàng hẹp 40 – 50cm, khoảng cách cây 22 – 28cm. khoảng cách giữa các hàng 50cm cho năng suất cao nhất ở các mật độ với tất cả các giống. Giống ngô LVN10 cao cây, dài ngày cho năng suất cao nhất ở khoảng cách 50 – 28cm, tương ứng mật độ 7 vạn cây/ha. Như vậy mở rộng khoảng cách cây trong hàng sẽ cho ngô đạt năng suất cao…Viện Nghiên cứu dinh dưỡng cây trồng quốc tế khuyến cáo: Với cây ngô vùng nhiệt đới, khoảng cách giữa các hàng tối ưu từ 50 – 70cm, càng hẹp càng tốt. Khoảng cách cây trong hàng từ 20 – 30cm, (càng rộng càng tốt).Có thể trồng hàng đơn 50cm x 25 đến 28cm/cây/hốc hoặc hàng kép với khoảng cách rộng 60 – 70cm, khoảng cách hàng hẹp 40 – 50cm, khoảng cách cây 22 – 28cm. khoảng cách giữa các hàng 50cm cho năng suất cao nhất ở các mật độ với tất cả các giống. Giống ngô LVN10 cao cây, dài ngày cho năng suất cao nhất ở khoảng cách 50 – 28cm, tương ứng mật độ 7 vạn cây/ha. Như vậy mở rộng khoảng cách cây trong hàng sẽ cho ngô đạt năng suất cao…

Có thể trồng hàng đơn 50cm x 25 đến 28cm/cây/hốc hoặc hàng kép với khoảng cách rộng 60 – 70cm, khoảng cách hàng hẹp 40 – 50cm, khoảng cách cây 22 – 28cm. khoảng cách giữa các hàng 50cm cho năng suất cao nhất ở các mật độ với tất cả các giống. Giống ngô LVN10 cao cây, dài ngày cho năng suất cao nhất ở khoảng cách 50 – 28cm, tương ứng mật độ 7 vạn cây/ha. Như vậy mở rộng khoảng cách cây trong hàng sẽ cho ngô đạt năng suất cao…Viện Nghiên cứu dinh dưỡng cây trồng quốc tế khuyến cáo: Với cây ngô vùng nhiệt đới, khoảng cách giữa các hàng tối ưu từ 50 – 70cm, càng hẹp càng tốt. Khoảng cách cây trong hàng từ 20 – 30cm, (càng rộng càng tốt).Có thể trồng hàng đơn 50cm x 25 đến 28cm/cây/hốc hoặc hàng kép với khoảng cách rộng 60 – 70cm, khoảng cách hàng hẹp 40 – 50cm, khoảng cách cây 22 – 28cm. khoảng cách giữa các hàng 50cm cho năng suất cao nhất ở các mật độ với tất cả các giống. Giống ngô LVN10 cao cây, dài ngày cho năng suất cao nhất ở khoảng cách 50 – 28cm, tương ứng mật độ 7 vạn cây/ha. Như vậy mở rộng khoảng cách cây trong hàng sẽ cho ngô đạt năng suất cao…

Ảnh Hưởng Của Phân Bón Đối Với Cây Trồng

Cây trồng hấp thu các chất dinh dưỡng thiết yếu từ đất, nhưng khả năng cung cấp của đất có hạn, việc thâm canh qua nhiều năm khiến đất đai bị suy kiệt, giảm độ phì nhiêu, đất bạc màu, dần dần mất đi khả năng sản xuất, mất đi khả năng cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng. Nên việc sử dụng phân bón rất quan trọng, để cung cấp các dưỡng chất thiết yếu cho cây trồng sinh trưởng, phát triển khỏe mạnh, đạt năng suất cao và trả lại cho đất lượng dưỡng chất cây trồng đã lấy đi từ đất.

Độ đồng đều về đặc điểm hình thái bên ngoài, về sức khỏe, về các giai đoạn phát triển, về năng suất trên cùng một diện tích

Khả năng phát triển, sinh trưởng của cây như chiều cao cây, số cành, số nhánh hữu hiệu, kích thước, số lượng lá, số hạt/củ/quả/bông trên cây

Nắm bắt được sự gây hại của sâu bệnh như mức độ bị hại, số cây bị hại, mật độ sâu, các loại kẻ thù tự nhiên, thiên địch.

Vì vậy, nên việc 2.Cây trồng thiếu phân bón Thiếu các chất dinh dưỡng cây trồng sinh trưởng, phát triển kém, không bình thường, giảm năng suất, cây trồng sẽ có một số biểu hiện như: – Thiếu đạm(N) cây sẽ sinh trưởng phát triển kém, còi cọc, lá cây sẽ úa vàng, khả năng quang hợp yếu, năng suât giảm mạnh, khả năng phân cành, đẻ nhánh kém. – Thiếu lân (P) lúc đầu lá màu xanh đậm, xuất hiện các vệt có màu đỏ sẫm, biểu hiện từ dưới lên, từ ngoài mép vào, lá nhỏ, sinh trưởng kém, chậm. – Thiếu kali (K) là có bề ngang hẹp, lá ngắn, mép ngoài lá bị héo và khô. – Thiếu hụt magiê (Mg) lá vẫn còn xanh nhưng gân bị úa vàng. – Thiếu hụt lưu huỳnh (S) gân lá chuyển vàng khi thịt lá còn xanh, sau đó mời dần chuyển vàng. – Thiếu hụt canxi (Ca) các lá non mới ra thường bị biến dạng, cong queo, bộ rễ kém phát triển. – Thiếu hụt sắt (Fe) màu sắc của phần thịt lá chuyển dần từ xanh sang trắng hay vàng, gân lá vẫn còn màu xanh. – Thiếu mangan (Mn) phần gân lá có màu vàng, thịt lá xuất hiện các đốm màu vàng rồi bị hoại tử. – Thiếu hụt đồng (Cu) cây có triệu chứng chảy gôm, đỉnh lá có màu trắng. – Thiếu hụt bo (B) chồi bị chết, chồi lụi dần, các lá non chết dần, không có hoa hoặc hoa ít, tỷ lệ đậu quả thấp, dễ rụng. – Thiếu hụt kẽm (Zn) lá nhỏ, biến dạng, thịt lá có màu vàng nhưng phân gân lá vẫn giữ màu xanh.3.Cây trồng dư thừa phân bón Cây trồng sẽ có những triệu chứng/biểu hiện: – Thừa đạm (N) cây sinh trưởng/phát triển quá mạnh, cây yếu dễ bị đổ ngã, dễ bị sâu bệnh tấn công, đặc biết với các loại đạm vô cơ sẽ không chuyển hóa hết làm tích lũy gây độc cho cây, tích lũy NO3- trong sản phẩm gây hại cho sức khỏe của con người. – Thừa lân (P) sẽ làm nông sản chin sơm, chưa kịp tích lũy các chất (tinh bột, đường, protein,…) để có một vụ mùa đạt năng suất cao. – Thừa kali (K) ở mức thấp sẽ hạn chế cây hấp thu một số chất như magie, natri,…dư thừa ở mức cao sẽ ngăn cản sự hút nước và các chất dinh dưỡng của cây trồng gây tác động xấu đến sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cây trồng. – Thừa magie sẽ làm thiếu hụt kali, thừa lưu huỳnh thì bị cháy lá hoặc lá nhỏ.bón phân đầy đủ để cung cấp đủ và cân đối các chất dinh dưỡng đa, trung, vi lượng là rất cần thiết, không những tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, khỏe mạnh mà còn giúp nâng cao năng suất, chất lương của nông sản.

Cập nhật thông tin chi tiết về Ảnh Hưởng Của Mật Độ, Phân Bón Đến Khả Năng Sinh Trưởng Và Năng Suất Của Giống Đậu Xanh Hạt Nhỏ Nam Đàn trên website Duhocaustralia.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!